Tài liệu Chiến lược hướng ra xuất khẩu của việt nam

  • Số trang: 45 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 56 |
  • Lượt tải: 0
tailieuonline

Đã đăng 39841 tài liệu

Mô tả:

MỤC LỤC 1. Đặt vấn đề: ................................................................................................. 3 2. Lý luận chung về chiến lược hướng ra xuất khẩu:................................ 3 2.1. Chiến lược hướng ra xuất khẩu là gì? ....................................................................................... 4 2.2. Cơ sở lý luận của chiến lược hướng ra xuất khẩu: .................................................................. 4 2.3. Tính tất yếu của việc thực hiện chiến lược hướng ra xuất khẩu: ........................................... 5 2.4. Các chính sách thường được sử dụng: ...................................................................................... 6 3. Thực nghiệm nghiên cứu tác động của “Chiến lược hướng ra xuất khẩu” lên sự phát triển của mỗi quốc gia: ................................................... 7 4. Điều kiện của Việt Nam hiện nay: ......................................................... 10 4.1. Bối cảnh thế giới hiện nay: ....................................................................................................... 10 4.2. Các chính sách thúc đẩy xuất khẩu qua các thời kì ở Việt Nam: ......................................... 12 4.2.1. Chính sách tín dụng xuất khẩu:........................................................................................... 12 4.2.2. Bảo hiểm tín dụng xuất khẩu:.............................................................................................. 13 4.2.3. Chính sách trợ cấp xuất khẩu: ............................................................................................ 14 4.2.4. Thuế xuất khẩu và các ưu đãi về thuế: ................................................................................ 15 4.3. Vị thế của Việt Nam hiện nay: ................................................................................................. 16 5. Chiến lược hướng ra xuất khẩu của Việt Nam: ................................... 21 5.1. Phương hướng xây dựng chiến lược:....................................................................................... 21 5.1.1. Phát triển xuất khẩu trên cơ sở khai thác triệt để lợi thế so sánh và lợi thế cạnh tranh, đảm bảo tốc độ và chất lượng tăng trưởng cao, góp phần tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững: . 22 5.1.2. Phát triển xuất khẩu trên cơ sở khai thác hợp lý tài nguyên thiên nhiên, hạn chế ô nhiễm môi trường và cạn kiệt tài nguyên, nâng cao khả năng đáp ứng các quy định và tiêu chuẩn môi trường của hàng hóa xuất khẩu: .................................................................................................. 23 5.1.3. Phát triển xuất khẩu góp phần thực hiện các mục tiêu xã hội như xóa đói giảm nghèo, tạo nhiều việc làm đảm bảo công bằng xã hội, chia sẻ lợi ích hợp lý giữa các thành phần tham gia xuất khẩu: Chúng ta xác định: ...................................................................................................... 23 5.1.4. Đẩy mạnh nhập khẩu công nghệ tiên tiến thúc đẩy xuất khẩu, tiến tới cân bằng cán cân thương mại: ......................................................................................................................................... 23 5.2. Chiến lược mang tầm vĩ mô: .................................................................................................... 24 5.2.1. Xây dựng quy hoạch, quản lý các mặt hàng xuất khẩu: ...................................................... 24 5.2.2. Xây dựng chính sách hỗ trợ xuất khẩu:............................................................................... 32 5.2.3. Tích cực tham gia vào các tổ chức thương mại trên thế giới:............................................. 40 5.3. Chiến lược mang tầm vi mô: .................................................................................................... 40 5.3.1. Đa dạng hóa các sản phẩm: ................................................................................................ 40 5.3.2. Đẩy mạnh các hoạt động xây dựng thị trường quốc tế: ...................................................... 41 Trang 1 5.3.3. Xây dựng phương pháp giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế: ................................... 42 6. Kết luận: .................................................................................................. 44 Tài liệu tham khảo ........................................................................................ 45 Trang 2 1. Đặt vấn đề: Hiện nay, xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế mở rộng đã có những tác động mạnh mẽ đến nền kinh tế của mỗi quốc gia, các quốc gia không thể đóng cửa lại với phần còn lại của thế giới mà phải mở rộng giao lưu thương mại quốc tế. Và Việt Nam cũng đang trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế, do đó việc hoạch định một chiến lược hướng ra xuất khẩu phù hợp sẽ giúp cho nền kinh tế Việt Nam phát triển và biến nó trở thành một công cụ quản lý kinh tế một cách tích cực là một vấn đề quan trọng, được nhà nước ta quan tâm. Trong thương mai quốc tế vốn tồn tại những khó khăn, thách thức mà chúng ta không thể biết trước. Do đó, cần phải xây dựng một chiến lược hướng ra xuất khẩu một cách đầy đủ và có tính đột phá; bằng cách loại bỏ những cái cũ và tiếp thu những cái mới; tạo ra sự cân bằng nhằm xử lí các thách thức và mâu thuẩn. Việt Nam có những lợi thế nào để phát triển xuất khẩu? Chính phủ sẽ áp dụng những