Tài liệu Cơ chế giải quyết tranh chấp của ASEAN - thực trạng và phương hướng hoàn thiện

  • Số trang: 143 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 63 |
  • Lượt tải: 1
nhattuvisu

Đã đăng 27125 tài liệu

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT LÊ VIỆT NGA CƠ CHẾ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP CỦA ASEAN THỰC TRẠNG VÀ PHƢƠNG HƢỚNG HOÀN THIỆN LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC HÀ NỘI - 2012 1 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT LÊ VIỆT NGA CƠ CHẾ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP CỦA ASEAN THỰC TRẠNG VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN Chuyên ngành : Luật quốc tế Mã số : 60 38 60 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Bá Diến HÀ NỘI - 2012 2 MỤC LỤC Trang Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục Danh mục các từ viết tắt Danh mục các sơ đồ 1 MỞ ĐẦU Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ ASEAN, CƠ CHẾ GIẢI QUYẾT 6 TRANH CHẤP CỦA ASEAN 1.1. Khái quát chung về ASEAN 6 1.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của ASEAN 6 1.1.2. Cơ cấu tổ chức của ASEAN 8 1.1.3. Các nguyên tắc hoạt động của ASEAN 14 1.1.4. Vai trò của ASEAN 17 1.2. Khái quát về cơ chế giải quyết tranh chấp của ASEAN 21 1.2.1. Tranh chấp quốc tế - Khái niệm và nguyên tắc hòa bình giải quyết tranh chấp 21 1.2.1.1. Khái niệm tranh chấp quốc tế, tranh chấp chủ quyền lãnh thổ 21 1.2.1.2. Nguyên tắc hòa bình giải quyết tranh chấp 23 1.2.2. 26 Cơ chế giải quyết tranh chấp quốc tế và cơ chế giải quyết tranh chấp của ASEAN 1.2.2.1. Khái niệm cơ chế giải quyết tranh chấp quốc tế 26 1.2.2.2. Cơ sở pháp lý của cơ chế giải quyết tranh chấp quốc tế nói chung và cơ chế giải quyết tranh chấp của ASEAN 27 3 1.2.3. Vai trò của ASEAN trong việc giải quyết tranh chấp chủ quyền lãnh thổ nội khối và ngoại khối 32 Chương 2: 36 NỘI DUNG CƠ CHẾ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP CỦA ASEAN 2.1. Nội dung cơ chế giải quyết tranh chấp của ASEAN 36 2.1.1. Hiệp ƣớc thân thiện và hợp tác ở Đông Nam Á ngày 37 24/2/1976 và các Nghị định thƣ sửa đổi bổ sung 2.1.2. Nghị định thƣ về cơ chế giải quyết tranh chấp của ASEAN 46 ngày 20/11/1996 (Nghị định thƣ năm 1996) 2.1.3. Nghị định thƣ về Tăng cƣờng cơ chế giải quyết tranh chấp 52 trong ASEAN ngày 29/11/2004 2.1.4. Hiệp định về cơ chế giải quyết tranh chấp thuộc Hiệp định khung 61 về Hợp tác kinh tế Toàn diện giữa ASEAN và Trung Quốc 2.1.5. Nghị định thƣ của Hiến chƣơng ASEAN về Cơ chế giải 70 quyết tranh chấp năm 2010 2.2. Một số nhận định về cơ chế giải quyết tranh chấp của ASEAN 93 Chương 3: THỰC TRẠNG THỰC THI CƠ CHẾ GIẢI QUYẾT TRANH 99 CHẤP CỦA ASEAN VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN 3.1. Thực trạng thực thi cơ chế giải quyết tranh chấp của ASEAN 99 nói chung và đối với vấn đề chủ quyền lãnh thổ nói riêng 3.1.1. Thực trạng thực thi cơ chế giải quyết tranh chấp của ASEAN 99 3.1.2. Cơ chế giải quyết tranh chấp của ASEAN đối với vấn đề 102 chủ quyền lãnh thổ 3.2. Phƣơng hƣớng hoàn thiện cơ chế giải quyết tranh chấp chủ 112 quyền lãnh thổ của ASEAN 3.2.1. Cơ quan giải quyết tranh chấp 113 3.2.2. Phạm vi hoạt động của cơ quan giải quyết tranh chấp chủ 116 quyền lãnh thổ 4 3.2.3. Nguyên tắc "đồng thuận" 117 3.2.4. Chế tài đảm bảo thực hiện quyết định của cơ quan giải quyết tranh chấp 120 3.2.5. Rút ngắn thời