Tài liệu Chính sách đào tạo nhân lực thông tin trong các cơ quan thông tin khoa học và công nghệ thuộc hệ thống thông tin khoa học và công nghệ quốc gia

  • Số trang: 92 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 596 |
  • Lượt tải: 0
dangvantuan

Tham gia: 02/08/2015

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỖC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆN CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ NGUYỄN THỊ PHƯƠNG DUNG Chính sách Đào tạo Nhân lực thông tin trong các cơ quan thông tin khoa học và công nghệ thuộc hệ thống thông tin khoa học và công nghệ quốc gia LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC CHUYÊN NGÀNH: CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHệ Mã Số 60.34.70 Khóa 2006-2009 Hà Nội, 2009 ĐẠI HỌC QUỖC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆN CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ Chính sách Đào tạo Nhân lực thông tin trong các cơ quan thông tin khoa học và công nghệ thuộc hệ thống thông tin khoa học và công nghệ quốc gia LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC CHUYÊN NGÀNH: CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ Mã Số 60.34.70 Khóa 2006-2009 Người thực hiện: Nguyễn Thị Phương Dung Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Hữu Hùng Hà Nội, 2009 MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN ............................................................................................... 3 DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT .............................................................. 4 PHẦN MỞ ĐẦU ........................................................................................... 5 1. Lý do nghiên cứu ................................................................................... 5 2. Lịch sử nghiên cứu ................................................................................ 5 3. Mục tiêu nghiên cứu.............................................................................. 8 4. Phạm vi nghiên cứu............................................................................... 8 5. Mẫu khảo sát ......................................................................................... 8 6. Câu hỏi nghiên cứu ............................................................................... 8 7. Giả thuyết nghiên cứu ........................................................................... 8 8. Phƣơng pháp chứng minh .................................................................... 9 9. Kết cấu luận văn.................................................................................... 9 CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO NHÂN LỰC THÔNG TIN ... 10 1.1. Một số khái niệm liên quan.............................................................. 10 1.2. Tiêu chuẩn về năng lực cán bộ thông tin ở Việt Nam trong thời kỳ mới .. 16 1.3. Kinh nghiệm từ một số mô hình đào tạo cán bộ thông tin ở một số nƣớc trên thế giới .................................................................................... 21 Kết luận chƣơng 1 ...................................................................................... 30 CHƢƠNG 2: ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG NHÂN LỰC THÔNG TIN TRONG CÁC CƠ QUAN THÔNG TIN KH&CN THUỘC HỆ THỐNG THÔNG TIN KH&CN QUỐC GIA .......................................................... 31 2.1. Tổng quan về Hệ thống thông tin KH&CN Quốc gia .................... 31 2.1.1. Lịch sử hình thành và cơ cấu tổ chức ........................................ 31 2.1.2. Tiềm lực thông tin ....................................................................... 33 2.2. Hiện trạng nhân lực thông tin trong các cơ quan thông tin KH&CN trong Hệ thống Thông tin KH&CN Quốc gia........................ 36 2.2.1. Về số lượng ................................................................................. 36 2.2.2. Về chất lượng .............................................................................. 36 2.2.3 Tổng hợp nhận định về nhân lực thông tin ................................. 47 2.3. Hiện trạng đào tạo cán bộ thông tin ở Việt Nam ............................ 