Tài liệu Chuyển dịch cơ cấu thị trường xuất khẩu của hàng dệt may xuất khẩu của việt nam- thực trạng và giải pháp

  • Số trang: 79 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 66 |
  • Lượt tải: 0
thuvientrithuc1102

Đã đăng 15893 tài liệu

Mô tả:

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐỀ TÀI: “Chuyển dịch cơ cấu thị trường xuất khẩu của hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam- Thực trạng và giải pháp.” 1 MỤC LỤC MỞ ĐẦU ......................................................................................................... 1 CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT VỀ THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU VÀ CƠ CẤU THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU CỦA HÀNG DỆT MAY VIỆT NAM 7 I. THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU CỦA HÀNG DỆT MAY VIỆT NAM ...... 7 1. KHÁI NIỆM ............................................................................................. 7 2. VAI TRÒ CỦA XUẤT KHẨU DỆT MAY ............................................... 8 II. CƠ CẤU HÀNG DỆT MAY XUẤT KHẨU VÀ THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU CỦA HÀNG DỆT MAY VIỆT NAM.............................................. 12 1. CƠ CẤU HÀNG DỆT MAY XUẤT KHẨU ........................................... 12 2. CƠ CẤU THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU CỦA HÀNG DỆT MAY VIỆT NAM .............................................................................................................. 13 2. SỰ CẦN THIẾT PHẢI CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU CỦA HÀNG DỆT MAY VIỆT NAM ................................. 14 II. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU CỦA HÀNG DỆT MAY VIỆT NAM ............... 17 1.MÔI TRƯỜNG VĨ MÔ.............................................................................. 17 2.1 Nhân tố chính trị, pháp luật ................................................................ 17 2.2 Tình hình ngoại thương và các chế định có liên quan ........................ 18 2.MÔI TRƯỜNG VI MÔ.............................................................................. 19 2.1 Năng lực về vốn, công nghệ và nguồn nhân lực ..................................... 19 2.2 Đối thủ cạnh tranh ................................................................................... 20 3.MÔI TRƯỜNG QUỐC TẾ ........................................................................ 22 2 3.1 Nhân tố về xu hướng phát triển thị trường hàng dệt may thế giới .......... 22 3.2 Nhân tố về xu hướng tự do hóa mậu dịch ............................................... 23 3.3 Nhân tố các đối thủ cạnh tranh ................................................................ 23 3.4 Nhân tố quan hệ kinh tế-thương mại giữa Việt Nam với các nước ........ 24 CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU CỦA HÀNG DỆT MAY VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA ................................................................................................... 26 I. ĐẶC ĐIỂM HÀNG DỆT MAY XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM ....... 26 II. THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU HÀNG DỆT MAY TRONG HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ VÀ CƠ CẤU THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU 28 1.THỜI KỲ TRƯỚC BTA CÓ HIỆU LỰC ( trước 2002) ........................... 28 2.THỜI KỲ SAU BTA VÀ TRƯỚC KHI GIA NHẬP WTO(2002-2006) . 31 3.THỜI KỲ SAU GIA NHẬP WTO (2007 đến nay) ................................... 34 Bảng 7: Diễn biến kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam ......... 34 III. THỰC TRẠNG CỦA MỘT SỐ MẶT HÀNG DỆT MAY CHỦ YẾU VÀ CÁC THỊ TRƯỜNG CHÍNH................................................................. 