gian giải quyết tranh chấp 122 3.2.6. Các vấn đề khác 123 3.2.7. Lựa chọn nào cho Việt Nam trong vấn đề giải quyết tranh chấp Biển Đông 125 KẾT LUẬN 130 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 132 5 DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT Tiếng Anh ADMM+ ASEAN Defence Ministers Meeting Plus AEM ASEAN Economic Ministers AFTA ASEAN Free Trade Area AMM ASEAN Ministerial Meeting ARF ASEAN Regional Forum ASA The Association of Southeast Aisa ASC ASEAN Standing committee ASEAN Association of Southeast Asian Nations CLCS Commission on the Limits of the Continental Shelf COC CSIS The Code of Conduct in the East Sea Center for Strategic and International Studies Declaration on Conduct of the Parties in the East Sea Dispute Settlement Understanding Tiếng Việt Hội nghị Bộ trƣởng quốc phòng ASEAN+ Hội nghị Bộ trƣởng Kinh tế ASEAN Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN Hội nghị Bộ trƣởng ngoại giao ASEAN Diễn đàn khu vực ASEAN Hiệp hội Đông Nam Á Ủy Ban thƣờng trực ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á Ủy ban Liên hợp quốc về giới hạn thềm lục địa Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông Trung tâm Nghiên cứu chiến lƣợc và quốc tế DOC Tuyên bố về ứng xử của các Bên ở Biển Đông DSU Thỏa thuận về quy tắc và thủ tục giải quyết tranh chấp EAEC The East Asia Economic Caucus Cộng đồng Kinh tế Châu Á EAS The East Asia Summit Hội nghị Cấp cao Đông Á EU European Union Liên minh Châu Âu GATS The General Agreement on Trade in Services Hiệp định chung về Thƣơng mại Dịch vụ GATT The General Agreement on Tariffs Hiệp ƣớc chung về Thuế quan và Mậu and Trade dịch GDP Gross domestic product Tổng sản phẩm quốc nội ICJ International Court of Justice Tòa án Công lý Quốc tế ITLOS International Tribunal for the Law of Tòa án Luật Biển quốc tế the Sea JWG Joint Working Group Nhóm làm việc chung PPP Purchasing power parity Sức mua tƣơng đƣơng SEOM Senior Economic Officials Meeting Hội nghị các Quan chức Kinh tế Cao cấp SOM Senior Officials Meeting Hội nghị quan chức cấp cao TAC Treaty of Amity and Cooperation Hiệp ƣớc thân thiện và hợp tác UNCLOS United Nations Convention on the Công ƣớc của Liên hiệp quốc về Luật Biển Law of the Sea WTO The World Trade Organization Tổ chức Thƣơng mại Thế giới 6 Danh mục các sơ đồ Số hiệu sơ đồ Tên sơ đồ Trang 1.1 Bản đồ các quốc gia thành viên của ASEAN 8 2.1 Mô hình hóa cơ chế giải quyết tranh chấp của ASEAN 41 theo Hiệp ƣớc Bali năm 1976 2.2 Mô hình hóa thủ tục tố tụng theo Quy chế của Hội đồng Cấp 45 cao của Hiệp ƣớc thân thiện và Hợp tác ở Đông Nam Á 2.3 Mô hình cơ chế giải quyết tranh chấp theo Nghị định thƣ của Hiến chƣơng ASEAN về Cơ chế giải quyết tranh chấp năm 2010 7 93 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) ra đời ngày 8/8/1967 với mục tiêu ban đầu là duy trì hòa bình và ổn định khu vực. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế mang tính "toàn cầu hóa" và sự thay máu của các quốc gia thành viên, ASEAN đang trong triển vọng hình thành một cộng đồng kinh tế. Hiến chƣơng ASEAN đã có hiệu lực từ ngày 15/12/2008 đặt mục tiêu thành lập ba cộng đồng ASEAN chính trị, kinh tế và văn hóa. Mục tiêu hình thành một khu vực kinh tế ASEAN ổn định, thịnh vƣợng và có khả năng cạnh tranh cao, trong đó hàng hóa, dịch vụ, đầu tƣ sẽ đƣợc chu chuyển tự do, và vốn đƣợc lƣu chuyển tự do hơn, kinh tế phát triển