Tài liệu Chùm nho phẫn nộ

  • Số trang: 778 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 131 |
  • Lượt tải: 1
tranvantruong

Đã đăng 3224 tài liệu

Mô tả:

Chùm Nho Phẫn Nộ
Chùm Nho Phẫn Nộ Tác giả: John Steinbeck Thể loại: Tiểu Thuyết Biên tập: Gió Created by: http://motsach.info Date: 16-October-2012 Kho truyện ebook online (http://motsach.info) MỤC LỤC Lời Nhà Xuất Bản Chương 1 Chương 2 Chương 3 Chương 4 Chương 5 Chương 6 Chương 7 Chương 8 Chương 9 Chương 10 Chương 11 Chương 12 Chương 13 Chương 14 Chương 15 Chương 16 Chương 17 Chương 18 Chương 19 Chương 20 Chương 21 Chương 22 Chương 23 Chương 24 Chương 25 Chương 26 Chương 27 Chương 28 Chương 29 Chương 30 J LỜI NHÀ XUẤT BẢN ohn Steinbeck sinh ngày 27 tháng 2 năm 1902 tại Salinas trong một gia đình nghèo, bố làm thủ quĩ, mẹ làm nhà giáo. Lớn lên ông theo học khoa sinh vật trường Đại học Tổng hợp Standford. Ra trường ông phải làm nhiều nghề để kiếm sống, như công nhân nông nghiệp, phóng viên và một số nghề khác. Với vốn sống phong phú Steinbeck sớm bước vào con đường văn học và liên tiếp cho ra mắt một loạt các tác phẩm, nhưng không gây được sự chú ý của người đọc: "Cốc vàng" (Cup of Gold, 1929), "Đồng cỏ thiên đường" (Pastures of Heaven, 1932), "Gửi vị thần chưa biết" (To a God unknown, 1933)... Trong những tác phẩm này, cũng như trong các tiểu thuyết "Tortills Flat" (1935) và "Trong trận đánh bất ngờ" (In dubious battle, 1936) ông viết về số phận những "kẻ lạc loài", những người lớp dưới của xã hội Mỹ và các công nhân tham gia đình công đã bị đẩy vào tình thế tuyệt vọng. Tác phẩm đầu tiên làm ông nổi tiếng là tiểu thuyết "Về chuột và người" (Of mice and men, 1937), sau này được chính tác giả chuyển thành kịch và phim, nói về những người lập dị, cô đơn, không may mắn và hoàn toàn lạc lõng trong xã hội thương mại. Năm 1939 John Steinbeck cho ra mắt tác phẩm lớn nhất của ông là tiểu thuyết "Chùm nho phẫn nộ" (The Grapes of Warth). Trước đây vốn là một công nhân nông nghiệp, cùng với nhiều điền chủ nhỏ khác, ông đã bị đuổi khỏi mảnh đất mình đang sinh sống, phải rời bỏ Oklahôma để tới California tìm việc làm, như chính các nhân vật ông miêu tả trong tác phẩm. "Chùm nho phẫn nộ" là cuốn sách đau buồn về đất nước Mỹ, về những người nông dân bị bóc lột đến cùng cực, bị chà đạp về tinh thần. Ngay từ khi ra đời nó đã gây nhiều cuộc tranh cãi sôi nổi trong các giới bạn đọc, nhiều người hết lòng ca ngợi, nhưng cũng nhiều người không tiếc lời nguyền rủa. Tuy miêu tả một địa danh nhất định trong một thời gian nhất định, nhờ tính khái quát cao, "Chùm nho phẫn nộ" đã trở thành tác phẩm cổ điển của văn học Mỹ và văn học thế giới hiện đại nói chung. Những năm tiếp theo, Steinbeck vẫn tiếp tục viết về đề tài những người cùng cực trong xã hội với tác phẩm "Một dãy đồ hộp" (Cannery Row, 1945), "Ngày thứ năm tốt lành" (Sweet Thursday, 1954) và cuốn sách lên án chủ nghĩa phát xít "Trăng lặn" (The Moon is down, 1942). Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, Steinbeck chuyển sang viết các tác phẩm có tư tưởng và kết cấu phức tạp, mang tính triết lý cao. Đó là các tiểu thuyết "Chiếc ô tô buýt lạc đường" (The Waywar bus, 1947) nói về loài người phải dò dẫm đi trong bóng tối và cuốn "Phía đông thiên đường" (East of Eden, 1952), một cuốn sách đồ sộ với ý định khái quát lớn, nhưng không được người đọc chấp nhận, nói về lịch sử hai gia đình di cư, tượng trưng cho hai dòng họ lâu đời nhất của loài người, bắt nguồn từ Adam và Eva. Những năm năm mươi, sáng tác của Steinbeck bước vào giai đoạn khủng hoảng. Tuy nhiên năm 1961, cuốn "Mùa đông lo buồn của chúng ta" (The Winter of our discontent) ra đời đã gây được sự chú ý của đông đảo bạn đọc. Tác giả lại quay về với đề tài "vỡ mộng" của văn học Mỹ những năm hai mươi. Truyện được viết bằng giọng châm biếm pha chút hài hước đau buồn, mang màu sắc triết lý và ám chỉ. Năm 1962 Steinbeck bắt đầu những chuyến du lịch dài ngày tới hầu hết các bang của nước Mỹ, lấy tư liệu cho cuốn ký "Chuyến đi tìm kiếm lại nước Mỹ với Charley" (Travels with Charley in seach of America, 1962), phản ánh một cách khách quan hiện thực nước Mỹ với cả hai mặt tốt và xấu của nó. Cũng trong năm 1962, ông được tặng giải thưởng Nobel về văn học. John Steinbeck là một nhà văn lớn của nước Mỹ và thế giới, đồng thời ông cũng là một cây bút phức tạp và đầy mâu thuẫn. Một lúc ông vừa là tác giả của những tác phẩm thực sự có giá trị lớn cả về nội dung tư tưởng lẫn văn học như "Chùm nho phẫn nộ", lại vừa là người viết ra những cuốn sách sơ lược hoặc sa vào triết lý rối rắm. Năm 1966, Steinbeck công khai tuyên bố ủng hộ cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam và đã có một số lời nói, việc làm không xứng đáng với tên tuổi và sự nghiệp của ông. John Steinbeck mất ngày 20 tháng 12 năm 1968 tại NewYork. T CHƯƠNG 1 rên những vùng đất đỏ và một phần các vùng đất xám bang Oklahoma, những trận mưa cuối vụ rơi lâm thâm, không đủ sức xói lở mặt đất vốn đã bị nứt nẻ. Các lưỡi cày đi qua lộn lại cắt ngang các vết hằn của những con suối nhỏ. Những trận mưa cuối cùng khiến cho ngô lớn lên rất nhanh, cỏ và nhiều thứ cây dại khác lan rộng dọc các con đường cái và dần dà các vùng đất đỏ và đất xám biến mất dưới một tấm thảm xanh. Cuối tháng năm, bầu trời tái nhợt, các cụm mây mùa xuân đã bồng bềnh quá lâu ở tít trên cao nay đang tản mát dần. Ngày lại ngày mặt trời đốt nóng cây ngô đang vươn mạnh mãi tới khi có một đường viền màu nâu kéo dài ra trên mỗi chiếc lưỡi lê xanh. Mây hiện ra rồi lại trôi đi xa, và chẳng bao lâu thậm chí mây không buồn động đậy. Để tự bảo vệ, cỏ khoác một màu xanh thẫm hơn và thôi không lan tràn nữa, mặt đất cứng lại phủ dưới một vỏ khô mỏng và