biện pháp nào để thúc đẩy xuất khẩu mà không làm trái các Hiệp ước quốc tế đã kí kết? Đặc biệt, trong tình hình bất ổn của nền kinh tế thế giới sẽ có những tác động như thế nào lên chiến lược đẩy mạnh xuất khẩu của Việt Nam? Vì vậy, trên tinh thần nghiên cứu, trao đổi kiến thức, chúng em thực hiện bài nghiên cứu này hướng đến đánh giá những lợi ích và hạn chế của chiến lược hướng ra xuất khẩu; thông qua đó sẽ đánh giá tình hình xuất khẩu và xây dựng Chiến lược hướng ra xuất khẩu của Việt Nam trong thời gian tới. 2. Lý luận chung về chiến lược hướng ra xuất khẩu: Trong thế giới hiện đại, không một quốc gia nào có thểbằng chính sách đóng cửa với nước ngoài mà lại có thểphát triển nền kinh tế trong nước. Muốn phát triển nhanh mỗi nước không chỉ đơn độc dựa vào nguồn lực của mình mà phải biết tận dụng có hiêụ quả tất cả những thành tựu kinh tế, khoa học kỹ thuậtcủa loài người đã đạt được. Chính vì lẽ đó V.I. Lênin đã khẳng định "có một sức mạnh lớn hơn nguyện vọng, ý chí và quyết tâm của bất cứ Chính phủ hay giai cấp thù địch nào, đó là quan hệ kinh tế thế giới".Và một trong những sức mạnh đó chính là chiến lược hướng ra xuất khẩu.Vậy “Chiến lược hướng ra xuất khẩu” là gì? Trang 3 2.1. Chiến lược hướng ra xuất khẩu là gì? Chiến lược hướng ra xuất khẩu là một chiến lược phát triển kinh tế nhằm mục tiêu tăng trưởng thông qua sản xuất để xuất khẩu hay lấy quan hệ kinh tế đối ngoại làm đòn bẩy cho chương trình công nghiệp hóa quốc gia. Chiến lược hướng ra xuất khẩu khởi đầu ở Mỹ Latinh từ thập kỉ 30, nhưng đến những năm 60 của thế kỉ XX, chiến lược này mới được áp dụng ở các quốc gia, lãnh thổ công nghiệp mới Châu Á (Các nước công nghiệp mới NICS như Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan, Hong Kong). “Sự thần kỳ” của các nước NICs Châu Á đạt được trong mấy thập kỷ qua không phải là một sự ngẫu nhiên, mà là cả một quá trình tìm tòi thử nghiệm và phấn đấu kiên trì của các quốc gia đó. Trải qua những bước thăng trầm, thất bại và thành công, họ đã tìm ra được mô hình phát triển kinh tế phù hợp với điều kiện của mỗi nước - “Mô hình hướng về xuất khẩu”làchìa khóa giúp họ từ những quốc gia nghèo nàn, lạc hậu vươn lên thành những quốc gia có nền kinh tế phát triển, những con rồng châu á vững vàng bước vào thế kỷ 21. 2.2. Cơ sở lý luận của chiến lược hướng ra xuất khẩu: Chủ trương: “Một cán cân thương mại thặng dư” của phái trọng thương, coi trọng xuất nhập khẩu, phái này cho rằng đó là con đường mang lại sự phồn thịnh cho đất nước Tuy nhiên phương châm ở đây là phải xuất siêu: “Một quốc gia chỉ có thể thu lợi do ngoại thương nếu xuất khẩu vượt nhập khẩu”. Đến khoảng thế kỷ XVII-XVIII, các nhà kinh tế học Adam Smith, David Ricardo đã cho rằng: Các quốc gia có lợi thế so sánh lớnhơn hay kém hơn các quốc gia khác trong sản xuất sản phẩm vẫn có lợi khi tham gia vào thương mại quốc tế, bởi vì nó cho phép mở rộng khả năng tiêu dùng của quốc gia đó khi chuyên môn hóa sản xuất một sản phẩm nhất định có lợi thế hơn, xuất khẩu sản phẩm đó và nhập khẩu những sản phẩm mà sản xuất trong nước có lợi thế kém hơn hoặc không sản xuất được.Do đó, dẫn đến tăng mức tiêu thụ, tạo ra thị trường tiêu thụ rộng lớn so với chế độ khép kín; đồng thời tạo thời cơ cho việc đẩy mạnh chuyên môn hóa và tăng hiệu quả sản xuất hơn trước. Khi mộtnước xuất khẩu hàng hóa ra thị trường nước ngoài càng rộng lớn thì càng thúc đẩy mức độ chuyên môn hóa nội địa và hiệu quả sản xuất trong nước.Đồng thời qua nhập khẩu, một nước cũng sẽ có thể được lợi thông qua việc chuyển giao khoa học- công nghệ giữacác nước. Trang 4 2.3. Tính tất yếu của việc thực hiện chiến lược hướng ra xuất khẩu: Toàn cầu hóa và khu vực hóa ngày càng trở thành xu hướng chung của hầu hết các quốc gia.Trình độ phát triển ngày càng cao của lực lượng sản xuất cũng như kinh tế nói chung của thế giới tạo ra những cơ hội hợp tác, hội nhập để khai thác những nguồn lực quốc tế phục vụ cho nhu cầu phát triển của mỗi quốc gia. Hơn 30 năm qua, sự nghiệp công nghiệp hóa đất nước dù đã đạt được những tiến bộ đáng kể, song nước ta vẫn là một nước nghèo nàn lạc hậu, trong khi đó các nước NICs và ASEAN lại đạt được sự phát triển thần kì, năng động trong sự nghiệp phát triển đất nước. Đây vẫn là câu hỏi khó để tìm được lời giải đáp. Và chúng ta đều thấy rõ rằng “ Sự thần kì” đó không phải là một sự ngẫu nhiên, mà là cả một quá trình tìm tòi thử nghiệm và phấn đấu nỗ lực. Hướng ra xuất khẩu chính là chìa khóa giúp các nước nghèo nàn, lạc hậu vươn lên thành những quốc gia có nền kinh tế phát triển, những con rồng Châu Á. Qua đó, chúng ta có thể thấy: Hướng ra xuất khẩu là xu hướng tất yếu của hầu hết các quốc gia. Bởi lẽ: Chiến lược hướng ra xuất khẩu tạo khả năng xây dựng cơ cấu kinh tế mới năng động hơn, sáng tạo hơn. Xuất khẩu thể hiện sự thay đổi cơ cấu ngành theo hướng sử dụng có hiệu quả lợi thế so sánh của đất nước. Chúng ta không thể sản xuất tất cả các hàng hóa trong khi nguồn lực có hạn. Chúng ta cần điều chỉnh một cách linh hoạt để thỏa mãn nhu cầu vô tận của con người. Chiến lược hướng ra xuất khẩu tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nước ngày càng lớn mạnh hơn, nâng cao sức cạnh tranh trên trường quốc tế. Thị trường thế giới rộng lớn tạo điều kiện cho các doanh nghiệp thu được hiệu quả nhờ quy mô sản xuất. Trong quá trình hội nhập vào nền kinh tế thế giới và khu vực, hàng trong nước phải chịu sự cạnh tranh khốc liệt với hàng hóa các nước khác và gặp phải sự cản trở quyết liệt của các hàng rào thuế quan và phi thuế quan của các nước đặt ra, do đó để tồn tại và đứng vững trên thị trường đòi hỏi chúng ta phải không ngừng nâng cao chất lượng, hạ giá thành sản