đồng đều, đói nghèo và chênh lệch kinh tế-xã hội đƣợc giảm bớt vào năm 2020 đã đặt ra yêu cầu hoàn thiện những yếu tố quan trọng trong chính sách kinh tế và chính sách pháp luật. Từ khi ASEAN đƣợc thành lập năm 1967 đến nay, hợp tác giữa các nƣớc thành viên đã có những bƣớc tiến bộ đáng kể. Các nƣớc ASEAN đã xây dựng đƣợc những cơ chế hợp tác với nhau trên cơ sở song phƣơng cũng nhƣ đa phƣơng về các mặt kinh tế, chính trị - an ninh, văn hóa xã hội, và các lĩnh vực hợp tác chuyên ngành khác. Hợp tác chính trị đƣợc đánh giá là mặt hợp tác thành công hơn cả của ASEAN trong những năm qua. Và chính ở lĩnh vực này, vai trò của tổ chức đối với các nƣớc thành viên đƣợc thể hiện rõ rệt nhất. Điều đƣợc thừa nhận rộng rãi về vai trò của ASEAN đối với các nƣớc thành viên là việc xử lý ổn thỏa các mối bất đồng, tranh chấp giữa các nƣớc thành viên, không để dẫn đến xung đột, tạo điều kiện xây dựng một môi trƣờng hòa bình, ổn định và hợp tác giữa các nƣớc thành viên để từ đó giúp họ thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế, và xây dựng một khu vực Đông Nam Á thống nhất, vững mạnh trƣớc các sức ép từ bên ngoài. 8 Hợp tác kinh tế ASEAN tuy cũng đƣợc tăng cƣờng và kinh tế từng nƣớc ASEAN đều đạt mức tăng trƣởng cao, nhƣng vai trò của ASEAN về mặt kinh tế đối với các nƣớc thành viên vẫn chƣa đáp ứng đƣợc với những mong đợi chung. Ngoài những thách thức trên, khá nhiều học giả, nhà nghiên cứu và phân tích về khu vực Đông Nam Á cho rằng đối với các vấn đề an ninh mà Đông Nam Á đang phải đối phó hiện nay, thì thách thức trong thế kỷ 21 chính là sự phát triển các thể chế hoặc cơ chế khu vực để giải quyết các vấn đề an ninh khu vực. Nhƣ vậy khả năng của ASEAN tiếp tục đóng vai trò chủ đạo và kiểm soát đƣợc những bƣớc đi tiếp theo của ARF sẽ rất quan trọng nếu không nói là quyết định đến vai trò của ASEAN trong các vấn đề an ninh của khu vực. Vị trí và vai trò của ASEAN đối với khu vực ASEAN nói riêng và Châu Á - Thái Bình Dƣơng nói chung sẽ phụ thuộc rất nhiều vào khả năng ASEAN xử lý và vƣợt qua những thách thức đó, mà nhiều vấn đề trong đó vƣợt cả khả năng giải quyết của một quốc gia hay những quan hệ song phƣơng. Một vấn đề nữa cũng hết sức nan giải và tồn tại từ lâu trong Cộng đồng ASEAN đó là tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ. Những tranh chấp này không giảm đi theo thời gian mà còn gia tăng về số lƣợng, hình thức giữa các quốc gia ASEAN với nhau và với quốc gia thứ ba. Từ những thực tiễn nói trên, một trong những yếu tố quan trọng không thể thiếu để giải quyết những tồn tại và xây dựng hành lang pháp lý cho những hành xử của các quốc gia ASEAN với nhau và với quốc gia thứ 3, đó là hoàn thiện cơ chế giải quyết tranh chấp của ASEAN. Cơ chế giải quyết tranh chấp của Cộng đồng hiện nay tuy tồn tại nhƣng tác động của nó trong việc giải quyết tranh chấp còn bộc lộ nhiều hạn chế và có thể nói là chƣa phát huy tác dụng trên thực tế. Trƣớc đây, cơ chế giải quyết tranh chấp của ASEAN cũng nhận đƣợc sự quan tâm của giới luật học trong nƣớc và trên thế giới nhƣng còn ở mức độ hạn chế do bản thân ASEAN tầm hoạt động và ảnh hƣởng còn chƣa mạnh. Trong những năm gần đây, kể từ khi Hiến chƣơng ASEAN ra đời và có hiệu 9 lực, ASEAN mới hoạt động thực sự mạnh mẽ và có những thay đổi trong hƣớng phát triển nhƣ đã trình bày ở trên. Xuất phát từ mục đích và tình hình nghiên cứu trong nƣớc và thế giới nhƣ trên, ngƣời viết lựa chọn đề tài nhằm đƣa ra những đề xuất để xây dựng cơ chế giải quyết tranh chấp của ASEAN hoàn chỉnh hơn, ít khiếm khuyết hơn. Qua đó, đề tài có thể đóng góp những ý tƣởng thiết thực phục vụ cho:  Tiến trình giải quyết tranh chấp chủ quyền lãnh thổ trong khối ASEAN;  Nâng cao tác dụng chế tài của Cộng đồng ASEAN đối với quốc gia thứ 3 xâm phạm đến lợi ích của quốc gia ASEAN. 