rắn, khi bầu trời tái nhợt đất đỏ nhuốm sắc hồng, còn đất xám nhuốm sắc trắng. Trong những khe rãnh do nước đào xới, đất sụt lở, bụi chảy xuống thành những con suối nhỏ khô. Chuột rừng và kiến sư tử mải leo lên leo xuống, gây nên những thác bụi bé nhỏ. Hết ngày này sang ngày khác, ánh mặt trời gay gắt đánh xuống liên miên, lá ngô non như những mũi tên thôi không còn cứng ngắc nữa, chúng bắt đầu uốn cong trở vào, rồi các đường gân chính lại bị oằn, nên mỗi chiếc lá rũ xuống mềm nhũn. Tháng sáu tới, mặt trời chói chang dữ dội, trên các lá ngô, đường viền màu nâu rộng thêm ăn lan đến các đường gân giữa. Cỏ dại rách xơ ra co rúm về gốc rễ. Không khí loãng hơn, bầu trời nhạt hơn, và mỗi ngày, đất cũng tái nhợt thêm. Trên các đường cắt, nơi xe ngựa qua lại, đất bị đầm giẽ dưới móng vó ngựa lại bị bánh xe nghiền nát, lớp vỏ cứng vỡ ra tan thành bụi. Tất cả những gì chuyển động trên đường đều làm cho bụi bay lên, một bước chân khách bộ hành xốc lên một lớp bụi mỏng ngang tầm thắt lưng, một chiếc xe bò khiến bụi bay là là trên đầu các bờ dậu, một chiếc xe tải cuốn theo sau những đám bụi dày đặc, cuồn cuộn. Và rất lâu, rất lâu bụi cứ bay lơ lửng không chịu nằm xuống lại. Giữa tháng sáu, từ Texas và vùng Vina, ùn ùn kéo tới những đám mây to lớn nặng nề, chứa chất những cơn giông tố. Trên các đồng ruộng, có những người đứng nhìn mây, hít ngửi và thấm ướt ngón tay để lường hướng gió. Chừng nào mây còn nằm lặng trên bầu trời, những con ngựa vẫn tỏ ra cáu kỉnh. Các đám mây giông gieo xuống vài hạt mưa lưa thưa rồi vội vã trốn về các miền khác. Phía sau chúng, bầu trời lại tái nhợt, mặt trời nóng như thiêu như đốt. Những hạt mưa xói những lỗ nhỏ trên mặt đất để lại những vết bụi đậm nét bám vào thân ngô. Và chỉ có thế. Một ngọn gió phe phẩy bay theo các đám mây mưa, đẩy chúng về phương Bắc, cây ngô kêu xào xạc và đang khô dần. Một ngày trôi qua, gió thổi mạnh hơn, liên tục, tuy vẫn không có trận gió nào đánh gãy thân cây ngô. Bụi đường dâng cao, trải rộng, rơi xuống đám cỏ bên bờ và trong các đám ruộng. Rồi gió nổi lên ào ào, dữ dội ác liệt, tấn công lớp vỏ cứng do mưa tạo nên trên cánh đồng. Dần dà, bầu trời tối sầm lại sau màn bụi hỗn loạn, lướt qua mặt đất, cuốn bụi tung mịt mù. Gió càng mạnh thêm. Lớp vỏ cứng tan vỡ, phía trên cánh đồng, bụi càng bốc cao, vạch trên không khí những túm lông xam xám tựa những vệt khói uể oải. Ngô nhào trộn gió trong tiếng rào rào ròn khô. Đám bụi mịn nhất không còn lắng đọng trên mặt đất nữa, mà đã biến mất vào bầu trời âm u. Gió lại mạnh thêm, rạch đường đi ngang qua cánh đồng, luồn xuống dưới các tảng đá, cuốn bay các cọng rơm, các lá khô và ngay cả các cục đất nhỏ. Không trung và bầu trời sầm lại, mặt trời hiện ra đỏ rực, và trong không khí thoang thoảng một mùi hăng hắc. Một đêm nọ, gió mở thêm tốc lực qua vùng đồng quê, ranh mãnh đào xới