phẩm… Chiến lược hướng ra xuất khẩu tạo nguồn thu nhập ngoại tệ cho quốc gia, tăng khả năng nhập khẩu công nghệ, máy móc thiết bị và nguyên vật liệu trực tiếp cho sự phát triển của các ngành công nghiệp. Nguồn thu nhập từ việc xuất khẩu vượt xa các nguồn thu nhập khác, kể cả vốn vay và đầu tư của nước ngoài. Đối với nhiều nước ngoại thương đã trở thành nguồn tích lũy vốn chủ yếu trong giai đoạn đầu của sự nghiệp công nghiệp hóa. Ngoại tệ tăng giúp cho việc đầu tư ngày càng phát triển, đồng thời tăng khả năng nhập khẩu công nghệ, máy móc thiết bị hiện đại và nguyên vật liệu cần thiết cho các ngành công nghiệp hiện đại. Trang 5 Xuất khẩu có vai trò quan trọng trong việc giải quyết các vấnđề vềcông ăn, việc làm, nâng cao đời sống nhân dân. Sản xuất hàng xuất khẩu thu hút sự tham gia của nhiều lao động, tao nguồn thu nhập lớn. Chính xuất khẩu tạo nguồn vốn để nhập vào những vật phẩm tiêu dùng thiết yếu phục vụ đời sống và đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao. Tóm lại, đẩy mạnh xuất khẩu được coi là vấn đề có ý nghĩa chiến lược để phát triển kinh tế, thực hiện công nhiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nhất là trong điều kiện hiện nay khi mà xu thế toàn cầu hóa, khu vực hóa đang ngày càng diễn ra mạnh mẽ. Hướng ra xuất khẩu là cơ hội cho mỗi quốc gia để hội nhập vào nền kinh tế thế giới và khu vực. 2.4. Các chính sách thường được sử dụng:  Chính sách cơ cấu xuất khẩu và quy hoạch xuất khẩu: Xác định cơ cấu hàng hóaxuất khẩu theo: Nhân tố quyết định quy mô, nhịp độ hàng xuất khẩu chính là cơ cấu hàng xuất khẩu và những mặt hàng xuất khẩu chủ lực. Bởi lẽ đó, xác định cơ cấu hàng hóa có hiệu quả và những mặt hàng xuất khẩu chủ lực là nội dung quan trọng của chính sách mặt hàng xuất khẩu. Bất kì một quốc gia nào cũng luôn mong muốn kim ngạch xuất khẩu cao do đó để nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của hàng xuất khẩu cần có chính sách chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu theo hướng: giảm tỉ trọng các sản phẩm xuất khẩu truyền thống đi đôi với việc tăng tỉ trọng xuất khẩu các ngành có giá trị cao. Về vấn đề quy hoạch xuất khẩu, nhà nước cần ban hành các chính sách đầu tư đối với các ngành, các doanh nghiệp sản xuất, khuyến khích đâu tư để sản xuất kinh doanh các sản phẩm xuất khẩu có giá trị cao.  Chính sách mở cửa thị trường: Mở rộng, tăng cường hoạt động kinh tế đối ngoại. Khẩn trương nghiên cứu tình hình chiến lược thị trường. Thực hiện tốt các cam kết quốc tế, tiến hành kí các hiệp định song phương và đa phương khác. Tiếp tục đổi mới hoạt động, tăng cường đào tạo cán bộ nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ làm tốt công tác thị trường nhất là thị trường xuất khẩu. Trang 6  Chính sách đầu tư trong và ngoài nước: Tập trung đầu tư một số lĩnh vực mình có ưu thế để phát triển. Khuyến khích các doanh nghiệp tập trung phát triển lĩnh vực mà mình có ưu thế, hỗ trợ đầu tư bằng hình thức cho vay với lãi suất thấp phục vụ cho công tác sản xuất. Tăng cường công tác đào tạo, quản lí nhằm nâng cao trình độ chuyên môn, cung cấp những kiến thức chuyên sâu. Đồng thời tăng cường việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài, lĩnh hội nhưng tiến bộ về khoa học và kĩ thuật. Bằng các dự án có tính khả thi, luôn mới mẻ và có tính vượt trội… nhằm thu hút lượng lớn đầu tư từ phía nước ngoài. Tiếp nhận một cách có chọn lọc những tiến bộ, khoa học hiện đại của các nước phát triển để ứng dụng vào sản xuất nhăm nâng cao năng suất cũng như chất lượng.  Chính sách đẩy mạnh xuất khẩu: Thuế xuất khẩu: Để khuyến khích sản xuất hàng xuất khẩu và đẩy mạnh xuất khẩu, hầu hết các nước đều áp dụng chính sách miễn giảm thuế, miễn thuế hầu hết các mặt hàng xuất khẩu, áp dụng thuế xuất khẩu thấp đối với một số mặt hàng còn chịu thuế…. Hạn ngạch xuất khẩu: Nhà nước quy định một mức hàng cố định được nhập khẩu nhằm bảo vệ những ngành sản xuất còn non yếu cũng như nhằm tạo ra thị trường tiêu thụ rộng lớn. Hỗ trợ xuất khẩu: Những hình thức tổ chức hỗ trợ xuất khẩu bao gồm việc thành lập các tổ chức đẩy mạnh xuất khẩu, giúp cho việc tiếp thị xuất khẩu và hỗ trợ cho các công ty thương mại…. 3. Thực nghiệm nghiên cứu tác động của “Chiến lược hướng ra xuất khẩu” lên sự phát triển của mỗi quốc gia: “Hướng ra xuất khẩu” - chiến lược công nghiệp hóa lấy phát triển khu vực sản xuất hàng xuất khẩu làm động lực chủ yếu lôi kéo phát triển toàn nền kinh tế. Chiến lược này từng được nhiều nước đang phát triển áp dụng và không ít trong số đó đã thành công, điển hình là Nhật Bản, Bốn con rồng châu Á – Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan, Hồng Kông, ngoài ra cũng có thể nhắc đến một số nước ASEAN và Trung Quốc. Trang 7 Trong chiến lược này, Chính phủ sẽ ưu tiên phát triển những ngành công nghiệp có thể xuất khẩu được sản phẩm của mình. Các biện pháp ưu tiên thường được sử dụng gồm: trợ cấp xuất khẩu, tạo thuận lợi trong tiếp cận tín dụng, hỗ trợ về thông tin thị trường, tạo thuận lợi cho nhập khẩu đầu vào cho sản xuất, ưu đãi về tỷ giá hối đoái, quy định về tỷ lệ xuất khẩu đối với các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài, tạo thuận lợi về cơ sở hạ tầng chẳng hạn như thành lập các khu chế xuất. Theo dự tính thông thường của các nhà lập chính sách theo đuổi chiến lược này, các ngành xuất khẩu sẽ đem lại thu nhập cho nền kinh tế, công ăn việc làm và thu nhập cho người lao động, đem lại nguồn thu ngoại tệ phục vụ cho nhập khẩu các máy móc cho công nghiệp hóa và đặc biệt là những ảnh hưởng lan tỏa của nó tới các ngành và lĩnh vực kinh tế khác. Những ngành được lựa chọn là những ngành mà quốc gia có lợi thế. Tuy nhiên, lợi thế của quốc