Tài liệu Chỉ tiêu đánh giá phát triển thanh toán không dùng tiền mặt

  • Số trang: 7 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 2717 |
  • Lượt tải: 0
thilanh

Tham gia: 05/07/2016

Mô tả:

1.3. Phát triển TTKDTM 1.3.1. Khái niệm Theo quan điểm của duy vật biện chứng, phát triển được hiểu là quá trình tiến lên từ thấp lên cao. Theo đó phát triển không chỉ là sự tăng lên hay giảm đi về lượng mà còn là sự thay đổi về chất của sự vật và hiện tượng. Phát triển cũng được hiểu là khuynh hướng vận động từ thấp lên cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện để giải quyết mâu thuẫn, thực hiện bước nhảy về chất. Do vậy có thế hiểu một cách đơn giản nhất “phát triển là sự tăng lên về số lượng và kèm theo sự cải thiện chất lượng”. DV TTKDTM, theo quan điểm của tác giả Đặng Công Hoan (2015) là một loại hình DVTT do vậy phát triển loại hình DV này cũng tương tự các khái niệm phát triển DV tài chính ngân hàng khác. Theo Đào Lê Kiều Oanh (2012): Phát triển DV ngân hàng (gồm cả bán buôn và bán lẻ) được hiểu là việc mở rộng về quy mô và gắn liền với nâng cao chất lượng DV. Dựa trên quan điểm như trên, có thể hiểu rằng “Phát triển DV TTKDTM là tăng trưởng về quy mô và nâng cao chất lượng của DV TTKDTM do NHTM cung cấp cho khách hàng”. Việc phát triển DV TTKDTM , và sự phát triển về chiều rộng chính là việc tăng quy mô, số lượng khách hàng sử dụng DV TTKDTM cũng như tần suất sử dụng DV TTKDTM của họ. Còn phát triển về chiều sâu chính là NHTM phải thực hiện việc nâng cao chất lượng DV trên các phương diện sau đây để phục vụ khách hàng: Tăng tính thuận lợi; tăng khả năng tiếp cận; tăng tính đảm bảo; tăng tính an toàn và tăng độ hài lòng khi sử dụng DV. 1.3.2. Các chỉ tiêu đánh giá sự phát triển DV TTKDTM Đã có nhiều nghiên cứu, đánh giá về phát triển DV TTKDTM, các tác giả đã đưa ra nhiều quan điểm, ý kiến khác nhau, nhưng nhìn chung đều cho rằng phát triển TTKDTM sẽ được thực hiện theo cả chiều rộng và chiều sâu. Sự phát triển đó được thể hiện qua các chỉ tiêu sau: 1.3.2.1. Tăng trưởng quy mô DV TTKDTM - Số lượng các DV TTKDTM Tốc độ tăng trưởng số lượng các DV TTKDTM thể hiện sự chú trọng vào việc nghiên cứu và triển khai đa dạng các sản phẩm, DV TTKDTM phục vụ cho nhu cầu của khách hàng. Mức độ tăng trưởng càng cao càng tốt. Mức độ tăng trưởng về số lượng DV TTKDTM được tính bằng cách so sánh số lượng các DV TTKDTM qua các năm: g=(Số lượng sản phẩm năm nay - Số lượng sản phẩm năm trước)*100%/(Số lượng sản phẩm năm trước). - Số lượng khách hàng sử dụng các DV TTKDTM Số khách hàng sử dụng DV TTKDTM cho thấy thị phần, mức độ phổ biến của các DV TTKDTM do ngân hàng cung cấp. Mức độ tăng trưởng số lượng khách hàng được tính bằng cách so sánh số lượng khách hàng qua các năm, chỉ tiêu này càng cao càng tốt, cho thấy NH có chú trọng phát triển thị trường, phát triển và thu hút khách hàng sử dụng các sản phẩm TTKDTM hay không g = (số lượng khách hàng năm nay - số lượng khách hàng năm trước)*100%/(Số lượng khách hàng năm trước). - Mức độ đầu tư cơ sở hạ tầng cho TTKDTM (ATM, máy in thẻ, POS...) Mức độ đầu tư cơ sở hạ tầng cho DV TTKDTM của ngân hàng được thể hiện qua chi phí đầu tư tăng thêm qua các năm là bao nhiêu, có tăng trưởng mạnh hay không, qua đó đánh giá ngân hàng có chú trọng đến phát triển cở sở hạ tầng cho các sản phẩm TTKDTM hay không. Mức độ tăng chi phí đầu tư cơ sở hạ tầng tính bằng cách so sánh chi phí đầu tư qua các năm, chỉ tiêu này càng cao càng tốt. g = (chi phí đầu tư năm nay - chi phí đầu tư năm trước)*100%/(chi phí đầu tư năm trước) - Số lượng các doanh nghiệp, đơn vị, cán bộ công nhân viên... được trả lương qua thẻ. Chỉ tiêu này dùng để đánh giá DV TTKDTM của ngân hàng bạn nghiên cứu có được các doanh nghiệp ưa chuộng hay không. Tốc độ tăng trưởng số đơn vị, cá nhân được trả lương qua tài khoản được tính bằng cách so sánh số lượng doanh nghiệp tham gia trả lương tại ngân hàng, hay lượng cán bộ công nhân viên của các doanh nghiệp trả lương qua tài khoản tại ngân hàng bạn đang nghiên cứu qua các năm, từ đó đánh giá quy mô DV thanh toán tại NH có tăng trưởng mạnh hay không, đánh giá DV ngân hàng có được khách hàng chọn hay sử dụng nhiều hay không. Tỷ lệ càng cao đánh giá được chất lượng DV, sự ưa chuộng DV của khách hàng càng cao. Chỉ tiêu này được tính bằng cách so sánh số lượng doanh nghiệp hoặc số lượng cán bộ công nhân viên qua các năm. g = (số lượng doanh nghiệp năm nay - số lượng doanh nghiệp năm trước)*100%/số lượng doanh nghiệp năm trước 1.3.2.2. Nâng cao chất lượng DV TTKDTM - Tỷ lệ doanh số TTKDTM trên số dư tiền gửi không kỳ hạn bình quân Chỉ tiêu này dùng để phân tích hiệu quả huy động vốn của ngân hàng từ DV TTKDTM, chỉ tiêu này cho thấy lượng tiền gửi tiền không kỳ hạn huy động được là bao nhiêu, khách hàng có sử dụng thường xuyên số tiền này để thanh toán hay không, doanh số thanh toán gấp bao nhiêu lần số tiền huy động được. Chỉ tiêu này càng cao thể hiện khách hàng càng sử dụng DV thanh toán càng nhiều, khả năng thu hút huy động vốn càng nhiều. Chỉ tiêu này được tính bằng cách so sánh doanh số rút tiền qua các năm. t = doanh số thanh toán *100%/số dư tiền gửi bình quân Số dư tiền gửi bình quân = (số dư đầu kỳ + số dư cuối kỳ)/2 - Tỷ lệ doanh số TTKDTM trên tổng số khách hàng có tài khoản tiền gửi không kỳ hạn Chỉ tiêu này dùng để đánh giá doanh số thanh toán bình quân trên một khách hàng, từ đó đánh giá tỷ lệ thanh toán bình quân trên mỗi khách hàng qua các năm đối với từng sản phẩm TTKDTM hoặc tổng số các sản phẩm là bao nhiêu, có tăng giảm như thế nào, có tăng trưởng mạnh hay không, đánh giá DV ngân hàng có được khách hàng chọn hay sử dụng nhiều hay không. Chỉ tiêu này được tính bằng cách so sánh doanh số với số lượng khách hàng. Tỷ lệ càng cao đánh giá được chất lượng DV, sự ưa chuộng DV của khách hàng càng cao. t = doanh số thanh toán của mỗi loại sản phẩm*100%/số khách hàng của mỗi loại sản phẩm - Doanh thu từ phí DV TTKDTM Chỉ tiêu này dùng để đánh giá hiệu quả của DV TTKDTM tại ngân hàng. Thông qua đánh giá doanh thu từ phí DV thanh toán qua các năm là bao nhiêu, hàng năm có tăng lên hay không, mức độ tăng trưởng doanh thu qua các năm như thế nào, tăng giảm ra sao, có tăng trưởng mạnh hay không. Mức độ tăng trưởng càng cao đánh giá được hiệu của sản phẩm DV mà bạn đang nghiên cứu càng cao. Chỉ tiêu này được tính bằng cách so sánh tổng doanh thu từ phí dịch vu TTKDTM qua các năm. Số dư tiền gửi không kỳ hạn bình quân = (số dư tiền gửi KKH đầu năm + số dư tiền gửi KKH cuối năm)/2 hoặc: Số dư tiền gửi không kỳ hạn bình quân = (số dư tiền gửi KKH đầu năm/2 + số dư tiền gửi KHH cuối quý 1 + số dư tiền gửi KHH cuối quý 2 + số dư tiền gửi KHH cuối quý 3 + số dư tiền gửi KKH cuối năm/2)/4 g = (số dư TG KKH năm nay - số dư TG KKH năm trước)*100%/số dư TG KKH năm trước - Cơ cấu doanh thu của các DV TTKDTM Chi tiêu này so sánh các nguồn thu nhập từ hoạt động TTKDTM, trong tổng thu nhập thì có bao nhiêu loại thu nhập, tỷ trọng từng loại bao nhiêu. 12. Cơ cấu chi phí của các DV TTKDTM Chi tiêu này so sánh các khoản chi phí cho hoạt động TTKDTM, trong tổng chi phí này thì có bao nhiêu loại chi phí, tỷ trọng từng loại bao nhiêu. 13. Tỷ lệ tổng chi phí trên tổng thu nhập hoạt động thanh toán trên không dùng tiền mặt Chỉ tiêu này dùng để so sánh để tạo ra một đồng thu nhập thì cần bao nhiêu đồng chí phí, tổng chi phí bằng bao nhiêu phần trăm tổng thu nhập. 14. Mức độ tăng trưởng thu nhập ròng của hoạt động TTKDTM Chỉ tiêu này dùng để đánh giá thu nhập ròng từ hoạt động TTKDTM qua các năm có tăng hay không? Thu nhập ròng = tổng doanh thu - tổng chi phí g = (Thu nhập ròng năm nay - Thu nhập ròng năm trước)*100%/Thu nhập ròng năm trước Chúc các bạn thành công 1.4. Các nhân tố ảnh hưởng đên mở rông TTKDTM của ngân hàng thương mại TTKDTM khi triển khai có thể chịu ảnh hưởng từ các tác động đến từ khía cạnh sau đây: Môi trường kinh tế Vĩ mô và chính sách của Nhà nước; Khoa học công nghệ và cơ sở hạ tầng phục vụ TTKDTM, Môi trường pháp lý; Trình độ dân trí, Tình trạng hoạt động kinh doanh của các NHTM, Yếu tố tâm lý và tập quán. 1.4.1. Môi trường kinh tế vĩ mô Ngân hàng hoạt động trong nền kinh tế nên rất nhạy cảm với các yếu tố từ môi trường kinh tế. Những biến động lớn của nền kinh tế có thể dẫn tới sự sụp đổ của nhiều ngân hàng và ảnh hưởng thường mang tính hệ thống. Khi môi trường kinh tế vĩ mô không ổn định, một mặt tác động trực tiếp tới TTKDTM, mặt khác ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh chung của ngân hàng từ đó lại tác động gián tiếp tới TTKDTM. Một nền kinh tế phát triển ổn định sẽ là môi trường thuận lợi cho sự phát triển của TTKDTM. Nền kinh tế phát triển mạnh, hàng hóa được sản xuất ra và tiêu thụ với khối lượng lớn mọi người