Tài liệu Chính sách phân phối thu nhập cá nhân ở việt nam

  • Số trang: 128 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 31 |
  • Lượt tải: 0
nguyetha

Đã đăng 8489 tài liệu

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ ĐÀO DUY NGHĨA CHÍNH SÁCH PHÂN PHỐI THU NHẬP CÁ NHÂN Ở VIỆT NAM CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ CHÍNH TRỊ Mà SỐ: 60 31 01 LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. LÊ MINH NGHĨA HÀ NỘI - NĂM 2008 MỤC LỤC Trang MỞ ĐẦU 1 CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHÍNH SÁCH PHÂN PHỐI THU NHẬP CÁ NHÂN 7 1.1. Một số vấn đề lý luận chung về phân phối thu nhập cá nhân 1.1.1. Khái niệm phân phối thu nhập cá nhân 7 7 1.1.2. Lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về phân phối thu nhập cá nhân 8 1.1.2.1. Vị trí của phân phối thu nhập cá nhân trong tái sản xuất xã hội 8 1.1.2.2. Lý luận phân phối theo lao động của C.Mác, Ph. Ăngghen và V.I.Lênin 9 1.1.3. Lý thuyết phân phối thu nhập cá nhân trong kinh tế học hiện đại 11 1.1.4. Quan điểm của Đảng ta về phân phối thu nhập cá nhân từ khi tiến hành đổi mới đến nay 15 1.2. Vai trò, nguyên tắc và các hình thức phân phối thu nhập cá nhân trong nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam 16 1.2.1. Vai trò của phân phối TNCN trong nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng XHCN 16 1.2.2. Nguyên tắc phân phối TNCN trong nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng XHCN 17 1.2.3. Những hình thức phân phối thu nhập cá nhân trong nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng XHCN 19 1.3. Chính sách phân phối thu nhập cá nhân 26 1.3.1. Vai trò của Nhà nƣớc trong phân phối thu nhập cá nhân 26 1.3.2. Chính sách phân phối thu nhập cá nhân của Nhà nƣớc 27 1.3.2.1. Chính sách tiền lƣơng 28 1.3.2.2. Chính sách điều tiết của Nhà nƣớc đối với thu nhập cá nhân 29 1.4. Kinh nghiệm thực hiện chính sách phân phối thu nhập cá nhân của một số quốc gia và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam 32 1.4.1. Kinh nghiệm cỏc nƣớc chuyển đổi ở Đụng Âu 32 1.4.1.1. Chớnh sỏch xó hội 32 1.4.1.2. Cải cỏch phõn phối qua thuế 33 1.4.2. Kinh nghiệm của Trung Quốc 34 1.4.2.1. Cải cách chế độ thuế 34 1.4.2.2. Chớnh sỏch chi ngõn sỏch và chuyển giao tài chớnh 35 1.4.2.3. Chớnh sỏch bảo hiểm 36 1.4.3. Một số bài học kinh nghiệm cú thể ỏp dụng với Việt Nam 37 CHƢƠNG 2: CHÍNH SÁCH PHÂN PHỐI THU NHẬP CÁ NHÂN Ở VIỆT NAM THỜI GIAN QUA 41 2.1. Thực trạng chính sách phân phối thu nhập cá nhân ở Việt Nam thời gian qua 41 2.1.1. Chính sách tiền lƣơng 41 2.1.2. Chính sách thuế thu nhập cá nhân 54 2.1.3. Một số chính sách xã hội tác động tới phân phối thu nhập cá nhân 62 2.1.3.1. Chính sách giải quyết việc làm 62 2.1.3.2. Chính sách xoá đói giảm nghèo 66 2.1.3.3. Chính sách bảo hiểm xã hội 70 2.1.3.4. Chính sách cứu trợ xã hội 75 2.2. Thành tựu và một số vấn đề đặt ra đối với chính sách phân phối thu nhập cá nhân ở Việt Nam 80 2.2.1. Tác động của chính sách phân phối thu nhập cá nhân tới thu nhập và mức sống chung trong xã hội 2.2.2. Một số vấn đề đặt ra đối với chính sách phân phối thu nhập cá nhân ở Việt Nam thời gian qua CHƢƠNG 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH PHÂN PHỐI THU NHẬP CÁ NHÂN Ở VIỆT NAM 80 83 88 3.1. Quan điểm hoàn thiện chính sách phân phối thu nhập cá nhân trong nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng XHCN ở Việt Nam 88 3.1.1. Phân phối thu nhập cá nhân trong kinh tế thị trƣờng định hƣớng XHCN phải lấy nguyên tắc phân phối XHCN làm chủ đạo, gắn với việc thực hiện các nguyên tắc thị trƣờng 88 3.1.2. Phân phối thu nhập cá nhân trong KTTT định hƣớng XHCN cần kết hợp hài hoà các lợi ích kinh tế để tạo động lực thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế 89 3.1.3. Phân phối thu nhập trong KTTT định hƣớng XHCN cần giải quyết hợp lý mối quan hệ giữa tăng trƣởng kinh tế với tiến bộ xã hội theo hƣớng tăng trƣởng kinh tế gắn liền với đảm bảo tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bƣớc phát triển 91 3.1.4. Phân phối thu nhập trong KTTT định hƣớng XHCN cần đặc biệt quan tâm đến tầng lớp dân cƣ có thu nhập thấp, các vùng còn kém phát triển 92 3.2. Những giải pháp hoàn thiện chính sách phân phối thu nhập cá nhân trong thời gian tới 93 3.2.1. Cải cách chính sách tiền lƣơng 93 3.2.2. Tiếp tục cải cách chính sách thuế thu nhập cá nhân nhằm điều tiết thu nhập hợp lý 101 3.2.3. Hoàn thiện các chính sách xã hội 104 3.2.3.1. Chính sách giải quyết việc làm 104 3.2.3.2. Chính sách xoá đói giảm nghèo 108 3.2.3.3. Hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội 111 KẾT LUẬN 115 TÀI LIỆU THAM KHẢO 116 Danh môc c¸c tõ viÕt t¾t BHXH: B¶o hiÓm x· héi CNTB: Chñ nghÜa t- b¶n CNXH: Chñ nghÜa x· héi DNNN: Doanh nghiÖp nhµ n-íc GDP: Tæng s¶n phÈm quèc néi TNCN: Thu nhËp c¸ nh©n XHCN: X· héi chñ nghÜa Danh môc b¶ng biÓu B¶ng 1. BiÓu thuÕ thu nhËp ®èi víi c«ng d©n ViÖt Nam vµ c¸ nh©n kh¸c ®Þnh c- t¹i ViÖt Nam B¶ng 2: BiÓu thuÕ thu nhËp ®èi víi ng-êi n-íc ngoµi c- tró t¹i ViÖt Nam vµ c«ng d©n ViÖt Nam lao ®éng, c«ng t¸c ë n-íc ngoµi B¶ng 3: BiÓu thuÕ thu nhËp ®èi víi thu nhËp kh«ng th-êng xuyªn B¶ng 4. BiÓu thuÕ thu nhËp ®èi víi c«ng d©n ViÖt Nam vµ c¸ nh©n kh¸c ®Þnh c- t¹i ViÖt Nam B¶ng 5: Thu ng©n s¸ch nhµ n-íc tõ nguån thuÕ thu nhËp c¸ nh©n qua c¸c n¨m B¶ng 6: Chi ng©n s¸ch nhµ n-íc cho mét sè ch-¬ng tr×nh, dù ¸n liªn quan ®Õn xãa ®ãi gi¶m nghÌo giai ®o¹n 2000-2006 B¶ng 7: Chi ng©n s¸ch nhµ n-íc cho BHXH qua c¸c n¨m B¶ng 8: Chi ng©n s¸ch nhµ n-íc cho cøu trî x· héi qua c¸c n¨m B¶ng 9: C¬ cÊu ngµnh kinh tÕ ViÖt Nam mét sè n¨m trong giai ®o¹n 1991-2007 B¶ng 10: Thu nhËp b×nh qu©n ®Çu ng-êi 1 th¸ng mét sè n¨m trong giai ®o¹n 19922007 B¶ng 11: Chªnh lÖch thu nhËp gi÷a 20% d©n sè thu nhËp cao nhÊt víi 20% d©n sè thu nhËp thÊp nhÊt PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong những năm vừa qua, kinh tế nƣớc ta có bƣớc phát triển mạnh mẽ, là một trong những nƣớc có tốc độ tăng trƣởng kinh tế nhanh nhất châu Á cũng nhƣ trên thế giới, luôn đạt trên mức 7%. Nhờ có sự tăng trƣởng kinh tế mạnh mẽ nhƣ vậy, đời sống của đại bộ phận nhân dân cả về vật chất và tinh thần đã đƣợc nâng lên đáng kể, thành tích giảm nghèo của Việt Nam trong những năm qua đƣợc cộng đồng quốc tế đánh giá rất cao bên cạnh thành tích tăng trƣởng kinh tế nói trên. Việt Nam là một trong số ít nƣớc có chỉ số phát triển con ngƣời HDI cao hơn hẳn so với trình độ của nền kinh tế. Những thành tích to lớn kể trên tuy có làm cho mức sống chung của ngƣời dân đã đƣợc cải thiện, nhƣng nhìn chung nƣớc ta vẫn nằm trong số những nƣớc nghèo nhất thế giới với thu nhập bình quân đầu ngƣời thấp, các chính sách an sinh xã hội mới chỉ bƣớc đầu đƣợc thực hiện song vẫn còn nhiều vƣớng mắc, diện tham gia bảo hiểm xã hội còn hẹp… Đặc biệt một vấn đề đáng lo ngại là khoảng cách giàu nghèo trong xã hội đang có xu hƣớng gia tăng, điều đó cho thấy sự phát triển kinh tế chƣa thực sự đem lại lợi ích công bằng cho mọi thành viên trong xã hội, các chính sách phân phối thu nhập của Nhà nƣớc đƣa ra còn kém hiệu quả. Chính vì vậy, việc nghiên cứu và đề ra một số giải pháp cho chính sách phân phối thu nhập cá nhân ở Việt Nam đã và đang là vấn đề cấp thiết đƣợc đặt ra hiện nay. Do đó, tác giả đã lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Chính sách phân phối thu nhập cá nhân ở Việt Nam.” 2. Tình hình nghiên cứu Trong thời gian qua đã có một số công trình, sách báo nghiên cứu về vấn đề phân phối và phối thu nhập ở các cấp độ khác nhau: - Mai Ngọc Cƣờng, Đỗ Đức Bình (chủ biên), Phân phối thu nhập trong nền kinh tế thị trƣờng: Lý luận, thực tiễn và vận dụng ở Việt Nam, NXB Thống kê, 1994. - Lý Bân, Lý luận chung về phân phối thu nhập của CNXH, NXB CTQG, 1999. - Nguyễn Công Nhự, Phạm Ngọc Kiểm, Vấn đề phân phối thu nhập trong các loại hình doanh nghiệp ở Việt Nam, NXB Thống kê, 2003. - Nguyễn Thị Hằng, Lê Duy Đồng, Phân phối và phân hóa giàu nghèo sau 20 năm đổi mới, NXB Lao