gia thay đổi cùng với quá trình phát triển của mình, nên có nhiều giai đoạn công nghiệp hóa theo hướng xuất khẩu. Trong giai đoạn đầu tiên của công nghiệp hóa, các nước đang phát triển thường chỉ có lợi thế ở những ngành thuộc khu vực một của nền kinh tế như khai thác tài nguyên thiên nhiên và nông nghiệp. Vì thế, giai đoạn này hay được gọi là giai đoạn công nghiệp hóa theo hướng xuất khẩu sơ khai. Nhật Bản trải qua giai đoạn này vào những thập niên cuối của thế kỷ 19. Hàn Quốc và Đài Loan trải qua giai đoạn này từ đầu thập niên 1960. Sang giai đoạn thứ hai, các ngành thâm dụng lao động như dệt may, đóng giày, thực phẩm qua chế biến, đồ gỗ qua gia công, và những ngành công nghiệp nhẹ khác cùng ngành đóng tàu, v.v... được lựa chọn vì lúc này lợi thế của quốc gia chính là lao động rẻ và có tay nghề không cần cao. Nhật Bản trải qua giai đoạn này vào hai thập niên đầu của thế kỷ 20, trong khi đó Hàn Quốc và Đài Loan sớm từ bỏ giai đoạn một (vì họ đều nghèo tài nguyên thiên nhiên và nông nghiệp sớm không đáp ứng được nhu cầu nội địa) và chuyển sang giai đoạn hai từ nửa cuối thập niên 1960. Ở giai đoạn thứ ba của công nghiệp hóa theo hướng xuất khẩu, các ngành được lựa chọn là những ngành thâm dụng tư bản (vốn) và lao động có kỹ năng như sản xuất hàng điện gia dụng-điện tử, cơ khí đơn giản như chế tạo máy nông nghiệp, sản xuất xe gắn máy. Nhật Bản trải qua giai đoạn này sau khi kết thúc Chiến tranh thế giới thứ hai cho đến giữa thập niên 1960. Hàn Quốc và Đài Loan bắt đầu xúc tiến giai đoạn này từ đầu thập niên 1980. Ở giai đoạn thứ tư, các ngành được lựa chọn là những ngành thâm dụng công nghệ như chế tạo máy chính xác, hóa chất, chế tạo ô tô, v.v... Trang 8 Ví dụ: Kỷ nguyên tăng trưởng nhanh của Nhật Bản Thời kỳ gần 20 năm từ năm 1955 đến năm 1973 là thời kỳ mà nền kinh tế Nhật Bản có tốc độ tăng trưởng rất cao. GDP thực tế theo giá so sánh hàng năm (năm gốc là 1965) của Nhật Bản trong thời kỳ này hầu hết đều có tốc độ tăng lên tới hai chữ số. Chính trong thời kỳ này, kinh tế Nhật Bản đã đuổi kịp các nền kinh tế tiên tiến của thế giới. Nếu vào năm 1950, GNP của Nhật còn nhỏ hơn của bất cứ nước phương Tây nào và chỉ bằng vài phần trăm so với của Mỹ, thì đến năm 1960 nó đã vượt qua Canada, giữa thập niên 1960 vượt qua Anh và Pháp, năm 1968 vượt Tây Đức. Năm 1973, GNP của Nhật Bản bằng một phần ba của Mỹ và lớn thứ hai trên thế giới. Biểu đồ tốc độ tăng GNP bình quân đầu người của Nhật Bản giữa các thời kỳ Những nhân tố tạo nên sự tăng trưởng nhanh chóng của Nhật Bản trong thời kỳ này gồm: cách mạng công nghệ, lao động rẻ lại có kỹ năng, khai thác được lao động dư thừa ở khu vực nông nghiệp, tỷ lệ để dành cao, đầu tư tư nhân cao, đồng yên Nhật được cố định vào dollar Mỹ với tỷ giá 360JPY/USD có lợi cho xuất khẩu của Nhật Bản, nhu cầu tiêu dùng tăng mạnh, giá dầu lửa hãy còn rẻ, nguồn tài chính cho đầu tư ổn định nhờ chính sách của chính phủ giữ cho các ngân hàng khỏi bị phá sản, chính sách kinh tế vĩ mô (chủ yếu là chính sách tài chính) và chính sách công nghiệp được sử dụng tích cực, nhu cầu lớn từ Mỹ đối với hàng quân dụng do chiến tranh Việt Nam tạo ra. Trong kỷ nguyên tăng trưởng nhanh, Nhật Bản tiếp tục hoàn thành giai đoạn thay thế nhập khẩu tư liệu sản xuất trong khi vẫn đẩy mạnh xuất khẩu hàng tiêu dùng lâu bền và chuyển sang xuất khẩu máy móc như ô tô, thiết bị điện tử cao cấp như máy tính. Năm 1970, 72,4% kim ngạch xuất khẩu của Nhật Bản là nhờ các sản phẩm công nghiệp nặng và hóa chất. Tự tin vào năng lực cạnh tranh của mình, từ năm 1960, Nhật Bản bắt đầu tự do hóa thương mại. Năm 1963, Nhật Bản trở thành thành viên của Quỹ Tiền tệ Quốc tế. Năm 1964, Nhật Bản trở thành thành viên của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế, câu lạc bộ của những quốc gia tiên tiến. Trang 9 4. Điều kiện của Việt Nam hiện nay: Để xây dựng chiến lược hướng ra xuất khẩu, Việt Nam cần phải xác định được những cơ hôi và thách thức của mình trong bối cảnh kinh tế thế giới và sự phát triển kinh tế Việt Nam trong hiện tại và tương lai. Qua đó, sẽ giúp xây dựng được “Chiến lược hướng ra xuất khẩu” hoàn thiện, thúc đẩy nền kinh tế nước ta phát triển. 4.1. Bối cảnh thế giới hiện nay:  Tình hình kinh tế thế giới hiện nay có rất nhiều biến động lớn tác động lên hầu hết các quốc gia trên thế giới và không thể ngoại trừ Việt Nam:  Năm 2008: Cả thế giới chững lại trước những cuộc khủng hoảng lớn xảy ra liên tục. Bắt đầu với nhữngcuộc khủng hoảng tài chính từ sự đổ vỡ bong bóng nhà đất tại Mỹ đã tạo ra một sự ảnh hưởng domino tới hầu hết tất cảcác thị trường trên thế giới. Ví dụ:Thị trường tài chính, thị trường chứng khoán biến động thất thường với những phiên giảm điểm mạnh. Sự sụp đỗ của hàng loạt ngân hàng lớn. … Gây ra ảnh hưởng rấtlớntới nền tài chính của hầu khắp các nước trên thế giới. Cùng với khủng hoảng tài chính là các cuộc khủng hoảng khác về giá lương thực. Đầu năm 2008, thế giới bàng hoàng trước cơn bão có tên là giá lương thực, dù đã được dự báo. Đã có có ít nhất 37 nước trên thế giới phải đối mặt với tình trạng khủng hoảng lương thực. Đến những ngày tháng 4, giá gạo - lương thực chính của hơn mộtnửa dân số trên toàn thế giới, đột ngột tăng từ 550 USD/tấn lên 760 USD/tấn rồi 1.000 USD/tấn đã khiến hàng triệu người ở châu Mỹ, châu Phi và cả ở châu Á - “Vựa lúa của thế giới” lâm vào cảnh thiếu đói. Chính phủ các nước hầu như không thể tiếp tục trợ giá lương thực. Ví dụ:Trung Quốc phải mở kho dự trữ gạo để kiểm soát giá. Những trận xô xát ở Ai Cập khiến nhiều người chết. Cuộc bạo loạn ở Buốckina Phaxô và Camơrun đều có nguyên nhân là do thiếu nguồn lương thực. … Trang 10 Nguồn gạo dự trữ của thế giới trong vụ mùa năm 2007-2008 đã giảm xuống chỉ còn 70 triệu tấn- mức thấp nhất trong vòng 25 năm qua và chưa bằng một nửa lượng gạo đượcdự trữ năm 2000. Khủng hoảng này gây ảnh hưởng trực tiếp tới tình hình xuất khẩu gạo của Việt Nam.  