2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Hiện nay, ASEAN là đối tƣợng nghiên cứu của nhiều công trình. Các công trình này tập trung hầu hết ở lĩnh vực kinh tế, quan hệ Việt Nam - ASEAN và quan hệ giữa ASEAN với một số quốc gia và tổ chức quốc tế khác nhƣ Trung Quốc, EU. Liên quan đến đề tài, có thể kể tới một số công trình sau:  Sách Kênh đối thoại không chính thức về an ninh và chính trị - Kênh 2 của ASEAN, TS. Luận Thùy Dƣơng, NXB Chính trị quốc gia, 2012.  Sách ASEAN hôm nay và triển vọng trong thế kỉ XXI, PGS. TS Nguyễn Thu Mỹ, NXB Chính trị Quốc gia, 1998.  Sách Quan hệ đối ngoại của các nước ASEAN, Nguyễn Xuân Sơn (chủ biên), Thái Văn Long, NXB Chính trị quốc gia, 1997  Sách Một số vấn đề về tổ chức ASEAN, Nguyễn Xuân Sơn (chủ biên), Nguyễn Hữu Cát, Nguyễn Thành Dung, NXB Chính trị quốc gia, 1996. Vấn đề giải quyết tranh chấp của ASEAN có thể nói là rất mới và còn nhiều mơ hồ trong quá trình xây dựng và thực thi. Một số công trình nghiên cứu về hợp tác, hội nhập kinh tế của ASEAN cũng có đề cập đến cơ chế giải quyết tranh chấp của ASEAN nhƣng chỉ ở khía cạnh kinh tế. Thực tế, chƣa có công trình nào tập trung nghiên cứu chuyên sâu về các tranh chấp chủ quyền lãnh thổ của ASEAN mà nóng hổi nhất hiện nay là tranh chấp Biển Đông. 10 Chính vì thế, đề tài tập trung nghiên cứu cơ chế giải quyết tranh chấp của ASEAN nói chung và đề cập sâu hơn ở lĩnh vực chủ quyền lãnh thổ trên cơ sở các nội dung sau:  Khái niệm, nguyên tắc, cơ cấu của cơ chế giải quyết tranh chấp của ASEAN;  Thực trạng và một số đề xuất nhằm hoàn thiện cơ chế giải quyết tranh chấp của ASEAN. 3. Mục đích của luận văn Là tổng hợp của những nghiên cứu luật pháp quốc tế, sự tham khảo nguồn tài liệu trong nƣớc và nƣớc ngoài cùng với những phân tích và đề xuất của ngƣời viết, mục đích lớn nhất của đề tài là đƣợc đóng góp cho sự phát triển của ASEAN. Đề tài nghiên cứu cơ chế giải quyết tranh chấp đã có của ASEAN và học tập từ các cơ chế giải quyết tranh chấp quốc tế tồn tại trên thực tiễn, từ đó đƣa ra những kiến nghị để hoàn thiện những khiếm khuyết của cơ chế giải quyết tranh chấp của ASEAN. 4. Nhiệm vụ của luận văn Luận văn có nhiệm vụ sau:  Khái quát sự hình thành và phát triển của ASEAN;  Nghiên cứu luật pháp, các hiệp định khu vực ASEAN và những tác động của luật pháp tới sự phát triển kinh tế và chính trị khu vực;  Nghiên cứu, phân tích cơ chế giải quyết tranh chấp của ASEAN trƣớc và sau khi Hiến chƣơng ASEAN ra đời;  Phân tích những ƣu nhƣợc điểm của cơ chế giải quyết tranh chấp của ASEAN;  Đƣa ra những kỹ năng để giải quyết những tranh chấp trong nội bộ các nƣớc ASEAN và giữa quốc gia ASEAN với quốc gia thứ ba, đề xuất những giải pháp khắc phục nhƣợc điểm của cơ chế giải quyết tranh chấp của ASEAN nhằm phát triển của ASEAN trong tƣơng lai. 11 5. Phƣơng pháp tiếp cận vấn đề  Phƣơng pháp duy vật biện chứng: xem xét cơ chế giải quyết tranh chấp của ASEAN một cách toàn diện trong mối tƣơng quan với thế giới và thực tiễn tại khu vực.  