quanh các gốc ngô gầy, thân ngô đưa các tàu lá yếu ớt ra chống đỡ, mãi cho đến khi có một ngọn gió tọc mạch luồn tới nhổ bật gốc rễ. Thân cây đã kiệt sức, nghiêng ngửa rồi đổ vật xuống theo hướng gió thổi. Bình minh đang rạng dần, nhưng ngày chưa sáng tỏ. Trên bầu trời xám xịt, một mặt trời đỏ - một chiếc đĩa đỏ ló ra mờ mờ hắt xuống một thứ ánh sáng yếu ớt của buổi hoàng hôn. Ngày càng rõ dần thì hoàng hôn lại trở về với bóng tối, và gió gào rú hoặc rên rỉ trên thân cây ngô đổ rạp. Đàn ông và đàn bà nấp trong nhà, khi bước ra ngoài, họ thắt một chiếc khăn quanh mũi, đeo những cặp kính kín mít để che mắt. Đêm trở lại, một đêm tối như mực, vì các ngôi sao không thể chọc thủng lớp bụi để rọi ánh sáng xuống, và ánh đèn từ cửa sổ hắt ra chỉ soi tỏ các mảnh sân. Bụi hòa trộn đều với không khí, tạo nên một lớp hỗn hợp bụi bậm. Nhà cửa đều đóng kín mít, các dải đệm bít chặt các khe cửa lớn, cửa sổ, nhưng bụi nhỏ li ti vẫn luồn lẻn vào phía trong nhà, đọng lại như bụi phấn hoa trên bàn ghế, bát đĩa. Người ta phải lấy vải phủi bụi thấm trên vai, những vạch bụi mịn tơi bám đậu dưới chân cửa thành những đường gạch nhỏ. Nửa đêm hôm đó, gió lặng, và cảnh vật im ắng đè nặng lên mặt đất. Không khí đầy ứ bụi bóp nghẹt các âm thanh một cách trọn vẹn hơn cả sương mù. Nằm trên giường, dân giã lắng nghe gió ngưng thổi. Họ thức tỉnh lúc gió hú đã im bặt. Họ nín thở nằm nghe tĩnh mịch. Rồi gà cất tiếng gáy, người ta nằm trăn trở nôn nóng chờ đợi bình minh. Họ biết rằng phải còn lâu lắm bụi mới lắng hết xuống mặt đất. Sáng ngày ra, bụi vẫn treo lơ lửng chẳng khác sương mù, và mặt trời đỏ như máu đông đặc. Suốt ngày bụi từ trên cao cứ rơi xuống dần như xuyên qua một cái rây. Ngày tiếp theo bụi tiếp tục sa xuống, bao phủ mặt đất dưới một tấm màn đồng màu. Bụi lắng đọng trên ngô, bám đầy trên đầu cọc rào, bám đặc trên các sợi dây thép, trải rộng trên các mái nhà, che lấp cỏ và cây. Mũi được che chắn cẩn thận, mọi người ra khỏi nhà và ngửi không khí nóng ăn mòn da thịt. Bọn trẻ con cũng bắt chước người lớn nhưng chúng không hò hét, không chạy nhảy như trước kia mỗi lần mưa tạnh. Người lớn đứng gần bờ dậu, nhìn cánh đồng ngô bị tàn hại hiện đang khô héo. Họ đứng câm lặng và nhiều khi không động đậy. Rồi đến lượt các phụ nữ ra đứng cạnh đàn ông để xem lần này cánh đàn ông có bị nao núng trước thời tiết tai ác như vậy không. Họ kín đáo nhìn gương mặt đám đàn ông, bởi vì ngô có thể biến mất nhưng cũng không sao, qui hồ còn lại thứ gì khác. Lũ trẻ con đứng gần đấy, lấy ngón chân cái vạch vạch các hình vẽ trên cát bụi, và với giác quan thức tỉnh, chúng tìm cách đoán xem chẳng hay người lớn có nao núng hay không. Chúng liếc trộm vẻ mặt của người lớn rồi lại chăm chú đưa đầu ngón chân vạch vạch trên đất bụi. Những con ngựa đi tới máng nước, lỗ mũi phì phì xua bụi đóng váng trên đó. Sau một