Giai đoan năm 2009-2011: Giai đoạn mà cả thế giới đi tìm một con đường phục hồi làm sống dạy nền kinh tế. Cùng với những khoản vốn lớn được rót từ FED đồng nghĩa là một sự hồi phục nhẹ vào cuối những năm 2009. Nhưng đến đầu năm 2011, cả thế giới tiếp tục hứng chịu thêm một cú sốc kinh tế mới là cuộc khủng hoảng nợ công của Châu Âu xảy ra tại Hy Lạp và Argentina,….Cuộc khủng hoảng nợ công đã kéo đà đang phục hồi nhẹ của nền kinh tế thế giới đi xuống. Các tổ chức xếp hạng tín dụng giảm mạnh điểm xếp hạng của các quốc gia thuộc Liên Minh Châu Âu tiếp tụctạo ra một sự đảo lộn trên thị trường tài chính.  Đầu năm 2012: Nền kinh tế đã có những sự biến đổi theo chiều hướng tốt sau khi các quốc gia ở Châu Âu thực hiện cácchính sách cải cách, khắc phục tình trạng nợ công. Và dường như thế giới đã tìm ra một hướng đầu tư cho dòng vốn của mình là đầu tư vào Châu Á với sự phát triểnvàổnđịnhcủa cácnền kinh tế như Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc,....  Tác động: Trước tình hình thế giới đầy biến động thì Việt Nam cũng không nằm ngoài phạm vi tác động của nó. Ảnh hưởng lớn nhất của Việt Nam là trong thị trường xuất nhập khẩu. Nền kinh tế Mỹ bị suy thoái sẽ ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu của Việt Nam, vì Mỹ là thị trường xuất khẩu lớn của Việt Nam hiện nay. Điều này được thể hiện thông qua hai tác động sau:  Thứ nhất, nhu cầu nhập khẩu hàng hoá của Mỹ đối với Việt Nam (Việt Nam là một trong37 nước xuất khẩu lớn nhất vào thị trường Mỹ, trong đó có một số mặt hàng đứng thứ hạng cao như: Dệt may, hạt tiêu, hạt điều, cà phê, đồ gỗ, thuỷ sản...) có xu hướng giảm sút.  Thứ hai, tỷ giá VND/USD bị tác động nhiều và cần được điều chỉnh linh hoạt do đồng Việt Nam được xác định giá gắn với đồng USD. Khi đồng USD giảm trên thị trường thế giới thì có thể dẫn tới lạm phát trong nước nếu đồng VND không lên giá, và khi đó người tiêu dùng chịu giá cả tăng do nhập khẩu. Nhưng nếu tỷ giá VND/USD giảm (tức là VND lên giá so với USD) ở mức không phù hợp sẽ làm cho xuất khẩu vào Mỹ của các doanh nghiệp bị lỗ. Trong khi để cạnh tranh bán hàng vào Mỹ, nhiều nước có mặt hàng tương đồng cũng đã giảm giá. Trang 11 Hiên nay, bằng những hành động “rót vốn” về Hy Lạp và các nước Châu Âu khác của Quỹ Tiền Tệ thế giới đồng thời với nó là các biện pháp “thắt lưng buộc bụng”của các quốc gia Châu Âu; đã tạo ra một sự kỳ vọng lớn về sự phục hồi của các quốc gia này – bạn hàng lớn của Việt Nam trong xuất khẩu. Việt Nam với một nền kinh tế năng động đã nắm bắt được tình hình thị trường. Ngay lúc này nền kinh tế Việt Nam đã có nhiều khởi sắc với tốc độ tăng trưởng GDP đứng thứ hai trên thế giới sau Trung Quốc và tạo điều kiện cho Việt Nam xây dựng và áp dụng “Chính sách hướng ra xuất khẩu” một cách phù hợp. 4.2. Các chính sách thúc đẩy xuất khẩu qua các thời kì ở Việt Nam: Cùng với những tác động của nền kinh tế thế giới thì hiện nay Việt Nam đã xây dựng các chính sách giúp cho tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam tăng lên. 4.2.1. Chính sách tín dụng xuất khẩu: Ngày 20/12/2006, Chính phủ đã ban hành Nghị định 151/2006/NĐ - CP về “Tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu của Nhà nước”, trong đó có đề cập tới vấn đề cho nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu vay tiền.  Tín dụng xuất khẩu: Ưu đãi của Nhà Nước hỗ trợ các doanh nghiệp, cùng các tổ chức kinh tế và cá nhân phát triển sản xuất kinh doanh hàng xuất khẩu theo chính sách khuyến khích xuất khẩu của Nhà nước. (Nguồn: Quyết định số 133/2001/QD-TTg)  Nhà nước cung cấp tín dụng xuất khẩu : Nhà nước cung cấp tín dụng xuất khẩu theo hai hướng: Một là: Nhà nước trực tiếp cho nhà nhập khẩu nước ngoài vay với lãi suất ưu đãi và sử dụng số tiền này để mua hàng của mình, hình thức này áp dụng cho những nước có tiềm lực kinh tế và tài chính. Hai là: Nhà nước cung cấp tín dụng cho doanh nghiệp xuất khẩu trong nước, nhất là các chương trình cấp tín dụng ưu đãi cho thuế xuất khẩu. Hiện nay, nhiều nước trên thế giới sử dụng công cụ này để đẩy mạnh tiềm lực cùng khả năng xuất khẩu nước mình. Chẳng hạn với Trung Quốc, họ thực hiện chính sách này rất rõ ràng và cho phép một số ngân hàng lớn có mô hình hoạt động tương tự như ngân hàng quốc doanh tại Việt Nam (Ngân hàng cổ phần nhưng nhà nước nắm giữ tỷ lệ cổ phần ưu thế) thực hiện. Điển hình trong danh mục hàng hóa mà Trung Quốc áp dụng theo chính sách nói trên là xuất khẩu sản phẩm hóa chất, phân bón, sắt thép, đặc biệt là máy móc công nghiệp. Trang 12 4.2.2. Bảo hiểm tín dụng xuất khẩu: Bảo hiểm tín dụng xuất khẩu: là loại hình bảo hiểm cho các rủi ro nợ xấu liên quan đến các hợp đồng mua bán, xuất nhập khẩu và giữ vai trò chủ chốt trong việc thúc đẩy hoạt động thương mại quốc tế. Tính ưu việt của bảo hiểm tín dụng xuất khẩu: các doanh nghiệp xuất khẩu tận dụng được lợi thế chuyên ngành của các công ty bảo hiểm tind dụng xuất khẩu. Các công ty này đã xây dựng và phát triển những hệ thống cơ sở dữ liệu khách hàng toàn cầu và được cập nhật thường xuyên, liên tục. Họ sở hữu một hệ thống đánh giá rủi ro; quản lý các danh mục rủi ro, danh mục khách hàng; thực hiện chức năng định phí, đệ trình và gia hạn; xử lý nợ quá hạn và bồi thường với cổng truy cập dành cho nội bộ và các đối tác. Các nhân viên thẩm định bảo hiểm tín dụng của những công ty này có chuyên môn sâu về đánh giá rủi ro tín dụng và nhận diện được sự tiềm ẩn của những rủi ro nợ xấu nhanh