Phƣơng pháp phân tích tổng hợp: phân chia các vấn đề lớn, phức tạp thành những vấn đề nhỏ chi tiết, cụ thể hơn. Sau khi phân tích thì tổng hợp lại và khái quát để đƣa tới sự nhận thức tổng thể về vấn đề giải quyết tranh chấp và cơ chế giải quyết tranh chấp của ASEAN.  Phƣơng pháp quy nạp và diễn dịch: đề tài đi từ những vấn đề chung đến những vấn đề riêng, từ những hiện tƣợng riêng lẻ đến những cái chung.  Phƣơng pháp thống kê: đề tài tập hợp những số liệu về kinh tế, pháp lý và thực tiễn làm cơ sở khoa học.  Phƣơng pháp so sánh: đề tài nghiên cứu cơ chế giải quyết tranh chấp của ASEAN trong từng văn kiện riêng biệt nhƣng đặt chúng trong sự so sánh với nhau để tìm ra điểm chung, điểm khác biệt và từ đó đƣa ra những nhận định về tính hợp lý và hiệu quả của chúng. 6. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chƣơng: Chương 1: Khái quát về ASEAN, cơ chế giải quyết tranh chấp của ASEAN Chương 2: Nội dung cơ chế giải quyết tranh chấp của ASEAN Chương 3: Thực trạng thực thi cơ chế giải quyết tranh chấp của ASEAN và phƣơng hƣớng hoàn thiện 12 Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ ASEAN, CƠ CHẾ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP CỦA ASEAN 1.1. Khái quát chung về ASEAN 1.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của ASEAN Từ thập niên 50 tới nay, thế giới đã chứng kiến sự ra đời của rất nhiều tổ chức khu vực nhƣ Liên đoàn Ả Rập (1950), Tổ chức các nƣớc Trung Mỹ (1959), Tổ chức Đoàn kết Châu Phi (1963), Liên minh Châu Âu (1993)… Vận động cùng xu hƣớng của thế giới, xuất phát từ đòi hỏi của lịch sử và nhu cầu nội tại, ASEAN đã ra đời nhƣ một tất yếu khách quan, nhằm tạo ra một diễn đàn và cơ chế phối hợp giữa các quốc gia Đông Nam Á hƣớng tới mục tiêu xây dựng một khu vực phát triển mạnh mẽ, bền vững, đồng thời chung sức giải quyết có hiệu quả những vấn đề mang tính khu vực và toàn cầu. Quá trình vận động tiến tới hình thành các tổ chức khu vực trên thế giới không giống nhau do những khác biệt về địa lí, văn hóa, trình độ phát triển và thể chế chính trị. So với Châu Âu - khu vực có sự tƣơng đồng về văn hóa và không khác biệt nhiều về trình độ phát triển giữa các quốc gia, thì ASEAN phức tạp hơn nhiều. Về mặt địa lí, ASEAN không liền mạch và thuận lợi nhƣ Liên Minh Châu Âu do có một số quốc gia quần đảo. Cƣ dân các quốc gia ASEAN cũng rất đa dạng về sắc tộc và kéo theo là sự khác biệt về văn hóa truyền thống. Đây cũng là khu vực đa tôn giáo nhất thế giới. Về kinh tế, trình độ phát triển của các nƣớc trong khu vực không đồng đều. Theo Tiến sĩ Phạm Hồng Chƣơng và các đồng sự ở trƣờng Đại học Kinh tế Quốc dân: "GDP bình quân đầu ngƣời của Việt Nam theo PPP chƣa bằng 1/2 của Philippines, hay Indonesia, khoảng 1/5 của Thái Lan, 1/10 của Malaysia năm 1991 và càng cách biệt so với Singapore (thời điểm trƣớc khi Việt Nam gia nhập ASEAN -Việt Nam gia nhập ASEAN năm 1995)" [9]. 