sẽ có khuynh hướng ưa chuộng việc sử dụng ngân hàng như là một người trung gian thanh toán bởi vì ngân hàng cung cấp các tiện ích cho phép các khách hàng tham gia thanh toán có thể giảm được các chi phí vận chuyển, bảo quản, kiểm đếm khi sử dụng hình thức thanh toán bằng tiền mặt, đồng thời làm cho quá trình thanh toán được nhanh chóng, chính xác và an toàn hơn. 1.4.2. Môi trường pháp lý Ngân hàng là một tổ chức kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, có vai trò cực kỳ quan trọng trong nền kinh tế được sự quan tâm và chỉ đạo sát sao từ Chính phủ nên ảnh hưởng trực tiếp của pháp luật. Trong điều kiện hiện nay ngành ngân hàng đã có các luật riêng như luật Ngân hàng Nhà nước, luật tổ chức tín dụng, ... do đó đã tạo hành lang pháp lý cơ bản cho hệ thống ngân hàng hoạt động và phát triển. Hiện nay mọi hoạt động kinh doanh của hệ thống ngân hàng đều bị chi phối của pháp luật, một sự thay đổi nhỏ của pháp luật sẽ tạo cơ hội và thách thức mới cho các ngân hàng. TTKDTM là một trong những nghiệp vụ cơ bản của ngân hàng nên cũng phải chịu ảnh hưởng lớn của pháp luật. Trong một nền kinh tế phát triển, mọi giao dịch thanh toán của các tổ chức kinh tế và dân cư đều được thực hiện qua ngân hàng, khi đó mọi trục trặc sẽ ảnh hưởng tới toàn hệ thống. Do đó một sự thay về pháp luật sẽ làm cho ngân hàng phải có thời gian để thích ứng và chi phí để thích ứng nhiều khi rất lớn, nếu không giải quyết tốt ngân hàng dễ mất uy tín với khách hàng, hoạt động kinh doanh của ngân hàng cũng bị ảnh hưởng và kém hiệu quả. Trong điều kiện tình hình chính trị, pháp luật ổn định các tổ chức kinh tế và dân cư có điều kiện phát triển kinh tế do đó tiền gửi thanh toán tại ngân hàng và tỷ trọng thanh toán qua ngân hàng tăng lên tạo điều kiện cho ngân hàng thu hút được lượng tiền mặt ngoài xã hội. Từ đó, ngân hàng có thêm một nguồn vốn để đầu tư vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế và mở rộng các sản phẩm DV của ngân hàng, đáp ứng tốt hơn nhu cầu khách hàng. 1.4.3. Khoa học công nghệ. Công nghệ ngân hàng là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng lớn tới hoạt động kinh doanh nói chung và TTKDTM nói riêng của các ngân hàng hiện nay. Công nghệ ngân hàng tiên tiến sẽ góp phần thúc đẩy nhanh quá trình chu chuyển vốn xã hội, thu hút được nhiều hơn vốn nhàn dỗi trong dân cư phục vụ cho việc đầu tư phát triển kinh tế, để đất nước tiến nhanh trên con đường công nghiệp hoá hiện đại hoá. Việc ứng dụng các thành tựu công nghệ tin học và tự động hóa vào thanh toán sẽ đáp ứng được yêu cầu nhanh chóng, chính xác, an toàn và tiết kiệm được chi phí trong thanh toán. Các hoạt động huy động, chi trả tiền gửi cho khách hàng và thanh toán có thể được thực hiện trên các máy vi tính, vừa chính xác, an toàn lại vừa nhanh chóng, tiện lợi. Các ngân hàng cũng có thể mở rộng các DV của mình qua các mạng máy vi tính, đây là một cách tiếp cận, quảng