36 1. THỰC TRẠNG CỦA MỘT SỐ MẶT HÀNG DỆT MAY CHỦ YẾU 36 1.1 Áo thun .................................................................................................... 36 1.2 Quần dài .................................................................................................. 38 1.3 Áo jacket.................................................................................................. 38 1.4 Áo sơ mi .................................................................................................. 39 2.THỰC TRẠNG CÁC THỊ TRƯỜNG CHÍNH ........................................ 40 IV. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ XUẤT KHẨU DỆT MAY VÀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU DỆT MAY CỦA VIỆT NAM .............................................................................................................. 45 CHƯƠNG III: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU CỦA HÀNG DỆT MAY VIỆT NAM48 3 I. PHƯƠNG HƯỚNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU THỊ TRƯỜNG DỆT MAY XUẤT KHẨU ..................................................................................... 48 1. PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT HÀNG DỆT MAY Ở VIỆT NAM.................................................................................................... 48 2. ĐỊNH HƯỚNG CƠ CẤU THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU HÀNG DỆT MAY VIỆT NAM ......................................................................................... 51 3. ĐỊNH HƯỚNG CƠ CẤU HÀNG DỆT MAY XUẤT KHẨU ................ 53 II. MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU CỦA HÀNG DỆT MAY VIỆT NAM ................................. 55 1. VỀ PHÍA NHÀ NƯỚC ............................................................................. 55 1.1 Hoàn thiện cơ chế chính sách về xuất khẩu dệt may .............................. 55 1.2 Tổ chức tốt công tác xúc tiến thương mại ............................................... 56 1.3 Tăng cường công tác dự báo thị trường, nhận biết và ứng phó với các chính sách bảo hộ mậu dịch và rào cản phi thuế quan trên thị trường nước ngoài .............................................................................................................. 58 1.4 Thành lập các Trung tâm đào tạo chuyên ngành dệt may....................... 59 1.5 Tiếp tục đẩy mạnh đầu tư phát triển các Cụm công nghiệp Dệt may ..... 60 2. VỀ PHÍA HIỆP HỘI DỆT MAY VIỆT NAM ......................................... 62 3. VỀ PHÍA CÁC DOANH NGHIỆP XUẤT KHẨU HÀNG DỆT MAY .. 63 3.1 Nâng cao sức cạnh tranh của hàng dệt may xuất khẩu ........................... 63 3.2 Tăng cường đàm phán mở rộng thị trường, chủ động hội nhập ............. 66 3.3 Khai thác thị trường ngách ...................................................................... 66 3.4 Ứng dụng thương mại điện tử và tổ chức tốt các hoạt động thông tin ... 68 3.5 Thực hiện chuyên môn hoá các sản phẩm và xác định quy mô sản xuất của các doanh nghiệp lớn theo mô hình “công ty mẹ, công ty con”............. 69 KẾT LUẬN ................................................................................................... 70 PHỤ LỤC ...................................................................................................... 71 4 TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................. 