động xã hội, 2005. - GS. TS. Nguyễn Công Nghiệp (chủ biên), Phân phối trong nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa, NXB CTQG, 2006. - Hoàng Thị Thu Hồng, Đổi mới chế độ phân phối tổng sản phẩm quốc dân trong điều kiện phát triển kinh tế thị trƣờng ở nƣớc ta, Luận án phó tiến sĩ, 1994. - Ung Thị Mỹ Lệ, Hệ thống lợi ích kinh tế và các quan hệ phân phối trong việc thực hiện chiến lƣợc ổn định và phát triển kinh tế – xã hội Việt Nam, Luận án phó tiến sĩ kinh tế, 1996. - Đậu Đức Khởi, Vận dụng lý luận phân phối thu nhập cá nhân trong nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng XHCN vào tập đoàn Điện lực Việt Nam, Luận án tiến sĩ kinh tế, 2008. - Tống Văn Đƣờng, Đổi mới cơ chế phân phối thu nhập và tiền lƣơng ở Việt Nam, Tạp chí Kinh tế và phát triển, số 40, 2000. - Trần Thị Hằng, Về phân phối thu nhập ở nƣớc ta hiện nay, Lý luận chính trị, số 1, 2002. - Trần Văn Ngọc, Về phân phối kết quả sản xuất trong nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa, Lý luận chính trị, số 7, 2004. - Phạm Đăng Quyết, Một số quan điểm về phân phối thu nhập trong nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa, Tạp chí Kinh tế và dự báo, số 8, 2006. - Đỗ Phƣơng Đông, Tiếp tục cải cách chính sách tiền lƣơng, Tạp chí Cộng sản, số 2, năm 2008. Ngoài ra còn có các bài báo nghiên cứu về vấn đề phân phối thu nhập nói chung và các chính sách phân phối thu nhập cá nhân nói riêng. Các chính sách phân phối thu nhập cá nhân có tác động rộng lớn, trực tiếp đến đời sống của mọi cá nhân, vì vậy mỗi thay đổi trong chính sách phân phối thu nhập cá nhân luôn gây ra những phản ứng rất khác nhau trong xã hội. Trong điều kiện hiện nay, khi quá trình hội nhập và cạnh tranh quốc tế diễn ra trên diện rộng và rất gay gắt, quá trình biến đổi khí hậu toàn cầu (thiên tai, lũ lụt…), áp lực của khủng hoảng kinh tế toàn cầu, an sinh xã hội là vấn đề nóng bỏng…, thì nghiên cứu về chính sách phân phối thu nhập cá nhân chính càng trở nên rất quan trọng, nhƣng vấn đề này còn chƣa đƣợc nghiên cứu đầy đủ và hệ thống ở Việt Nam. Chính vì vậy, tác giả lựa chọn vấn đề này làm đề tài cho luận văn tốt nghiệp. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu - Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở phân tích thực trạng chính sách phân phối thu nhập cá nhân ở Việt Nam thời gian qua để tìm ra những giải pháp thiết thực nhằm hoàn thiện chính sách phân phối thu nhập cá nhân trong thời gian tới. - Nhiệm vụ nghiên cứu: + Hệ thống hoá những vấn đề lý luận chung phân phối thu nhập và chính sách phân phối thu nhập cá nhân, kinh nghiệm thực tiễn thực hiện chính sách phân phối thu nhập cá nhân ở một số quốc gia. + Phân tích thực trạng chính sách phân phối thu nhập cá nhân ở Việt Nam thời gian qua. + Đƣa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách phân phối thu nhập cá nhân trong thời gian tới. 4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Đề tài tập trung nghiên cứu về thực trạng chính sách phân phối thu nhập cá nhân ở Việt Nam từ năm 1991 đến nay. Năm 1991 là năm diễn ra Đại hội VII của Đảng Cộng sản Việt Nam, đánh dấu thời kỳ bắt đầu đẩy mạnh công cuộc đổi mới của Đảng và Nhà nƣớc ta, với nhiều chủ trƣơng, chính sách khuyến khích, thúc đẩy phát triển kinh tế nhiều thành phần đƣợc ban hành. Với việc đổi mới chính sách kinh tế, quan điểm xây dựng cũng nhƣ nội dung các chính sách xã hội cũng thay đổi theo hƣớng mở rộng diện cũng nhƣ đối tƣợng cung cấp, thụ hƣởng, đảm bảo cả công bằng theo chiều dọc cũng nhƣ công bằng theo chiều ngang. Chính sách phân phối thu nhập cá nhân là một trong những chính sách xã hội quan trọng và có tác động rộng rãi tới đời sống hàng ngày của mọi tầng lớp nhân dân. Chính sách phân phối thu nhập cá nhân không phải là một chính sách riêng lẻ mà là tổng hợp của rất nhiều chính sách kinh tế - xã hội của Nhà nƣớc. Trong phạm vi luận văn này, tác giả chỉ phân tích một số chính sách cơ bản: chính sách tiền lƣơng, chính sách thuế thu