bá và cung cấp các DV ngân hàng tới hàng triệu người với chi phí rất thấp. Để mở rộng TTKDTM, các ngân hàng có thể đưa vào sử dụng hệ thống máy rút tiền tự động, tham gia hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng, ...Công nghệ hiện đại cho phép các ngân hàng vươn xa hơn ngoài trụ sở ngân hàng, liên kết với nhau để cùng sử dụng mạng công nghệ, điều này tạo cơ hội cho các ngân hàng mở rộng phạm vi hoạt động của mình và ảnh hưởng lẫn nhau nhiều hơn trong TTKDTM và cả trong những mặt hoạt động khác của ngân hàng. Theo xu thế phát triển hiện nay, các thành tựu khoa học kỹ thuật mới nhất luôn được ưu tiên ứng dụng vào lĩnh vực ngân hàng để sáng chế và đưa vào sử dụng các phương tiện thanh toán hiện đại nhất, vừa đảm bảo thanh toán tức thì, vừa đảm bảo chính xác, an toàn và bí mật. Hiện nay, công nghệ ngân hàng đang được xem là một thứ vũ khí cực mạnh trong cạnh tranh. Với chức năng trung gian thanh toán của mình các ngân hàng luôn coi trọng cải tiến đổi mới công nghệ để hoàn thiện hệ thống thanh toán của mình, bởi vì ai cũng ý thức được rằng, trong môi trường cạnh tranh khốc liệt hiện nay, công nghệ lạc hậu sẽ dẫn tới chỗ diệt vong. 1.4.4. Yếu tố con người Các ngân hàng với xu hướng ứng dụng khoa học kỹ thuật cao vào lĩnh vực hoạt động của mình thì yếu tố con người không mất đi vai trò của mình mà ngược lại ngày càng đóng vai trò quan trọng hơn. Công nghệ cao cho phép giảm số lượng cán bộ hoạt động trong hệ thống ngân hàng, nhưng đòi hỏi rất cao về trình độ nghiệp vụ và kỹ năng công tác của mỗi cán bộ. Bởi vì, một công nghệ có hiện đại nhất cũng không thể thay thế con người trong tất cả các hoạt động, đặc biệt là trong những vấn đề cần tới tư duy sáng tạo của con người mà không máy móc nào có được. Ứng dụng công nghệ cao thì các vấn đề nảy sinh trong quá trình hoạt động càng phức tạp và hậu quả của những sai sót càng lớn đòi hỏi phải có sự can thiệp một cách sáng tạo và linh hoạt của con người. Sự kết hợp tốt giữa con người và máy móc là điều kiện tiên quyết để một ngân hàng hoạt động mạnh và có hiệu quả. Yếu tố con người là điều kiện để các máy móc phát huy hết hiệu quả hoạt động của mình. TTKDTM là một mặt hoạt động của ngân hàng trong đó ứng dụng các công nghệ cao nhất trong các công nghệ ngân hàng do đó yếu tố con người tỏ ra vô cùng quan trọng. 1.4.5. Hoạt động kinh doanh chung của ngân hàng Hoạt động kinh doanh của các NHTM trong những năm gần đây thường xuyên đổi mới nhằm thích ứng với những điều kiện kinh tế năng động và sự điều chỉnh của pháp luật. Xét về mặt hình thức, tuy vẫn là các nghiệp vụ cơ bản như: nhận tiền gửi, cho vay, chi trả hộ nhưng các ngân hàng đã mở rộng cả quy mô, DV hoạt động, đặc biệt là công nghệ. Cho nên các NHTM ngày càng khẳng định được vị thế của mình đối với sự phát triển của nền kinh tế đất nước. NHTM có ba chức năng trung gian tài chính, trung gian thanh toán và chức năng tạo tiền những