76 MỞ ĐẦU Năm 2007, một năm sau khi Việt Nam chính thức là thành viên thứ 150 của WTO đã đánh dấu bước phát triển vượt bậc của nền kinh tế Việt Nam nói chung và của ngành dệt may nói riêng. Giá trị sản xuất toàn ngành tăng một cách nhanh chóng, xuất khẩu hàng dệt may vượt qua dầu thô vươn lên vị trí số 1trong kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Một năm dệt may Việt Nam bước ra biển lớn, có điều kiện cạnh tranh một cách công bằng với các quốc gia và vùng lãnh thổ khác đã đưa Việt Nam vào top 10 nước và vùng lãnh thổ xuất khẩu hàng dệt may lớn nhất thế giới. Đồng thời, cơ cấu thị trường xuất khẩu của hàng dệt may Việt Nam cũng có nhiều chuyển biến. Thị trường xuất khẩu chủ lực là ba thị trường: Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản. Ngoài ra, dệt may Việt Nam cũng đã mở rộng thị trường sang khu vực châu Phi, Nga, Thổ Nhĩ Kỳ, châu Đại Dương, Đông Nam Á, Ukraina,… Sự chuyển dịch cơ cấu thị trường xuất khẩu của hàng dệt may Việt Nam là cần thiết và phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế thế giới. Vì vậy, em đã lựa chọn đề tài: “Chuyển dịch cơ cấu thị trường xuất khẩu của hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam- Thực trạng và giải pháp”. Mục đích nghiên cứu nhằm xác định cơ cấu thị trường xuất khẩu của hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, tổng hợp, phân tích, và đưa ra các giải pháp nhằm chuyển dịch cơ cấu thị trường xuất khẩu của hàng dệt may xuất khẩu theo hướng có lợi nhất cho hàng dệt may xuất khẩu, tận dụng tối đa các lợi thế mà Việt Nam vốn có 5 như: sản phẩm, uy tín, quan hệ ngoại giao, quan hệ kinh tế quốc tế…Từ đó, giúp dệt may Việt Nam tránh và giảm bớt những tác động do khó khăn trên thị trường thế giới nói chung và tại các thị trường chủ lực nói riêng mang lại. Em xin chân thành cảm ơn sự chỉ bảo tận tình của GS-TS Đặng Đình Đào đã giúp em nhận thức vấn đề một cách rõ ràng hơn và hoàn thành Đề án này. Trong bài viết của em còn nhiều thiếu sót do chưa có kinh nghiệm, em rất mong nhận được sự góp ý của thầy để em có thể hoàn thiện Đề án hơn nữa. 6 CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT VỀ THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU VÀ CƠ CẤU THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU CỦA HÀNG DỆT MAY VIỆT NAM I. THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU CỦA HÀNG DỆT MAY VIỆT NAM 1. KHÁI NIỆM Xuất khẩu là một hoạt động ngoại thương giữa các nước và vùng lãnh thổ, trong đó hàng hóa và dịch vụ được bán cho nước khác nhằm mục đích thu ngoại tệ. Xuất khẩu hàng dệt may là một bộ phận của hoạt động xuất khẩu, trong đó hàng dệt may được bán cho nước khác nhằm thu ngoại tệ. Hàng dệt may là một trong những mặt hàng đầu tiên tham gia vào lĩnh vực thương mại quốc tế, do đặc điểm của ngành cũng như do như do nhu cầu của người dân trên thế giới về mặt hàng này. Ngành công nghiệp dệt là ngành đầu tiên được cơ khí hóa trong thời kỳ công nghiệp hóa trên thế giới. Việc thực hiện các hoạt động xuát khẩu sẽ giúp cho các doanh nghiệp kinh doanh hàng may mặc có thể phát huy được các lợi thế và khả năng vượt trội của họ. Mặt khác, tăng cường xuất khẩu sẽ giúp doanh nghiệp giảm được chi phí trên một đơn vị sản phẩm do khối lượng sản xuất gia tăng, doanh thu từ hoạt động xuất khẩu cũng cao hơn do đồng ngoại tệ có giá cao hơn đồng nội tệ, từ đó làm tăng lợi nhuận của doanh nghiệp . 7 Thị trường xuất khẩu của hàng dệt may Việt Nam là các nước và vùng lãnh thổ có hoạt động nhập khẩu hàng dệt may của Việt Nam. Việt Nam có quan hệ ngoại giao với 140 quốc gia , hàng dệt may của Việt Nam đã có mặt tại 170 quốc gia và vùng lãnh thổ. Hàng dệt may Việt Nam đã và đang có một thị trường xuất khẩu rộng lớn, vấn đề quan trọng của chúng ta hiện nay là cần có một cơ cấu thị trường xuất khẩu của hàng dệt may hợp lý và khoa học để có thế phát huy hết lợi thế và khả năng vượt trội của Việt Nam. Hoạt động xuất khẩu dệt may là hoạt động xuất khẩu chủ lực của Việt Nam mang lại những lợi ích rất to lớn, đặc biệt là với một nước đang phát triển như nước ta. 2. VAI TRÒ CỦA XUẤT KHẨU DỆT MAY Dệt may là mặt hàng chủ lực trong chiến lược xuất khẩu