Tài liệu Chủ nghĩa duy vật lịch sử

  • Số trang: 25 |
  • Loại file: DOCX |
  • Lượt xem: 42 |
  • Lượt tải: 0
hoang

Tham gia: 04/11/2015

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN KHOA LƯU TRỮ HỌC VÀ QUẢN TRỊ VĂN PHÒNG BÀI KIỂM TRA GIỮA KÌ Chủ đề : CHỦ NGHĨA DUY VẬT LỊCH SỬ Lớp : K60 Lưu trữ học Môn học : Nguyên lý 2 Giảng viên : TS. Trần Thị Điểu 1 Câu 1. Nêu các khái niệm sản xuất vật chất, phương thức sản xuất, lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất. Trình bày nội dung quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Ý nghĩa của việc nắm vững mối quan hệ này đối với sự nghiệp đổi mới của Việt Nam hiện nay. a. Các khái niệm *Khái niệm sản xuất vật chất - Sản xuất là một loại hình hoạt động đặc trưng của con người và xã hội loài người, bao gồm: sản xuất vật chất, sản xuất tinh thần và sản xuất ra bản thân con người. Ba quá trình đó gắn bó chặt chẽ với nhau, tác động qua lại với nhau, trong đó sản xuát vật chất là cơ sở cho sự tồn tại và phát triển của xã hội. - Sản xuất vật chất: Là quá trình hoạt động của con người mà trong quá trình đó con người sử dụng các phương tiện công cụ lao động thích hợp tác động vào tự nhiên, cải biến các dạng vật chất của tự nhiên nhằm tạo ra của cải vật chất để thỏa mãn nhu cầu tồn tại và phát triển của mình. *Khái niệm phương thức sản xuất Là cách thức mà con người dùng để tạo ra của cải vật chất cho mình trong một giai đoạn lịch sử nhất định, theo cách đó, con người có những quan hệ sản xuất nhất định với nhau trong sản xuất. *Khái niệm lực lượng sản xuất Là sự kết hợp giữa người lao động (sức khỏe thể chất, kinh nghiệm, kĩ năng, trí thức lao động của họ) với tư liệu sản xuất mà trước hết là công cụ lao động để tạo ra một sức sản xuất vật chất nhất định. *Khái niệm quan hệ sản xuất Là những quan hệ cơ bản giữa người với người trong quá trình sản xuất vật chất (sản xuất và tái sản xuất xã hội) thể hiện ở quan hệ về mặt hữu cơ đối với tư liệu sản xuất, quan hệ trong tổ chức quản lý sản xuất về mặt phân phối sản phẩm sản xuất ra... 2 b. Nội dung quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. *Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất Lực lượng sản xuất là toàn bộ các nhân tố vật chất, kỹ thuật của quá trình sản xuất, chúng tồn tại trong mối quan hệ biện chứng với nhau tạo ra sức sản xuất làm cải biến các đối tượng trong quá trình sản xuất, tức là tạo ra năng lực thực tiễn làm biến đổi các đối tượng vật chất của giới tự nhiên theo nhu cầu nhất định của con người và xã hội. Lực lượng sản xuất bao gồm: Người lao động (như năng lực, kỹ năng, tri thức...) và các tư liệu sản xuất (gồm đối tượng lao động và tư liệu lao động) trong đó nhân tố người lao động giữ vai trò quyết định. Sở dĩ như vậy là vì suy đến cùng các tư liệu sản xuất chỉ là sản phẩm lao động của con người, đồng thời giá trị và hiệu quả thực tế của các tư liệu sản xuất phụ thuộc vào trình độ sử dụng của người lao động. Trong tư liệu sản xuất, nhân tố công cụ lao động do con người sáng tạo ra phản ánh rõ nhất trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Ngày nay, với sự phát triển và ứng dụng nhanh chóng những thành tựu của khoa học, kỹ thuật và công nghệ hiện đại vào quá trình sản xuất làm cho các tri thức khoa học kỹ thuật trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, thúc đẩy sự phát triển và chuyển từ nền kinh tế công nghiệp sang nền kinh tế tri thức. Quan hệ sản xuất bao gồm: quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất, quan hệ trong tổ chức quản lý sản xuất và quan hệ phân phối sản phẩm sản xuẩt. Ba quan hệ sản xuất này thống nhất với nhau, tuy nhiên, quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất đóng vao trò quyết định bởi lẽ ai nắm tư liệu sản xuất trong tay thì người ấy sẽ quyết định việc tổ chức quản lý sản xuất cũng như phân phối sản phẩm sản xuất. *Mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất 3 Mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất là mối quan hệ thống nhất biện chứng trong đó lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất và quan hệ sản xuất tác động trở lại lực lượng sản xuất. Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt cơ bản, tất yếu của quá trình sản xuất, trong đó lực lượng sản xuất là nội dung vật chất của quá trình sản xuất, còn quan hệ sản xuất là hình thức kinh tế của quá trình đó. Trong quá trình sản xuất, không thể có sự kết hợp các yếu tố sản xuất diễn ra bên ngoài những hình thức kinh tế nhất định; ngược lại cũng không có quátrình sản xuất nào lại có thể diễn ra chỉ với những quan hệ sản xuất mà không có nội dung vật chất của nó. Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất tồn tại trong tính quy định lẫn nhau, thống nhất với nhau. Mối quan hệ thống nhất giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất tuân theo nguyên tắc khách quan: quan hệ sản xuất phụ thuộc vào thực trạng phát triển của lực lượng sản xuất trong mỗi giai đoạn lịch sử nhất định. Vai trò quyết định của lực lượng sản xuất đối với quan hệ sản xuất được thể hiện ở chỗ: - Lực lượng sản xuất thế nào thì quan hệ sản xuất phải thế ấy tức là quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. - Khi lực lượng sản xuất biến đổi quan hệ sản xuất sớm muộn cũng phải biến đổi theo. - Lực lượng sản xuất quyết định cả ba mặt của quan hệ sản xuất tức là quyết định cả về chế độ sở hữu, cơ chế tổ chức quản lý và phương thức phân phối sản phẩm. Tuy nhiên, quan hệ sản xuất với tư cách là hình thức kinh tế của quá trình sản xuất luôn có tác động trở lại lực lượng sản xuất. Sự tác động này diễn ra theo cả hai chiều hướng tích cực và tiêu cực, điều đó phụ thuộc vào tính phù hợp hay không phù hợp của quan hệ sản xuất với thực trạng của lực lượng sản xuất. - Nếu quan hệ sản xuất phù hợp với lực lượng sản xuất sẽ tạo ra tác động tích cực, thúc đẩy và tạo điều kiện cho lực lượng sản xuất phát triển. 4 - Nếu không phù hợp sẽ tạo ra tác động tiêu cực, tức là kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất. Mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là mối quan hệ thống nhất có bao hàm khả năng chuyển hóa thành các mặt đối lập và phát sinh mâu thuẫn. Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất thống nhất với nhau trong một phương thức sản xuất, tạo nên sự ổn định tương đối, đảm bảo sự tương thích giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, tạo điều kiện cho sản xuất phát triển. Lực lượng sản xuất không ngừng biến đổi, phát triển, tạo ra khả năng phá vỡ sự thống nhất giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất làm xuất hiện nhu cầu khách quan phải tái thiết lập quan hệ thống nhất giữa chúng theo nguyên tắc quan hệ sản xuất phải phù hợp với yêu cầu phát triển của lực lượng sản xuất. Sự vận động của mâu thuẫn này tuân theo quy luật “từ sự thay đổi về lượng thành sự thay đổi về chất và ngược lại”, “quy luật phủ định của phủ định”, khiến cho quá trình phát triển của sản xuất xã hội vừa diễn ra với tính chất tiệm tiến, tuần tự lại vừa có tính nhảy vọt với những bước đột biến, kế thừa và vượt qua của nó ở trình trình độ ngày càng cao hơn. Sự vận động của mâu thuẫn biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là nguồn gốc và động lực cơ bản của sự vận động, phát triển các phương thức sản xuất. Nó là cơ sở để giải thích một cách khoa học về nguồn gốc sâu xa của toàn bộ hiện tượng xã hội và sự biến động trong đời sống chính trị, văn hóa của xã hội. c. Ý nghĩa - Là nền tảng cở sở để duy trì sinh hoạt vật chất cho xã hội. Nếu thiếu nó sẽ không có bộ mặt tinh thần, không có sản xuất tinh thần và tất nhiên, xã hội con người không tồn tại. 5 - Chính lịch sử phát triển của sản xuất vật chất quyết định đến sự phát triển của đời sống tinh thần như chính trị, đạo đức, pháp quyền. Trong quá trình này, con người không chỉ cải tạo thế giới tự nhiên mà còn cải tạo chính mình. Ở Việt Nam, sau hòa bình lập lại, ở miền Bắc (1945) và thống nhất đất nước (1975) chúng ta đã tiến lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa. Vào buổi đầu, do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, chúng ta đã xây dựng chủ nghĩa xã hội