lúc, khuôn mặt những người đàn ông đang quan sát mất hẳn vẻ sững sờ ngơ ngác và trở nên đanh lại, giận dữ, cương quyết. Thế là các phụ nữ hiểu ra rằng nguy cơ đã qua và sẽ không có chuyện suy sụp xảy ra. Họ bèn hỏi: - Ta làm thế nào bây giờ? Đám đàn ông đáp: - Chưa biết sao. Nhưng mọi việc đều ổn thỏa, đám phụ nữ biết rằng mọi việc đều ổn. Từ đáy lòng, đàn bà và trẻ con đều biết rằng một khi đàn ông họ vững vàng thì không có nỗi bất hạnh nào là quá nặng nề. Phụ nữ trở vào nhà, lại bắt tay vào công việc thường ngày, còn trẻ con lại bắt đầu nô đùa, tuy mới đầu có vẻ hơi rụt rè. Càng về trưa, mặt trời càng bớt đỏ rực, phóng những tia nắng gắt xuống miền quê bị bao trùm dưới bụi. Đàn ông ngồi trên bậc cửa, tay mân mê những chiếc gậy hoặc những hòn sỏi bé nhỏ. Họ ngồi im lặng, suy nghĩ và tính toán. M CHƯƠNG 2 ột chiếc xe tải lù lù đỗ lại trước một tiệm ăn bé nhỏ nằm bên rìa đường, ống thoát hơi thẳng đứng kêu ro ro, và một quầng khói xanh lam hầu như vô hình lượn lờ phía trên đầu ống. Đây là một chiếc xe tải mới sơn màu đỏ chói gắt, hai bên thành xe có một dòng chữ to tướng Công ty vận tải thành phố Oklahoma. Bánh xe đôi mới cứng, một núm khoá bằng đồng lòi ra ngoài các nẹp sắt trên các cánh cửa to ở phía sau. Quán ăn có các ô cửa được bảo vệ bằng một tấm lưới sắt, một loa truyền thanh đang chơi bản nhạc khiêu vũ âm thầm như lúc không có ai lắng nghe; một chiếc quạt nhỏ lặng lẽ quay tròn trong chiếc cửa mắt bò phía trên chỗ ra vào; đàn ruồi hối hả vo ve quanh cửa lớn và cửa sổ, chốc chốc lại đụng vào các tấm lưới sắt. Trong quán có một tài xế là khách độc nhất: ngồi thoải mái trên chiếc ghế đẩu, khuỷu tay tì lên quầy hàng, qua miệng tách cà phê, y nhìn cô phục vụ gầy nhom và lẻ loi. Anh tài nói chuyện với cô bằng thứ ngôn ngữ linh hoạt và lơ đãng của cánh lái xe đường trường. - Tớ đã thấy hắn cách đây gần ba tháng. Mới mổ xong. Bị cắt mất cái gì đó, tớ chả biết. Và cô ta: - Còn mình, hình như mình thấy hắn cách đây chưa đầy một tuần. Có vẻ khoẻ ra trò. Một anh chàng chả xấu bụng gì, miễn là đừng say bét nhè. Thỉnh thoảng đàn ruồi sà tới, khẽ vo ve bên tấm lưới sắt của cửa lớn. Một luồng hơi thoát ra từ chiếc bình pha cà phê, cô phục vụ không quay lại, chìa tay ra sau để đóng tay gạt. Bên ngoài, một gã thanh niên đang đi bên lề đường bỗng tạt ngang qua và tới gần chiếc xe tải. Anh chậm rãi bước tới trước mui xe, đặt tay lên thanh chắn bảo hiểm lấp lánh. Anh nhìn cái nhãn dính ở tấm chắn gió: No Riders 1. Trong một lúc, anh có vẻ như muốn tiếp tục cuộc hành trình, nhưng rồi thay đổi ý kiến, anh ngồi xuống trên bậc xe đối diện với quán ăn. Anh chưa đầy ba mươi tuổi. Đôi mắt màu nâu xám, con ngươi sắc nâu nhạt. Lưỡng quyền cao, những nếp nhăn hằn trên đôi má và uốn cong xung quanh miệng. Môi trên dài, và vì hàm răng vẩu, anh luôn luôn giữ ý khép miệng lại. Đôi bàn tay cứng, ngón