của nước ta, là mặt hàng mà chúng ta có nhiều thế mạnh ( năm 2007, xuất khẩu dệt may vươn lên vị trí số 1 về xuất khẩu ). Vai trò của việc xuất khẩu hàng dệt may với một nước đang phát triển như nước ta là rất to lớn và không thể phủ nhận, cụ thể là: Xuất khẩu hàng dệt may góp phần tạo nguồn vốn cho công nghiệp hóa-hiện đại hóa ở nước ta Công nghiệp hóa-hiện đại hóa là một bước đi tất yếu để phát triển kinh tế đất nước, đưa nước ta thoát khỏi tình trạng đói nghèo. Sự nghiệp công nghiệp hóa-hiện đại hóa đòi hỏi một lượng vốn rất lớn để phát triển cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật và nhập khẩu những máy móc, thiết bị hiện đại. Nguồn vốn chủ yếu xuất phát từ bản thân nền kinh tế, nhưng cũng có thể lấy 8 từ các nguồn viện trợ hay đi vay…Tuy nhiên, các nguồn viện trợ hay đi vay… thường rất khó khăn và đòi hỏi phải hoàn trả sau thời gian nhất định. Đối với một nền kinh tế bất kỳ, nguồn vốn chủ yếu và quan trọng nhất là nguồn vốn có được từ xuất khẩu. Từ nhiều năm nay, hàng dệt may luôn là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của nước ta và trong những năm gần đây kim ngạch xuất khẩu dệt may luôn đứng ở vị trí thứ hai trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước, đóng góp một phần không nhỏ vào sự phát triển kinh tế đất nước và tạo ra một vốn lớn( ngoại tệ) để đầu tư vào trang thiết bị máy móc và xây dựng cơ sở hạ tầng quốc gia. Đặc biệt, trong năm 2007 hàng dệt may xuất khẩu vươn lên vị trí số 1 trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Có thể thấy rằng, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của nước ta tăng nhanh trong những năm gần đây, đặc biệt là sau khi Hiệp định thương mại Việt-Hoa Kỳ có hiệu lực năm 2002 và sự kiện Việt Nam chính thức là thành viên thứ 150 của WTO vào năm 2007. Điều đó khẳng định vai trò ngày càng to lớn của xuất khẩu dệt may nước ta. Bảng 1. Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam những năm gần đây 9 Chỉ Đv tính 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 14482.2 15029.2 16706.1 20149.3 26485.0 32447.1 39826.2 48464.0 1891.9 1975.4 2732.0 3609.0 4429.8 4772.4 5834.4 7832.0 tiêu Tổng Triệu KNXU USD ấT KHẩU Dệt Triệu may USD * Nguồn: Thời báo kinh tế Việt Nam Sự phát triển của ngành công nghiệp sản xuất hàng dệt may xuất khẩu sẽ thúc đẩy các ngành liên quan phát triển theo Ngành công nghiệp sản xuất hàng dệt may xuất khẩu nằm trong mối quan hệ tương hỗ với nhiều ngành khác như: cơ khí, chế tạo máy, vận tải đường biển, nông nghiệp, in, nhuộm, sản xuất nhựa polyme để bao gói sản phẩm…Đầu tiên phải nhắc đến việc sản xuất các nguyên phụ liệu như bông, vải sợi, tơ, …Hiện nay, dù sản xuất nhiều hàng dệt may nhưng nước ta đã và đang phải nhập khẩu khoảng 70% nhu cầu về nguyên phụ liệu, do vậy, khi xuất khẩu dệt may càng phát triển chúng ta càng phải cố gắng chủ động về nguồn nguyên phụ liệu cho sản xuất, từ đó làm tăng giá trị của sản phẩm. Mặt khác, để phục vụ cho sản xuất ngày càng phát triển thì càng cần nhiều những máy móc, thiết bị tiên tiến để phục vụ cho việc sản xuất ra những sản phẩm có chất lượng cao mà chi phí cho phế liệu, phế phẩm ngày 10 càng thấp. Từ đó, kéo theo sự phát triển của các ngành cơ khí, chế tạo máy. Hàng dệt may xuất khẩu của nước ta thường xuất khẩu với số lượng lớn, nên thường chọn vận tải bằng đường biển vì chi phí thấp và có thể vận chuyển những khối lượng hàng hóa lớn . Vì vậy, mà ngành hàng hải cũng sẽ có nhiều điều kiện phát triển hơn. Góp phần giải quyết công việc cho người dân và cải thiện đời sống nhân dân Ngành dệt may là ngành sản xuất đòi hỏi nhiều nhân lực, cần rất nhiều những lao động khéo léo và cần cù, mà không đòi hỏi nhiều về trình độ. Điều này rất phù hợp với đặc điểm của lao động Việt Nam, đặc biệt là lao động nữ. Số lượng lao