theo mô hình kế hoạch hóa tập trung. Trong điều kiện chiến tranh, mô hình đó đóng vai trò tích cực, nhưng trong điều kiện hòa bình, mô hình đó dần bộc lộ những hạn chế và dẫn đến khủng hoảng nghiêm trọng về kinh tế - xã hội. Đứng trước tình hình đó, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (1986) của Đảng cộng sản Việt Nam đã đưa ra đường lối đổi mới đất nước. Đổi mới không phải là thay đổi mục tiêu xã hội chủ nghĩa mà là nhận thức cho đúng mục tiêu và con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. ĐCSVN đã định ra đường lối chuyển từ mô hình kế hoạch hóa tập trung sang xây dựng kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần là phù hợp với đặc điểm phát triển của lực lượng sản xuất ở nước ta trong điều kiện hiện nay. Nó cho phép khai thác tốt nhất các năng lực sản xuất trong nước, thúc đẩy quá trình phân công lao động trong nước và gắn phân công lao động trong nước với quốc tế và khu vực, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển nhanh chóng. Những thành tựu đạt được về mặt kinh tế trong 20 năm đổi mới đã chứng minh tính đúng đắn của đường lối đó. Trong giai đoạn hiện nay Đảng chủ trương giải phóng mạnh mẽ hơn nữa lực lượng sản xuất, phát huy nguồn lực toàn xã hội. Mọi công dân, mọi vùng, mọi ngành nghề kinh tế, phát triển khoa học công nghệ, phát triển giáo dục và đào tạo, phát triển con người, nâng cao chất lượng nguồn lực, phát triển nền kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa, 6 phát triển và ứng dụng kinh tế tri thức, định hướng tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế khác phất triển. Với sự phát triển của lực lượng sản xuất, loài người đã trải qua 5 hình thái kinh tế - xã hội. Xu hướng tất yếu là không dừng ở CNTB mà tiến lên chủ nghĩa Cộng sản. Việt Nam đang trong quá trình quá độ lên chủ nghĩa xã hội, vì thế mà chúng ta cần hoàn thiện, hoàn chỉnh hệ thống chính trị và cơ cấu chính trị. Câu 2. Khái niệm cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng. Mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng. Ý nghĩa của việc nắm vững mối quan hệ này đối với sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam hiện nay. *Khái niệm cơ sở hạ tầng Là toàn bộ những quan hệ sản xuất hợp thành cơ cấu kinh tế của xã hội. Gồm: + Những quan hệ sản xuất thống trị + Những quan hệ sản xuất tàn dư + Những quan hệ sản xuất mầm mống Ví dụ: Xã hội Phong kiến: Trong đó chiếm hữu nô lệ, nguyên thủy (là quan hệ tàn dư) phong kiến (là quan hệ thống trị) tư bản chủ nghĩa (là quan hệ mầm mống) Trong 3 quan hệ trên, quan hệ sản xuất thống trị bao giờ cũng giữ vai trò chủ đạo, chi phối các quan hệ sản xuất khác, đồng thời nó cũng quy định chung xu hướng của toàn xã hội. Trong xã hội có giai cấp đối kháng, tính giai cấp của cơ sở hạ tầng do quan hệ sản xuất thống trị quy định, đồng thời vì thế dẫn đến mâu thuẫn giai cấp xuất phát từ cơ sở hạ tầng. *Khái niệm kiến trúc thượng tầng Là toàn bộ hệ thống kết cấu các hình thái ý thức xã hội cùng với các thiết chế chính trị - xã hội tương ứng, được hình thành trên một cơ sở hạ tầng nhất định. 7 Kiến trúc thượng tầng gồm: Những tư tưởng xã hội, chính trị, pháp luật, triết học, đạo đức, tôn giáo và các thiết chế xã hội tương ứng: Nhà nước, chính đảng, đoàn thể. Mỗi yếu tố của kiến trúc thượng tầng đều có đặc điểm, quy luật phát triển riêng nhưng chúng lại tác động, có mối liên hệ với nhau và đều được hình thành trên một cơ sở hạ tầng nhất định. Kiến trúc thượng tầng trong xã hội có giai cấp bao giờ cũng bao gồm hệ tư tưởng có các thiết chế của giai cấp thống trị, những tàn dư của xã hội cũ để lại cũng như những tàn dư của giai cấp mới ra đời. Ví dụ: trong xã hội phong kiến, con vua thì lại làm vua.. cha truyền con nối. Trong kiến trúc thượng tầng, bộ phận có quyền lực mạnh nhất là Nhà nước. Về danh nghĩa, nhà nước là hệ thống tổ chức đại biểu cho quyền lực chung của xã hội để quản lý, điều hành mọi hoạt động của xã hội, thực hiện chức năng chính trị và xã hội; đối nội và đối ngoại của quốc gia. Về thực chất, bất cứ nhà nước nào cũng là công cụ quyền lực của giai cấp thống trị, tức giai cấp thống trị nắm giữ được những tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội. *Mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng Cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng là hai phương diện cơ bản của đời sống xã hội, đó là phương diện kinh tế và chính trị - xã hội. Chúng tồn tại trong mối quan hệ thống nhất biện chứng với nhau, tác động lẫn nhau. Trong đó cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng, đồng thời kiến trúc thượng tầng thường xuyên có sự tác động trở lại cơ sở hạ tầng. 1/ Vai trò quyết định của cơ sở hạ tầng với kiến trúc thượng tầng Thư nhất: Cơ sở hạ tầng nào thì “sinh ra” kiến trúc thượng tầng ấy. Vì để làm chủ về kinh tế, thì giai cấp thống trị tổ chức ra bộ máy cùng với quy định luật lệ và những quan điểm tư tưởng hướng xã hội hoạt động, bảo vệ quan hệ sản xuất thống trị ấy, bảo vệ lợi ích giai cấp mình. 8 Quan hệ sản xuất là quan hệ cơ bản, quyết định quan hệ khác như kinh tế chính trị... Thứ 2: Cơ sở hạ tầng hình thành tính chất kiến trúc thượng tầng , cơ sở hạ tầng biến đổi, sớm hay muộn cũng dẫn đến sự biến đổi kiến trúc thượng tầng nhưng vô cùng phức tạp. Ví dụ: Cơ sở hạ tầng quan hệ sản xuất tư bản thì kiến trúc thượng tầng là kiến trúc thượng tầng tư bản. Tóm lại: Cơ sở hạ tầng quyết định sự hình thành và biến đổi của Kiến trúc thượng tầng. Khi cơ sở hạ tầng biến đổi => kiến trúc thượng tầng cũng biến đổi theo 2/ Sự tác động trở lại của kiến trúc thượng tầng diễn ra theo hai xu hướng là tích cực và tiêu cực + Tích cực: Kiến trúc thượng tầng bảo vệ, duy trì, củng cố, phát triển cơ sở hạ tầng sinh ra nó. Đấu tranh để xóa bỏ cơ sở hạ tầng lỗi thời. + Tiêu cực: Kiến trúc thượng tầng tác động ngược chiều với sự vận động của cơ sở hạ tầng. * Ý nghĩa của việc nắm vững mối quan hệ này đối với sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam hiện nay - Kiến trúc thượng tầng là do cơ sở hạ tầng sinh ra. Vì vậy, phải xây dựng và hoàn thiện một hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách, đầu tư chiến lược phù hợp với cơ sở hạ tầng, tức là phù hợp với quan hệ sản xuất hiện tồn và cơ cấu thành phần kinh tế nhằm kích thích sản xuất, nâng cao năng suất lao động. LIÊN HỆ : Ở Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI chỉ ra: “Xây dựng cơ chế vận hành của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo đảm nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân; quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng 9 tính cụ thể, khả thi của các quy định trong văn bản pháp luật. Xây dựng, hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát tính hợp hiến, hợp pháp trong các hoạt động và quyết định của các cơ quan công quyền” - Cơ sở hạ tầng đóng vai trò quyết định đối với kiến trúc thượng tầng. Vì vậy, để củng cố kiến trúc thượng tầng vững mạnh thì cần phải mở rộng và phát huy vai trò của các quan hệ sản xuất trong đời sống xã hội, cụ thể: + Thực hiện mở rộng, phát triển nền kinh tế nhiều thành phần đặt dưới sự quản lý của Nhà nước. + Thực hiện đa dạng hoá các hình thức sở hữu, tổ chức quản lý, phân phối sản phẩm nhằm bảo đảm lợi ích cho các giai cấp, tầng lớp trong xã hội. Qua đó, sẽ kích thích, mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển, góp phần củng cố kiến trúc thượng tầng và tình hình an ninh chính trị của quốc gia. - Trong quan hệ sản xuất bao gồm: quan hệ sản xuất tàn dư, quan hệ sản xuất thống trị và mầm mống của quan hệ sản xuất tương lai. + Nhà nước và các tổ chức xã hội cần có cơ chế, chính sách loại bỏ dần các quan hệ sản xuất tàn dư, lạc hậu và củng cố vững chắc quan hệ sản xuất thống trị hiện tồn + Từng bước ưu tiên phát triển những quan hệ sản xuất mới tiến bộ, khoa học nhằm thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, nâng cao năng suất lao động. Qua đó, góp phần củng cố kiến trúc thượng tầng vững mạnh. 2. Vận dụng cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng vào trong đổi mới chính trị ở Việt Nam - Thực hiện đổi mới trên nền tảng của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đổi mới có bước đi, lộ trình, kế hoạch trên tinh thần Đảng lãnh đạo, NHÀ NƯỚC quản lý, nhân dân lao động làm chủ. Đổi mới toàn diện cả kinh tế và chính trị. Trước hết, Đổi mới kinh tế, từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng chủ 10 nghĩa xã hội. Trong đó Cơ sở hạ tầng Việt Nam hiện nay là cơ sở hạ tầng quá độ bao gồm nhiều loại hình quan hệ sản xuất. Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo kinh tế hợp tác làm nền tảng, đó là nguyên tắc. Tăng trưởng kinh tế gắn với công bằng tiến bộ xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái. Ví dụ: công nghiệp hóa gắn với mất ruộng, giải quyết đời sống cho người lao động Thứ 2 là: đổi mới chính trị:Đổi mới chính trị không phải thay đổi chế độ chính trị mà đổi mới tư duy chính trị về Chủ nghĩa xã hội. Đổi mới hoạt động của hệ thống chính trị giới sự lãnh đạo của Đảng mà thực chất là đẩy mạnh dân chủ hóa. Cụ thể là nâng cao hiệu quả sự lãnh đạo của đảng với các thành viên trong hệ thống chính trị và giải quết tốt mối quan hệ giữa các thành viên, thực chất là đẩy mạnh dân chủ hóa chủ nghĩa xã hội. Kiến thức thượng tầng của Việt Nam hiện nay:về mặt chính trị nước ta đang xây dựng định hướng xã hội chủ nghĩa, lấy chủ nghĩa Mác Leenin , tư tưởng Hồ Chí Minh là kim chỉ nam là nền tảng tư tưởng, là cơ sở chiến lược, sách lược cách mạng cho Đảng lãnh đạo, thể chế Việt Nam là thể chế nhất nguyên chính trị. Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa do dân vì dân. Chúng ta đổi mới toàn diện, nhưng đổi mới kinh tế là trọng tâm, chính trị là từng bước. Câu 3. Khái niệm và kết cấu hình thái kinh tế xã hội. Tại sao nói sự phát triển của hình thái kinh tế xã hội là một quá trình lịch sử tự nhiên? Khái niệm Hình thái kinh tế xã hội là một phạm trù của chủ nghĩa duy vật lịch sử, dùng để chỉ xã hội ở từng giai đoạn lịch sử nhất định, với một kiểu quan hệ sản xuất đặc trưng cho xã hội đó phù hợp với một trình độ nhất định của lực lượng sản xuất và 11 một kiểu kiến trúc thượng tầng tương ứng được xây dựng trên những quan hệ sản xuất ấy. Kết cấu Hình thái kinh tế - xã hội gồm: Lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng. - Lực lượng sản xuất: Là sự kết hợp giữa người lao động (sức khỏe thể chất, kinh nghiệm, kĩ năng, trí thức lao động của họ) với tư liệu sản xuất mà trước hết là công cụ lao động để tạo ra một sức sản xuất vật chất nhất định Là nền tảng vật chất kỹ thuật của mỗi hình thái kinh tế xã hội, là yếu tố quyết định sự hình thành và phát triển của mỗi hình thái kinh tế xã hội bởi bản thân các lực lượng sản xuất không phải là sản phẩm riêng của thời đại nào mà là sản phẩm của cả một quá trình phát triển liên tục từ thấp lên cao qua các thời đại, là sự tiếp biến không ngừng của lịch sử. - Quan hệ sản xuất: Là những quan hệ cơ bản giữa người với người trong quá trình sản xuất vật chất (sản xuất và tái sản xuất xã hội) thể hiện ở quan hệ về mặt hữu cơ đối với tư liệu sản xuất, quan hệ trong tổ chức quản lý sản xuất về mặt phân phối sản phẩm sản xuất ra... Được hình thành trên cơ sở thực trạng phát triển của lực lượng sản xuất, đóng vai trò là hình thức kinh tế của các lực lượng sản xuất đó. Quan hệ sản xuất là tiêu chuẩn khách quan để phân biệt xã hội cụ thể này với xã hội cụ thể khác. - Hệ thống kiến trúc thượng tầng: được xác lập trên cơ sở hạ tầng kinh tế, đóng vai trò là các hình thức chính trị, pháp luật, đạo đức, văn hoá.... của các quan hệ sản xuất của xã hội. Chứng minh sự phát triển của hình thái kinh tế xã hội là một quá trình lịch sử tự nhiên 12 Khi phân tích sự phát triển của lịch sử nhân loại theo cấu trúc hình thái kinh tế xã hội , C.Mác cho rằng “sự phát triển của những hình thái kinh tế xã hội là một quá trình lịch sử - tự nhiên” Tính chất lịch sử - tự nhiên của quá trình phát triển các hình thái kinh tế xã hội được thể hiện ở các nội dung sau: Một là, sự vận động và phát triển của xã hội không tuân theo ý chí chủ quan của con người mà tuân theo các quy luật khách quan, đó là các quy luật của chính bản thân cấu trúc hình thái kinh tế - xã hội, là hệ thống các quy luật xã hội thuộc các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học,... trong đó, cơ bản nhất là quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và quy luật kiến trúc thượng tầng phù hợp với cơ sở hạ tầng. Hai là, nguồn gốc của mọi sự vận động, phát triển của xã hội, của lịch sử nhân loại, của mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa,... của xã hội, suy đến cùng đều có nguyên nhân trực tiếp hay gián tiếp từ sự phát triển của lực lượng sản xuất của xã hội đó. Ba là, quá trình phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội, tức là quá trình thay thế lẫn nhau của các hình thái kinh tế - xã hội trong lịch sử nhân loại và đó là sự phát triển của lịch sử xã hội loài người, có thể do sự tác động của nhiều nhân tố chủ quan, nhưng nhân tố giữ vai trò quyết định chính là sự tác động của các quy luật khách quan. Dưới sự tác động của quy luật khách quan mà lịch sử nhân loại, xét trong tính chất toàn bộ của nó, là quá trình thay thế tuần tự của các hình thái kinh tế - xã hội: nguyên thủy, nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa và tương lai nhất định thuộc về hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa. Vậy nhân tố chủ quan đóng vai trò gì đối với tiến trình phát triển của lịch sử? Trong khi khẳng định tính chất lịch sử - tự nhiên, tức tính quy luật khách quan của sự vận động, phát triển xã hội, chủ nghĩa Mác - Lênin cũng đồng thời 13 khẳng định vai trò của các nhân tố khác đối với tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại nói chung và lịch sử mỗi cộng đồng người cụ thể nói riêng. Đó là sự tác động của các nhân tố thuộc về điều kiện địa lý, tương quan lực lượng chính trị của các giai cấp, tầng lớp xã hội, truyền thống văn hóa của mỗi cộng đồng người, điều kiện tác động của tình hình quốc tế đối với tiến trình phát triển của mỗi cộng đồng người trong lịch sử, V.V.. Chính do sự tác động của các nhân tố này mà tiến trình phát triển của mỗi cộng đồng người có thể diễn ra với những con đường, hình thức và bước đi khác nhau, tạo nên tính phong phú đa dạng trong sự phát triển của lịch sử nhân loại. Tính chất phong phú, đa dạng trong tiến trình phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội có thể bao hàm những bước phát triển “bỏ qua” một hay một vài hình thái kinh tế - xã hội nhất định. Tuy nhiên, những sự “bỏ qua” như vậy đều phải có những điều kiện khách quan và chủ quan nhất định. Như vậy, lịch sử nhân loại nói chung, lịch sử phát triển của mỗi cộng đồng người nói riêng vừa tuân theo tính tất yếu quy luật xã hội, vừa chịu sự tác động đa dạng của các nhân tố khác nhau, trong đó có cả nhân tố hoạt động chủ quan của con người, nó đóng vai trò là các nhân tố thuộc cơ chế vận động, phát triển của lịch sử nhân loại. Từ đó lịch sử phát triển của xã hội được biểu hiện ra là lịch sử thông nhất trong tính đa dạng và đa dạng trong tính thống nhất của nó. Câu 4. Trình bày khái niệm, kết cấu tồn tại xã hội và ý thức xã hội. Mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội? Ý nghĩa phương pháp luận của vấn đề này. *Khái niệm tồn tại xã hội Tồn tại xã hội là sinh hoạt vật chất và những điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội. + Những sinh hoạt vật chất là: những sinh hoạt kinh tế, những hoạt động sản xuất vật chất, quá trình sinh con đẻ cái để duy trì giống nòi. 14 + Những điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội là những điều kiện vật chất khách quan trong đó người ta hoạt động như môi trường sống, điều kiện tự nhiên, điều kiện dân số. Mỗi xã hội cụ thể tồn tại trong những điều kiện sinh hoạt vật chất nhất định. Tồn tại xã hội khác với tồn tại nói chung. Tồn tại xã hội là những tồn tại mang tính xã hội Có những cái tồn tại tự nhiên thuần tuý không mang tính xã hội. *Kết cấu tồn tại xã hội Tồn tại xã hội gồm các yếu tố cấu thành: Phương thức sản xuất vật chất, các yếu tố thuộc điều kiện tự nhiên, hoàn cảnh địa lý dân cư. Các yếu tố đó toofnt ại trong mối quan hệ thống nhất biện chứng, tác động lẫn nhau tạo thành điều kiện