chóng và hiệu quả hơn các doanh nghiệp xuất khẩu. Mặc dù tính tích cực trong chính sách tín dụng xuất khẩu,bảo hiểm xuất khẩu là rất lớn nhưng đối với Việt Nam thì có nhiều thách thức mà Việt Nam phải đối mặt: Thứ nhất: Bảo hiểm tín dụng thương mại,tín dụng thương mai cần được phát triển theo mô hình phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế, phương thức kinh doanh quốc tế và nguyên tắc WTO, đảm bảo sự cạnh tranh lành mạnh và chịu sự điều chỉnh của luật pháp về bảo hiểm và thương mại. Trên thế giới, mô hình doanh nghiệp bảo hiểm tín dung thương mại có sự khác nhau ở từng giai đoạn và ở từng quốc gia nhưng cuối cùng nó vẫn luôn là công cụ chính sách đắc lực của chính phủ, có tiềm năng thu lợi nhuận trong dài hạn nếu kiểm soát rủi ro tốt. Thứ hai: Bảo hiểm tín dung xuất khẩu, mang tính chuyên môn cao, đòi hỏi đầu tư lớn về vốn, công nghệ thông tin, nghiệp vụ đánh giá rủi ro, thu hồi nợ, giải quyết khiếu nại minh bạch, công bằng; phân tán rủi ro thông qua hoạt động tái bảo hiểm và (hoặc) đồng bảo hiểm. Vì vậy, việc tìm kiếm sự hợp tác của các công ty Bảo hiểm tín dung xuất khẩu quốc tế hàng đầu là cần thiết đối với doanh nghiệp bảo hiểm của Việt Nam. Nhiều công ty bảo hiểm trong nước vẫn còn ngần ngại triển khai loại hình bảo hiểm nàydo thiếu vốn và nhất là chưa nhận thức đầy đủ tầm quan trọng cũng như tiềm năng của loại hình bảo hiểm này. Trang 13 Thứ ba, cũng cần có khung pháp lý điều chỉnh và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp Bảo hiểm tín dung xuất khẩu phát triển, có chính sách cụ thể cho việc cấp tín dụng của các ngân hàng cho các doanh nghiệp xuất khẩu có hợp đồng Bảo hiểm tín dung xuất khẩu. Hiện nay, tại Việt Nam, theo quy định Luật Kinh doanh bảo hiểm, bảo hiểm tín dụng xuất khẩu là một loại hình của bảo hiểm tín dụng và rủi ro tài chính - thuộc nghiệp vụ kinh doanh của các DNBH phi nhân thọ. Theo Giấy phép thành lập và hoạt động do Bộ Tài chính cấp thì phần lớn các DNBH phi nhân thọ đều được phép triển khai bảo hiểm tín dụng xuất khẩu. Thế nhưng, hiện mới có 3 DNBH bắt đầu triển khai bảo hiểm tín dụng xuất khẩu, bao gồm: Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm Dầu khí (PVI); Tổng Công ty Cổ phần Bảo Minh; Công ty TNHH Bảo hiểm QBE Việt Nam. Cả 3 doanh nghiệp này mới bắt đầu đào tạo đội ngũ chuyên gia về bảo hiểm tín dụng xuất khẩu nên còn phụ thuộc nhiều vào nhóm nhà tái bảo hiểm nước ngoài từ khâu khai thác, đánh giá rủi ro, thẩm định bảo hiểm, tái bảo hiểm v.v… Do đó, kết quả triển khai còn rất hạn chế. Vì vậy, để có thể sử dụng được hình thức này thì điều kiên cần nhất thiết là Việt Nam cần có một nền tài chính cao hơn và phát triển hơn nữa. 4.2.3. Chính sách trợ cấp xuất khẩu: Trợ cấp xuất khẩu: hiểu theo nghĩa thông thường là trợ cấp chỉ dành riêng cho hoặc liên quan tới hoạt động xuất khẩu, hay mục đích của trợ cấp là đẩy mạnh xuất khẩu. Do đó, căn cứ để trợ cấp thông thường là lượng hàng hóa xuất khẩu thực sự hoặc dự kiến xuất khẩu. Ví dụ: Chương trình thưởng xuất khẩu của Chính phủ theo đó doanh nghiệp được thưởng 100 đồng cho mỗi sản phẩm xuất khẩu được. Tuy nhiên, việc chính phủ đơn thuần trợ cấp cho doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất khẩu không thể nghiễm nhiên dẫn đến kết luận là trợ cấp xuất khẩu mà còn cần xem xét đến một số yếu tố khác. Trợ cấp xuất khẩu thường có hệ quả là hàng xuất khẩu được bán trên thị trường nước ngoài với giá thấp hơn trên thị trường nội địa của nước xuất khẩu. Trợ cấp xuất khẩu là trợ cấp với đối tượng nhận trợ cấp là các doanh nghiệp sản xuất hàng hóa trước tiên hoặc chủ yếu là để xuất khẩu, hay nói cách khác, hàng hoá được trợ cấp phải là hàng hóa được tiêu thụ tại thị trường nước ngoài. Doanh nghiệp được trợ cấp phải là doanh nghiệp Việt nam, đặc biệt ưu tiên các đơn vị sản xuất hàng nông sản, thủ công mỹ nghệ và những hàng hoá Việt Nam có ưu thế so sánh. Mục đích của trợ cấp xuất khẩu là nhằm đẩy mạnh xuất khẩu. Trang 14 Việt Nam đã và đang áp dụng chính sách này lên các mặt hàng có nhiềutiềm năng xuất khẩu như: Đối với sản phẩm gạo: Hỗ trợ lãi suất thu mua lúa gạo trong vụ thu hoạch, hỗ trợ lãi suất cho doanh nghiệp xuất khẩu gạo, hỗ trợ lãi suất xuất khẩu gạo trả chậm, bù lỗ cho doanh nghiệp xuất khẩu gạo, thưởng xuất khẩu. Đối với mặt hàng cà phê: Hoàn phụ thu, bù lỗ cho tạm trữ cà phê xuất khẩu, bù lỗ cho doanh nghiệp xuất khẩu cà phê, hỗ trợ lãi suất tạm trữ, thưởng xuất khẩu. Ngoài việc trợ cấp cho từng mặt hàng thì trợ cấp xuất khẩu: Ở Việt Nam ,đã hình thành “Quỹ hỗ trợ xuất khẩu,thúc đẩy xuất khẩu” dưới nhiều hình thức:bù lãi suất dự trữ hàng hoá xuất khẩu ,cấp bù lỗ khi cần thiết ,thưởng tìm kiếm thị trường và mở rộng thị trường xuất khẩu ,như hình thức xuất khẩu mà Việt Nam đã áp dụng .Năm 2004,Bộ Thương Mại Việt Nam đã thưởng thành tích cho 349 doanh nghiệp ,trong đó 50 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. 