to bè, móng tay và có đường vân như loài sò. Khoảng giữa ngón cái, ngón trỏ và gan bàn tay nổi lên những cục chai bóng láng. Anh mặc quần áo mới, tất cả những gì anh mang đều rẻ tiền và mới. Chiếc mũ cát két mới nguyên đến nỗi lưỡi trai còn cứng ngắc và chiếc khuy bấm còn dính chặt vào đấy. Nó còn chưa biến dạng và méo mó như về sau, khi đã trải qua một thời gian làm tròn những lợi ích khác nhau dành cho loại mũ cát két, ba lô nhỏ, khăn trải bàn và khăn tay. Bộ com lê bằng dạ xám rẻ tiền còn mới đến nỗi chiếc quần còn giữ nguyên nếp, áo sơ mi bằng vải lanh xanh, vải còn cứng hồ và chưa bị nhăn nheo. Chiếc vét tông quá rộng, chiếc quần ngắn cũn cỡn vì anh chàng người to cao. Đường khâu chỗ khoét nách chùng xuống và ngay dù vậy, ống tay áo vẫn ngắn và thân áo trước lè phè nơi bụng. Anh đi một đôi giày màu vàng sáng, mới, kiểu giày xăng đá của quân đội có đóng đinh và có đóng sắt để khỏi vẹt gót. Anh ngồi ở bậc lên xuống, cất mũ lưỡi trai, lau mồ hôi mặt. Rồi anh đội lại mũ, kéo sụp lưỡi trai xuống. Anh để ý đến đôi bàn chân, anh cúi xuống, nới lỏng dây giày và cứ để nguyên không buộc lại nữa. Phía trên đầu anh ống hơi Diesel rầm rì nhả những cuộn khói lam đang thoát nhanh. Trong quán nhạc đã tắt: và từ loa phóng thanh có tiếng đàn ông vang ra, nhưng cô phục vụ vẫn để mặc không tắt máy. Mấy đầu ngón tay táy máy sục sạo đã lần ra một cục u ở phía sau tai. Cô cố hiếng mắt, nhìn vào chiếc gương đứng đặt phía sau quầy, và để anh lái xe khỏi chú ý tới, cô giả vờ sửa lại mấy cụm tóc lòa xòa. Anh lái xe nói: - Vừa rồi ở Shawance có khiêu vũ lớn ghê. Hình như ai đó bị giết, hay đại để như thế. Đằng ấy không biết tin sao? - Không - cô vừa đáp vừa nhẹ nhàng mân mê cục thịt sau tai. Ở bên ngoài, anh thanh niên đang đứng lên nhìn qua tấm màn che và quan sát quán ăn trong chốc lát. Rồi anh lại ngồi xuống, rút ở túi sau ra một gói thuốc lá rời và giấy cuốn. Anh chậm rãi, khéo léo cuốn điếu thuốc, ngắm nghía nó rồi đưa đầu lưỡi miết. Mãi sau anh mới châm lửa hút và ném que diêm cháy dở xuống bụi đường. Trưa đang tới gần, mặt trời cắt ngắn bóng chiếc xe tải. Trong quán, anh tài xế đứng lên trả tiền, rồi đặt hai đồng năm xu mà cô hàng trả lại, qua rãnh một máy quay xu. Trục quay không dừng lại ở bất cứ con số nào. - Họ gian lận, chẳng bao giờ mình kiếm chác được chút gì, - y nói với cô hàng. Và cô đáp: - Ấy có một thằng cha đã trúng một cái bình chốt cắm đấy thôi. Cách đây chưa quá hai tiếng. Hắn vớ được tám mươi đô la. Bao giờ cậu quay lại? Anh tài xế để cửa lưới sắt hé mở. - Từ nay tới đó, cũng phải tám, mười ngày. Tớ phải đánh xe tới tận Tusla. Định về sớm nhưng chả bao giờ được. Cô càu nhàu: - Đừng để ruồi vào. Hoặc là ra hẳn, hoặc là vào hẳn, nào! - Tạm biệt, - anh tài nói rồi đi ra. Cửa lưới sắt kêu đánh cách phía sau y. Đứng ngoài nắng, y rút trong bọc ra một chiếc kẹo cao