sinh tồn và phát triển của xã hội, trong đó phương thức sản xuất vật chất đóng vai trò quan trọng nhất *Khái niệm ý thức xã hội Ý thức xã hội là mặt tinh thần của đời sống xã hội, bao gồm những quan điểm, tư tưởng cùng những tình cảm, tâm trạng truyền thống của cộng đồng xã hội và phản ánh tồn tại xã hội trong những giai đoạn phát triển nhất định. *Kết cấu ý thức xã hội a. Dựa vào trình độ phản ánh và phạm vi phản ánh, ý thức xã hội được chia thành: Ý thức xã hội thông thường và ý thức lý luận Phân biệt ý thức thông thường và ý thức lý luận Ý thức xã hội thông thường ý thức lý luận 15 Khái niệm Ý thức xã hội thông thường là Ý thức lý luận là những tư tưởng, những tri thức, những quan quan điểm được hệ thống hoá, niệm của con người hình thành khái quát hoá thành các học một cách trực tiếp trong hoạt thuyết xã hội, được trình bày động thực tiễn hàng ngày, dưới dạng các khái niệm, phạm chưa được hệ thống hoá, khái trù, quy luật. quát hoá. + Phản ánh cuộc sống một cách + Phản ánh cuộc sống một cách trực tiếp, cảm tính, mang tính gián tiếp, được hệ thống và được kinh nghiệm, chưa được hệ trình bày dưới dạng các khái thống hoá, khái quát hoá, thiếu niệm, phạm trù, quy luật, có cơ cơ sở khoa học. sở khoa học, được kiểm nghiệm Về trình độ + Phản ánh ở trình độ thấp qua thực tiễn. nhưng tương đối bền vững, dễ + Phản ánh ở trình độ cao hơn, nhớ. + Phản ánh cuộc sống một khó nhớ. + Phản ánh hiện thực một cách Về phạm vi cách sinh động, chi tiết và sâu sắc, chính xác và do đó nó phản ánh chỉ ra được những mối liên hệ tương đối đầy đủ mọi mặt.Vì vậy ý thức xã hội thông thường bản chất và quy luật của hiện phong phú, đa dạng, ảnh hưởng thực rất lớn đến cuộc sống của con người. Quan hệ giữa ý thức xã hội thông thường và ý thức lý luận - Ý thức xã hội thông thường và ý thức lý luận tuy khác nhau về trình độ phản ánh nhưng chúng đều cùng phản ánh về TTXH, do đó chúng có quan hệ mật thiết với nhau. 16 - Ý thức xã hội thông thường là cơ sở, là tiền đề quan trọng cho việc hình thành các lí thuyết khoa học - Ý thức lý luận khi đã thâm nhập vào cuộc sống sẽ là cơ sở khoa học định hướng cho ý thức xã hội thông thường. b. Dựa vào mức độ phản ánh ý thức XH được chia thành: Tâm lý XH và hệ tư tưởng. Phân biệt Tâm lý xã hội và Hệ tư tưởng Tâm lý xã hội Hệ tư tưởng + Khái niệm: Tâm lý xã hội bao gồm + Khái niệm: Hệ tư tưởng là sự nhận toàn bộ tình cảm, ước muốn, thói thức lý luận về tồn tại xã hội, là hệ quen, tập quán của con người, của một thống những quan điểm, tư tưởng về bộ phận xã hội hoặc của toàn xã hội chính trị, triết học, đạo đức, tôn giáo. hình thành dưới ảnh hưởng trực tiếp của đời sống hàng ngày và phản ánh đời sống ấy. + Tâm lý xã hội hình thành một cách tự + Hệ tư tưởng hình thành khi con phát dưới ảnh hưởng trực tiếp của đời người nhận thức sâu sắc hơn về những sống hàng ngày. điều kiện sinh hoạt vật chất của mình, + Tâm lý xã hội phản ánh một cách trực nó được hình thành một cách tự giác. tiếp, tự phát những điều kiện sinh sống hàng ngày của con người, còn mang tính kinh nghiệm, chưa mang tính lý luận. + Hệ tư tưởng phản ánh tự giác những điều kiện sinh sống hàng ngày của con + Chỉ phản ánh những biểu hiện bên người thông qua các nhà tư tưởng của ngoài của cuộc sống mà không chỉ ra những giai cấp nhất định. được bản chất quy luật của xã hội. + Phản ánh cuộc sống một cách khái + Yếu tố trí tuệ và yếu tố tình cảm đan quát và sâu sắc, chỉ ra được bản chất xen vào nhau, yếu tố tình cảm chiếm ưu quy luật của xã hội thế. + Yếu tố trí tuệ chiếm ưu thế 17 *Mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội a. Vai trò quyết định của tồn tại xã hội với ý thức xã hội * Những quan niệm sai lầm. + CNDT: Coi tinh thần, tư tưởng là nguồn gốc cảu mọi hiện tượng xã hội, quyết định tiến trình phát triển của mọi xã hội. + Một số khác lại cho rằng: Đạo đức là nguồn lực của lịch sử. * Cơ cở xuất phát: + Mác- Ăngghen đã chứng minh rằng: Đời sống tinh thần của xã hội được hình thành và phát triển trên cơ sở của đời sống vật chất, không thể tìm nguồn gốc của tư tưởng, tâm lý xã hội