Tài liệu Chien si va tu do hoa binhl - bertrand russell -nguyen hien le

  • Số trang: 204 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 147 |
  • Lượt tải: 0
nho-nhinhinh

Đã đăng 464 tài liệu

Mô tả:

BERTRAND RUSSELL CHIẾN SĨ TỰ DO VÀ HÒA BÌNH Tác giả: Nguyễn Hiến Lê Tạo eBook: Goldfish Ngày hoàn thành: 21-11-2013 TVE-4u MỤC LỤC Mở đầu Phần I: Trước thế chiến thứ nhất 1872-1914 1. Trước tuổi trưởng thành – Khao khát tình yêu 2. Bước đầu vào đời – Khao khát tìm hiểu Phần II: Từ đầu thế chiến thứ nhất tới cuối thế chiến thứ nhì 1914-1944 3. Thế chiến thứ nhất – Chống chiến tranh 4. Qua Nga, Trung Hoa và Nhật Bản 5. Mở trường và viết sách – Tư tưởng tự do về giáo dục và hôn nhân 6. Thế chiến thứ nhì – Những năm lao đao ở Mĩ Phần III: Sau thế chiến thứ nhì 19441970 7. Thương xót nhân loại – Chống khí giới hạch tâm 8. “Người soi đường cho hoà bình” 9. 88 tuổi còn bị nhốt khám 10. “Tôi mong các thế hệ sau sẽ thành công” Niên biểu sơ lược đời Russell MỞ ĐẦU Để mở đầu bộ tự truyện Autobiography [1] (Georges Allen and Unwin Ltd, 1967) mà các nhà phê bình Âu Mĩ coi là một biến cố văn học của thế kỉ, quan trọng ngang với bộ Confessions (Tự thú) của Jean Jacques Rousseau, Bertrand Russell đã vạch những nét chính của đời mình như sau: Tượng Bertrand Russell (1872-1970) ở London “Ba nhiệt tình bình thường nhưng không sao chống lại được đã điều khiển cuộc đời tôi: nhu cầu yêu mến, khát khao tìm hiểu, cảm giác day dứt gần như không chịu nổi vì những nỗi đau khổ của nhân loại. Những nhiệt tình đó như những ngọn cuồng phong thổi bật tôi, tôi lênh đênh trôi dạt trên một đại dương ưu tư phiền muộn mà đôi khi thấy mình đứng ngay sát bờ tuyệt vọng. “Tôi đã tìm tình yêu trước hết vì nó là niềm vui cực độ, một sự xuất thần mãnh liệt tới nỗi đã hơn một lần, chỉ mong được hưởng vài giờ thôi, tôi sẵn lòng tính hi sinh cả cuộc đời còn lại. Tôi đã tìm nó vì lẽ thứ nhì này nữa là nó giải thoát cho ta khỏi cảnh cô liêu, cái cô liêu ghê gớm làm cho phần hữu thức của ta run rẩy cúi xuống nhìn cái vực sâu thăm thẳm, lạnh buốt của phi thể (non-être). Sau cùng tôi tìm nó vì tôi thấy sự yêu nhau, kết hợp với nhau như là một sự biểu thị huyền bí của thiên đường ở cõi trần này, cảnh thiên đường mà các vị thánh và các thi sĩ đã mơ tưởng. Đó, tôi tìm kiếm cái đó và mặc dầu phước lớn đó cơ hồ không sao đạt được, rốt cuộc tôi đã gặp được. “Tôi đã khao khát tìm hiểu với một nhiệt tình không kém vậy. Tôi đã muốn hiểu lòng người. Tôi đã muốn biết cái gì làm cho các vì tinh tú lấp lánh trên trời. Tôi đã rán hiểu thuyết Pythagore nó đặt ma lực của các con số lên trên sự chuyền biến của vũ trụ. Tôi đã thực hiện được một phần nhỏ, nhỏ xíu của những tham vọng ấy. “Ái tình và sự hiểu biết mà tôi đạt được đã cất bổng tôi lên khỏi mặt đất. Nhưng lòng thương xót đã luôn luôn kéo tôi trở về mặt đất. Những tiếng gào khóc đau khổ vang dội trong thâm tâm tôi. Những trẻ em đói khát, những nạn nhân bị áp bức, tra tấn, những người già cả không được che chở, thành một gánh nặng ghê gớm cho con cái, cả một thế giới đau khổ, cô liêu như nhạo báng tàn nhẫn cuộc sống lí tưởng. Muốn kiểu chính cái xấu xa đó, tôi chỉ có cách phải đau khổ vì nó thôi. “Đó cuộc đời tôi như vậy. Tôi thấy nó đáng sống và nếu có cơ hội được sống lại cuộc đời đó thì tôi vui lòng sống lại.” Không ai ngờ được rằng những lời nồng nhiệt, lạc quan, trẻ trung đó chính là của một ông lão đã ngoài chín mươi tuổi, mặt