4.2.4. Thuế xuất khẩu và các ưu đãi về thuế: Ở Việt Nam, thuế xuất khẩu áp dụng đối với số ít mặt hàng. Mục tiêu là nâng cao mức độ chế biến nguyên liệu thô, chứ không phải nhằm mục tiêu là ngân sách. Chính phủ Việt Nam đã thực hiện chính sách miễn giảm thuế đối với một số mặt hàng: Hàng xuất khẩu để trả nợ nước ngoài. Hàng được xét miễn giảm thuế để khuyến khích xuất khẩu. Hàng là vật tư,nguyên liệu nhập khẩu để gia công cho nước ngoài và xuất khẩu để thực hiện hợp đồng gia công cho nước ngoài. Và Chính phủ thực hiện chính sách hoàn thuế đối với một số mặt hàng: Hàng đã kê khai và nộp thuế xuất khẩu nhưng không xuất khẩu hoặc xuất khẩu rất ít. Hàng vật tư, nguyên liệu nhập khẩu để sản xuất hàng hoá xuất khẩu hoàn thuế tương ứng tỷ lệ xuất khẩu thành phẩm. Hàng nhập để tạm xuất -tái xuất-tái nhập để đem đi dư hội chợ triễn lãm. Hàng xuất khẩu của các đơn vị có vốn đầu tư nước ngoài. Năm 2007,Việt Nam trở thành thành viên của tổ chức thương mại thế giới WTO. Mặc dù, với nhiều điều kiện thuận lợi có thể có nhưng Việt Nam vẫn phải đáp ứng các điều kiện khi đã trở thành thành viên của các tổ chức này đó là việc gỡ bỏ dần các rào cản thuế quan đối với các mặt hàng chủ chốt. Và bên cạnh đó là lộ trình cắt giảm thuế quan đối với các mặt hàng công nghệ,… Hiện nay, trước nhiều thử thách lớn khi Việt Nam hội nhập với nền kinh tế thế giới. Nền kinh tế của Việt Nam sẽ có nhiều ảnh hưởng lớn trên nhiều phương diện đặc biệt trong các lĩnh vực Việt Nam có lợi thế so sánh. Đứng trước tình hình chung như vậy thì các chính sách hỗ trợ xuất khẩu của Việt Nam hiện nay không còn có nhiều tác dụng nữa mà cần chính các doanh nghiệp Việt nam tự thay đổi cơ cấu để cho khả năng cạnh tranh lên cao hơn. Và thực sự các doanh nghiệp Việt Nam không chỉ các doanh nghiệp Nhà nước mà các doanh nghiệp tư nhân thực sự lớn mạnh đã đi trước thay đổi cơ cấu tự vận động cho doanh nghiệp mình có một “sức khỏe” tốt hơn. Trang 15 Các doanh nghiệp, doanh nhân đã nhanh chóng tiếp cận thị trường trong và ngoài nước, từng bước thích nghi với xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực, tích cực áp dụng tiến bộ khoa học – kỹ thuật, công nghệ mới vào sản xuất kinh doanh, cải tiến công tác quản lý… Vì vậy, các doanh nghiệp đã đóng góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế của đất nước, đã tạo ra khoảng 49% việc làm phi nông nghiệp, 26% lực lượng lao động cả nước; nếu năm 2001 trung bình gần 1.000 người dân mới có một doanh nghiệp, thì năm 2005 cứ trên 500 người dân đã có 1 doanh nghiệp. Từ năm 2000 đến nay, mỗi năm khu vực doanh nghiệp tư nhân đóng góp hơn 6.000 tỉ đồng tiền thuế, chiếm 14,8% tổng thu ngân sách Nhà nước. Trong 6 năm thực hiện luật Đầu tư mới, các doanh nghiệp đã đăng ký số vốn khoảng 321.200 tỉ đồng (khoảng 21 tỉ USD) và số vốn đăng ký bổ sung trên 103.000 tỉ đồng (khoảng 6,3 tỉ USD). Như vậy, tỷ trọng đầu tư của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trong tổng đầu tư phát triển toàn xã hội tăng từ 22,6% (năm 2000) lên 32% (năm 2005), đầu tư khu vực doanh nghiệp nhà nước là 50%. Tốc độ tăng trưởng bình quân của doanh nghiệp tư nhân đạt 18 – 24%, khu vực nhà nước đạt dưới 10%; song tỷ trọng trong GDP của cả hai khu vực này là tương đương nhau (doanh nghiệp tư nhân 40,1% và khu vực Nhà nước 40,6% trong năm 2005). 4.3. Vị thế của Việt Nam hiện nay: Trước đà phục hồi của thế giới sau những cuộc khủng hoảng lớn thì tai Việt Nam vẫn luôn có một sự tăng trưởng được đánh giá là khá ổn định. Năm 2011, Việt Nam vẫn giữ được là quốc gia có tộc độ tăng trưởng đứng thứ hai thế giới sau Trung Quốc 5.89%, mặc dù đã có sự suy giảm so với các năm trước nhưng Việt Nam vẫn được đánh giá là có tiềm năng. Tính đến năm 2012, Việt Nam đã là thành viên của nhiều tổ chức có uy tín lớn trên thế giới. Chính việc trở thành thành viên của các tổ chức kinh tế lớn này đã tạo ra những điều kiện thuận lợi cho xuất khẩu của Việt Nam.  ASEAN: Năm 1995, Việt Nam trở thành thành viên của ASEAN. Với việc trở thành thành viên của ASEAN Việt Nam đã nhận được nhiều ưu đái về thuế quan xuất khẩu các mặt hàng vào các nước trong khối. Các nước thành viên cũ trong khối ASEAN đã thống nhất dành cho các nước mới, trong đó có Việt Nam, một chương trình ưu đãi đặc biệt về thuế quan, gọi là Chương trình ưu đãi hội nhập ASEAN (AISP). Theo đó những nước cũ sẽ miễn, giảm thuế nhập khẩu so với mức CEPT bình thường. Trang 16 Hiện nay, mức CEPT hiện nay của các nước thành viên cũ đối với hầu hết các mặt hàng đã giảm xuống khoảng 5%, do vậy mức thuế AISP sẽ thấp hơn 5%. Theo Bộ Thương mại, ưu đãi trên nằm trong khuôn khổ Sáng kiến vì hội nhập ASEAN (IAI), nhằm hỗ trợ 4 nước thành viên mới của ASEAN(gồm Campuchia, Lào, Myanmar và Việt Nam) hội nhập kinh tế khu vực. Đối với Việt Nam, số lượng mặt hàng được hưởng ưu đãi như sau: Indonesia là 50, Malaysia 170, Thái Lan 19, Brunei và Philippines đang trong quá trình xem xét xác định danh mục mặt hàng. Riêng Singapore do áp dụng thuế nhập khẩu 0% đối với toàn bộ các mặt hàng nên không có danh mục AISP. Để được hưởng thuế suất ưu đãi AISP khi nhập khẩu vào các nước thành viên cũ, các mặt hàng trong danh mục AISP phải đáp ứng yêu cầu về xuất xứ. Để đơn giản hóa thủ tục, hầu hết các nước thành viên cũ thống nhất áp dụng: Quy tắc xuất xứ CEPT đối với các mặt hàng AISP.  WTO: Ngày 11/1/2007, Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại thế giới WTO khi trở thành thành viên của tổ chức thương mại thế giới đã tạo ra cho Việt Nam những điều kiên thuận lợi trước sự bảo hộ của các nước lớn. Khi tham gia vào WTO, chúng ta có thể thấy những ảnh hưởng lớn trên cả cấp vĩ mô và vi mô. Lợi ích lớn nhất mà Việt Nam thu được từ hội nhập là thị trường xuất khẩu thuận lợi cho Việt Nam mở rộng. Do VN được hưởng qui chế MFN vô điều kiện, theo đó hàng hóa Việt Nam sẽ được cạnh tranh bình đẳng với các đối thủ khác, không còn vướng nhiều rào cản về thuế và hạn ngạch như hiện nay nữa (Hiện nay, thương mại giữa các nước thành viên WTO chiếm tới 90% khối lượng thương mại thế giới). Từ đó sẽ tăng cường tiềm lực kinh tế thông qua việc đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu, thu hút đầu tư nước ngoài. Cụ thể: Hiệp định đa sợi MFA qui định bãi bỏ hạn ngạch nhập khẩu bằng số lượng đối với hàng dệt may. WTO qui định bãi bỏ hạn ngạch nhập khẩu bằng số lượng thay thế bằng thuế đối với sản phẩm gạo. WTO qui định mức thuế thấp đối với sản phẩm sử dụng nhiều lao