Tài liệu Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở tỉnh ninh bình

  • Số trang: 129 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 330 |
  • Lượt tải: 2
nhattuvisu

Đã đăng 27125 tài liệu

Mô tả:

LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Qua hai mươi năm đổi mới, nền kinh tế nước ta đã thoát khỏi sự trì trệ, có bước phát triển tốt, tận dụng các nguồn lực bên ngoài và nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế. Cơ cấu kinh tế đã chuyển dịch theo hướng tích cực trong toàn bộ nền kinh tế cũng như trong các ngành, các lĩnh vực, các địa phương. Chúng ta đã đánh giá cao kết quả của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong những năm qua. Tuy nhiên, so với yêu cầu phát triển quá trình chuyển dịch cơ cấu trong từng ngành, từng địa phương cũng còn những hạn chế, bất cập. Vì vậy, việc nghiên cứu sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế có ý nghĩa to lớn cả về lí luận và thực tiễn. Xây dựng cơ cấu ngành kinh tế hợp lý là một trong những nội dung cơ bản của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá là sự phát triển của lực lượng sản xuất, hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế gắn với đổi mới căn bản kỹ thuật và công nghệ, phân công lao động xã hội, phát triển mạnh mẽ các ngành có hàm lượng khoa học, công nghệ hiện đại nhằm mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao, bền vững của toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Ninh Bình là một tỉnh mới được tách lập từ năm 1992, là một tỉnh thuộc vùng đồng bằng Bắc Bộ, nằm gần khu tam giác kinh tế trọng điểm của phía Bắc: Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh. Tỉnh Ninh Bình tiếp giáp với các tỉnh: Thanh Hoá, Nam Định, Hà Nam, Hoà Boà. Là tỉnh có vị trí và điều kiện tự nhiên thuận lợi cho việc phát triển nhanh và toàn diện kinh tế, xã hội. Cùng với quá trình đổi mới và chuyển dịch cơ cấu kinh tế chung của cả nước, việc tập trung đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế tỉnh Ninh Bình được Đảng bộ tỉnh đề ra tại Đại hội Đảng bộ lần thứ XIX của tỉnh. Trong sự nghiệp đổi mới, Ninh Bình đã đạt được những thành tích đáng kể: tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm tăng lên qua các năm, cơ cấu kinh tế bước đầu chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Tuy nhiên, trước yêu cầu của sự nghiệp đổi mới, việc chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở Ninh Bình còn nhiều vấn đề đặt ra phải giải quyết. Các vấn đề như tiềm năng lao động, đất đai, và lợi thế địa lý chưa được khai thác hợp lý, kinh tế phát triển chưa toàn diện, chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm, nền kinh tế vẫn còn ở trình độ thấp và cơ bản vẫn là tỉnh nông nghiệp, sản xuất nhỏ là phổ biến, chưa tạo ra những ngành, vùng sản xuất hàng hoá, thương mại, dịch vụ, du lịch chưa phát triển tương xứng với tiềm năng, hệ thống tài chính ngân hàng, kết cấu hạ tầng có nhiều cố gắng nhưng chưa đáp ứng yêu cầu đề ra. Vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá là một trong những nội dung đặc biệt quan trọng mà Đảng bộ và nhân dân trong tỉnh đặt ra tại Đại hội Đảng bộ lần thứ XIX của tỉnh. Việc chọn đề tài: "Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở tỉnh Ninh Bình" thực sự đáp ứng yêu cầu lý luận và thực tiễn trong giai đoạn hiện nay. 2. Tình hình nghiên cứu Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung và cơ cấu kinh tế ngành nói riêng đã có nhiều tác gỉ và nhiều công trình nghiên cứu như: - Ngô Đình Giao: "Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH nền kinh tế quốc dân" tập II - Nxb Chính trị Quốc gia - Hà Nội 1994. - Lê Du Phong - Nguyễn Thành Độ "Chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong điều kiện hội nhập với khu vực và thế giới" Nxb Chính trị Quốc gia năm 1999. - Phạm Kiêm Ích - Nguyễn Đình Phan "CNH và HĐH ở Việt Nam và các nước khu vực" Nxb Thống kê - Hà Nội 1994. - Ngô Đình Giao "Suy nghĩ về CNH, HĐH ở nước ta" Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội 1996. - Đỗ Hoài Nam "Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành và phát triển những ngành trọng điểm, mũi nhọn ở Việt Nam" Nxb Khoa học - Xã hội Hà Nội 1996. Nói chung, các tài liệu tham khảo nói trên đã đề cập nhiều nội dung quan trọng đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhưng chưa có tài liệu nào tập trung nghiên cứu đến sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở tỉnh Ninh Bình. Vì thế, việc nghiên cứu một cách có hệ thống sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở tỉnh Ninh Bình thực sự cần thiết. 