nhập cá nhân, một số chính sách xã hội nhƣ chính sách bảo hiểm xã hội, chính sách việc làm, chính sách xoá đói giảm nghèo và chính sách cứu trợ xã hội. 5. Phƣơng pháp nghiên cứu Vấn đề phân phối thu nhập cá nhân có thể đƣợc xem xét dƣới nhiều góc độ khác nhau, xong luận văn chỉ đặt vấn đề nghiên cứu dƣới góc độ kinh tế chính trị. Phƣơng pháp nghiên cứu đƣợc xây dựng trên cơ sở phƣơng pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Trong quá trình nghiên cứu, luận văn có sử dụng các phƣơng pháp nhƣ: thống kê, so sánh, điều tra thực tiễn phân tích, tổng hợp và hệ thống hoá. 6. Đóng góp của luận văn Luận văn có những đóng góp mới nhƣ sau: - Hệ thống hoá đƣợc những vấn đề lý luận phân phối thu nhập, các chính sách phân phối thu nhập chủ yếu trên thế giới, đƣa ra những kinh nghiệm đối với Việt Nam . - Phân tích thực trạng một số chính sách phân phối thu nhập cá nhân ở Việt Nam từ năm 1991 đến nay và những vấn đề đặt ra cần phải giải quyết cả trƣớc mắt và trong dài hạn. - Đƣa ra đƣợc những giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách phân phối thu nhập cá nhân thời gian tới. 7. Kết cấu của luận văn. Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh muc tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chƣơng. Chương 1: Lý luận chung về chính sách phân phối thu nhập cá nhân. Chương 2: Chính sách phân phối thu nhập cá nhân ở Việt Nam thời gian qua. Chương 3: Quan điểm và giải pháp hoàn thiện chính sách phân phối thu nhập ở Việt Nam. CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHÍNH SÁCH PHÂN PHỐI THU NHẬP CÁ NHÂN 1.1. Một số vấn đề lý luận chung về phân phối thu nhập cá nhân Từ trƣớc đến nay, vấn đề phân phối, đặc biệt là phân phối thu nhập cá nhân (TNCN) luôn giữ vai trò quan trọng không chỉ trong lý luận và thực tiễn kinh tế mà còn cả trong các vấn đề chính trị, xã hội. Tầm quan trọng của vấn đề phân phối thu nhập cá nhân không chỉ ở chỗ nó nói lên quan hệ về lợi ích kinh tế mà còn phản ánh những nhân tố quyết định ẩn dấu đằng sau các quan hệ lợi ích đó, từ đó giúp chúng ta giải quyết đƣợc các vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội. 1.1.1. Khái niệm phân phối thu nhập cá nhân Để hiểu đƣợc thế nào là phân phối TNCN, trƣớc hết chúng ta cần hiểu khái niệm thu nhập và phân phối thu nhập. Thu nhập là số lƣợng tiền, hàng hoá hoặc dịch vụ mà một cá nhân, tổ chức hay một nền kinh tế nhận đƣợc trong một khoảng thời gian nhất định (quý, tháng, năm). Phân phối thu nhập là sự phân chia giá trị mới do lao động xó hội mới sỏng tạo ra cho cỏc thành viờn xó hội, cỏc tổ chức, các tập thể, nhằm đáp ứng những nhu cầu khác nhau của xó hội. Theo đó, phân phối thu nhập cá nhân là sự phân chia giá trị mới do lao động xó hội sỏng tạo ra cho cỏc cỏ nhõn trong xó hội. Phân phối thu nhập cá nhân gồm 2 quá trình: phân phối lần đầu và phân phối lại (hay tái phân phối). Phân phối lần đầu gắn trực tiếp với quỏ trỡnh tỏi sản xuất, gồm các khoản thu nhập mà cá nhân đƣợc nhận trực tiếp do bán sức lao động (tiền lƣơng và các khoản thu nhập có tính chất lƣơng), do sở hữu tài sản (lợi tức tiền gửi, cổ tức, nhận thừa kế,…). Tái phân phối đƣợc tiến hành sau phân phối lần đầu nhằm điều tiết thu nhập, đảm bảo sự công bằng trong phân phối thu nhập giữa các cá nhân có thu nhập cao và các cá nhân có thu nhập thấp. Nó gồm các chính sách và biện pháp kinh tế - xã hội của chính phủ nhƣ chi tiêu ngân sách nhà nƣớc, tín dụng, tiền lƣơng, bảo hiểm xã hội, thuế thu nhập cá nhân, các khoản trợ cấp của chính phủ… 1.1.2. Lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về phân phối thu nhập cá nhân 1.1.2.1. Vị trí của phân phối thu nhập cá nhân trong tái sản xuất xã hội C.Mác và Ph.Ăngghen lúc đƣơng thời đã nghiên cứu một cách có hệ thống và vạch rõ bản chất của phƣơng thức sản xuất TBCN. Các ông cho rằng chế độ phân phối TBCN là bất công vì nó dựa trên cơ sở quan hệ bóc lột của giai cấp tƣ sản đối với giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Vạch trần bản chất và phê phán phƣơng thức phân phối TBCN, C.Mác và Ph.