nhăn nheo, tay khô đét, tóc bạc phơ, lông mày rậm, mũi lớn, mắt như mất cú, đặc biệt nhất là cái miệng rộng, môi mỏng, mím lại, có vẻ vừa chua chát, vừa căm hờn. Trong non sáu chục tấm hình của ông in trên bìa các sách báo, từ hồi trẻ tới lúc ông gần mất, tôi không thấy một tấm nào ông mỉm cười cả. Người ta gọi ông là Voltaire của thế kỉ XX thật đúng. Đúng về khóe miệng, đúng về tinh thần, đúng cả về cuộc đời và sự nghiệp. Cả hai đều là triết gia, đều can đảm, cay độc, và đều chiến đấu cho Tự do; riêng Russell vì thời đại thay đổi, còn chiến đấu cho Hòa Bình nữa. [2] NHL PHẦN THỨ NHẤT TRƯỚC THẾ CHIẾN THỨ NHẤT 1872-1914 Russell tại TrinityCollege năm 1893 1. TRƯỚC TUỔI TRƯỞNG THÀNH - KHAO KHÁT TÌNH YÊU Bertrand Russell sanh ngày 18 tháng 5 năm 1872 ở Ravenscroft, gần Trellech, Monmouthshire trong một gia đình vọng tộc vào hàng cố cựu nhất của Anh. Từ thế kỉ XVI, một cận thần của vua Henri VIII, tên là John Russell, được nhà vua thưởng công, phong cho một đất thuộc về tu viện Woburn, đất đó cha truyền con nối tới đời công tước Bedford - một người trong họ, đồng thời với Bertrand Russell là được mười ba thế hệ. Ông nội của Bertrand, cũng tên là John Russell, là con trai thứ ba của công tước Bedford thứ sáu, hai lần làm thủ tướng dưới triều Nữ Hoàng Victoria (thế kỉ XIX). Cha của Bertrand, Huân tước Amberly, là con dòng vợ thứ nhì, cưới vợ tên là Kate, con gái của Huân tước Stanley. Hai ông bà sanh được ba người con: Frank, con trai đầu lòng (năm 1865), Rachel, con gái (1868) và Bertrand. Hồi mới sanh, Bertrand xấu xí, nhưng bác sĩ bảo là khỏe mạnh, dễ nuôi. Được săn sóc kĩ lưỡng, cậu mau lớn, vui vẻ. Nhưng cậu vừa mới đứng vững được thì thân phụ bị trúng phong. Ít lâu sau, một người anh hay em ruột của ông hóa điên. Năm cậu được hai tuổi, thân mẫu, rồi chị, kẻ trước người sau, đều bị chứng bạch hầu mà qui tiên. Thân phụ cậu bị hai cái tang lớn đó, sống thêm được tám tháng nữa rồi cũng từ trần vì bệnh lao. Thế là hai anh em Frank và Bertrand mồ côi cả cha lẫn mẹ. Song thân của Bertrand đều có những tư tưởng mới, đều bỏ đạo Ki Tô mà ngưỡng mộ triết gia John Stuart Mill, theo chủ trương hạn chế sinh sản của Stuart Mill, riêng bà Kate còn hô hào cho đàn bà được quyền bầu dân biểu nữa. Thời đó, giữa thế kỉ trước, người ta cho những tư tưởng đó là ghê tởm, nhất là trong giới quí phái, cho nên cả hai ông bà đều gặp nhiều hoàn cánh khó khăn, ông vào Quốc hội được một năm (1867-68) rồi vì chủ trương hạn chế sinh sản mà bị loại ra. Bà bị cả giới quí phái khinh bỉ, chê là hư hỏng, giao du với bọn “vô lại cấp tiến.” Trước khi mất, ông đã chỉ định hai người giám hộ để săn sóc, dạy dỗ hai cậu Frank và Bertrand theo những tư tưởng tự do của ông bà. Nhưng Pháp viện không chấp nhận ý kiến đó và buộc hai cậu phải về sống với ông bà nội tại Pembroke Lodge, một dinh thự nguy nga ở Richmond, do Nữ Hoàng Victoria ban cho Huân tước John Russell để thưởng công lao trung thành với triều đình. Pembroke Lodge ở trong một khu vườn rộng năm mẫu tây, phần lớn bỏ hoang, có rất nhiều cổ thụ, nhiều bụi rậm, nhiều sân cỏ và sân cảnh trồng hoa rực rỡ. Các sứ thần ngoại quốc và các nhà quí phái thường đập dìu tới chơi, đều ta tụng cảnh đẹp của khu vườn và miền chung quanh. Họ nhắc lại những chuyện cũ, thời Huân tước John qua đảo Elbe thăm Napoléon, thời một cụ bên ngoại của Bertrand bảo vệ Gibraltar trong chiến tranh Độc lập của Huê Kì... Khi Bertrand tới Pembroke