Tài liệu Câu hỏi trong tiếng tày

  • Số trang: 132 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 73 |
  • Lượt tải: 0
bangnguyen-hoai

Đã đăng 3509 tài liệu

Mô tả:

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM –––––––––––––––––– VŨ HUYỀN NHUNG CÂU HỎI TRONG TIẾNG TÀY Chuyên ngành: NGÔN NGỮ HỌC Mã số: 60.22.01 LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. TẠ VĂN THÔNG Thái Nguyên, năm 2010 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất kì công trình nào khác. Tác giả luận văn Vũ Huyền Nhung Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn MỤC LỤC MỞ ĐẦU ....................................................................................................... 0 1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI ........................................................................... 1 2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ ................................................................................ 2 2.1. Các nghiên cứu về hành vi hỏi và câu hỏi trong ngôn ngữ học ở nƣớc ngoài và ngôn ngữ học ở Việt Nam................................................ 2 2.2. Các nghiên cứu về tiếng Tày và câu hỏi tiếng Tày ........................... 5 3. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU ........................................ 6 3.1. Mục đích nghiên cứu ....................................................................... 6 3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu ....................................................................... 6 4. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU ........................................ 7 4.1. Đối tƣợng nghiên cứu ...................................................................... 7 4.2. Phạm vi nghiên cứu ......................................................................... 7 5. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ........................................................... 8 6. ĐÓNG GÓP MỚI ................................................................................... 9 6.1. Về mặt lí luận .................................................................................. 9 6.2. Về mặt thực tiễn .............................................................................. 9 7. CẤU TRÖC LUẬN VĂN ...................................................................... 9 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ....................................... 10 1.1. CƠ SỞ LÍ LUẬN............................................................................... 10 1.1.1.Những vấn đề liên quan đến câu hỏi ............................................ 10 1.1.1.1. Câu và sự phân loại câu theo mục đích phát ngôn ............... 10 1.1.1.2. Mối quan hệ giữa câu hỏi và câu trả lời................................ 11 1.1.2. Lí thuyết hội thoại....................................................................... 14 1.1.2.1. Sự trao lời, trao đáp và tƣơng tác trong hội thoại ................. 14 1.1.2.2. Các quy tắc trong hội thoại .................................................. 17 1.1.2.3. Nguyên tắc cộng tác hội thoại .............................................. 17 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 1.1.3. Lí thuyết về hành vi ngôn ngữ .................................................... 19 1.1.3.1. Khái niệm về hành vi ngôn ngữ ........................................... 19 1.1.3.2. Điều kiện sử dụng hành vi ngôn ngữ .................................... 20 1.1.3.3. Sự phân loại các hành vi ngôn ngữ ....................................... 22 1.2. NGƢỜI TÀY VÀ TIẾNG TÀY Ở VIỆT NAM ................................. 23 1.2.1. Khái quát về ngƣời Tày ở Việt Nam ........................................... 23 1.2.2. Tình hình sử dụng ngôn ngữ ở ngƣời Tày và một số đặc điểm của tiếng Tày .............................................................................................. 25 1.2.2.1. ............................................................................................. 25 1.2.2.2. Một số đặc điểm của tiếng Tày ............................................ 27 1.2.2.3. Chữ viết ............................................................................... 37 CHƢƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM CÂU HỎI TIẾNG TÀY ..................................... 40 2.1. CÁC PHƢƠNG TIỆN CHỦ YẾU TRONG CẤU TẠO CÂU HỎI TIẾNG TÀY ............................................................................................ 40 2.1.1. Dùng các từ ngữ nghi vấn chuyên biệt ...................................... 40 2.1.2. Dùng từ ngữ phủ định ............................................................... 