3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu Mục đích nghiên cứu của luận văn là trên cơ sở phân tích lý luận và thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành của tỉnh Ninh Bình những năm vừa qua, đánh giá những kết quả đã đạt được, những hạn chế thiếu sót từ đó đề ra những quan điểm, phương hướng, mục tiêu, giải pháp tiếp tục thực hiện việc chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tê theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở tỉnh Ninh Bình trong những năm tới. Để đạt được mục đích trên, luận văn thực hiện các nhiệm vụ sau: - Trình bày cơ sở lý luận về cơ cấu kinh tế nói chung và cơ cấu ngành kinh tế. - Phân tích thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung và cơ cấu ngành kinh tế ở tỉnh Ninh Bình từ 2001 đến năm 2005. - Đề ra các phương hướng, mục tiêu, giải pháp tiếp tục chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở tỉnh Ninh Bình trong thời gian tới. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu - Luận văn lấy vấn đề chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở tỉnh Ninh Bình làm đối tượng nghiên cứu. Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu luận văn có đề cập tới một số vấn đề có liên quan khác như chuyển dịch cơ cấu kinh tế chung, đánh giá những nhân tố tác động đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế... - Phạm vi nghiên cứu: Tác giả tiến hành thu thập số liệu, nghiên cứu và đánh giá quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế tỉnh Ninh Bình trong thời gian từ năm 2001-2015. 5. Phương pháp nghiên cứu - Dựa vào những nguyên lý, quan điểm, quy luật của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử làm phương pháp luận nghiên cứu chung. - Sử dụng các phương pháp phân tích, thống kê, so sánh, điều tra, mô hình... 6. Những đóng góp mới của luận văn - Trên cơ sở hệ thống hoá lý luận và kinh nghiệm, luận văn làm rõ sự cần thiết của việc chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở tỉnh Ninh Bình trong thời gian tới. - Đánh giá kết quả chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở tỉnh Ninh Bình trong những năm qua, đặc biệt từ năm 2001 đến năm 2005. Đồng thời cũng chỉ ra những hạn chế, thiếu sót trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở tỉnh Ninh Bình. - Đưa ra những quan điểm, phương hướng, mục tiêu, giải pháp cho quá trình tiếp tục chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở Ninh Bình trong thời gian tới. 7. Kết cấu của bài luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục, tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành ba chương: Chương 1: Lý luận về cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế. Chương 2: Thực trạng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở tỉnh Ninh Bình trong thời gian (từ 2001-2005). Chương 3: Phương hướng và giải pháp chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế tỉnh Ninh Bình trong thời gian tới. CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN VỀ CƠ CẤU KINH TẾ VÀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ 1. Cơ sở lý luận về cơ cấu kinh tế 1.1. Khái niệm Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về cơ cấu kinh tế. Đứng trên quan điểm duy vật biện chứng và lý thuyết hệ thống cơ cấu kinh tế: Cơ cấu kinh tế là một tổng thể hợp thành bởi nhiều yếu tố kinh tế của nền kinh tế quốc dân, giữa chúng có mối quan hệ hữu cơ, tác động qua lại lẫn nhau cả về mặt số lượng và chất lượng trong những không gian, thời gian, điều kiện cụ thể của một nền kinh tế xã hội và vận động hướng vào mục tiêu nhất định. Theo quan điểm này, cơ cấu kinh tế là phạm trù kinh tế; là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá mức độ, chất lượng, quy mô, trình độ công nghiệp hoá, hiện đại hoá của một quốc gia. Một cách tiếp cận khác thì cho rằng cơ cấu kinh tế hiểu một cách đầy đủ là một tổng thể hệ thống kinh tế bao gồm nhiều yếu tố có quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại với nhau trong những khoảng không gian và thời gian nhất định, được thể hiện cả về mặt định tính và định lượng, cả về mặt số lượng lẫn chất lượng, phù hợp với mục tiêu được xác định của nền kinh tế. Cách tiếp cận trên đã phản ánh được bản chất chủ yếu của cơ cấu kinh tế đó là: Cơ cấu kinh tế là tổng thể các nhóm ngành, các yếu tố cấu thành hệ thống kinh tế của một quốc gia. Cơ cấu kinh tế bao gồm số lượng, tỷ trọng các nhóm ngành và các yếu tố cấu thành hệ thống kinh tế trong tổng thể nền kinh tế đất nước. Trong cơ cấu kinh tế các mối quan hệ giữa các nhóm ngành tương tác lẫn nhau hướng vào mục tiêu xác định. Cơ cấu kinh tế không chỉ giới hạn trong mối quan hệ giữa các ngành mang tính cố định mà luôn luôn biến động, không có một khuôn mẫu chung mà tuỳ thuộc vào từng điều kiện cụ thể theo không gian và thời gian. Chính vì vậy trong quá trình phát triển các nước đều tập trung nghiên cứu một cơ cấu kinh tế sao cho phù hợp với điều kiện của đất nước. Cơ cấu kinh tế không thể cố định lâu dài mà cần phải có những thay đổi cần thiết thích hợp với sự thay đổi của điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội để hình thành một cơ cấu kinh tế hiệu quả, thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế của đất nước. Trên quan điểm tiếp cận của học thuyết Mác-Lênin, C.Mác quan niệm: "Toàn bộ các quan hệ giữa người với người làm nhiệm vụ sản xuất với nhau và giữa họ với tự nhiên - tức