Ăngghen cũng đồng thời nêu lên quan điểm và nguyên tắc cơ bản về phân phối trong xã hội tƣơng lai, đặt nền tảng cho lý luận phân phối nói chung, phân phối TNCN nói riêng trong CNXH. Kế thừa và tiếp tục phát triển tƣ tƣởng của C.Mác và Ph.Ăngghen, V.I.Lênin đã tiếp tục làm rõ hơn và cụ thể hoá các quan điểm và nguyên tắc phân phối TNCN trong CNXH. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, quá trình tái sản xuất bao gồm 4 khâu: sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu dùng. Phân phối là một trong bốn khâu đó, là một mắt xích trung gian trong quá trình tái sản xuất. Phân phối bao gồm phân phối cho sản xuất và phân phối cho tiêu dùng cá nhân (hay phân phối tƣ liệu tiêu dùng). Ở đây chúng ta chỉ xem xét phân phối cho tiêu dùng cá nhân. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, “Phân phối cho tiêu dùng là sự phân chia sản phẩm cho các cá nhân tiêu dùng theo tỷ lệ đóng góp của họ vào việc tạo ra sản phẩm” [18, tr.53]. Trong quá trình tái sản xuất, sản xuất bao giờ cũng giữ vai trò quyết định. Quy mô, cơ cấu và trình độ phát triển của sản xuất quy định quy mô và cơ cấu của phân phối, trong đó có phân phối TNCN. Nếu phân phối phù hợp với sự phát triển của sản xuất, động viên tính tích cực của ngƣời lao động thì sẽ thúc đẩy sản xuất phát triển, còn nếu không phù hợp thì nó sẽ cản trở sự phát triển của sản xuất. Phân phối và trao đổi có quan hệ mật thiết với nhau. Trao đổi là sự tiếp tục của phân phối. Trong kinh tế thị trƣờng, phân phối TNCN đƣợc thực hiện dƣới hình thức giá trị (tiền tệ). Ngƣời nhận đƣợc thu nhập tiền tệ đó sẽ biến thành thu nhập thực tế của cá nhân mình bằng việc mua hàng hoá và dịch vụ trên thị trƣờng. Phân phối TNCN cũng quan hệ mật thiết với tiêu dùng. Việc tăng hoặc giảm lƣợng sản phẩm, lƣợng giá trị (tiền tệ) phân phối cho cá nhân đều có tác động trực tiếp đến mức độ tiêu dùng. Ngƣợc lại, cơ cấu, phƣơng thức và trình độ của tiêu dùng có tác động thúc đẩy hoặc kìm hãm sự tăng trƣởng của phân phối. 1.1.2.2. Lý luận phân phối theo lao động của C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin Khi nghiên cứu nguyên tắc phân phối trong CNTB, C.Mác đã chỉ ra rằng giá trị mới sáng tạo ra đƣợc phân chia cho các giai cấp dựa vào sự đóng góp các yếu tố sản xuất: một bộ phận đƣợc phân phối cho ngƣời sở hữu sức lao động theo giá trị sức lao động, bộ phận còn lại phân phối cho ngƣời sở hữu tƣ liệu sản xuất. Do đó giá trị mới đƣợc phân thành: tiền công, lợi nhuận, lợi tức và địa tô. Trong đó, tiền công là thu nhập của ngƣời lao động và là hình thức thực hiện giá trị của quyền sở hữu sức lao động; lợi nhuận, lợi tức là thu nhập của nhà tƣ bản và là hình thức thực hiện giá trị của quyền sở hữu tƣ liệu sản xuất; địa tô là thu nhập của địa chủ và là hình thức thực hiện giá trị của quyền chiếm hữu ruộng đất. Đó là nguyên tắc phân phối dựa trên quan hệ sở hữu các yếu tố tham gia vào quá trình sản xuất. Là những ngƣời sáng lập CNXH khoa học, C.Mác và Ph.Ăngghen đã sáng tạo ra nguyên tắc phân phối theo lao động trên cơ sở phát triển những mầm mống tƣ tƣởng về phân phối theo lao động của CNXH không tƣởng. Tác phẩm "Phê phán cƣơng lĩnh Gôta" của C.Mác đã đánh dấu sự hình thành lý luận phân phối theo lao động. Trong tác phẩm này, C.Mác nêu lên quan niệm về xã hội tƣơng lai, trong đó nguyên tắc phân phối TNCN sẽ là phân phối theo lao động. Trong bộ "Tƣ bản", C.Mác đã khẳng định phƣơng thức phân phối mới: lấy lao động làm thƣớc đo để phân phối. C.Mác chỉ rõ "phần tƣ liệu sinh hoạt chia cho mỗi ngƣời sản xuất do thời gian lao động của ngƣời đó quyết định" [6, tr. 124-125]. Tiền đề để thực hiện phân phối theo lao động gồm hai mặt liên quan chặt chẽ với nhau: một là, đây là nguyên tắc phân phối trong giai đoạn đầu của xã hội cộng sản, "một xã hội cộng sản chủ nghĩa vừa thoát thai từ xã hội tƣ bản chủ nghĩa", trong đó, ngƣời ta vẫn còn có lợi ích riêng, chƣa coi lao