48 1 2.3.1. Về đào tạo theo văn bằng ............................................................ 48 2.3.2. Về đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ thông tin .................................. 54 Kết luận chƣơng 2 ...................................................................................... 61 CHƢƠNG 3: GIẢI PHÁP TĂNG CƢỜNG ĐÀO TẠO NHÂN LỰC THÔNG TIN TRONG CÁC CƠ QUAN THÔNG TIN THUỘC HỆ THỐNG THÔNG TIN KH&CN QUỐC GIA.............................................. 62 3.1. Quan điểm của Đảng và Nhà nƣớc về đào tạo, bồi dƣỡng nhân lực thông tin................................................................................................... 62 3.2. Đánh giá những tồn tại chính về nhân lực thông tin và các cơ sở đào tạo nghiệp vụ thông tin .................................................................... 65 3.2.1. Thiếu hụt cán bộ thông tin trong những năm tới ....................... 66 3.2.2. Trình độ cán bộ thông tin còn một số mặt hạn chế .................... 68 3.2.3. Các cơ sở đào tạo chuyên ngành thông tin còn nhiều bất cập ... 69 3.2.4. Các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ chưa đáp ứng nhu cầu ................ 71 3.3. Đề xuất các giải pháp ....................................................................... 73 3.3.1.Tăng cường hợp tác đào tạo giữa các trường đào tạo về thông tin với các cơ quan thông tin KH&CN ...................................................... 73 3.3.2.Thành lập trung tâm đào tạo bồi dưỡng cán bộ thông tin hoạt động độc lập, tự chủ về tài chính theo tinh thần Nghị định 115/2005/NĐ-CP .......... 75 3.3.3. Đẩy mạnh E-learning trong công tác bồi dưỡng nghiệp vụ ....... 78 3.3.4. Xây dựng cơ chế đánh giá cán bộ thông tin thông qua kết quả học tập từ các lớp bồi dưỡng ................................................................ 80 3.3.5. Khuyến khích các cán bộ tham gia đào tạo bồi dưỡng về ngoại ngữ, tin học và kiến thức KH&CN ....................................................... 81 3.3.6. Nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên của các lớp bồi dưỡng cán bộ thông tin .................................................................................... 83 3.3.7. Đổi mới chương trình, giáo trình tài liệu tham khảo đáp ứng yêu cầu của sự phát triển ............................................................................ 84 Kết luận chƣơng 3 ...................................................................................... 86 KẾT LUẬN ................................................................................................. 87 TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................................... 88 PHỤ LỤC.................................................................................................... 90 2 LỜI CẢM ƠN Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS. Nguyễn Hữu Hùng, người đã tận tình giúp đỡ tôi trong việc chọn chủ đề luận văn, hướng dẫn phương hướng triển khai, cách sử dụng tài liệu và tổng kết các kết quả nghiên nghiên cứu một cách có hệ thống. Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các bạn đồng nghiệp thuộc các cơ quan thông tin KH&CN đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong việc điều tra các số liệu nhanh chóng và chính xác. Vì thời gian có hạn, nên chắc chắn luận văn của tôi còn nhiều khiếm khuyết. Kính mong thầy cô, bạn bè và đồng nghiệp đóng góp ý kiến để luận văn được hoàn chỉnh hơn. Xin chân thành cảm ơn! 3 DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT KH&CN Khoa học và công nghệ SP&DV TT Sản phẩm và dịch vụ thông tin KHKT Khoa học kỹ thuật CNTT Công nghệ thông tin IFLA Hiệp hội thư viện quốc tế UNESCO Tổ chức văn hoá, khoa học và giáo dục của Liên Hợp Quốc TW Trung ương CNH-HĐH Công nghiệp hoá, hiện đại hoá CSDL Cơ sở dữ liệu SHTT Sở hữu trí tuệ ĐLCL Đo lường chất lượng 4 PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do nghiên cứu Tư tưởng của chiến lược phát triển KH &CN nước ta đến năm 2020 là cơ bản đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp. Việc tìm hiểu, nghiên cứu và ứng dụng các công nghệ mới, thích hợp nhằm đi tắt đón đầu luôn là nhiệm vụ trọng tâm của các cấp, các ngành. Để thực hiện tốt nhiệm vụ trên, các tổ chức thông tin KH&CN mà trong đó thành phần trung tâm là nhân lực làm công tác thông tin KH&CN đóng vai trò hết sức quan trọng. Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay, khi cuộc cách mạng KH&CN trên thế giới đang phát triển như vũ bão, các phát minh sáng chế, công nghệ và tri thức mới ra đời với tốc độ “hàm mũ” thì việc thu thập xử lý thông tin lại càng đòi hỏi phải nhanh chóng và cấp bách hơn bao giờ hết. Điều này đã và đang đặt ra những yêu cầu ngày càng cao hơn đối với các cán bộ thông tin. Thực tế, đến nay phần lớn nhân lực thông tin trong các cơ quan thông tin KH&CN thuộc Hệ thống thông tin KH&CN Quốc gia tốt nghiệp từ các chuyên ngành khác, chứ không phải ngành thông tin. Hơn nữa, cán bộ thông tin sắp đến tuổi nghỉ hưu chiếm tỷ lệ cao, sẽ dẫn đến sự thiếu hụt nhân sự trong những năm tới. Do vậy, việc đánh giá thực trạng nhân lực thông tin trong các cơ quan thông tin KH&CN thuộc hệ thống thông tin KH&CN quốc gia và đề xuất chính sách đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực này có ý nghĩa quan trọng cả trước mắt lẫn lâu dài. Trên tinh thần đó, tôi đã quyết định chọn nội dung nghiên cứu của luận văn là “Chính sách đào tạo nhân lực thông tin trong các cơ quan thông tin KH&CN thuộc hệ thống thông tin KH&CN Quốc gia” 2. Lịch sử nghiên cứu Vấn đề đào tạo nhân lực thông tin từ lâu đã được chú ý ở nhiều nước và gần đây rất được quan tâm ở nước ta. Một phần của vấn đề đã được phản ánh trong một số đề tài, công trình nghiên cứu. 5 Trước hết, đó là đề tài “Mô hình và và giải pháp đào tạo cán bộ thông tin- thư viện ở Việt Nam trong điều kiện xã hội thông tin hiện đại” (Đề tài nghiên cứu cấp Bộ của trường Đại học văn hóa do Ths. Nguyễn Thế Hiển thực hiện năm 2004). - Đề tài này tập trung nghiên cứu thực trạng công tác đào tạo sinh viên thông tin- thư viện trong cả nước, từ đó đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác đào tạo sinh viên thông tin -thư viện tại các trường đại học. - Hạn chế của đề tài: + Đề tài chỉ nghiên cứu công tác đào tạo sinh viên thông tin-thư viện nói chung, không đề cập đến công tác bồi dưỡng cán bộ thông tin - thư viện hiện đang công tác tại các cơ quan thông tin. + Ngoài ra, tác giả cũng không điều tra nghiên cứu chi tiết về số lượng cán bộ thông tin - thư viện hiện nay nên không đánh giá đúng về nhu cầu đào tạo lực lượng cán bộ này trong tương lai. Thứ hai, đề cập trực tiếp đến vấn đề đào tạo và bồi dưỡng cán bộ thông tin cũng có khá nhiều công trình và bài viết liên quan. Đặc biệt, trong cuốn “Thông tin: từ lý luận tới thực tiễn” (Tác giả: PGS.TS. Nguyễn Hữu Hùng, NXB văn hóa thông tin, năm 2005), cũng có nhiều bài nghiên cứu liên quan như: một số quan điểm về xây dựng chính sách quốc gia về thông tin KH&CN trong giai đoạn CHN-HĐH đất nước; phát triển thông tin KH&CN để trở thành nguồn lực; Đào tạo và bồi dưỡng cán bộ thông tin trong hệ thống thông tin KH&CN quốc gia ... Xuyên suốt các bài viết này, tác giả đã phần nào đề cập và đưa ra các chính sách phát triển công tác đào tạo và bồi dưỡng cán bộ thông tin ở Việt Nam giai đoạn hiện nay nhằm biến thông tin KH&CN thành nguồn lực để phát triển đất nước. Tuy nhiên, do thiếu các nguồn lực cần thiết, các bài viết mới dừng lại ở các phân tích và định hướng mang tính chiến lược, các số liệu sâu về chất lượng nguồn nhân lực hiện tại (trình độ, độ tuổi, trình độ chuyên 6 môn, ngoại ngữ…) còn là lĩnh vực cần được tiếp tục nghiên cứu sâu hơn. Tác giả luận văn này đã kế thừa một số tư tưởng định hướng trong các bài viết này của PGS.TS. Nguyễn Hữu Hùng trong quá trình nghiên cứu và đưa ra ra giải pháp cụ thể. Thứ ba, đề cập trực tiếp đến vấn đề đào đạo bồi dưỡng cán bộ thông tin không thể không kể đến hội thảo chuyên đề “Nhu cầu tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ thông tin tư liệu” (Kỷ yếu tháng 7/2006 do Trung tâm Thông tin KH&CN Quốc gia xuất bản). Các bài tham luận trong hội thảo hướng vào chính sách phát triển công tác bồi dưỡng cán bộ thông tin trong hệ thống. Các bài viết chỉ dừng lại ở việc đưa ra các giải pháp phát triển công tác bồi dưỡng trình độ cán bộ thông tin mang tính khái quát, chưa đưa ra được các giải pháp cụ thể như: ai là người cần được đào tạo? đào tạo môn gì? trong thời gian bao lâu? hay sự phối hợp giữa các trường đại học với cơ quan tuyển dụng trong việc đào tạo... Bên cạnh đó, các bài viết cũng không đề cập tới sự thiếu hụt nguồn nhân lực này trong tương lai. Tóm lại, so với các công trình, đề tài nghiên cứu liên quan, luận văn này lần đầu tiên đã khảo sát cụ thể về số lượng và chất lượng nhân lực thông tin (chuyên môn, bằng cấp, ngoại ngữ, độ tuổi) trong các cơ quan thông tin KH&CN thuộc Hệ thống thông tin KH&CN quốc gia. Từ đó, đưa ra các dự báo về sự thiếu hụt nguồn nhân lực thông tin trong tương lai. Hơn nữa, luận văn còn đề cập đến cả thực trạng đào tạo sinh viên cũng như thực trạng bồi dưỡng cán bộ thông tin, nên đã phác họa được bức tranh tổng thể về nguồn nhân lực này. Ngoài ra, luận văn cũng nhấn mạnh đến việc liên kết đào tạo giữa các khoa, trường đào tạo nhân lực thông tin với các đơn vị trực tiếp sử dụng nguồn nhân lực này; thành lập riêng một trung tâm chuyên bồi dưỡng cán bộ thông tin. Đây là những giải pháp mới mà trong các công trình, đề tài nghiên cứu trước luận văn này không đề cập tới. 7 3. Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu nghiên cứu của luận văn này là nhằm vào việc: - Đánh giá thực trạng nhân lực thông tin trong các cơ quan thông tin KH&CN thuộc Hệ thống thông tin KH&CN Quốc gia. - Đề xuất chính sách đào tạo nguồn nhân lực này nhằm đáp ứng yêu cầu của thời kỳ hội nhập. 4. Phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu của luận văn là đội ngũ cán bộ thông tin trong các tổ chức thông tin KH&CN thuộc Hệ thống thông tin KH&CN Quốc gia - Thời gian nghiên cứu từ sau năm 2000 5. Mẫu khảo sát Cơ quan thông tin KH&CN trong Hệ thống thông tin KH&CN Quốc gia được phân loại theo mô hình 4 cấp: TW, Bộ/ngành, địa phương và cơ sở bao gồm: - Trung tâm Thông tin KH&CN Quốc gia - Cơ quan thông tin KH&CN cấp Bộ/ngành - Cơ quan thông tin KH&CN thuộc các Sở KH&CN - Cơ quan thông tin tại Viện/Trung tâm nghiên cứu, các trường Đại học. 6. Câu hỏi nghiên cứu 1. Thực trạng nhân lực thông tin trong các cơ quan thông tin KH&CN thuộc Hệ thống thông tin KH&CN Quốc gia hiện nay ra sao? 2. Cần có chính sách đào tạo nhân lực thông tin như thế nào để đáp ứng yêu cầu của thời kỳ hội nhập? 7. Giả thuyết nghiên cứu Trả lời câu 1: - Rất ít cán bộ thông tin tốt nghiệp chuyên ngành thông tin thư viện. - Cán bộ thông tin sắp đến tuổi nghỉ hưu chiếm tỷ lệ cao. 8 Trả lời câu 2: - Thành lập Trung tâm đào tạo bồi dưỡng cán bộ thông tin hoạt động độc lập, tự chủ về tài chính - Tăng cường hợp tác đào tạo giữa các trường đào tạo về thông tin với các cơ quan thông tin KH&CN 8. Phƣơng pháp chứng minh - Nghiên cứu tài liệu - Điều tra, khảo sát nhân lực thông tin trong các cơ quan thông tin KH&CN thuộc Hệ thống thông tin KH&CN Quốc gia. - Phỏng vấn cán bộ, chuyên gia đầu ngành về thông tin. 9. Kết cấu luận văn: gồm 3 chương Mở đầu Chƣơng 1 : Cơ sở lý luận về đào tạo nhân lực thông tin Chƣơng 2 : Đánh giá thực trạng nhân lực thông tin trong các cơ quan thông tin KH&CN thuộc Hệ thống thông tin KH&CN Quốc gia Chƣơng 3 : Giải pháp đào tạo nhân lực thông tin trong các cơ quan thông tin KH&CN thuộc Hệ thống thông tin KH&CN Quốc gia Kết luận 9 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO NHÂN LỰC THÔNG TIN 1.1. Một số khái niệm liên quan 1.1.1. Thông tin KH&CN Trong cuộc sống hàng ngày, ở đâu và lúc nào chúng ta cũng nghe nói đến hai từ “thông tin”, chẳng hạn thông tin là nguồn lực của sự phát triển, thông tin hỗ trợ việc hoạch định chính sách, thời đại ngày nay là thời đại của thông tin, thông tin quí hơn vàng, có thông tin là có tất cả ... Vậy thông tin là gì? Thực tế, có rất nhiều cách hiểu về thông tin. Thậm chí ngay trong các từ điển cũng không đưa ra một định nghĩa chính xác về thông tin. Ví dụ: Trong bách khoa toàn thư của Liên Xô xuất bản lần thứ 3, tập 10 viết “Thông tin là tin tức được truyền đi bởi con người bằng lời nói, chữ viết hoặc các phương tiện khác”. Theo từ điển Oxford của Anh, thông tin là “điều mà người ta đánh giá hoặc nói đến là tri thức, tin tức”; các từ điển khác đồng nhất thông tin với kiến thức “thông tin là điều mà người ta biết” hoặc “thông tin là sự chuyển giao tri thức làm tăng thêm hiểu biết của con người”… Thuật ngữ “Thông tin” theo gốc tiếng Latin “informatio” (gốc của từ hiện đại “information”) có hai nghĩa. Một là, nó chỉ một hành động rất cụ thể tạo ra một hình dạng (forme). Hai là, tùy theo tình huống, nó có nghĩa là truyền đạt một ý tưởng, một khái niệm hay một biểu tượng. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của xã hội, khái niệm thông tin cũng phát triển theo. Theo nghĩa thông thường, thông tin được hiểu là các số liệu, kiến thức được tồn tại và vận động trong quá trình xử lý, lưu trữ, tìm kiếm và truyền phát. Trong lý thuyết toán học của thông tin thống kê của C.Shannon, thông tin là số đo độ bất định (càng tăng hiểu biết về một sự vật, hiện tượng nào đó chúng ta càng làm giảm độ chưa biết hoặc độ bất định của nó). 10 Căn cứ vào đặc điểm, nội dung của tin tức, có thể chia thông tin thành các loại thông tin kinh tế, thông tin sản xuất, thông tin KH&CN ... Mỗi loại thông tin đều có đặc trưng riêng, song nhìn chung chúng đều đóng vai trò quan trọng trong quá trình hoàn thiện quản lý, phát triển khoa học kỹ thuật và kinh tế. Trong tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 5453-1991 nêu : “Thông tin là nội dung con người gán cho dữ liệu với các qui ước (ký hiệu) đã biết, được sử dụng trong việc trình bày chúng”. Trong phạm vi luận văn này, khái niệm thông tin KH&CN được hiểu theo định nghĩa tại Khoản 1, điều 2 Nghị định 159/2004/NĐ-CP ngày 31/8/2004 quy định về hoạt động thông tin KH&CN, theo đó: “Thông tin KH&CN là các dữ liệu, số liệu, dữ kiện, tri thức khoa học và công nghệ (bao gồm khoa học tự nhiên, KH&CN, khoa học xã hội và nhân văn) được tạo lập, quản lý và sử dụng nhằm mục đích cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước hoặc đáp ứng nhu cầu của tổ chức, cá nhân trong xã hội” Như vậy, thông tin KH&CN không chỉ bó hẹp trong phạm vi thông tin về khoa học tự nhiên, KH&CN mà còn bao gồm cả thông tin trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn. Vai trò của thông tin KH&CN Từ vài thập kỷ qua, cùng với hai yếu tố năng lượng và nguyên liệu, thông tin KH&CN đã được coi là nguồn lực thứ 3, một dạng đặc biệt quan trọng, có vai trò to lớn trong việc thúc đẩy phát triển mọi quá trình xã hội và hoạt động kinh tế - xã hội của con người. Thông tin KH&CN được coi là hàng hóa đặc biệt vì khi sử dụng, chúng không những không mất đi mà giá trị của chúng càng được nhân lên và hiệu quả chúng mang lại càng tăng. Không phải ngẫu nhiên mà hiện nay người ta coi thông tin KH&CN là yếu tố nền tảng của kinh tế tri thức. Đặc biệt, ở các nước phát triển, vị trí hàng đầu trong số các nguồn lực đã nhường lại cho thông tin và tri thức. Quan niệm chung về thông tin KH&CN đã thay đổi từ chỗ coi việc đầu tư cho thông tin KH&CN là đầu tư vì phúc lợi xã hội chuyển thành đầu tư cho sự phát triển. 11 Bản thân khái niệm thông tin được xác định như sự thủ tiêu độ bất định đã chứa đựng ý nghĩa về trật tự, kinh tế và hiệu quả. Vai trò của thông tin KH&CN trong việc phát triển kinh tế xã hội, theo các nhà nghiên cứu, được thể hiện qua các đặc tính sau: + Thông tin KH&CN không những là tài nguyên để phát triển kinh tế mà còn có thể thay thế một phần các tài nguyên truyền thống (lao động, nguyên liệu, năng lượng, tài chính, ...) + Thông tin KH&CN giúp tối ưu hóa hoạt động KHKT, sản xuất dẫn đến thay thế các nguồn tài nguyên vật chất (cổ điển) bằng các nguồn tài nguyên phi vật chất (thông tin). Chi phí cho thông tin rất nhỏ bé so với hiệu quả mà chúng mang lại. + Khoa học trở thành động lực phát triển chỉ theo mức độ chuyển hóa tiềm năng sáng tạo của nó thành thông tin. Không thể phủ nhận vai trò quan trọng của thông tin KH&CN đối với lĩnh vực nghiên cứu khoa học nói riêng và sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung. Tuy nhiên, vai trò của thông tin KH&CN, xét ở khía cạnh khác, cũng vô cùng quan trọng. Thật vậy, chúng ta đang sống trong thời kỳ mà người ta hay gọi là “bùng nổ thông tin” hay “khủng hoảng thông tin”. Hiện tại, trên toàn thế giới, chỉ tính riêng lĩnh vực khoa học tự nhiên và kỹ thuật, hàng năm cho ra đời khoảng 5 vạn tạp chí với 4,5 triệu bài báo, 110 nghìn cuốn sách, 30 vạn bản mô tả sáng chế, phát minh, 