su. Đây là một gã đẫy đà, vai rộng, bụng nặng nề. Khuôn mặt đỏ, đôi mắt xanh dài ti hí vì mải nhấp nháy trong ánh sáng chói chang. Y mặc một chiếc quần nhà binh, mang đôi bốt có dây buộc. Tay cầm chiếc kẹo cao su ngang miệng, y nói qua cánh cửa: - Bảo này, tớ đi rồi thì đằng ấy chớ có léng phéng, nghe? Cô phục vụ mắt quay về phía chiếc gương ở tường phía trong, càu nhàu một lời đáp. Gã tài chậm rãi nhá nhẩm đầu kẹo, mỗi lần nhai lại há rộng quai hàm. Y đưa đầy chiếc kẹo trong miệng, vừa luồn nó xuống phía dưới lưỡi, vừa tiến về phía chiếc xe tải màu đỏ. Anh chàng đi nhờ xe bèn đứng lên nhìn qua cánh cửa sổ. - Thưa ông, ông có thể cho tôi đi nhờ một quãng đường, được không? Người tài xế thoáng nhìn trộm về phía tiệm ăn. - Anh không nom thấy cái nhãn dán ở chắn gió, sao? - Có chứ, có thấy. Nhưng thiết nghĩ, nhiều lúc, vẫn có những người quân tử, bất chấp một gã nhà giàu chết tiệt nào đó buộc y phải đeo một cái nhãn. Anh tài thong thả ngồi vào xe, ngẫm nghĩ đến câu trả lời đó. Giá bây giờ mà từ chối thì cũng dở, đã không phải là tay quân tử mà vẫn phải đèo thêm mỗi cái nhãn buộc người ta không cho ai đi cùng. Còn nếu y để cho cái gã lang thang này lên xe thì sao? Tự khắc y là tay quân tử, hơn nữa, lại không thuộc vào hạng người bị một tên nhà giàu xỏ mũi. Y cảm thấy mình bị kẹt, nhưng không có cách thoát ra. Mà y lại muốn làm một tay quân tử. Một lần nữa, y liếc nhìn vào quán rồi nói: - Cậu ngồi nấp ở bậc lên xuống chờ cho mình đánh xe quá khúc ngoặt. Anh chàng đi nhờ xe ngồi xệp xuống cho khỏi ai nom thấy tay quắp chặt núm cửa. Máy xe rồ lên một chốc, cần gạt số kêu lanh canh và chiếc xe tải to lớn mở máy, tốc độ một, tốc độ hai, tốc độ ba, rồi một tăng tốc dài, và cuối cùng, tốc độ bốn. Khúc ngoặt ở cách đấy một dặm. Vượt qua chỗ rẽ, chiếc xe chạy chậm lại. Anh đứng lên, mở cửa và luồn vào ngồi trên ghế. Qua đôi mi hé mở, anh tài xế quan sát anh, miệng vẫn tiếp tục nhai. Chẳng khác ý nghĩ và ấn tượng của y được sàng lọc và sắp xếp bởi đôi quai hàm trước khi chúng được xếp loại trong đầu óc. Thoạt tiên đôi mắt y chốt vào chiếc mũ mới, rồi lần xuống bộ quần áo mới để rồi dừng lại ở đôi giày mới. Anh đi nhờ xe ngã người vào chỗ tựa, vặn vẹo người để ngồi cho thoải mái, rồi cất mũ lau mồ hôi trán và cằm. - Cám ơn, anh bạn, - anh nói. - Chân mình long ra rồi. - Giày mới mà lại? - anh tài nói. Cũng như đôi mắt, giọng nói của y có tính cách bí mật và lấy lòng. - Nắng nôi thế này mà lại mang giày mới đi dạo... kể cũng trái khoáy. Anh đi nhờ xe cúi mắt nhìn xuống đôi giày bám đầy bụi. - Mình chả có đôi nào khác. Đành phải mang đôi này vậy. Với vẻ thông cảm, anh tài xế nheo đôi mí nhìn phía trước mặt rồi cho xe chạy nhanh thêm. Y hỏi: - Cậu đi xa không? - Ô! Mình có thể cuốc bộ được, giá như bộ giò nó chịu chiều mình. Những câu hỏi của anh tài có cái giọng hỏi cũng tế