13 Chế độ chính trị và quân sự của các nƣớc thành viên ASEAN cũng rất khác biệt. Tuy nhiên, vƣợt lên tất cả sự khác biệt, Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á vẫn ra đời và phát triển cho thấy tính tất yếu khách quan của nó nhằm đáp ứng đòi hỏi của tình hình biến động ngày càng nhanh chóng và phức tạp trong khu vực cũng nhƣ trên thế giới. Trƣớc sự vận động phát triển không ngừng của khoa học, công nghệ, sự tác động ngày càng nhiều vào thiên nhiên vì nhu cầu phát triển của mỗi nƣớc, hàng loạt vấn đề đã này sinh mà tự thân mỗi quốc gia không thể giải quyết đƣợc. Thực tế đó đã đƣa tới một giải pháp tích cực mà các nƣớc thành viên sáng lập của tổ chức ASEAN lựa chọn là liên kết lại trong hình thức một tổ chức khu vực để tăng cƣờng khả năng giải quyết các vấn đề vƣợt ra khỏi phạm vi lãnh thổ của mỗi nƣớc. Trƣớc ASEAN, ở Đông Nam Á đã có một vài tổ chức khu vực ra đời và tồn tại trong một thời gian ngắn hoặc manh nha hình thành nhƣ Hiệp hội Đông Nam Á (The Association of Southeast AisaASA) đƣợc thành lập ngày 31/07/1961 gồm Thái Lan, Phi-líp-pin và Liên bang Malaysia; Tổ chức MAPHILINDO ra đời tháng 8 năm 1963 bao gồm Mã Lai, Phillipin, và Indonesia. Đó chính là những mô hình và kinh nghiệm cần thiết cho sự ra đời và tồn tại của Hiệp hội các nƣớc Đông Nam Á ASEAN ngày nay. Hiệp hội các nƣớc Đông Nam Á-ASEAN (viết tắt của The Association Southeast Asian Nations) đƣợc thành lập ngày 08/08/1967 sau khi Bộ trƣởng Ngoại giao 5 nƣớc: Indonesia, Malaysia, Phillipines, Singapore, và Thái Lan ký bản Tuyên bố ASEAN (hay còn gọi là Bản tuyên bố Băng-cốc) tại Thái Lan. Ngày 20/11/2007, bản Hiến chƣơng của ASEAN gồm 13 chƣơng với 55 điều khoản và 4 phụ lục đã đƣợc các nguyên thủ và ngƣời đứng đầu Chính phủ của 10 quốc gia thành viên long trọng thông qua và ký tại Sinh-ga-po nhân dịp diễn ra Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 13. Việc ký kết Hiến chƣơng ASEAN đánh dấu một mốc lịch sử có ý nghĩa lớn lao đối với quá trình hợp tác giữa các nƣớc trong khu vực Đông Nam Á. Cho đến nay, bản 14 Hiến chƣơng ASEAN đã đƣợc 10 quốc gia thành viên ASEAN phê chuẩn và có hiệu lực từ đầu năm 2009. Sơ đồ 1.1: Bản đồ các quốc gia thành viên của ASEAN Nguồn: [15]. 1.1.2. Cơ cấu tổ chức của ASEAN Cơ cấu tổ chức hiện nay của ASEAN là kết quả của một quá trình hoàn thiện từng bƣớc, song song với việc phát triển của tổ chức ASEAN trong gần 30 năm qua. Khi mới thành lập vào năm 1967, bộ máy ASEAN còn rất giản đơn, bao gồm 4 đầu mối/cơ chế chủ yếu: Hội nghị hàng năm của các Bộ trƣởng Ngoại giao ASEAN (AMM), một Ủy ban thƣờng trực ASEAN (ASC) để điều 15 phối các công việc thƣờng nhật của ASEAN giữa các Hội nghị AMM. Các Ủy ban chuyên trách và các Ủy ban thƣờng trực gồm các chuyên gia và quan chức trên các lĩnh vực cụ thể và Ban thƣ ký Quốc gia ở mỗi nƣớc thành viên để thay mặt nƣớc mình thực hiện các công việc của Hiệp hội và phục vụ các cuộc họp của ASEAN. Sau một quá trình hoàn thiện, với mốc quan trọng nhất là các quyết định của 4 Hội nghị Cấp cao ASEAN các năm 1976, 1977, 1987 và đặc biệt là vào 1992, cơ cấu tổ chức chung của ASEAN cũng nhƣ chức năng của từng bộ phận đã từng bƣớc đƣợc hình thành và củng cố. Theo Hiến chƣơng ASEAN, cơ cấu tổ chức của ASEAN hiện nay nhƣ sau:  Cấp cao ASEAN (ASEAN Summit) Đây là cơ quan quyền lực cao nhất của ASEAN, bao gồm những ngƣời đứng đầu nhà nƣớc hoặc chính phủ các nƣớc thành viên. Trƣớc đây, ASEAN Summit họp chính thức 3 năm một lần và họp không chính thức ít nhất 1 lần trong khoảng thời gian 3 năm đó. Tuy nhiên, qua Hiến chƣơng ASEAN, ASEAN Summit họp 2 lần một năm và đƣợc đăng cai tổ chức bởi quốc gia thành viên đang giữ ghế Chủ tịch ASEAN. Khi cần thiết, các cuộc họp không chính thức có thể đƣợc triệu tập và đƣợc chủ trì bởi quốc gia thành viên đang giữ ghế chủ tịch ASEAN tại địa điểm đƣợc tất cả các quốc gia thành viên thỏa thuận. Nhƣ vậy, kể từ khi Hiến chƣơng ASEAN ra đời, hoạt động của tổ chức này đã trở nên năng động, gắn kết hơn và với tần suất các cuộc họp cấp cao ASEAN nhiều hơn đã giúp các quốc gia ASEAN giải quyết kịp thời, hiệu quả những vấn đề nổi lên của khối.  