động là nhu cầu bậc nhất của con ngƣời; hai là, phân phối theo lao động đƣợc thực hiện trong điều kiện kinh tế dựa trên chế độ công hữu. Dựa trên những tiền đề đó, C.Mác đã vạch ra nguyên tắc và phƣơng thức phân phối theo lao động. Chủ thể phân phối là ngƣời lao động, đối tƣợng phân phối là tƣ liệu tiêu dùng, căn cứ để phân phối là thời gian lao động, phƣơng thức thực hiện phân phối là phiếu lao động. Nhƣ vậy, thời gian lao động là thƣớc đo khách quan của phân phối, khi thực hiện trao đổi lao động ngang nhau, sự khác biệt về lao động, do đó sự khác biệt về thu nhập sẽ tồn tại. C.Mác đã xác lập cơ sở của mối liên hệ nội tại giữa lao động và thu nhập, theo đó lao động trở thành điều kiện tất yếu để đƣợc nhận thu nhập. Lý luận phân phối theo lao động của C.Mác thừa nhận tồn tại sự khác biệt về thu nhập và phủ nhận phân phối bình quân. Sự khác biệt này chính là sự công bằng trong phân phối, không phải là chủ nghĩa bình quân. Tiếp nối C.Mác và Ph.Ăngghen, V.I.Lênin tiếp tục hoàn thiện lý luận về phân phối trong chủ nghĩa Mác – Lênin. Trong tác phẩm Nhà nước và cách mạng, Lênin viết: trong giai đoạn đầu của xã hội cộng sản chủ nghĩa (mà ngƣời ta vẫn thƣờng gọi là chủ nghĩa xã hội), "pháp quyền tƣ sản" chƣa bị xoá bỏ hoàn toàn mà chỉ bị xoá bỏ một phần, trong phạm vi tƣ liệu sản xuất. Trong bộ phận khác của nó, pháp quyền ấy vẫn còn tồn tại với tƣ cách là yếu tố điều tiết việc phân phối sản phẩm và phân phối lao động giữa các thành viên trong xã hội. "Ngƣời nào không làm thì không có ăn", "số lƣợng lao động ngang nhau, thì hƣởng số lƣợng sản phẩm ngang nhau", nguyên tắc xã hội chủ nghĩa này cũng đã đƣợc thực hiện, nhƣng đó vẫn chƣa phải là chủ nghĩa cộng sản, vì vẫn chƣa gạt bỏ đƣợc việc cung cấp một số lƣợng sản phẩm ngang nhau cho những ngƣời không ngang nhau và cho một số lƣợng lao động không ngang nhau. Trong giai đoạn đầu, chủ nghĩa cộng sản chƣa thể hoàn toàn trƣởng thành về mặt kinh tế, chƣa thể hoàn toàn thoát khỏi những tàn tích của chủ nghĩa tƣ bản. Về mặt phân phối vật phẩm tiêu dùng thì pháp quyền tƣ sản tất nhiên đòi hỏi phải có một nhà nƣớc kiểu tƣ sản, vì vậy trong một thời gian nhất định, dƣới chế độ cộng sản, không những vẫn còn pháp quyền tƣ sản, mà vẫn còn cả nhà nƣớc kiểu tƣ sản nhƣng không có giai cấp tƣ sản. Nhƣ vậy, có thể thấy, theo V.I.Lênin, trong giai đoạn đầu của xã hội cộng sản chủ nghĩa, chƣa thể thực hiện đƣợc công bằng và bình đẳng: về mặt của cải, vẫn còn chênh lệch, nhƣng tình trạng ngƣời bóc lột ngƣời thì không thể có nữa, vì không ai có thể chiếm tƣ liệu sản xuất, công xƣởng, máy móc, đất đai, v.v. làm của riêng đƣợc. Xã hội này thoạt đầu bắt buộc phải phá huỷ "điều bất công" này, việc cá nhân chiếm hữu tƣ liệu sản xuất làm của riêng, nhƣng không đủ sức phá huỷ ngay điều bất công khác nữa, việc phân phối vật phẩm tiêu dùng "theo lao động" (chứ không theo nhu cầu). Phải đến giai đoạn cao của xã hội cộng sản chủ nghĩa, sau khi tình trạng lệ thuộc vào sự phân công lao động mất đi, lao động không còn chỉ là phƣơng tiện sinh sống mà bản thân nó trở thành một nhu cầu bậc nhất của cuộc sống; khi mà cùng với sự phát triển toàn diện của các cá nhân thì cả những lực lƣợng sản xuất cũng phát triển, và tất cả các nguồn của cải của xã hội tuôn ra tràn đầy, chỉ lúc ấy mới có thể có "Làm hết năng lực, hƣởng theo nhu cầu”. 1.1.3. Lý thuyết phân phối thu nhập cá nhân trong kinh tế học hiện đại Trƣờng phái chính hiện đại nghiên cứu vấn đề phân phối TNCN trên cơ sở quan điểm cơ chế thị trƣờng có sự can thiệp của nhà nƣớc. Ngƣời đứng đầu trƣờng phái này là P.Samuelson, nhà kinh tế học ngƣời Mỹ. Theo ông, phân phối TNCN là một phạm trù kinh tế đề cập đến vấn đề hàng hoá đƣợc sản xuất cho ai [29, tr.34]? Theo trƣờng phái chính hiện đại, phân phối TNCN đƣợc quyết định chủ yếu bởi các quan hệ cung và cầu trên thị trƣờng mà quan trọng nhất là thị trƣờng lao động. Họ dựa vào quy luật sản phẩm doanh thu biên ngày càng giảm để giải thích sự biến đổi của các