25 vạn báo khoa học và thiết kế thử nghiệm, nửa triệu catalog công nghiệp ... Khối lượng các tài liệu này, cứ sau chu kỳ 10 đến 15 năm lại tăng gấp đôi. Tuy nhiên, do không kiểm soát được thông tin và xử lý thông tin kém, các công trình nghiên cứu, thiết kế trùng lặp nhau làm lãng phí từ 40% đến 70% tổng kinh phí đầu tư cho khoa học trong những năm 70. Theo ước tính của Viện sỹ Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô S.R Miculinxki, nếu chỉ hợp lý hóa làm giảm đi 50% số thời gian của các nhà khoa học Xô Viết đang bỏ ra để tìm kiếm thông tin thì đội ngũ các nhà khoa học Liên Xô sẽ tăng thêm 125 nghìn người. 12 Nói cách khác, nếu làm tốt công tác thông tin KH&CN thì hàng năm thế giới không phải lãng phí từ 40 - 70% kinh phí dành cho nghiên cứu khoa học do sự trùng lắp của các đề tài, công trình nghiên cứu. Các nhà khoa học sẽ dành thời gian nhiều hơn để nghiên cứu các vấn đề thực sự mới và cần thiết, những công trình mà chưa ai nghiên cứu. Qua đó, tính hiệu quả của các đề tài cũng được nâng lên. 1.1.2. Nhân lực thông tin KH&CN Nhân lực thông tin KH&CN được hiểu bao gồm những người đang trực tiếp làm công tác thông tin tại các cơ quan, tổ chức tiến hành hoạt động thông tin KH&CN và những cá nhân đang được đào tạo nghề thông tin tại các cơ sở đào tạo đại học, cao đẳng, trung cấp …để trở thành cán bộ thông tin về sau. Loại thứ nhất, nhân lực hiện đang làm công tác thông tin KH&CN, theo quy định tại điều 12, mục 2 Nghị định 159/2004/NĐ-CP, bao gồm: + Cá nhân có đăng ký kinh doanh, đăng ký nghề tư vấn mà trong hoạt động nghề nghiệp được phép tổ chức cung cấp dịch vụ thông tin KH&CN theo qui định tại nghị định này. + Cán bộ, công chức, viên chức và người lao động thực hiện nhiệm vụ thông tin KH&CN theo chuyên môn, nghiệp vụ được cấp có thẩm quyền được giao. Ở Việt Nam, các cá nhân có đăng ký kinh doanh, hoạt động độc lập trong lĩnh vực thông tin KH&CN còn ít, chủ yếu là các cán bộ khoa học kiêm nhiệm. Do vậy, luận văn chỉ tập trung chủ yếu vào phân tích chính sách đào tạo, bồi dưỡng đối với các cán bộ thông tin thực hiện nhiệm vụ thông tin trong các cơ quan thông tin KH&CN thuộc Hệ thống thông tin KH&CN quốc gia, là đối tượng chủ yếu của nguồn nhân lực này. Loại thứ hai, các sinh viên đang được đào tạo để trở thành cán bộ thông tin trong tương lai. Ở Việt Nam hiện có 1 trường Đào tạo tiến sỹ thông tin thư viện, 3 trường Đại học đào tạo thạc sỹ thông tin thư viện, 8 trường đào tạo cán bộ thông tin thư viện ở bậc cử nhân, 4 trường đào tạo ở bậc cao đẳng, trung cấp với số lượng với số lượng sinh viên ra trường lên đến hàng nghìn người mỗi năm. 13 Đây là nguồn nhân lực bổ sung, kế cận rất quan trọng và quyết định sự phát triển hoạt động thông tin nói chung và thông tin KH&CN nói riêng. Do vậy, khi nghiên cứu về chính sách đào tạo nhân lực thông tin không thể không đề cập đến chính sách đào tạo nguồn nhân lực tương lai quan trọng này. Vai trò của cán bộ thông tin KH&CN Sự thành công hay thất bại của bất kỳ hoạt động nào, suy cho cùng, là do con người quyết định. Hoạt động thông tin KH&CN cũng vậy, muốn hoạt động thông tin được hiệu quả thì tin tức phải đến được với người có nhu cầu thông tin, từ đó thông tin mới phát huy được tác dụng và mới trở thành nguồn lực phát triển. Chẳng hạn, thông tin về một giống lúa mới cho năng suất cao nếu không truyền đến được với người nông dân thì nó sẽ không có tác dụng. Ngược lại, nếu người nông dân được tiếp cận được thông tin này thì họ sẽ nhanh chóng áp dụng vào sản xuất tạo ra năng suất cao, đóng góp vào sự phát triển kinh tế. Khi đó thông tin sẽ phát huy tác dụng và trở thành nguồn lực cho sự phát triển. Người đứng ra làm cầu nối giữa nguồn tin KH&CN và người dùng tin không ai khác chính là cán bộ thông tin. Do vậy, vai trò này của cán bộ thông tin là rất quan trọng. Nếu cán bộ thông tin làm tốt vai trò này tức là góp phần quan trọng vào sự phát triển KH&CN chung của đất nước. Đặc biệt với Việt Nam hiện nay, một nước đang tiến hành CNH đi đôi với HĐH đất nước, thì nguồn tin KH&CN trong nước và trên thế giới được Nhà nước đặc biệt quan tâm. Do đó, vai trò của người cán bộ thông tin KH&CN ngày càng đuợc nâng lên và yêu cầu họ phải không ngừng được đào tạo, học