Hội đồng điều phối ASEAN (ASEAN Coordinating Council) Hội đồng điều phối ASEAN bao gồm các bộ trƣởng ngoại giao ASEAN, họp ít nhất 2 lần một năm. Đây là cơ quan giúp việc cho Cấp cao ASEAN trong việc chuẩn bị cho các cuộc họp Cấp cao ASEAN; điều phối việc thực hiện các thỏa thuận và quyết định của Cấp cao ASEAN và có các quyền và nghĩa vụ khác nhƣ quy định trong Hiến chƣơng.  Các Hội đồng cộng đồng ASEAN (ASEAN Community Councils) 16 Các Hội đồng Cộng đồng ASEAN bao gồm Hội đồng Cộng đồng Chính trị-An ninh ASEAN, Hội đồng Cộng đồng Kinh tế ASEAN, và Hội đồng Cộng đồng Văn hóa - Xã hội ASEAN. Trực thuộc mỗi Hội đồng Cộng đồng ASEAN sẽ có các Cơ quan chuyên ngành cấp Bộ trƣởng. Các Quốc gia thành viên sẽ cử đại diện quốc gia tham dự các cuộc họp của Hội đồng Cộng đồng ASEAN. Mỗi Hội đồng Cộng đồng ASEAN sẽ họp ít nhất hai lần một năm và sẽ do Bộ trƣởng có liên quan của Quốc gia thành viên đang giữ cƣơng vị Chủ tịch ASEAN chủ trì.  Các cơ quan chuyên ngành cấp Bộ trưởng ASEAN (ASEAN Sectoral Ministerial Bodies) Các Cơ quan chuyên ngành cấp Bộ trƣởng ASEAN thực hiện các nhiệm vụ sau: (a) Hoạt động theo chức năng, quyền hạn đã được xác định; (b) Thực hiện các thỏa thuận và quyết định của Cấp cao ASEAN trong phạm vi phụ trách; (c) Tăng cường hợp tác trong các lĩnh vực thuộc phạm vi chức trách của mình để hỗ trợ liên kết và xây dựng Cộng đồng ASEAN; và (d) Đệ trình các báo cáo và khuyến nghị lên các Hội đồng Cộng đồng liên quan [2].  Tổng thư ký và Ban thư ký ASEAN (Secretary - General of ASEAN and ASEAN Secretariat) Tổng thƣ ký ASEAN do Cấp cao ASEAN bổ nhiệm với nhiệm kỳ 5 năm, không gia hạn, đƣợc lựa chọn trong số các công dân các Quốc gia thành viên ASEAN, luân phiên theo thứ tự tên nƣớc bằng chữ cái tiếng Anh, có tính đến sự liêm khiết, năng lực, kinh nghiệm chuyên môn và bình đẳng giới. 17 Ban thƣ ký ASEAN sẽ bao gồm Tổng thƣ ký và các nhân viên khác tùy theo yêu cầu đặt ra.  Ủy Ban các đại diện thường trực bên cạnh ASEAN (Committee of Permanent Representatives to ASEAN) Các Quốc gia thành viên ASEAN sẽ bổ nhiệm một Đại diện thƣờng trực có hàm Đại sứ bên cạnh ASEAN đặt tại Gia-các-ta. Các Đại diện thƣờng trực tạo thành Ủy ban các Đại diện Thƣờng trực với chức năng nhiệm vụ sau: (a) Hỗ trợ công việc của các Hội đồng Cộng đồng ASEAN và các Cơ quan chuyên ngành cấp Bộ trưởng ASEAN; (b) Phối hợp với Ban thư ký ASEAN Quốc gia và các Cơ quan chuyên ngành cấp Bộ trưởng khác của ASEAN; (c) Liên hệ với Tổng thư ký ASEAN và Ban thư ký ASEAN về tất cả các vấn đề liên quan đến công việc của mình; (d) Hỗ trợ hợp tác giữa ASEAN với các đối tác bên ngoài; và (e) Thực thi các nhiệm vụ khác do Hội đồng Điều phối ASEAN quyết định [2].  Ban thư ký ASEAN tại các quốc gia thành viên (ASEAN National Secretariats) Mỗi quốc gia thành viên ASEAN sẽ lập một Ban thƣ ký ASEAN Quốc gia với nhiệm vụ: (a) Đóng vai trò là đầu mối quốc gia; (b) Là nơi lưu trữ thông tin về tất cả các vấn đề liên quan đến ASEAN ở cấp độ quốc gia; (c) Điều phối việc triển khai các quyết định của ASEAN ở cấp độ quốc gia; (d) Điều phối và hỗ trợ công tác chuẩn bị của quốc gia cho các cuộc họp ASEAN; 18 (e) Thúc đẩy xây dựng bản sắc và nâng cao nhận thức về ASEAN ở cấp độ quốc gia; và (f) Đóng góp vào việc xây dựng Cộng đồng ASEAN [2].  