là những điều kiện trong đó họ tiến hành sản xuất. Toàn bộ những quan hệ đó hợp thành xã hội, xét về mặt cơ cấu kinh tế của nó". Như vậy, theo C.Mác cơ cấu kinh tế có cấu trúc bao gồm: Những yếu tố gắn với lực lượng sản xuất (quan hệ giữa họ với tự nhiên và kỹ thuật) và các nội dung của quan hệ sản xuất (các quan hệ kinh tế giữa người với người trong quá trình tài sản xuất xã hội) hợp thành. Nếu cơ cấu kinh tế bao gồm hai mặt lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất thì khi phân tích cơ cấu kinh tế không xem xét mối quan hệ sản xuất biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất. Một cơ cấu kinh tế được coi là đúng đắn là một một cơ cấu kinh tế được hình thành và phát triển trong đó các yếu tố của quan hệ sản xuất phải luôn phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất. Tóm lại, có thể hiểu cơ cấu kinh tế là tỷ trọng giữa những bộ phận, giữa các ngành, các lĩnh vực trong một chỉnh thể kinh tế hợp lý. Các bộ phận kinh tế ấy có mối quan hệ biện chứng trong mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất ở thời kỳ phát triển nhất định của xã hội. 1.2. Các đặc trưng chủ yếu của cơ cấu kinh tế - Một là, cơ cấu kinh tế mang tính chất khách quan: Cơ cấu kinh tế được hình thành một cách khách quan do sự phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội. Một cơ cấu kinh tế trong từng thời kỳ của từng ngành, từng địa phương và trong cả nước bao giờ cũng được xây dựng trên cơ sở tiếp thu những ưu điểm của cơ cấu kinh tế thời kỳ trước để lại. Sự khác nhau về điều kiện tự nhiên, hoàn cảnh lịch sử cụ thể, về sự hoạt động của các quy luật kinh tế đặc thù, của các phương thức sản xuất sẽ quyết định tính khác biệt về cơ cấu kinh tế của mỗi vùng, mỗi nước. Vì vậy, cơ cấu kinh tế phản ánh tính quy luật chung của quá trình phát triển, nhưng sự biểu hiện cụ thể phải thích ứng với đặc thù của mỗi nước, mỗi vùng về tự nhiên, kinh tế và lịch sử. Không có một cơ cấu mẫu chung cho mọi phương thức sản xuất, mọi vùng kinh tế hoặc đại diện chung cho nhiều nước khác nhau. Mỗi quốc gia, mỗi vùng có thể và cần thiết phải lựa chọn cơ cấu kinh tế cho phù hợp với mỗi giai đoạn lịch sử và phát triển. - Hai là, cơ cấu kinh tế có mối quan hệ cân đối, đồng bộ, có tính lịch sử, cụ thể: Cơ cấu kinh tế vốn có mối quan hệ cân đối đồng bộ giữa các bộ phận kinh tế nằm trong một tổng thể bao gồm hệ thống lớn, hệ thống vừa và hệ thống nhỏ gắn bó chặt chẽ với nhau. Sở dĩ như vậy bởi chính các bộ phận kinh tế trong một hệ thống có mối quan hệ mật thiết tác động lẫn nhau theo quy luật đặc thù. Một cơ cấu kinh tế gồm có nhiều bộ phận kinh tế khác nhau, có bộ phận kinh tế chủ yếu, cũng có bộ phận kinh tế thứ yếu xếp theo sự ưu tiên khác nhau. Bộ phận kinh tế chủ yếu (then chống, mũi nhọn) quyết định nhiều đến quy mô và nhịp độ phát triển của nền kinh tế, nhưng nó cũng đòi hỏi sự ưu tiên về vốn, khoa học công nghệ và các chính sách. Sự tồn tại bộ phận kinh tế then chốt, mũi nhọn xuất phát từ nguyên tắc lợi thế so sánh của bộ phận kinh tế này so với bộ phận kinh tế khác để đạt hiệu quả cao trong khi các yếu tố sản xuất có hạn. Việc bố trí vốn đầu tư một cách dàn trải trên tất cả các bộ phận kinh tế là đi ngược nguyên tắc hiệu quả. Ngược lại là việc tập trung quá mức đầu tư cho một bộ phận kinh tế lại gây ra tình trạng mất cân đối của cơ cấu. - Ba là, cơ cấu kinh tế có tính đa dạng và tính mở: Cơ cấu kinh tế không thể cố định mà phải có sự biến đổi, điều chỉnh thích hợp với sự thay đổi của các điều kiện kinh tế xã hội và tiến bộ của khoa học công nghệ để đảm bảo quy mô và nhịp độ phát triển kinh tế. Trong triết học, C.Mác nói rằng: "Sự vật và hiện tượng luôn vận động và biến đổi không ngừng". Cơ cấu kinh tế phát triển và biến đổi chặt chẽ gắn bó với sự phát triển và biến đổi của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội. Lực lượng sản xuất ngày càng phát triển, con người ngày càng văn minh, khoa học kỹ thuật ngày càng hiện đại, công nghệ ngày càng tiên tiến, chuyên môn hoá và phân công lao động xã hội ngày càng cao, tất yếu sẽ dẫn đến cơ cấu kinh tế cũng ngày càng hoàn thiện. Bên cạnh đó, sự vận động và biến đổi của cơ cấu kinh tế cũng có quan hệ chặt chẽ với sự vận động và biến đổi của các bộ phận kinh tế. Đây là mối quan hệ chuyển hoá lẫn nhau. Bộ phận kinh tế thay đổi phát triển hơn tất yếu kéo theo cơ cấu kinh tế ngày một biến đổi, hoàn thiện hơn. Từ sự biến đổi về lượng dẫn đến sự biến đổi về chất, một cơ cấu kinh tế mới ra đời tiến bộ hơn để phù hợp với sự biến đổi đó, nó phản ánh sự phát triển không ngừng của văn minh nhân loại. Tuy nhiên, cơ cấu kinh tế không thể luôn luôn thay đổi một cách số học mà nó phải tương đối ổn định trong một thời gian nhất định nhằm đảm bảo sự phù hợp với quá trình hình thành và phát triển của nó một cách khách quan. Do đó nếu thay đổi thường xuyên cơ cấu kinh tế sẽ tạo ra sự không ổn định trong sản xuất, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, gây lãng phí, tổn thất cho nền kinh tế. - Bốn là, việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế là một quá trình: Không phải cơ cấu kinh tế mới nào hình thành ngay một lúc đã có thể thay thế cơ cấu kinh tế cũ được. Quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế phải là quá trình tích luỹ về lượng, thay đổi về lượng đến mức độ nhất định mới dẫn đến thay đổi về chất. Trong quá trình đó, cơ cấu kinh tế cũ thay đổi dần dần để chuyển thành cơ cấu kinh tế mới. Quá trình này diễn ra nhanh hay chậm phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong đó có sự tác động trực tiếp rất quan trọng của chủ thể lãnh đạo và quản lý. Sự nóng vội hoặc bảo thủ trì trệ trong quản lý kinh tế đều có hại cho sự phát triển của nền kinh tế. Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhất thiết phải là một quá trình, nhưng không phải là một quá trình tự phát với các bước tuần tự mà ngược lại, con người bằng những hiểu biết sâu sắc về thực tế hoàn toàn có thể tạo ra những tiền đề, tác động cho quá trình đó diễn ra nhanh và đúng hướng. 2. Cơ sở lý luận về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế 2.1. Khái niệm về cơ cấu ngành kinh tế * Cơ cấu ngành kinh tế là tổ hợp các ngành hợp thành các tương quan tỷ lệ, biểu hiện mối quan hệ giữa các nhóm ngành của nền kinh tế quốc dân. Cơ cấu ngành phản ánh một phần trình độ phân công lao động xã hội của một đất nước. Khi phân tích cơ cấu ngành của một quốc gia người ta thường phân tích ba nhóm ngành chính: + Nhóm ngành công nghiệp bao gồm các ngành nông, lâm, ngư nghiệp + Nhóm ngành công nghiệp bao gồm các ngành công nghiệp và xây dựng + Nhóm ngành dịch vụ bao gồm thương mại, bưu điện, du lịch... Sự vận động của các ngành kinh tế và mối liên hệ của nó vừa tuân theo những đặc điểm chung của sự phát triển sản xuất xã hội, lại vừa mang những nét đặc thù của mỗi giai đoạn và mỗi quốc gia. Vì vậy, nghiên cứu loại cơ cấu ngành kinh tế là nhằm tìm ra những cách thức duy trì tính tỉ lệ hợp lý của chúng và những lĩnh vực cần ưu tiên tập trung các nguồn lực có hạn của quốc gia trong mỗi thời kỳ nhằm thúc đẩy sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế quốc dân một cách nhanh nhất, hiệu quả nhất. Nước ta về cơ bản vẫn còn là một nước nông nghiệp. Mục tiêu đến năm 2020 đưa nền kinh tế nước ta cơ bản trở thành một nền kinh tế công nghiệp. Muốn vậy, trong cơ cấu các ngành kinh tế thì tỷ trọng của ngành công nghiệp và dịch vụ phải được tăng lên, còn tỷ trọng của ngành nông nghiệp giảm xuống. Kinh nghiệm thế giới cho thấy, muốn chuyển dịch từ một nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp đều phải trải qua các bước: Chuyển từ nền kinh tế nông nghiệp (tỷ trọng nông nghiệp chiếm 40-60%, công nghiệp 10-20%, dịch vụ từ 10-30%) sang nền kinh tế công nghiệp phát triển (tỷ trọng nông nghiệp 10%, công nghiệp 34-40%, dịch vụ từ 50-60%). Và cuối cùng là một nền kinh tế phát triển có cơ cấu kinh tế dịch vụ 55-60%, công nghiệp 3035%, nông nghiệp 5%. (Tạp chí Kinh tế Việt Nam và Thế giới 2005). * Cơ cấu ngành kinh tế là một phần cơ bản hợp thành cơ cấu của một nền kinh tế. Cơ cấu kinh tế là một phạm trù trừu tượng, muốn nắm vững bản chất của cơ cấu kinh tế và thực thi các giải pháp nhằm chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế một cách có hiệu quả thì cần phải xem xét các bộ phận cơ bản khác hợp thành cơ cấu kinh tế đó là: Cơ cấu lãnh thổ và cơ cấu thành phần kinh tế. - Cơ cấu kinh tế lãnh thổ: nếu cơ cấu ngành kinh tế hình thành từ quá trình phân công lao động xã hội và chuyên môn hoá sản xuất thì cơ cấu kinh tế lãnh thổ lại được hình thành chủ yếu từ việc bố trí sản xuất theo không gian địa lý. Cơ cấu kinh tế và cơ cấu lãnh thổ thực chất là hai mặt của một thể thống nhất trong vùng kinh tế và đều là biểu hiện của sự phân công lao động xã hội. Cơ cấu lãnh thổ hình thành gắn liền với cơ cấu ngành và thống nhất trong vùng kinh tế. Trong cơ cấu lãnh thổ có sự biểu hiện cơ cấu trong điều kiện cụ thể của không gian lãnh thổ. Xu hướng phát triển của cơ cấu lãnh thổ thường là phát triển nhiều mặt tổng hợp có ưu tiên một vài ngành và gắn liền với hình thành sự phân bổ dân cư phù hợp với các điều kiện, tiềm năng phát triển kinh tế của lãnh thổ. Cơ cấu lãnh thổ phản ánh thế mạnh đặc thù của mỗi vùng đó là sản xuất chuyên môn hoá kết hợp với phát triển tổng thể. Cơ cấu lãnh thổ có tính "trì trệ" hơn so với cơ cấu ngành và cơ cấu thành phần kinh tế vì nó mang đặc tính sức ỳ rất lớn trong đó đặc biệt là yêu cầu về sự tiện lợi và lợi nhuận. Do đó những sai lầm, khuyết điểm trong việc bố trí cơ cấu lãnh thổ sẽ ảnh hưởng tới sự phát triển kinh tế. Sự chuyển dịch cơ cấu lãnh thổ chủ yếu dựa trên sự thay đổi các ngành chuyên môn hoá. Đó là một quá trình cải tạo những yếu tố có sẵn và xây dựng yếu tố mới của lực lượng sản xuất theo từng vùng lãnh thổ, cũng đồng thời là quá trình tích tụ những mối quan hệ qua lại giữa các yếu tố, nhằm từng bước xây dựng cơ cấu lãnh thổ phù hợp với từng thời kỳ phát triển. Chuyển dịch cơ cấu lãnh thổ phải đảm bảo sự hình thành và phát triển