hỏi để thực hiện tốt hơn vai trò của mình. Hơn nữa, cùng với sự phát triển của KH&CN và đặc biệt là của CNTT, trên phạm vi toàn thế giới đang chứng kiến sự “bùng nổ thông tin”, số lượng các phát minh, sáng chế không tính bằng ngày, bằng năm mà có thể tính bằng giờ, phút, giây. Một đề tài hôm nay là mới nhưng ngày mai đã có thể là cũ. Thông tin bùng nổ, trong khi công tác thông tin KH&CN không tốt (tính cập 14 nhật, tổng hợp, phân tích kém) nên đã dẫn đến tình trạng trùng lặp rất nhiều trong nghiên cứu. Ví dụ: Một đề tài tương tự đã được một người khác thực hiện, nhưng do không nắm được thông tin nên những người khác cũng tiến hành nghiên cứu. Kết quả là gây lãng phí tiền bạc, công sức cũng như thời gian. Sự lãng phí về công sức và thời gian nghiên cứu còn bị nhân lên gấp bội, bởi thay vì nghiên cứu đề tài trùng lắp đó, nhà khoa học có thể nghiên cứu đề tài mới, giúp ích hơn rất nhiều cho khoa học. Số liệu thống kê cho thấy, mỗi năm thế giới đã lãng phí từ 40-70% ngân sách dành cho nghiên cứu khoa học vì sự trùng lắp đề tài, mà nguyên nhân, như đã nói là do công tác thông tin KH&CN không tốt, cán bộ thông tin chưa theo kịp sự phát triển mạnh mẽ của các nguồn tin. Nói cách khác, sự phát triển mạnh của KH&CN, CNTT cũng như truyền thông đã gây ra sự “bùng nổ thông tin” hay “khủng hoảng thông tin”. Để khắc phục tình trạng này, bên cạnh việc liên tục đổi mới các công cụ lưu trữ, tìm tin, ứng dụng công nghệ hiện đại trong hoạt động thông tin... cần phải phát triển mạnh về số lượng cũng như chất lượng cán bộ thông tin. Bởi vì chính cán bộ thông tin, nếu có đầy đủ về số lượng và được đào tạo chuyên môn tốt, sẽ là những người có vai trò quyết định trong việc giảm thiểu những tổn thất, lãng phí cho xã hội do hậu quả của sự “bùng nổ thông tin”. Thực tế, ở Việt Nam, vai trò của cán bộ thông tin rất mờ nhạt, nhiều người còn chưa biết đến khái niệm cán bộ thông tin, cũng như không biết công việc của họ là gì, họ có vai trò, vị trí gì trong xã hội. Một phần là do hoạt động thông tin KH&CN ở Việt Nam chưa phát triển, đội ngũ cán bộ thông tin còn ít về số lượng và hạn chế về chất lượng, chưa chủ động trong việc khai thác và phổ biến thông tin đến đối tượng cần thông tin. Hơn nữa, các cán bộ thông tin nhiều khi chỉ thực hiện các công việc đơn giản thuần túy như xây dựng CSDL thư mục… 15 1.2. Tiêu chuẩn về năng lực cán bộ thông tin ở Việt Nam trong thời kỳ mới Trong nền kinh tế tri thức, quản trị tri thức có ý nghĩa rất quan trọng và cán bộ thông tin phải trở thành đội ngũ quản trị tri thức. Trước đây, cán bộ thông tin được coi như một bộ phận có tính chất trợ giúp, phụ trợ của một cơ quan hay tổ chức, thường làm việc một cách thầm lặng ở phía sau, làm nền cho các hoạt động khác, không trực tiếp tham gia vào các hoạt động thiết yếu của tổ chức thì ngày nay sẽ trở thành người quản trị tri thức, đóng vai trò mới và quan trọng hơn. Trong khuôn khổ chương trình nghiên cứu về giáo dục và đào tạo cán bộ thông tin thư viện khu vực châu Á - Thái Bình Dương do UNESCO chủ trì với sự tài trợ của Chính phủ Nhật Bản, các chuyên gia tư vấn đã xác định rằng trong thời gian tới sẽ có thể hình thành 4 nhóm cán bộ thông tin, có thể gọi là 4C gồm: - C1: Nhóm cán bộ tạo ra thông tin (Creators), - C2: Nhóm cán bộ thu nhập thông tin (Collector), - C3: Nhóm cán bộ truyền thông (Communcators), - C4: Nhóm cán bộ bao gói/nén tin (Consolidators). + Nhóm cán bộ tạo ra thông tin (C1) là những người có khả năng phát triển và tạo ra những SP&DV TT. Họ cần có khả năng hiểu biết công nghệ thông tin và kiến thức chuyên môn để khai thác được hết những tiềm năng của công nghệ một cách hiệu quả. Họ cần phải có năng lực để xây dựng những hệ thống thông tin thân thiện, dễ sử dụng với những dịch vụ đa dạng, hữu ích. + Nhóm cán bộ thu nhập thông tin (C2) là những người có nhiệm vụ thu thập, tổ chức và tạo ra những bộ sưu tập thông tin sẵn sàng cho phục vụ. Mặc dù đó là một công việc được xem là truyền thống, song với sự phát triển mạnh mẽ của các nguồn tin điện tử như tạp chí điện tử… đòi hỏi ở họ những sự đổi mới trong cách tiếp cận, trong sử dụng công cụ và trong việc nâng cao hiểu biết. 16 + Nhóm cán bộ truyền thông (C3) là những người sẽ đảm bảo cho