chức năng này có mối quan hệ chặt chẽ và tương hỗ với nhau. Khi NHTM là trung gian tài chính thì NHTM sẽ huy động vốn bằng nhiều cách thức khác nhau, có thể huy động từ các tổ chức kinh tế, huy động vốn từ dân cư qua hình thức tiết kiệm, kỳ phiếu, hay qua phát hành trái phiếu với các kỳ hạn khác nhau. Qua đó ngân hàng sẽ tập trung một lượng vốn nhàn rỗi từ các thành phần kinh tế khác nhau và khi họ chưa có nhu cầu sử dụng hoặc chưa đến thời hạn thanh toán thì ngân hàng sẽ sử dụng chúng để cho vay đối với những người có nhu cầu vay vốn. Khi các bên có nhu cầu thanh toán, chi trả ngân hàng sẽ đứng ra làm trung gian thanh toán. Như vậy, giữa các chức năng của NHTM có mối liên hệ mật thiết với nhau. Khi vai trò trung gian thanh toán làm tốt, khách hàng sẽ tin tưởng ngân hàng và gửi tiền vào ngân hàng ngày càng nhiều nhờ thanh toán hộ, như thế, vốn ngân hàng huy động được lại tăng lên, ngân hàng có thêm vốn để đáp ứng nhu cầu đi vay và chức năng trung gian tài chính của ngân hàng lại càng được phát huy. Với chức năng trung gian thanh toán và trung gian tài chính trong nền kinh tế quốc dân hệ thống các NHTM đã tăng khối lượng tiền tệ lên gấp bội thông qua cơ chế thanh toán chuyển khoản. Điều này đã làm cho các chức năng của NHTM ngày càng liên hệ chặt chẽ với nhau. Sự phát triển của mỗi chức năng sẽ thúc đẩy các chức năng khác phát triển theo. Do đó, hoạt động kinh doanh chung của ngân hàng sẽ ảnh hưởng lớn tới TTKDTM của ngân hàng. 1.4.6. Yếu tố tâm lý Tâm lý cũng là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới TTKDTM. Con người là những sinh vật có ý thức. Hoạt động ý thức diễn ra trong bộ não người, một dạng tổ chức đặc biệt của vật chất. Tâm lý là toàn bộ nói chung sự phản ánh của hiện thực khách quan vào ý thức con người, bao gồm nhận thức, tình cảm, ý chí... biểu hiện trong hoạt động và cử chỉ của mỗi người. Tâm lý cũng chính là nguyện vọng, ý thích, thị hiếu,... của mỗi người. Tâm lý hình thành nên thói quen, tập quán,... Như vậy, mỗi hành vi ứng xử của con người, trong đó có việc thanh toán, đều chịu tác động của yếu tố tâm lý. Tâm lý lại chịu tác động rất lớn từ môi trường con người sống và làm việc: - Trong một nền sản xuất nhỏ, lạc hậu con người của nó có xu hướng thích tiền mặt, do đó TTKDTM là không phổ biến, từ đó hạn chế tới TTKDTM của các ngân hàng. Ngược lại, trong một nền sản xuất lớn, hiện đại, nhận thức được lợi ích và tầm quan trọng của việc thanh toán bằng không dùng tiền mặt, do đó TTKDTM ở trong trường hợp này rất phát triển. Một nền kinh tế ngầm sôi động sẽ khuyến khích con người sử dụng tiền mặt nhiều hơn trong thanh toán vì lý do bí mật và an toàn cá nhân. Thuế đánh quá cao sẽ dẫn tới con người có hành vi trốn thuế, từ đó sinh ra tâm lý thích tiền mặt. Trình độ dân trí thấp sẽ sinh ra tâm lý “ngại“ khi sử dụng các phương tiện hiện đại có độ phức tạp cao, do đó TTKDTM không phát triển.
- Xem thêm -