loại thu nhập. Thị trƣờng lao động do cũng là một loại hình thị trƣờng nên quy luật vận động cũng giống nhƣ các thị trƣờng khác. Nhìn trên đồ thị, Sl là đƣờng cung về lao động; Dl là đƣờng cầu về lao động; E là điểm cân bằng giữa cung và cầu lao động trên thị trƣờng, tại đây xác định số lƣợng lao động cần sử dụng và mức tiền công cân bằng có tính cạnh tranh (tiền công thị trƣờng). Nếu hạn chế mức cung lao động so với sự gia tăng các yếu tố sản xuất khác thì nhất định mức tiền công sẽ tăng lên. Còn với các điều kiện khác nhƣ nhau, việc tăng cung về lao động sẽ nảy sinh xu hƣớng giảm tiền công. Đối với cầu lao động, nếu cầu về lao động giảm xuống sẽ khiến tiền lƣơng giảm theo; ngƣợc lại, nếu cầu về lao động tăng lên thì cũng khiến tiền lƣơng tăng lên theo. Đồ thị: Mức tiền công tương đối trên thị trường lao động Tiền công (W) S1 Wo E D1 Lo Lao động (L) Các nhà kinh tế học trƣờng phái chính hiện đại quan tâm đến tiền công thực tế, tức là đến những thứ mua đƣợc với số tiền công đó, chứ không phải chỉ quan tâm đến số tiền ngƣời làm công nhận đƣợc (hay tiền công danh nghĩa). Theo họ, tiền công thực tế (Wr) bằng mức lƣơng thực tế tính bằng tiền (W n) chia cho chỉ số về mức giá chung (P). Wr = W n / P Theo họ, mức tiền công thực tế khác nhau trƣớc hết là do hoạt động của lƣợng cung và lƣợng cầu về lao động, tiếp đến là do sự biến đổi của các yếu tố đầu vào khác cùng hoạt động nhƣ tƣ bản (vốn), tài nguyên và đặc biệt là trình độ, chất lƣợng lao động (trình độ tay nghề, đào tạo, học vấn và kinh nghiệm của ngƣời lao động). Sự chênh lệch tiền công giữa các nhóm lao động là cần thiết để lôi kéo lao động vào các nghề "kém hấp dẫn" hoặc "không thích thú", đó là "sự chênh lệch có tính chất bù trừ". Tuy nhiên, sự chênh lệch này không phải là hoàn toàn cố định. Trong quá trình vận động của cuộc sống, con ngƣời có xu hƣớng chuyển sang các công việc đƣợc trả công cao và bỏ những nghề có tiền công thấp hơn, làm cho mức tiền công chung của toàn xã hội có xu hƣớng dịch chuyển về một mức cân bằng chung, là điểm giao nhau giữa tổng cung và tổng cầu lao động toàn xã hội. Bên cạnh tiền công, thu nhập cá nhân còn bao gồm các khoản: tiền thuê đất và các tài nguyên khác là các khoản thu nhập mà ngƣời chủ sở hữu đƣợc phân phối từ sản phẩm xã hội thông qua việc cung ứng đất đai và các tài nguyên khác vào sản xuất kinh doanh với tƣ cách là yếu tố đầu vào; lợi tức và lãi suất là thu nhập của những ngƣời cung cấp yếu tố đầu vào của sản xuất là vốn và tài sản tài chính; lợi nhuận là phần thu nhập cá nhân đƣợc nhận nhờ có sự chênh lệch giữa tổng thu nhập với tổng chi phí của một doanh nghiệp mà cá nhân đó tham gia sở hữu. Trong khi đề cao vai trò của thị trƣờng, các nhà kinh tế trƣờng phái chính hiện đại cũng chỉ ra những thất bại của thị trƣờng. Theo họ, cơ chế thị trƣờng có khả năng giải quyết khá hiệu quả các vấn đề cái gì và như thế nào - những vấn đề về phân bổ tài nguyên và việc lựa chọn kĩ thuật tốt nhất để sản xuất ra những hàng hoá cụ thể, nhƣng thị trƣờng không có khả năng đặc biệt để tìm ra giải pháp tốt nhất đối với vấn đề cho ai. Một nền kinh tế hiệu quả nhất trên thế giới vẫn có thể tạo ra sự bất bình đẳng lớn trong phân phối thu nhập. Đó là biểu hiện sự thất bại và sự phân phối tuỳ tiện của thị trƣờng. Các nhà kinh tế học trƣờng phái chính hiện đại đã viết: “Sự thực là thị trƣờng cạnh tranh không thể bảo đảm rằng thu nhập và tiêu dùng nhất thiết sẽ đƣợc phân phối cho những ngƣời có nhu cầu nhất hoặc xứng đáng nhất… Trong tự do kinh doanh, cạnh tranh hoàn hảo sẽ đƣa đến sự bất bình đẳng rất lớn” [29, tr. 566]. Chính vì “Ngay cả khi bàn tay vô hình hoạt động và vô cùng hiệu quả, nó đồng thời vẫn có thể tạo ra sự phân phối thu nhập rất không công bằng” [29, tr.581], nên nhà nƣớc cần phải can thiệp vào phân phối thu nhập thông qua các chính sách phân phối lại, bởi “phân phối lại thu nhập - là chức năng kinh tế lớn thứ hai của chính phủ” [29, tr.581]. Nguồn gốc của sự bất bình đẳng trong