mối liên hệ chặt chẽ, là cầu nối giữa nguồn tin, người cung cấp tin và người sử dụng thông tin. Mặc dù xu thế đưa thông tin ngày càng phức tạp đòi hỏi các cán bộ thông tin phải là những đội ngũ cán bộ đủ năng lực giúp đỡ người dùng tin hoặc tạo ra những sản phẩm được thiết kế riêng theo yêu cầu. + Nhóm cán bộ bao gói/nén tin (C4) là những người xử lý, phân tích thông tin, hỗ trợ các nhà quản lý, nhà ra quyết định. Họ đảm bảo cho việc thực hiện các hoạt động chọn lọc tin, nghiên cứu, phân tích và bao gói thông tin. Do đó, họ có thể được coi như một bộ phận, một thành phần của công tác quản lý. Với mỗi nhóm cán bộ, cần có những yêu cầu nhất định về trình độ và năng lực chuyên môn. Tuy nhiên, cho dù một người cán bộ thông tin thuộc nhóm nào trong bất kỳ 4 nhóm trên thì họ cũng cần được đào tạo, bồi dưỡng tốt ba nhóm kỹ năng cơ bản đó là: Những kiến thức về chuyên môn nghiệp vụ; những kiến thức và kỹ năng về CNTT và truyền thông và năng lực quản lý điều hành. 1.2.1. Những kiến thức và kỹ năng về chuyên môn nghiệp vụ Những kiến thức và kỹ năng về chuyên môn và nghiệp vụ bao gồm: - Hiểu biết về người dùng tin: Người dùng tin là đối tượng phục vụ của họat động thông tin, là khách hàng của mọi dịch vụ thông tin. Vì vậy, người làm thông tin trước hết phải có khả năng phân tích và hiểu nhu cầu thông tin của người dùng tin, biết được tập quán thông tin của họ, đồng thời giúp họ có thói quen thông tin tốt để sử dụng tốt nhất các nguồn tin hiện có, đặc biệt làm quen với các phương tiện xử lý thông tin hiện đại. - Hiểu biết về vị trí, vai trò của nghề thông tin: Nghề thông tin có một vị trí nhất định trong xã hội và hoạt động trong một môi trường pháp lý trong mối tương quan với nhiều hoạt động khác của xã hội. Người làm thông tin phải xác định được vị trí, chức năng nhiệm vụ, hệ thống tổ chức của nghề thông tin trong xã hội; hiểu những nguyên tắc cơ bản liên quan đến chính sách thông tin 17 và kinh tế thông tin; có hiểu biết về những quy định pháp luật liên quan đến hoạt động thông tin, các luật liên quan đến SHTT đặc biệt luật bản quyền, biết áp dụng các chuẩn quốc gia và quốc tế liên quan đến hoạt động thông tin. - Xác định và đánh giá các nguồn tin: Mọi hoạt động thông tin đều phải dựa trên các nguồn tin và tài liệu. Cán bộ thông tin phải biết phát hiện, đánh giá thông tin, các tài liệu và các nguồn của chúng. Cụ thể là biết sử dụng các phương tiện tra cứu thủ công cũng như hiện đại như các mục lục, các thư mục, các CSDL, các máy tìm kiếm để phát hiện và tìm thông tin; Nắm vững các tiêu chuẩn lựa chọn tài liệu; Biết kiểm tra chất lượng của các nguồn, các tài liệu và thông tin theo những dữ liệu chỉ dẫn; Nắm vững các công cụ cũng như các phương thức để có được các thông tin và tài liệu đó. Đó là những công việc liên quan đến khâu chọn lọc và bổ sung tài liệu. - Quản lý vốn tài liệu và kho: Để đáp ứng yêu cầu thông tin của người dùng tin, cán bộ thông tin phải nắm vững và đánh giá được số lượng và chất lượng, cơ cấu và giá trị sử dụng vốn tài liệu của đơn vị; Xác định những khuyết điểm của vốn tài liệu căn cứ vào mức độ thoả mãn yêu cầu thông tin của người dùng tin; Xác định và áp dụng những tiêu chuẩn để lựa chọn hay loại bỏ tài liệu; Biết tổ chức một hệ thống sắp xếp tài liệu cho phép định vị các tài liệu thuận lợi cho tìm kiếm; có kiến thức về nguyên tắc và kỹ thuật bảo quản tài liệu (tài liệu truyền thống, tài liệu điện tử, tài liệu nghe nhìn…) - Phân tích và trình bày thông tin: Cán bộ thông tin phải biết phân tích tài liệu và trình bày những thông tin đó dưới một dạng thích hợp. Đó chính là những công việc liên quan đến việc xử lý hình thức và nội dung tài liệu. Cụ thể là: Xác định các dữ liệu thể hiện các đặc trưng hình thức của tài liệu và ghi chúng trên các phiếu mô tả theo các quy định và tiêu chuẩn đã được xác lập; Phân loại tài liệu theo một khung phân loại đã lựa chọn; Xác định chủ đề chính của tài liệu; Lập một bản chỉ mục cho tài liệu bằng một tập hợp các từ khoá hoặc từ chuẩn khái quát nội dung và những khái niệm mà tài liệu đề cập tới; Cô đọng nội dung tài liệu bằng một bản tóm tắt, ở trình độ cao hơn cán bộ thông tin còn phải biết biên tập các bản tin, tổng luận chuyên đề. 18
- Xem thêm -