nhị. Bằng cái câu hỏi, hình như y chẳng bầy đặt lưới phục. - Cậu đi tìm việc làm à? - Không. Ông già mình có trang trại. Bốn mươi acrơ 2. - Làm tá điền, nhưng đã ở đấy từ đời nảo đời nào. Gã tài xế ném một cái nhìn thông thạo lên những cánh đồng nằm hai bên đường cái, ở đây ngô đã nằm rạp vùi lấp trong đất bụi. Anh tài xế nói như nhủ thầm: - Bốn mươi acrơ. Thế ông già đã trụ lại được với bụi hay sao? Mà máy cày còn chưa tới xua đuổi ông đi ư? - Cũng phải nói là lâu nay, tớ chả có tin tức nhà. - Lâu đấy - anh tài xế nói. Một con ong bay vào buồng lái rồi tới vo ve sau tấm chắn gió. Gã tài vươn tay ra, thận trọng bắt lấy nó và thả ra ngoài cửa. - Thời buổi này, - y nói tiếp, - dân cày sẽ biến nhanh thôi. Người ta tự dẫn xác đến một chiếc xe xích, và thế là mười gia đình bị tống ra ngoài... Trong xứ, đầy rẫy những chiếc xe bánh xích sắt chết tiệt. Chúng nhổ sạch mọi thứ, tống khứ dân cày ra đường. Ông già cậu trụ làm sao được? Lưỡi và quai hàm của y bắt đầu nghiền chiếc kẹo cao su, cuộn nó lại, rồi lại nhai. Mỗi lần y há miệng, người ta có thể thấy đầu lưỡi lật trở viên kẹo. - Ô... lâu nay mình không có tin tức gì của ông già. Mình không thạo chuyện viết thư, ông già cũng không. - Rồi anh nói tiếp, rất nhanh: - Nhưng nếu muốn thì mình có thể viết, ông cụ cũng vậy. - Cậu có công ăn việc làm ở đâu đó chứ? Một lần nữa, lại vẫn cái tính tò mò kín đáo sau vẻ thờ ơ bên ngoài. Đôi mắt y nhìn ra xa xa trên cánh đồng quê, vào bầu không khí rung rinh, rồi giữ chiếc kẹo sát vào má để khỏi bị vướng, y nhổ qua cánh cửa. - Tất nhiên là thế, - anh chàng đi nhờ xe nói. - Tớ đã ngờ thế rồi. Chỉ nhìn bàn tay của cậu là biết. Cậu đã cầm cuốc rìu, hoặc búa. Tay chai bóng lên kia kìa! Ngay tức thì tớ đã để ý đến các vệt xước. Tớ tin lắm. Anh đi nhờ xe nhìn y chòng chọc. Bánh xe tải hát réo trên đường cái. - Cậu muốn biết thêm chuyện gì khác nữa ư? Mình có thể nói cậu nghe thôi mà! Việc gì phải đoán. - Cậu đừng giận. Tớ đâu có cái thói chõ mũi vào chuyện riêng của cậu. - Mình sẽ nói những gì cậu muốn. Chả có gì phải dấu. - Thôi mà, đừng giận. Đơn giản là mình thích nhận xét thế này thế nọ. Gọi là để giết thì giờ. - Tớ sẽ nói những gì cậu muốn. Tên tớ là Joad, Tom Joad. Bố tớ là ông già Tom Joad. Nói xong, anh ta đặt một cái nhìn ủ ê lên gã tài xế. - Cậu đừng nên giận. Tớ chả nghĩ quanh nghĩ co gì đâu mà. - Thì tớ cũng thế, tớ chả nghĩ xa nghĩ gần gì sất. Đơn giản là tớ gắng tự xoay xở lấy để khỏi phiền lụy đến ai. Anh ngừng lại, nhìn cánh đồng quê khô hạn và các bụi cây đói khát ở phía xa xa cháy bỏng. Từ túi bên, anh rút thuốc lá và giấy cuốn ra. Anh cuốn điếu thuốc giữa hai đầu gối để tránh gió. Anh tài xế nhai nhỏ nhẹ, đều đặn, tư lự hệt như con bò cái nhai trầu. Y chờ cho mẩu chuyện vừa rồi hòa tan trong quên lãng. Cuối cùng, khi bầu không khí đã bình thường trở lại, y nói:
- Xem thêm -