trong bản thân nó. Nghĩa là không thể tìm trong đầu óc con người mà phải tìm trong hiện thực vật chất. +Sự biến đổi của một thời đại nào đó sẽ không thể giải thích được nếu chỉ căn cứ vào ý thức của thời đại ấy. C. Mác: "Không thể nhận định được về một thời đại đảo lộn như thế nếu căn cứ vào ý thức của thời đại ấy. Trái lại, phải giải thích ý thức bằng những mâu thuẫn của đời sống vật chất, bằng sự xung đột hiện có giữa các Lực lượng sản xuất và Quan hệ sản xuất" *Biểu hiện của mối quan hệ +) Tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội vì: Ý thức xã hội là sự phản ánh tồn tại xã hội phụ thuộc vào tồn tại xã hội +) Tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội như thế nào: - Tồn tại xã hội là nguồn gốc khách quan là cơ sở của sự hình thành, ra đời của ý thức. - Tồn tại xã hội quyết định nội dung, tính chất, đặc điểm của các hình thái ý thức xã hội. - Tồn tại xã hội thay đổi thì kéo theo sự thay đổi của YTXH Tóm lại: 18 Thứ nhất: Nhìn chung tồn tại xã hội nào thì ý thức xã hội ấy. + Ví dụ trong chiến tranh, thời kỳ bao cấp, thời kỳ đổi mới thì ý thức xã hội mỗi thời kỳ là khác nhau. Thứ 2: Khi tồn tại xã hội thay đổi (nhất là khi phương thức sản xuất thay đổi) thì những tư tưởng tình cảm tâm trạng của ý thức xã hội sớm muộn cũng thay đổi theo. Thứ 3: Tồn tại xã hội quyết định nội dung, tính chất, đặc điểm xu hướng phát triển của các hình thái ý thức xã hội Thực chất quan hệ vật chất quyết định ý thức xã hội. Ví dụ: tranh chấp nẩy sinh chủ yếu là do lợi ích kinh tế. b. Tính độc lập tương đối của ý thức xã hội Nguyên nhân: + Với tính cách là cái phản ánh các quá trình xã hội, ý thức xã hội chứa đựng nhiều yếu tố phức tạp bao gồm cả hiện tượng kinh tế xã hội, hiện tượng tinh thần của đời sống kinh tế xã hội. + Là một chỉnh thể tương đối độc lập phản ánh tồn tại xã hội dưới những góc độ khác nhau, các hình thái y thức xã hội có quy luật nội tại riêng, lôgic của sự phát triển riêng của nó. +Trong xã hội có những lực lượng xã hội cố duy trì, sử dụng ý thức xã hội phục vụ lợi ích riêng. Do đó, ý thức xã hội không phụ thuộc hoàn toàn vào tồn tại xã hội mà có tính độc lập tương đối. Biểu hiện: * Ý thức xã hội thường lạc hậu hơn so với tồn tại xã hội. +) Lạc hậu : Là đi sau ( ra đời sau, biến đổi sau), phát triển chậm hơn tồn tại xã hội. 19 + Biểu hiện: Ý thức xã hội là cái phản ánh nên là cái có sau tồn tại xã hội. Tồn tại xã hội cũ bị thay thế bằng Tồn tại xã hội mới. Phương thức sản xuất cũ mất đi phương thức sản xuất mới ra đời nhưng ý thức xã hội cũ chưa mất đi. - Tính lạc hậu được biểu hiện trong ý thức xã hội thông thường, ý thức lý luận và đặc biệt (trong tâm lý xã hội, tình cảm, ước muốn, thói quen, tập quán) + Nguyên nhân: - Tồn tại xã hội thường biến đổi với tốc độ nhanh mà ý thức xã hội có thể phản ánh không kịp và trở nên lạc hậu. Hơn nữa ý thứ xã hội là cái phản ánh nên chỉ biến đổi sau khi có sự biến đổi của Tồn tại xã hội. Nói cách khác, ý thức xã hội là cái phản ánh, Tồn tại xã hội là cái bị phản ánh cho nên tồn tại xã hội bao giờ cũng biến đổi trước còn ý thức xã hội là cái biến đổi sau. - Do sức mạnh của thói quen truyền thống, tập quán cũng như do tính lạc hậu, bảo thủ của một số hình thái ý thức xã hội. - Ý thức xã hội mang tính giai cấp nên những tư tưởng cũ, lạc hậu thường được các thế lực XH phản tiến bộ lưu giữ và truyền bá nhằm chống các lực lượng xã hội tiến bộ. + Ý nghĩa: Những tư tưởng lạc hậu, tiêu cực thường không mất đi một cách dễ dàng. Do đó, trong sự nghiệp xây dựng xã hội mới phải thường xuyên tăng cường công tác tư tưởng, đấu tranh chống lại những âm mưu và hành động phá hoại của những lực lượng thù địch về mặt tư tưởng, kiên trì xoá bỏ những tàn dư cũ, đồng thời ra sức giữ gìn và phát huy những truyền thống tư tưởng tốt đẹp. +Tính độc lập tương đối: - Độc lập: YTXH đó dường như không phản ánh cái TTXH hiện tại, không phụ thuộc vào TTXH một cách máy móc. Trong những điều kiện nhất định YTXH có thể thoát ly khỏi TTXH. - Tương đối: YTXH vẫn phản ánh TTXH cũ. Xét đến cùng, YTXH vẫn bị TTXH chi phối. 20
- Xem thêm -