động nữ làm việc tại các doanh nghiệp dệt may thương chiếm trên 80%. Sự tăng nhanh chóng của kim ngạch dệt may xuất khẩu đã tạo ra một khối lượng việc làm khổng lồ cho nước ta, chủ yếu là cho những lao động giản đơn ở khu vực nông thôn. Nhiều người lao động có việc làm, có thu nhập ổn định, từ đó góp phần nâng cao đời sống nhân dân và giảm bớt được các tệ nạn xã hội. Xuất khẩu hàng may mặc phát triển tạo điều kiện mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối ngoại Xuất khẩu và các quan hệ kinh tế có tác động qua lại, phụ thuộc vào nhau, xuất khẩu cũng chính là một hoạt động kinh tế đối ngoại. Hiện nay, hàng dệt may của Việt Nam có mặt tại hơn 170 quốc gia và vùng lãnh thổ, do vậy, việc thúc đẩy xuất khẩu dệt may phát triển cũng đồng thời thúc đẩy 11 các quan hệ kinh tế đối ngoại phát triển. Để có thể xuất khẩu được thuận lợi và cạnh tranh với các đối thủ khác, giữa các quốc gia và vùng lãnh thổ có xu hướng kí kết các Hiệp định, Nghị định thư…với các ưu đãi giành cho nhau. Từ đó các quan hệ kinh tế đối ngoại không ngừng được mở rộng và phát triển. II. CƠ CẤU HÀNG DỆT MAY XUẤT KHẨU VÀ THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU CỦA HÀNG DỆT MAY VIỆT NAM 1. CƠ CẤU HÀNG DỆT MAY XUẤT KHẨU Nhu cầu về “mặc” là nhu cầu thiết yếu và không thể thay thế được của con người. Nhu cầu của người tiêu dùng hiện nay là “mặc đẹp” do đó họ có nhiều yêu cầu khác nhau về loại sản phẩm này. Các yêu cầu phong phú và đa dạng về chủng loại và chất liệu, tùy thuộc vào đặc điểm về văn hóa, phong tục tập quán, tôn giáo, khí hậu, tuổi tác, giới tính,…Điều này làm cho cơ cấu hàng dệt may xuất khẩu rất đa dạng và phong phú về chủng loại phù hợp với các yêu cầu khác nhau. Trong những năm gần đây, các chủng loại hàng dệt may xuất khẩu chủ yếu của nước ta là: thứ nhất là áo thun( tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu năm 2007 là 19.74%), thứ hai là quần dài(tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu năm 2007 là17.37%), thứ ba là áo jacket(tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu năm 2007 là 14.40%), thứ tư là áo sơ mi(tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu năm 2007 là 5.98%). Ngoài ra, còn rất nhiều các chủng loại khác như: áo khoác(4.73%), váy(4.13%), vải(3.82%), quần áo trẻ em(3.34%), đồ lót(2.62%), quần áo vest(1.60%), quần áo thể thao(1.33%)…Năm 2007, kim ngạch xuất khẩu các 12 mặt hàng hầu hết đều tăng, số lượng thị trường và doanh nghiệp xuất khẩu hầu hết các mặt hàng tăng mạnh so với năm 2006. 2. CƠ CẤU THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU CỦA HÀNG DỆT MAY VIỆT NAM Năm 2007, đánh dấu bước chuyển mạnh mẽ của cả nền kinh tế nói chung và dệt may Việt Nam nói riêng. Kim ngạch xuất khẩu dệt may đã vươn lên vị trí số 1 sau nhiều năm đứng sau dầu thô. Kể từ khi Hiệp định thương mại Việt Hoa Kỳ có hiệu lực năm 2002 đến năm 2007 là năm Việt Nam chính thức là thành viên thứ 150 của WTO, kim ngạch xuất khẩu của dệt may Việt Nam không ngừng gia tăng một cách nhanh chóng. Thị trường xuất khẩu của hàng dệt may Việt Nam không ngừng được mở rộng và gia tăng giá trị. Các thị trường xuất khẩu chủ lực của dệt may Việt Nam là Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản. Ngoài ra, còn các thị trường khác như: Đài Loan, Hàn Quốc, Canada, Nga, Nam Phi, Thổ Nhĩ Kỳ… Năm 2007, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của nước ta tăng mạnh chủ yếu do xuất khẩu sang Hoa Kỳ bứt phá mạnh mẽ. Theo số liệu thống kê, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may sang thị trường Hoa Kỳ năm đạt 4,47 tỷ USD, tăng 46,65% so với năm 2006, cao hơn nhiều so với mức tăng 16,97% của năm 2006. Trong 3 thị trường nhập khẩu hàng dệt may lớn nhất của Việt Nam năm 2007, kim ngạch xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ đạt mức tăng trưởng cao nhất. Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may sang Hoa Kỳ tăng từ 52,18% trong năm 2006 lên 57,39% trong năm 2007. Điều này khẳng định, thị trường Hoa Kỳ đóng vai trò rất to lớn đến sự phát triển của ngành công nghiệp dệt may nước ta. 13 EU là thị trường lớn thứ 2 đối với xuất khẩu hàng dệt may nước ta. Kim ngạch xuất khẩu sang thị trường EU đạt 1,5 tỷ USD, tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu sang EU đạt 19,74%, thấp hơn so với mức 37,46% của năm 2006 nên tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu sang EU giảm từ 21,32% của năm 2006 xuống 19,14% trong năm 2007. Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may sang thị trường Nhật Bản năm 2007 tăng 12,14% so với năm 2006, cao hơn nhiều so với mức 3,93% của năm 2006. Giá trị hàng dệt may xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản đạt 700 triệu USD. Hiện tại, Nhật Bản là thị trường lớn thứ 3, chiếm 9,05% tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của nước ta, giảm so với tỷ trọng năm 2006 là 10,76%. Như vậy, tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu của hàng dệt may nước ta vào ba thị trường chủ lực là Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản chiếm 85% tổng kim ngạch xuất khẩu của hàng dệt may. Điều đó cho thấy, rất nhiều thị trường khác đã được phát hiện nhưng phát triển chưa tương xứng với tiềm năng vốn có như: Nga, châu Phi, châu Đại Dương… 2. SỰ CẦN THIẾT PHẢI CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU CỦA HÀNG DỆT MAY VIỆT NAM Có thể coi 2007 là năm kỳ tích đối với ngành dệt may Việt Nam, lần đầu tiên vượt qua dầu thô trở thành mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất, ước đạt 7,8 tỷ USD, tăng 31% so với năm 2006. Thành tích này đã đưa Việt Nam từ thứ 16 lên top 10 nước và vùng lãnh thổ xuất khẩu dệt may lớn nhất thế giới. 14 Đáng trân trọng hơn, những kết quả nói trên lại đạt được trong bối cảnh không thuận lợi, có rất nhiều áp lực, sóng gió từ thị trường nước ngoài đối với dệt may Việt Nam. Đầu tiên phải kể đến thị trường Hoa Kỳ, chiếm khoảng 55% kim ngạch xuất khẩu nước ta, vì thế, động thái của thị trường này ảnh hưởng mạnh mẽ và tức thì đến kế hoạch xuất khẩu dệt may. Ngay sau Quốc hội Hoa Kỳ thông qua PNTR tháng 11/2006, đồng nghĩa với xoá bỏ hạn ngạch dệt - may cho Việt Nam thì Bộ Thương mại Hoa Kỳ (DOC) đã đặt ra yêu cầu giám sát hàng dệt may nhập khẩu từ Việt Nam 6 tháng 1 lần. Qui định này làm cho nhiều nhà nhập khẩu Hoa Kỳ lo ngại, quả bóng của “chương trình giám sát” có thể nổ bất cứ lúc nào. Cơ chế giám sát này còn được duy trì đến hết năm 2008. Điều lo ngại nhất của cơ chế giám sát là giành cho DOC quyền được tự khởi động điều tra chống bán phá giá mà không cần tham vấn bên phía Việt Nam. Hơn nữa, thời điểm công bố kết quả giám sát lại kéo quá dài. Thí dụ, chương trình giám sát hàng dệt may nước ta xuất khẩu vào Hoa Kỳ trong 6 tháng đầu năm 2007, đã được phía Hoa Kỳ đánh giá sơ bộ vào 1/7/2007. Thế nhưng, mãi đến 26/10/2007, DOC mới công bố quyết định “không tiến hành tự khởi động điều tra chống bán phá giá đối với 5 nhóm hàng: quần, áo sơ mi, đồ chơi, đồ lót, áo len”. Do đó, trong khoảng thời gian từ 1/1/2007 đến 26/10/2007, cả nhà nhập khẩu Hoa Kỳ và nhà xuất khẩu Việt Nam đều vừa làm, vừa ngóng. Thực tế, đã có những phần đơn hàng được nhà nhập khẩu tách ra, dịch chuyển sang thị trường lân cận để phân tán rủi ro. Cho đến nay, DOC vẫn chưa đưa ra bất kỳ một hành động cụ thể nào nhằm giảm bớt tiêu cực của cơ chế giám sát này, như: không giảm bớt số mặt hàng giám sát, không nêu các tiêu chí, điều kiện làm cơ sở tự khởi kiện điều tra v.v... 15 Thị trường lớn thứ 2 là EU, chiếm 18% kim ngạch xuất khẩu dệt may nước ta, cũng sẵn sàng sử dụng biện pháp tự