có hiệu quả của các ngành kinh tế, các thành phần kinh tế theo lãnh thổ và trên phạm vi cả nước, phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, phong tục tập quán, truyền thống của mỗi vùng, nhằm khai thác triệt để thế mạnh của vùng đó. - Cơ cấu thành phần kinh tế: nếu như phân công lao động xã hội là cơ sở để hình thành cơ cấu ngành và cơ cấu lãnh thổ thì chế độ sở hữu lại là cơ sở hình thành cơ cấu thành phần kinh tế. Một cơ cấu thành phần kinh tế hợp lý phải dựa trên cơ sở hệ thống tổ chức kinh tế với chế độ sở hữu có khả năng thúc đẩy lực lượng sản xuất, thúc đẩy phân công lao động xã hội... Theo nghĩa đó cơ cấu thành phần kinh tế cũng là một nhân tố tác động đến cơ cấu ngành kinh tế và cơ cấu lãnh thổ. Sự tác động đó là một biểu hiện sinh động của mối quan hệ giữa các loại cơ cấu trong nền kinh tế. Ở nước ta hiện nay, thành phần kinh tế Nhà nước có vai trò chủ đạo trong việc thực hiện các chủ trương, chính sách của Nhà nước, giúp Nhà nước trong quá trình quản lý vĩ mô toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Kinh tế Nhà nước nắm giữ những lĩnh vực, những khâu then chốt của nền kinh tế, có nhiệm vụ bảo đảm những nhu cầu cơ bản của xã hội: Công cộng, an ninh quốc phòng, bảo vệ môi trường sinh thái phát triển những ngành trọng điểm, mũi nhọn, khu kinh tế đặc biệt, những lĩnh vực, những hàng hoá và dịch vụ chính yếu mà thành phần kinh tế ngoài nhà nước không có khả năng thực hiện một cách hiệu quả. Ngoài ra thành phần kinh tế tập thể, tư nhân, tư bản nhà nước, kinh tế hộ cá thể và hộ gia đình cũng không thể thiếu được vì chúng đảm bảo các hàng hoá dịch vụ theo nhu cầu tiêu dùng rộng rãi của nhân dân, như: ăn, mặc, đi lại, học hành, vui chơi, giải trí... và những nhu cầu mà kinh tế nhà nước không đáp ứng đủ hoặc kinh tế nhà nước thực hiện kém hiệu quả hơn. Như vậy, ba bộ phận cơ bản hợp thành cơ cấu kinh tế là cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu lãnh thổ, cơ cấu thành phần kinh tế có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Trong đó cơ cấu ngành có vai trò quyết định, vì nó được hình thành và phát triển theo quan hệ cung cầu trên thị trường. Còn cơ cấu thành phần kinh tế là những lực lượng kinh tế quan trọng để thực hiện cơ cấu ngành. Theo định hướng của cơ cấu ngành, các thành phần kinh tế tổ chức thực hiện trên cơ sở khả năng và thế mạnh của mỗi thành phần. Người nào sản xuất và kinh doanh cái gì có lợi nhất về kinh tế xã hội, an ninh, sự bền vững của môi trường thì người đó sẽ được quyền lựa chọn để làm. Cơ cấu ngành kinh tế và cơ cấu thành phần kinh tế chỉ có thể được chuyển dịch đúng đắn trên từng lãnh thổ một cách hợp lý để phát triển ngành và thành phần kinh tế có ý nghĩa rất quan trọng. Vì tầm quan trọng của cơ cấu ngành kinh tế đối với sự phát triển nền kinh tế một quốc gia, nên đề tài tập trung vào những vấn đề liên quan đến cơ cấu ngành của nền kinh tế. 2.2. Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế và ý nghĩa của nó Quá trình phát triển kinh tế cũng đồng thời là quá trình làm thay đổi các loại cơ cấu kinh tế, kể cả những quan hệ tỷ lệ về số lượng lẫn chất lượng. Nhất là trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá cùng với những cuộc cách mạng về phương thức sản xuất là quá trình thay đổi rất lớn về các loại cơ cấu, trước hết là cơ cấu ngành kinh tế. Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế là quá trình tạo ra sự thay đổi trong tổng thể, trong tỷ trọng và trong mối quan hệ của các ngành trong một nền kinh tế phù hợp với sự phát triển của phân công lao động xã hội và sự phát triển của lực lượng sản xuất. Sự thay đổi của cơ cấu kinh tế phản ánh trình độ phát triển của sức sản xuất xã hội, biểu hiện chủ yếu trên hai mặt: một là, lực lượng sản xuất càng phát triển càng tạo điều kiện cho quá trình phân công lao động xã hội trở nên sâu sắc; và hai là, sự phát triển của phân công lao động xã hội đến lượt nó lại càng làm cho mối quan hệ kinh tế thị trường củng cố và phát triển. Như vậy, sự thay đổi về số lượng và chất lượng của cơ cấu kinh tế, đặc biệt là cơ cấu ngành phản ánh trình độ phát triển của lực lượng sản xuất xã hội. Và trong thời kỳ công nghiệp hoá, nó phản ánh mức độ đạt được của quá trình công nghiệp hoá. Chính vì vậy, ngày nay kinh tế học phát triển coi chuyển dịch cơ cấu kinh tế là một trong những nội dung trụ cột phản ánh mức độ phát triển của nền kinh tế. Sự khẳng định này là bước tiến quan trọng trong nhận thức lý luận và tư duy chính sách kinh tế. Bởi vì, thực tế cho thấy rằng, có những quốc gia tuy đạt mức độ tăng trưởng kinh tế cao (tức là chỉ số gia tăng GDP, GNP hay GDP/người, GDN/ người cao) nhưng cấu trúc (cơ cấu) của nền kinh tế vẫn ít có sự thay đổi, thậm chí có sự tách rời giữa khu vực sản xuất công nghiệp hiện đại với các khu vực nông nghiệp lạc hậu, và vì vậy, khu vực nông nghiệp với đông đảo nông dân nghèo khó vẫn không được chia sẻ những thành quả của tăng trưởng kinh tế. Trong quá trình phát triển, tỷ trọng của khu vực công nghiệp và dịch vụ trong GDP và trong tổng nguồn lao động xã hội tăng, trong khi tỷ trọng của nông nghiệp (cũng tính trong GDP và trong tổng nguồn lao động xã hội) giảm. Đồng thời dân cư thành thị tăng, dân cư nông thôn giảm. Sự thay đổi cơ cấu kinh tế phản ánh mức độ thay đổi của phương thức sản xuất theo hướng ngày càng hiện đại, những khu vực có năng suất lao động cao, giá trị gia tăng lớn có tốc độ phát triển cao hơn và thay thế dần những khu vực sản xuất kinh doanh có năng suất lao động và giá trị gia tăng thấp. 2.3. Những chỉ tiêu phản ánh sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế Vì cơ cấu kinh tế phản ánh cả về lượng lẫn về chất mối tương quan tỷ lệ giữa các bộ phận hợp thành của nền kinh tế nên khi đánh giá quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế, cần chú ý cả những quan hệ tỷ lệ về mặt lượng cũng như phân tích sự thay đổi về chất của các mối tương quan ấy. Hơn nữa, trong quá trình phân tích, đánh giá, không thể không chú ý tới những đặc điểm riêng của mỗi loại cơ cấu kinh tế. Đối với quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế (và cả cơ cấu kinh tế theo lãnh thổ, cơ cấu các thành phần kinh tế...) những tiêu chí cơ bản phản ánh sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế vĩ mô bao gồm: 2.3.1. Cơ cấu GDP Mặc dù có những khiếm khuyết nhất định, nhưng khoa học kinh tế hiện đại đã sử dụng chỉ tiêu GDP như một trong những thước đo khái quát nhất, phổ biến nhất để đo lường, đánh giá về tốc độ tăng trưởng, trạng thái và xu hướng chuyển dịch cơ cấu của nền kinh tế. Trong đánh giá quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu GDP giữa các ngành kinh tế là một trong những chỉ tiêu quan trọng nhất phản ánh xu hướng vận động và mức độ thành công của công nghiệp hoá. Tỷ lệ phần trăm GDP của các ngành cấp I (khu vực nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ) là một trong những tiêu chí đầu tiên thường được dùng để đánh giá quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành của nền kinh tế. Trong quá trình công nghiệp hoá, mối tương quan này có xu hướng chung là khu vực nông nghiệp có tỷ lệ ngày càng giảm, còn khu vực phi nông nghiệp (công nghiệp và dịch vụ) ngày càng tăng lên. Và trong điều kiện của khoa học công nghệ hiện đại, khu vực dịch vụ đang trở thành khu vực chiếm tỷ trọng cao nhất, sau đó là công nghiệp và cuối cùng là nông nghiệp. Để đánh giá sát thực hơn sự chuyển dịch cơ cấu ngành của nền kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá việc phân tích cơ cấu các phân ngành (cấp II, cấp III...) có một ý nghĩa rất quan trọng. Thông thường, cơ cấu phân ngành phản ánh sát hơn khía cạnh chất lượng và mức độ hiện đại hoá của nền kinh tế. Ví dụ, trong khu vực công nghiệp, những ngành công nghiệp chế biến đòi hỏi tay nghề kỹ thuật cao, vốn lớn hay công nghệ hiện đại như cơ khí chế tạo, điện tử công nghiệp, dược phẩm, hoá mỹ phẩm... chiếm tỷ trọng cao sẽ chứng tỏ nền kinh tế đạt mức độ công nghiệp hoá, hiện đại hoá cao hơn so với những lĩnh vực công nghiệp khai khoáng, sơ chế nông sản, công nghiệp lắp ráp... Trong khu vực dịch vụ, những lĩnh vực dịch vụ chất lượng cao, gắn với công nghệ hiện đại như bảo hiểm, ngân hàng, tư vấn, viễn thông, hàng không v.v... chiếm tỷ lệ cao sẽ rất khác với những lĩnh vực dịch vụ phục vụ sinh hoạt dân sự với công nghệ thủ công hoặc trình độ thấp, quy mô nhỏ lẻ. 2.3.2. Cơ cấu lao động đang làm việc trong nền kinh tế Trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế còn được đánh giá qua một chỉ tiêu rất quan trọng là cơ cấu lao động đang làm việc trong nền kinh tế được phân bổ như thế nào vào các lĩnh vực sản xuất khác nhau. Các nhà kinh tế học đánh giá rất cao chỉ tiêu cơ cấu lực lượng lao động đang làm việc trong nền kinh tế, vì ở góc độ phân tích kinh tế vĩ mô, cơ cấu lao động xã hội mới chỉ là chỉ tiêu phản ánh sát thực nhất mức độ thành công về mặt kinh tế - xã hội của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Bởi vì công nghiệp hoá, hiểu theo nghĩa đầy đủ của nó, không phải chỉ đơn thuần là sự gia tăng tỷ trọng giá trị của sản xuất công nghiệp, mà là cùng với mức đóng góp vào GDP ngày càng tăng của lĩnh vực công nghiệp (và hiện nay là công nghiệp và dịch vụ dựa trên công nghệ kỹ thuật hiện đại), phải là quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đời sống xã hội con người, trong đó cơ sở quan trọng nhất là số lượng lao động đang làm việc trong lĩnh vực phi nông nghiệp chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong tổng lực lượng lao động đang làm việc trong nền kinh tế. 2.3.3. Cơ cấu hàng xuất khẩu Trong điều kiện của một nền kinh tế đang công nghiệp hoá, cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu cũng được xem như một trong những tiêu chí quan trọng đánh giá mức độ thành công của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Quy luật phổ biến của quá trình công nghiệp hoá (đối với phần lớn các nước đang phát triển hiện nay) là xuất phát từ một nền kinh tế nông nghiệp, ở đó sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu GDP và số lượng lao động làm nông nghiệp chiếm phần lớn nhất trong tổng lực lượng lao động xã hội, và do đó, trong tổng giá trị xuất khẩu ít ỏi mà họ có được, một phần rất lớn là sản phẩm nông nghiệp hoặc sản phẩm của công nghiệp khai thác ở dạng nguyên liệu thô (chưa qua chế biến hoặc chỉ ở dạng sơ chế). Trong khi đó, nhu cầu nhập khẩu máy móc, thiết bị, công nghệ, nguyên vật liệu phục vụ quá trình phát triển công nghiệp lại rất lớn nên tình trạng khan hiếm và thiếu hụt ngoại tệ luôn là một điểm yếu mang tính kinh niên. Hầu hết các nước đã trải qua quá trình công nghiệp hoá để trở thành một nước công nghiệp phát triển đều cơ bản trải qua một mô hình chung trong cơ cấu sản xuất và cơ cấu hàng xuất khẩu là: từ chỗ chủ yếu sản xuất và xuất khẩu hàng sơ chế sang các mặt hàng công nghiệp chế biến, lúc đầu là các loại sản phẩm của công nghiệp chế biến sử dụng nhiều lao động, kỹ thuật thấp như lắp ráp, sản phẩm dệt may, chế biến nông lâm thuỷ sản... chuyển dần sang các loại sản phẩm sử dụng nhiều công nghệ kỹ thuật cao như sản phẩm cơ khí chế tạo, hoá chất, điện tử, v.v... Chính vì vậy, sự chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu, từ những mặt hàng sơ chế sang những loại sản phẩm chế biến dựa trên cơ sở công nghệ - kỹ thuật cao luôn được xem như một trong những thước đo rất quan trọng đánh giá mức độ thành công của công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Hơn nữa, đối với nhiều nước chậm phát triển, do những chỉ số tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia nhiều khi thấp hơn tiêu chuẩn kỹ thuật quốc tế nên cơ cấu sản phẩm xuất khẩu (được thị trường quốc tế chấp nhận) sẽ là một tiêu chí tốt để bổ sung đánh giá kết quả của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Đồng thời, với cơ cấu giá trị của các sản phẩm xuất khẩu, cơ cấu nguồn lao động trực tiếp và gián tiếp tham gia vào chế tạo sản phẩm xuất khẩu cũng có ý nghĩa trong phân tích, đánh giá quá trình chuyển dịch cơ cấu nguồn lao động xã hội. Tóm lại, khi phân tích và đánh giá quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế, các nhà kinh tế học thường sử dụng các chỉ tiêu chủ yếu gồm cơ cấu GDP, cơ cấu lao động và cơ cấu mặt hàng xuất khẩu để xem xét. Mức độ chi tiết, cụ thể và các khía cạnh tiếp cận của những phân tích này trước hết phụ thuộc vào yêu cầu mục tiêu cần đánh giá, vào nguồn tài liệu sẵn có và nhiều yếu tố khác. Ngoài ra, có thể tập hợp rất nhiều các tiêu chí có ý nghĩa bổ trợ quan trọng khác như quan hệ giữa khu vực sản xuất vật chất và khu vực phi sản xuất vật chất; giữa khu vực nông nghiệp và phi nông nghiệp; những chỉ tiêu về quá trình chuyển giao tiến bộ công nghệ, sự cải thiện của cấu tạo hữu cơ (c/v), cơ cấu hàng nhập khẩu, sự nâng cấp chất lượng nguồn lao động, cơ cấu các doanh nghiệp mới gia nhập thị trường phân theo ngành v.v... Mỗi tiêu chí nêu trên đều hàm chứa một ý nghĩa kinh tế nhất định trong phân tích quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá. 2.4. Những nhân tố ảnh hưởng tới sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế Có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến sự tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế. Tuỳ từng mục tiêu nghiên cứu và từng góc độ tiếp cận mà người ta có thể phân chia chúng thành những tổ hợp khác nhau, chẳng hạn: những nhân tố bên trong và bên ngoài, những nhân tố ảnh hưởng trực tiếp và những nhân tố ảnh hưởng gián tiếp v.v... Ở góc độ của chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế vĩ mô, luận văn chia các nhân tố tác động đến quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay thành 3 nhóm sau: - Nhóm các nhân tố đầu vào sản xuất; - Nhóm các nhân tố đầu ra sản xuất; - Nhóm các nhân tố về cơ chế chính sách; Sau đây là tác động của từng nhóm nhân tố 2.4.1. Các nhân tố đầu vào của sản xuất Nhóm các nhân tố đầu vào của sản xuất gồm tập hợp các nguồn lực mà xã hội có thể huy động vào quá trình sản xuất, bao gồm các nhân tố chính là: các nguồn lực tự nhiên (tài nguyên đất, nước, rừng, khoáng sản...); nguồn lực con người (quy mô nguồn lao động xã hội, chất lượng của lực lượng lao động...) và các nguồn vốn tài chính (quy mô tiết kiệm, khả năng huy động vốn từ các nguồn khác nhau để đầu tư phát triển sản xuất...) - Các nguồn lực tự nhiên Nhà kinh tế học cổ điển William Petty đã từng nói: "Lao động là cha của cải, còn đất là mẹ của nó"(1). Cơ cấu kinh tế của một quốc gia được hình thành như thế nào đều chịu ảnh hưởng sâu sắc của nguồn tài nguyên mà thiên nhiên ban tặng. Quy mô đất đai, địa hình, khí hậu, nguồn nước... là điều kiện tự nhiên của các loại hình sản xuất nông nghiệp khác nhau (ví dụ: khu vực Đông Nam Á sản sinh ra nền nông nghiệp lúa nước mang đặc thù "Châu Á, Châu Mỹ La tinh... là điều kiện tốt để kinh tế lâm nghiệp phát triển; những quốc gia có mỏ khoáng sản có khả năng khai thác kinh tế là điều kiện phát triển mạnh ngành công nghiệp khai mỏ... Tóm lại, tài nguyên thiên nhiên là cơ sở xuất phát tự