Cơ quan nhân quyền ASEAN (ASEAN Human Rights Body) Phù hợp với các mục tiêu và nguyên tắc của Hiến chƣơng ASEAN về thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền và các quyền tự do cơ bản, ASEAN sẽ lập một cơ quan nhân quyền ASEAN. Cơ quan nhân quyền ASEAN này sẽ hoạt động theo Quy chế do Hội nghị Bộ trƣởng Ngoại giao ASEAN quyết định.  Quỹ ASEAN (ASEAN Foundation) Quỹ ASEAN sẽ hỗ trợ Tổng thƣ ký ASEAN và hợp tác với các cơ quan liên quan của ASEAN để phục vụ xây dựng cộng đồng ASEAN, thông qua việc nâng cao nhận thức về bản sắc ASEAN, quan hệ tƣơng tác giữa ngƣời dân với ngƣời dân, và sự hợp tác chặt chẽ trong giới doanh nghiệp, xã hội dân sự, các nhà nghiên cứu và các nhóm đối tƣợng khác trong ASEAN. Quỹ ASEAN sẽ chịu trách nhiệm trƣớc Tổng thƣ ký ASEAN, và Tổng thƣ ký ASEAN sẽ trình báo cáo về Quỹ lên Cấp cao ASEAN thông qua Hội đồng điều phối ASEAN. Nhƣ vậy, tổng kết lại, bộ máy mới của ASEAN sẽ bao gồm: Cơ quan ra quyết định cao nhất là Cấp cao, gồm các Nguyên thủ quốc gia, những ngƣời đứng đầu Nhà nƣớc/Chính phủ các nƣớc ASEAN, họp ít nhất 2 lần trong 1 năm hoặc họp khi cần thiết, chỉ đạo phƣơng hƣớng và ra những quyết sách lớn, quan trọng của ASEAN. Dƣới Cấp cao là 4 Hội đồng: Hội đồng điều phối chung gồm các Ngoại trƣởng, có nhiệm vụ điều phối công việc của cả 3 trụ cột của Cộng đồng ASEAN, chuẩn bị các cuộc họp và bảo đảm triển khai các quyết định của Cấp cao; 3 Hội đồng Cộng đồng ở cấp Bộ trƣởng, họp ít nhất mỗi năm 2 lần, để điều phối và triển khai công việc của từng trụ cột (Chính trị - An ninh, Kinh tế, Văn hóa - Xã hội). Các Hội nghị Bộ trƣởng 19 chuyên ngành hiện nay vẫn đƣợc duy trì, song sẽ phải báo cáo lên một Hội đồng Cộng đồng phụ trách trụ cột tƣơng ứng. Việc lập thêm cơ chế Đại diện Thƣờng trực của các nƣớc thành viên bên cạnh ASEAN tại Jakarta: Về cơ bản, đây sẽ là cơ quan đảm nhận các công việc của Ủy ban Thƣờng trực ASEAN (ASC) trƣớc đây, chịu trách nhiệm xử lý các công việc hàng ngày của ASEAN, nhằm giảm bớt số lƣợng các cuộc họp không quan trọng. Ngoài ra, Hiến chƣơng cũng tăng cƣờng năng lực và vai trò của Tổng thƣ ký và Ban thƣ ký ASEAN: Ngoài Tổng thƣ ký do các nƣớc thành viên đề cử luân phiên, sẽ có 4 Phó Tổng thƣ ký: 3 ngƣời sẽ phụ trách 3 trụ cột, còn 1 theo dõi chung về đối ngoại, hành chính, ngân sách…; đƣợc lựa chọn kết hợp giữa luân phiên và năng lực. Cơ quan nhân quyền ASEAN cũng đƣợc thiết lập nhằm thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền và các quyền tự do cơ bản của nhân dân ASEAN. Cơ quan này sẽ hoạt động theo Quy chế do các Ngoại trƣởng quy định". ASEAN đã thành lập ra bộ máy của tổ chức bao gồm các cơ quan cao cấp có thể giải quyết những vấn đề trong khu vực (Chính trị - An ninh, Kinh tế, Văn hóa - Xã hội), đặc biệt là vấn đề tranh chấp khu vực (Chính trị - An ninh) đều đƣợc các cơ quan trong bộ máy quan tâm, theo dõi sát sao. Có thể nói bộ máy của ASEAN gọn gàng hơn so với trƣớc. Các quy định về tổ chức của ASEAN đã học tập EU rất nhiều. Tuy nhiên, ASEAN vẫn còn thiếu Nghị viện và Tòa án. Các thiết chế trên cho thấy ASEAN đã có dáng dấp của một cộng đồng thực sự. Vấn đề chỉ là mức độ hiệu quả của việc thực thi các quy định của Hiến chƣơng nhƣ thế nào. 1.1.3. Các nguyên tắc hoạt động của ASEAN Trước khi có Hiến chương: 20
- Xem thêm -