vệ để hạn chế nhập khẩu. Một yếu tố khác là ngày càng có nhiều sản phẩm dệt may của Trung Quốc bị từ chối hoặc đòi bồi thường vì không đảm bảo các tiêu chí về an toàn sức khoẻ và môi trường. Do đó, hàng dệt may những nước đang phát triển như Việt Nam, cũng nằm trong “tầm ngắm” của EU. Thị trường lớn thứ 3 là Nhật Bản, chiếm tỷ trọng 10%. Hiện Việt Nam là nhà xuất khẩu dệt may vào Nhật Bản lớn nhất khối ASEAN, chiếm 34%. Nhưng, khó khăn nhất là đến nay, Nhật Bản đã giảm thuế suất xuống 0% cho Xin-ga-po, Ma-lai-xia, In-đô-nê-xia, Bru-nây, Thái-lan vì các bên đã đạt được thoả thuận tiêu chí xuất xứ (xuất xứ cộng gộp từ Nhật và ASEAN đạt 40%), trong khi đó, hàng dệt may Việt Nam vẫn bị đánh thuế do 80% nguồn nguyên phụ liệu nhập khẩu ngoài ASEAN và Nhật Bản. Ngoài những khó khăn về thị trường nước ngoài, ngành dệt may nước ta còn chịu nhiều áp lực khác. Cụ thể là các mặt hàng nông sản và dầu thô nước ta có xu hướng giảm sản lượng xuất khẩu do khan hiếm nguồn cung. Vì thế, gánh nặng xuất khẩu nói chung, dồn sang vai những mặt hàng công nghiệp chủ lực, trong đó có dệt may. Do đó, bên cạnh việc thực hiện các biện pháp ứng phó với những khó khăn tại các thị trường chủ lực, ngành dệt may cần có các giải pháp để hướng thị trường của hàng dệt may xuất khẩu Việt Nam sang các quốc gia có nhiều tiềm năng nhập khẩu hàng dệt may khác, tránh tình trạng quá phụ thuộc và khi một trong các thị trường chủ lực gặp vấn đề sẽ có ảnh hưởng xấu tới toàn ngành. 16 II. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU CỦA HÀNG DỆT MAY VIỆT NAM 1.MÔI TRƯỜNG VĨ MÔ 2.1 Nhân tố chính trị, pháp luật Các nhân tố thuộc về môi trường chính trị, pháp luật là những điều kiện tiền đề ngoài kinh tế có tác động mạnh mẽ đến mở rộng hay kìm hãm sự phát triển cũng như khai thác các cơ hội kinh doanh xuất khẩu của các doanh nghiệp xuất khẩu dệt may. Để hòa nhập với nền kinh tế thế giới và khẳng định nền kinh tế thị trường của Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương và chính sách nhằm cải thiện môi trường pháp lý và tăng cường các mối quan hệ quốc tế. Chủ trương hợp tác, bình đẳng, cùng có lợi trong các quan hệ kinh tế quốc tế và tôn trọng quyền tự chủ của mỗi quốc gia đã giúp Việt Nam có quan hệ ngoại giao với hơn 140 nước thuộc các châu lục khác nhau trên thế giới. Các mối quan hệ ngoại giao này tạo điều kiện thuận lợi cho việc hợp tác, liên doanh, liên kết sản xuất kinh doanh và xuất khẩu giữa Việt Nam với các nước, tạo ra cho các doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu dệt may nước ta nhiều cơ hội đầy triển vọng. Hệ thống pháp luật của nước ta hiện nay chưa hoàn thiện và những quy định, chính sách trong quan hệ kinh tế đối ngoại lại liên tục thay đổi; thêm vào đó là những thủ tục hành chính rườm rà trong việc thực hiện các 17 hoạt động xuất khẩu đã gây khó khăn không nhỏ cho các doanh nghiệp trong việc tận dụng và phát triển các cơ hội kinh doanh trên trường quốc tế. Hiện nay, Nhà nước ta đã có những thay đổi trong chính sách nhằm khuyến khích xuất khẩu cũng như các chính sách trong việc định hướng hoạt động xuất khẩu, đặc biệt là xuất khẩu hàng dệt may. Một điểm đáng lưu ý về thị trường xuất khẩu hàng dệt may là các quốc gia có xu hướng bảo hộ trị trường trong nước bằng các biện pháp phòng vệ theo quy định của WTO và xây dựng các hàng rào mang tính kỹ thuật, môi trường ngày càng cao. Nhằm giúp đỡ các doanh nghiệp xuất khẩu, Chính phủ đã có nhiều biện pháp để các doanh nghiệp không mắc vào các vụ kiện bán phá giá và bị nước sở tại kiểm soát hàng dệt may xuất khẩu của nước ta. Chính phủ tăng các hoạt động ngoại giao, xúc tiến thương mại, hướng dẫn các doanh nghiệp hiểu và thực hiện đúng các quy định của nước sở tại, mặt khác tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp đầu tư mở rộng sản xuất… Nhờ vậy, kim ngạch xuất khẩu những năm gần đây đã đạt những thành tích đáng khích lệ, đặc biệt là trong năm 2007. 