Lodge, ông nội cậu đã ngoài tám mươi tuổi, suốt ngày ngồi trong phòng đọc báo, hoặc ngồi trong xe để gia nhân đẩy đi dạo vườn. Nhưng ít năm sau, khi cậu được sáu tuổi, ông nội mất, và cậu sống với bà nội, lúc đó chưa tới lục tuần, tư tưởng rất nghiêm về đức dục mặc dầu tự do về chính trị và tôn giáo. Cụ theo lối sống “thanh giáo”, nghiêm khắc của đại đa số quí tộc thời Nữ Hoàng Victoria: khinh những tiện nghi vật chất, không coi trọng sự ăn uống, cấm người nhà uống rượu, hút thuốc. Sáng nào cũng đúng tám giờ là cả nhà, từ chủ tới gia nhân, đều phải tụ họp lại để đọc kinh. Thức ăn rất đạm bạc, chẳng có món nào ngon, trẻ gần như chỉ được ăn có món “ricepudding”, một thứ bánh tè, tựa như bánh ít của ta, lâu lâu mới được món bánh ngọt trái táo (apple-tart); riêng cụ lại chỉ muốn ăn chay. Rượu chỉ để đãi khách. Khí hậu nước Anh lạnh, mà quanh năm, già trẻ trong nhà đều tắm nước lạnh. Cụ thường giảng luân lí cho các cháu: phải yêu nước, yêu cha mẹ, nhưng không được thích tiền bạc, quyền hành, cùng các thứ hư vinh ở đời. Cụ dám chê Nữ Hoàng Victoria, kể rằng một lần vào bệ kiến Nữ Hoàng, cụ nổi con đau, đứng muốn không nổi, Nữ Hoàng phán: “Phu nhân Russell có thể ngồi xuống; Phu nhân X.X. đứng che phía trước.” Hách như vậy đấy. Đối với hôn nhân, cụ theo đúng phái thanh giáo, cho rằng vợ chồng nên yêu nhau, nhưng cái chuyện nhục dục mà dễ dãi quá thì không tốt; tình vợ chồng không đẹp bằng tình cha mẹ đối với con cái vì vẫn cố chút vị kỉ. Nhưng cụ có nhiều đức quí: can đảm, chăm lo việc công, khinh các tập tục vô lí, coi thường dư luận. Một lần cụ đưa cho cậu Bertrand một cuốn Thánh kinh, ở mấy trang đầu bỏ trắng, cụ chép lại những cầu cụ muốn cho cậu nhớ, trong số đó có câu này: “Con đừng theo đám đông để làm điều bậy”. Cụ lại chỉ trích chính sách đế quốc của Anh, phản đối những chiến tranh xâm lăng để nô lệ hóa các dân tộc bán khai. Lối giáo dục đó ảnh hưởng rất lớn tới tâm hồn Bertrand. Cho tới hồi mười bốn tuổi, cậu rất yêu bà và nghe lời bà đi làm lễ đều đều ở giáo đường, ngay Nữ Hoàng Victoria có lần tới thăm gia đình, cũng khen cậu ngoan. Sự thực hồi nhỏ, cậu nhút nhát, không rời bà nội và hồi bốn hay năm tuổi có lần cậu mất ngủ vì lo lắng chỉ sợ bà chết mà mình sẽ bơ vơ. Nhưng lớn lên, cậu chỉ giữ những đức cương nghị, can đảm, thương người nghèo, trọng tự do của bà, còn lối sống khắc khổ, nhất là quan niệm “thanh giáo” về ái tình, cậu chống lại kịch liệt. Gần năm tuổi, cậu vô một vườn trẻ để tập đọc. Một hai năm sau, cậu học ở nhà; một người cô dạy cho cậu môn sử Anh. Học chẳng được bao nhiêu, nhưng nhờ ngày nào cũng đọc sách cho bà nội, nên lần lần cậu biết khá nhiều về văn học Anh. Cậu đọc Shakespeare, Milton, Dryden, Jane Austen và nhiều tác giả khác. Cái thú nhất của cậu là thơ thẩn trong khu vườn mênh mông, ngồi trong một bụi cây nghe tiếng gió thổi, tiếng chim kêu. Mùa xuân, sáng nào cậu cũng dậy sớm đi dạo một vòng rồi mới về ăn. Sáng ngắm mặt trời mọc, chiều ngắm mặt trời lặn. Thiên nhiên và sách là bạn của cậu, vì cậu Frank hơn cậu tới bảy tuổi, không thể là bạn được, mà chung quanh không có trẻ nào khác. Mặc dầu vậy, tuổi thơ của cậu đáng gọi là sung sướng. Thời đó các gia đình quí phái đón giáo sư về dạy trẻ chứ không cho trẻ lại học trường công. Năm sáu tuổi, cậu Bertrand bắt đầu học tiếng Đức với một cô giáo, năm mười một tuổi bắt đầu học hình học với anh. Cậu mê ngay môn này, cho rằng không có gì thú bằng.
- Xem thêm -