nhiên mà quan trọng để hình thành cơ cấu kinh tế của các nền kinh tế trên thế giới. Ở nước ta, nông nghiệp lúa nước, mỏ than, mỏ dầu... là những cơ sở tự nhiên để phát triển nền kinh tế mà cơ cấu bao gồm trong đó các ngành sản xuất lúa gạo, than và dầu mỏ... Tuy nhiên, ở góc độ chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, các nhà kinh tế thường lưu ý một số khía cạnh của các ngành sản xuất dựa trên các nguồn tài nguyên thiên nhiên như sau: + Xu hướng chậm chuyển dịch từ xuất khẩu sản phẩm thô sang xuất khẩu sản phẩm công nghiệp chế biến những sản phẩm có nguồn gốc nguyên liệu từ các nguồn tài nguyên thiên nhiên khai thác được. Trong quá trình thực (1) (Karl Marx - Tư bản, Tập 1, Q1, Phần 1. Nxb Tiến bộ Matxcơva và Nxb Sự thật Hà Nội, tr.62) hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nhiều quốc gia đang phát triển xuất phát từ một nền kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp và khai mỏ, xuất khẩu sản phẩm thô. Điểm xuất phát này có thể coi là một lợi thế nhất định đối với nhiều quốc gia vì nhờ đó mà sức ép về công ăn việc làm và đời sống bớt căng thẳng, quốc gia có được một nguồn ngoại tệ nhất định (trong một số ít trường hợp xuất khẩu dầu mỏ, là nguồn thu nhập chính của quốc gia) để nhập khẩu máy móc, thiết bị, công nghệ... phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Trong không ít trường hợp, theo các nhà kinh tế, mặt lợi thế này lại kìm hãm quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của một số nước khi không có chính sách đúng đắn nhằm thúc đẩy quá trình áp dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi cơ cấu sản xuất và sản phẩm từ dạng sơ chế nguyên liệu sang những ngành công nghiệp chế biến sâu, và vì vậy mà duy trì quá lâu trạng thái cơ cấu sản xuất lạc hậu. + Nguy cơ xuất hiện cái gọi là "căn bệnh Hà Lan" ở một số nền kinh tế dựa vào xuất khẩu sản phẩm khai thác mỏ, đặc biệt là dầu lửa. Theo các nhà kinh tế, bản chất kinh tế của "căn bệnh Hà Lan" là: "Số tiền thu từ những nguồn thuế đánh vào khí tự nhiên được sử dụng để chi cho những khoản chi tiêu đang gia tăng của chính phủ, đặc biệt là những chi phí về phúc lợi, nhưng ngay cả mức thuế cao hơn đối với khí tự nhiên cũng không đủ để cung cấp tiền cho những chi tiêu nói trên. Kết quả là tỷ lệ lạm phát gia tăng. Xuất khẩu khí đốt do vậy đã làm tăng tỷ giá hối đoái, khiến các cơ sở xuất khâẩ truyền thống phải đương đầu với một tai hoạ gấp đôi: Tăng những chi phí ở trong nước, và đi đôi với nó là sự sụt giá của mỗi đô la hàng xuất khẩu. Chưa hết, vì lý do kinh tế ấy mà nạn nhân thất nghiệp đột ngột tăng lên khi khu vực xuất khẩu cần nhiều lao động bị đình trệ, mức tăng trưởng tổng sản phẩm quốc dân bị suy giảm. Rõ ràng là những mỏ khí đốt giàu có đã đem lại cả sự may mắn lẫn rủi ro cho nền kinh tế..."(2). (2) (Malcolm Gillins, Dwight H. Perkins, Michael Roemer và Donald, Snodgrass: Kinh tế học của sự phát triển, Viện Quản lý kinh tế Trung ương - Trung tâm thông tin dữ liệu, 1990, tập 2, tr.533 - 550). Như vậy, hệ quả của sự xuất hiện căn bệnh Hà Lan không chỉ làm chậm tốc độ tăng trưởng mà còn kìm hãm quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nếu không có những chính sách khai thác có hiệu quả đối với các nguồn tài nguyên này. + Dưới tác động của sự phát triển nhanh chóng của khoa học và công nghệ, giá trị kinh tế của các nguồn tài nguyên thiên nhiên không phải là bất biến, mà có sự thay đổi không ngừng. Chẳng hạn, cũng với một loại khoáng sản ở một quy mô nhất định, khi được khai thác ở trình độ công nghệ - kỹ thuật khác thì lại có khả năng đem lại hiệu quả kinh tế cao. Vì thế, việc phân bổ các nguồn lực vào những lĩnh vực khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên còn chịu ảnh hưởng của trình độ phát triển khoa học - công nghệ, một nhân tố cho phép xác định quy mô kinh tế của việc phát triển một lĩnh vực sản xuất nào đó trực tiếp dựa trên việc khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên hiện có của đất nước. Như vậy, nhóm nhân tố đầu tiên có ảnh hưởng mạnh tới thiên hướng tự nhiên của cơ cấu sản xuất của một nền kinh tế là các nguồn tài nguyên thiên nhiên sẵn có của đất nước. Trong nhiều trường hợp, chúng tạo nên cái mà các nhà kinh tế học gọi là "lợi thế tuyệt đối" trong phân công lao động quốc tế của các nền kinh tế. Song, để thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá thì những nỗ lực chính sách hướng tới nâng cấp khoa học - công nghệ và kỹ thuật nhằm chuyển chúng từ nơi cung cấp sản phẩm thô thành các sản phẩm của công nghiệp chế biến là một trong những nội dung chủ chốt. - Nguồn lực con người Nguồn lực con người khi được xem xét ở góc độ đầu vào của quá trình sản xuất (sức lao động), từ lâu đã được coi như một nhân tố có ý nghĩa quyết định đối với quá trình sản xuất. Ở những thời điểm nhất định, việc phân bổ nguồn lực này như thế nào có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc hình thành cơ cấu của nền kinh tế. Tuy nhiên, để có căn cứ cho việc quyết định phân bố
- Xem thêm -