2.2 Tình hình ngoại thương và các chế định có liên quan Trong những năm vừa qua, tình hình xuất nhập khẩu của nước ta diễn ra khá nhộn nhịp và thu hút nhiều sự quan tâm của người dân cũng như các chuyên gia và cả Chính phủ. Cán cân thương mại tiếp tục âm, nhập siêu gia tăng, đòi hỏi nước ta phải tiếp tục gia tăng xuất khẩu và giảm nhập khẩu. Dệt may sẽ là mặt hàng xuất khẩu chủ lực đứng ở vị trí số 1 và tiếp tục được thúc đẩy để phát triển, trong khi đó thì xuất khẩu dầu thô và than đá( nhóm ngành nguyên nhiên liệu) sẽ tiếp tục giảm kim ngạch xuất khẩu. Theo đó, 18 dệt may Việt Nam cần tiếp tục tăng xuất khẩu và gia tăng giá trị của sản phẩm, tiếp tục mở rộng các thị trường mới và nâng cao thị phần tại các thị trường quen thuộc. Các chế định có liên quan như chính sách thuế, các hàng rào phi thuế quan, chính sách tỉ giá hối đoái, cán cân thương mại quốc tế… Những vấn đề này đặc biệt quan trọng với các mặt hàng xuất khẩu, đặc biệt là với mặt hàng nhạy cảm như hàng dệt may xuất khẩu. Chẳng hạn, chính sách duy trì đồng nội tệ ở mức quá cao có thể sẽ không khuyến khích các doanh nghiệp sản xuất hàng dệt may xuất khẩu, hạn chế khả năng cạnh tranh của hàng dệt may nước ta. 2.MÔI TRƯỜNG VI MÔ 2.1 Năng lực về vốn, công nghệ và nguồn nhân lực Muốn tiến hành bất cứ công việc gì thì yếu tố đầu tiên có vai trò quan trọng nhất là con người hay nguồn nhân lực, sau đó đến vốn và những thiết bị, công nghệ phục vụ sản xuất, kinh doanh. Đặc biệt, trong kinh doanh hàng dệt may xuất khẩu, những yếu tố này là vũ khí sắc bén thể hiện khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên trường quốc tế và là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến chiến lược và thời cơ xuất khẩu. Nền kinh tế mở khiến các doanh nghiệp sản xuất hàng dệt may xuất khẩu phải tạo ra được những sản phẩm có chất lượng cao nhưng giá thành lại thấp mới có khả năng cạnh tranh. Do vậy, các doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu dệt may phải luôn nhạy bén, linh hoạt và cần chú trọng đầu tư vào vốn, 19 công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực lành nghề, có trình độ để phục vụ sản xuất và xuất khẩu. Có vốn, hoạt động sản xuất và kinh doanh được mở rộng, các nguồn hàng cho xuất khẩu phong phú, đa dạng hơn, chất lượng cao hơn đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách hàng. Ứng dụng các thành tựu của khoa học công nghệ sẽ làm tăng năng suất và chất lượng của hàng dệt may xuất khẩu. Công tác đàm phán, giao dịch với khách hàng cũng nhanh chóng, thuận lợi hơn khi công nghệ thông tin ngày càng phát triển. Từ đó, thị trường xuất khẩu sẽ được mở rộng sang các nước và khối nước có nhu cầu cao về hàng dệt may của chúng ta mà trước kia chúng ta không vào được. Nguồn nhân lực là yếu tố trọng tâm thực hiện hoạt động sản xuất và xuất khẩu hàng dệt may xuất khẩu. Việt Nam có nguồn nhân lực dồi dào, giá nhân công rẻ, người lao động có tính khéo léo, cần cù, chịu khó và có khả năng nắm bắt nhanh những tiến bộ khoa học công nghệ. 2.2 Đối thủ cạnh tranh Nền kinh tế tăng trưởng cao, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may không ngừng gia tăng qua từng năm, điều đó cho thấy sự phát triển thuận lợi của ngành công nghiệp sản xuất hàng dệt may xuất khẩu. Hiện nay, nước ta ngày càng xuất hiện nhiều hơn các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực sản xuất hàng dệt may xuất khẩu. Điều này tạo ra một môi trường kinh doanh bên trong khá mạnh mẽ, cạnh tranh ngày càng gay gắt hơn để giành đơn hàng, phát hiện và mở rộng các thị trường mới, thị phần tại các thị trường quen thuộc cũng phải chia sẻ. Các doanh nghiệp kinh doanh trong 20
- Xem thêm -