động. Trang 17 Tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng trong kinh doanh giữa các thành phần kinh tế. Khi gia nhập vào WTO và cam kết thực hiện các nguyên tắc tự do hóa thương mại giữa các thành phần kinh tế, giữa trong nước và nước ngoài, Việt Nam sẽ phải cải cách mạnh hơn các luật lệ sao cho phù hợp với thông lệ chung của quốc tế. Qua đó, tạo môi trường kinh doanh bình đẳng và thông thoáng cho mọi thành phần kinh tế. Nền kinh tế Việt Nam sẽ ít bị tổn thương hoặc bị tấn công bởi những hành vi bảo hộ mậu dịch hoặc trừng phạt kinh tế của các quốc gia khác trong trường hợp có tranh chấp kinh tế, thương mại hay những lý do chính trị nào đó, thị trường cho hàng hóa của Việt Nam sẽ được mở rộng và ổn định hơn. Và do vậy, lợi ích từ thương mại quốc tế của chúng ta sẽ tăng. Tự do hóa giá cả nông sản sẽ có lợi cho các quốc gia sản xuất nông nghiệp. Bảo hộ giá nông sản của các quốc gia phát triển giảm xuống sẽ mở rộng hơn nữa thị trường nông sản của Việt Nam. Chi phí kinh doanh sẽ giảm vì hiện tại lĩnh vực dịch vụ là khu vực được Nhà nước bảo hộ nhiều nhất. Hậu quả là năng lực cạnh tranh và chất lượng dịch vụ kém và giá cao. Khi gia nhập vào WTO, độc quyền của những ngành này sẽ phải bãi bỏ, buộc các doanh nghiệp này phải cải cách, cắt giảm chi phí, nâng cao chất lượng và hạ giá dịch vụ, hiệu quả cho toàn nền kinh tế sẽ lớn hơn. Với hiệp định những biện pháp đầu tư có liên quan đến thương mại (TRIMS) đã tạo thêm sự đảm bảo quốc tế, khuyến khích đầu tư nước ngoài vào Việt Nam. Đời sống nhân dân được cải thiện. Tuy nhiên, Việt Nam cũng gặp những hạn chế, thách thức khi gia nhập WTO: Khi gia nhập WTO, Việt Nam phải trao qui chế tối huệ quốc, qui chế đối xử quốc gia cho các quốc gia thành viên khác của WTO, nghĩa là tiến hành giảm thuế quan và ràng buộc tất cả các dòng thuế, đồng thời phải dỡ bỏ các hàng rào phi thuế trong một thời gian nhất định. Mức độ cam kết giảm thuế phụ thuộc nhiều vào kết quả đàm phán đa phương và song phương đối với các mặt hàng cụ thể. Vì vậy, cạnh tranh sẽ khốc liệt hơn ở thị trường nội địa. Trang 18 Toàn bộ thể chế kinh tế phải chuyển đổi nhằm thích ứng với sự phát triển nhanh chóng của quan hệ thương mại đầu tư, chuyển giao công nghệ, nếu không sẽ gặp khó khăn trước những đối thủ cạnh tranh hùng mạnh, các doanh nghiệp Việt Nam sẽ không được bảo vệ khi xảy ra tranh chấp thương mại. Những vấn đề nảy sinh từ việc thúc đẩy nhanh chóng tiến trình cải cách khu vực kinh tế nhà nước, chủ yếu trong lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ. Trong quá trình đàm phán để gia nhập WTO, vai trò của khu vực kinh tế nhà nước tiếp tục suy giảm, trong khi việc thực hiện và các biện pháp thực hiện mục tiêu đó lại mang tính xã hội và ảnh hưởng tới nhiều tầng lớp xã hội có liên quan. Mặt khác, cải cách sẽ khiến cho tốc độ tăng trưởng trong công nghiệp quốc doanh chậm lại trong một thời gian, một phần do đầu tư vào khu vực này giảm, phần nữa là các xí nghiệp yếu kém sẽ thu hẹp sản xuất, đóng cửa hoặc chuyển sang lĩnh vực kinh doanh mới. Nguy cơ phá sản đối với các loại hình doanh nghiệp tăng lên. Công nghệ và trình độ dân trí có chuyển biến lớn, nhưng khoảng cách tụt hậu còn xa so với phần lớn các nước trên thế giới. Những thách thức trong lĩnh vực nông nghiệp thậm chí còn lớn hơn, do trên 75% dân số vẫn sống dựa vào nông nghiệp, trong khi đó diện tích canh tác bình quân trên một lao động thấp, phương thức canh tác lạc hậu nên giá thành nông sản nhìn chung sẽ cao hơn mặt bằng giá thế giới. Khi những rào cản thương mại được bãi bỏ hoặc giảm thiểu, nông sản nhập khẩu từ các nước phát triển với giá thấp sẽ gây sức ép lớn cho kinh tế nông thôn, nhiều đơn vị kinh doanh nông nghiệp có thể sẽ bị phá sản. Số người này sẽ di chuyển về thành phố, làm trầm trọng thêm tình trạng thất nghiệp. Hiện tại, cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu là hàng gia công, chúng ta sẽ không được hưởng lợi khi gia nhập WTO, khi quy định qui tắc xuất xứ để hưởng ưu đãi là trị giá nguyên liệu nhập khẩu để sản xuất hàng hóa tại nước được hưởng phải thấp hơn 65%. Có thể nói khi gia nhập vào WTO, Việt Nam nhận được nhiều lợi ích nhưng cũng đối mặt với nhiều thách đố . Nhưng về tổng thể những lợi ích dài hạn cho quốc gia chiếm ưu thế.Như vậy, không thể phủ nhận những lợi ích từ việc gia nhập các tổ chức đem lại bằng chứng là thuế quan nhập khẩu của các mặt hàng Việt Nam vào các nước thành viên đã giảm đáng kể. Trang 19 Ví dụ:Năm 2011, cán cân thương mại của Việt Nam đã có những thay đổi theo hướng có lợi.Số liệu thống kê mới nhất của Tổng cục Hải quan cho thấy tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hoá của cả nước trong tháng 6/2011 đạt 17,08 tỷ USD, tăng 7,5% so với tháng trước đó và tăng tới 27,6% so với cùng kỳ năm 2010. Kim ngạch xuất khẩu đạt cao nhất từ trước tới nay với 8,46 tỷ USD, tăng 17% so với tháng 5/2011; nhập khẩu là 8,62 tỷ USD, giảm nhẹ 0,4%. Nhập siêu trong tháng là 160 triệu USD, bằng 1,9% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Biểu đồ: Kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu và cán cân thương mại Việt Nam sáu tháng đầu năm giai đoạn 2005-2011: Bên cạnh đó Việt Nam cũng gặp nhiều khó khăn trong quá trình hội nhập. Việt Nam đã gặp nhiều vụ kiện chống bán phá giá lớn: Năm 2002,Việt Nam bị Mỹ kiện bán phá giá mặt hàng cá da trơn.Việt Nam bị áp thuế là 36,84%- 63,88%. Năm 2003,Việt Nam bị Mỹ kiện bán phá giá mặt hàng tôm. Nhưng sau khi Việt Nam kiện lên WTO thi WTO xử Việt Nam thắng kiên . Năm 2005,Việt Nam bị EU kiện bán phá giá mặt hàng giày mũ da.Cuối cùngViệt Nam bị đánh thuế chống bán phá giá 10% trong hai năm. Trang 20
- Xem thêm -