phân phối TNCN, nhƣ trên đã đề cập, một phần là do sự khác nhau về năng lực lao động, nghề nghiệp, trình độ chuyên môn kĩ thuật, tính chuyên cần, chịu khó, và nhất là nguồn tài sản do thừa kế, sáng chế, kinh doanh mà mỗi ngƣời có đƣợc. Do thị trƣờng là một cơ chế điều tiết không biết đến phạm trù đạo đức và nhân đạo nên nếu cứ để mặc sự khác nhau nói trên do cơ chế này tự điều tiết thì không thể tránh khỏi sự bất bình đẳng lớn về thu nhập. Bởi vậy, cần phải có sự can thiệp của nhà nƣớc vào phân phối TNCN nhằm giảm bớt tình trạng bất bình đẳng về thu nhập. Muốn vậy, nhà nƣớc phải thiết lập các chƣơng trình tác động đến việc phân phối TNCN. Thông qua phân phối lại, nhà nƣớc có thể dành một phần thu nhập để đảm bảo mức tối thiểu về y tế, dinh dƣỡng, thu nhập… nhằm nâng cao mức sống của ngƣời nghèo. Việc phân phối lại có thể làm giảm khoảng cách bất bình đẳng trong xã hội, nhƣng cũng phải trả giá là tình trạng không hiệu quả về mặt kinh tế. Vì vậy, để đảm bảo cả 2 mục tiêu công bằng và hiệu quả, các nhà kinh tế trƣờng phái chính hiện đại đã đƣa ra khái niệm Hàm số phúc lợi xã hội. Họ cho rằng hiệu quả kinh tế là điều kiện "cần", còn phân phối hợp lý là điều kiện "đủ" của lợi ích tối đa. Chỉ có đồng thời đƣa các nhân tố về phân phối và các nhân tố chi phối khác vào trong một hàm phúc lợi xã hội và chỉ khi giá trị của hàm này lớn nhất thì mới đạt đƣợc tối ƣu hoá phúc lợi xã hội. Tóm lại, theo kinh tế học trƣờng phái chính hiện đại, thị trƣờng với cơ chế tự điều tiết là cơ chế phân bổ có hiệu quả nhất thu nhập quốc dân. Nguyên tắc phân phối TNCN là dựa trên đóng góp của các yếu tố đầu vào của sản xuất và năng lực sản xuất kinh doanh của cá nhân thông qua cơ chế thị trƣờng. Mặt khác, cần thiết phải có sự can thiệp của nhà nƣớc vào phân phối để giảm bớt tình trạng bất bình đẳng về thu nhập trong xã hội. Họ đã đặt ra mối quan hệ giữa phân phối công bằng với hiệu quả, chú ý đến tính hợp lí của thu nhập xã hội trên nguyên tắc kiên trì ƣu tiên có hiệu quả. 1.1.4. Quan điểm của Đảng ta về phân phối thu nhập cá nhân từ khi tiến hành đổi mới đến nay Ngay từ khi bắt đầu xây dựng CNXH ở nƣớc ta, Đảng ta luôn nhận thức rằng phân phối thu nhập là một nội dung quan trọng trong chính sách kinh tế - xã hội, liên quan trực tiếp đến cuộc sống hàng ngày của hàng chục triệu con ngƣời, đến động lực phát triển kinh tế, đến ổn định chính trị - xã hội và nâng cao hiệu lực quản lý của Nhà nƣớc. Hiện nay, trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng XHCN, Đảng ta xác định phân phối TNCN phải dựa trên cơ sở đóng góp thực tế của mỗi ngƣời về lao động, vốn, tài sản... vào sản xuất kinh doanh. Để thực hiên phân phối công bằng, cần phải: - Bình đẳng trong phân phối kết quả sản xuất giữa ngƣời góp vốn với ngƣời góp sức lao động; - Bình đẳng trong phân phối kết quả sản xuất giữa những ngƣời góp vốn theo nguyên tắc ai góp nhiều đƣợc phân chia nhiều, ai góp ít đƣợc phân chia ít; - Bình đẳng trong phân phối kết quả sản xuất giữa những ngƣời lao động theo nguyên tắc ai làm nhiều, làm tốt đƣợc hƣởng nhiều, ai làm ít hƣởng ít, ai làm hỏng phải chịu phạt, mọi ngƣời có sức lao động phải lao động. Ngoài ra, xã hội phải điều tiết thu nhập cá nhân giữa những ngƣời có thu nhập cao, thấp khác nhau do đóng góp sức lao động và các nguồn lực khác vào sản xuất khác nhau nhằm đảm bảo công bằng xã hội. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (năm 1986) khẳng định: Việc thực hiện đúng nguyên tắc phân phối theo lao động đòi hỏi phải sửa đổi một cách căn bản chế độ tiền lƣơng theo hƣớng đảm bảo yêu cầu tái sản xuất sức lao động, khắc phục tính chất bình quân... áp dụng các hình thức trả lƣơng gắn chặt với kết quả lao động và hiệu quả kinh tế. Phân phối trong kinh tế thị trƣờng định hƣớng XHCN phải bảo đảm sự thống nhất giữa hiệu quả và công bằng. Vì thế, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (năm 1991) của Đảng đã thông qua quan điểm: Tăng trƣởng kinh tế phải gắn liền
- Xem thêm -