52 2.1.3. Dùng các từ ngữ biểu thị tình thái ở cuối câu .............................. 54 2.1.4. Lặp lại từ ngữ chỉ tiêu điểm hỏi kèm từ ngữ phủ định, hoặc những từ chỉ sự lựa chọn xen vào giữa ............................................................ 58 2.2. CÂU HỎI TIẾNG TÀY XÉT VỀ MẶT NGỮ NGHĨA - NGỮ DỤNG... 61 2.2.1. Câu hỏi đích thực ........................................................................ 61 2.2.1.1. Câu hỏi lựa chọn .................................................................. 62 2.2.1.2. Câu hỏi không lựa chọn ....................................................... 70 2.2.2. Câu hỏi không đích thực ............................................................. 72 2.2.2.1. Câu hỏi có giá trị cầu khiến .................................................. 74 2.2.2.2. Câu hỏi có giá trị biểu cảm................................................... 77 2.2.2.3. Hỏi - khẳng định .................................................................. 84 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 2.2.2.4. Hỏi - phủ định ...................................................................... 85 CHƢƠNG 3: CÂU HỎI TRONG CÁC TRUYỆN NGẮN CỦA “TUYỂN TẬP NÔNG VIẾT TOẠI” ............................................................................ 90 3.1. NÔNG VIẾT TOẠI VÀ “TUYỂN TẬP NÔNG VIẾT TOẠI” .......... 90 3.2. ĐẶC ĐIỂM CỦA CÂU HỎI TRONG CÁC TRUYỆN NGẮN CỦA “TUYỂN TẬP NÔNG VIẾT TOẠI” ........................................................ 92 3.2.1. Đặc điểm về hình thức ................................................................ 92 3.2.2. Cách sử dụng câu hỏi trong các truyện ngắn của Nông Viết Toại ..... 97 3.2.2.1. Dựa vào kết quả thống kê và khảo sát .................................. 97 3.2.2.2. Câu hỏi trong các truyện ngắn tiếng Tày của Nông Viết Toại xét trên bình diện hoạt động giao tiếp ............................................... 97 3.2.2.3. Câu hỏi trong truyện ngắn tiếng Tày của Nông Viết Toại xét trên bình diện hành vi ngôn ngữ ..................................................... 104 3.3. VAI TRÕ CỦA CÂU HỎI TRONG CÁC TRUYỆN NGẮN CỦA NÔNG VIẾT TOẠI ................................................................................ 108 3.3.1. .................................................................................................. 108 3.3.2. Khắc họa hình tƣợng nhân vật .................................................. 109 3.3.3. Tạo nên nét riêng trong phong cách của một nhà văn miền núi viết về miền núi ......................................................................................... 112 KẾT LUẬN ................................................................................................ 116 TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................... 118 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 1 MỞ ĐẦU 1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI - Trong giao tiếp bằng ngôn ngữ, hỏi là một dạng hành vi ngôn ngữ phổ biến, một thành tố tham gia thƣờng xuyên vào các cấu trúc hội thoại. Mặt khác, nhờ sự tác động của ngữ cảnh và thông qua những sự chuyển hóa khác nhau mà câu hỏi có thể thực hiện nhiều chức năng giao tiếp, những hành vi tại lời rất đa dạng. Do đó, nghiên cứu về câu hỏi trong tiếng Tày sẽ góp phần vào việc miêu tả các dạng lời nói trong hội thoại, sự hình thành những kĩ năng giao tiếp bằng ngôn ngữ. Đồng thời, điều đó có thể góp phần đẩy mạnh và hoàn thiện việc nghiên cứu câu theo mục đích nói năng trong nghiên cứu ngữ pháp nói chung cũng nhƣ tìm hiểu về các hành vi ngôn ngữ trong ngữ dụng học. - Cũng nhƣ ở các ngôn ngữ khác, trong tiếng Tày hỏi là hành vi rất phổ biến. Ngƣời Tày sử dụng câu hỏi cũng không chỉ với mục đích hỏi, để thỏa mãn nhu cầu hiểu biết mà qua đó còn bộc lộ tƣ tƣởng, tình cảm, thái độ, sự đánh giá của mình đối với ngƣời nghe và sự vật hiện tƣợng đƣợc nói tới. Nghiên cứu về câu hỏi tiếng Tày và cách thức sử dụng câu hỏi trong tiếng Tày có thể giúp chúng ta thấy đƣợc phần nào những nét đặc sắc trong văn hóa giao tiếp, cách ứng xử của ngƣời Tày qua lời ăn tiếng nói của họ. - Hiện nay, Đảng và Nhà nƣớc ta rất quan tâm đến phát triển văn hóa và giáo dục ở các vùng dân tộc thiểu số, trong đó có giáo dục ngôn ngữ. Việc nghiên cứu ngôn ngữ của các dân tộc này đã và đang thu hút đƣợc nhiều sự chú ý của các nhà khoa học, đã có nhiều công trình có giá trị. Tuy nhiên, việc đi sâu tìm hiểu ngôn ngữ Tày, đặc biệt về câu hỏi tiếng Tày lại chƣa đƣợc quan tâm đúng mức. Thiết nghĩ, tìm hiểu về câu hỏi tiếng Tày là một việc làm hữu ích góp phần thực hiện những yêu cầu đã và đang đặt ra đối với ngôn ngữ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 2 và văn hóa Tày, cũng nhƣ đối với việc giáo dục tiếng Tày ở vùng đồng bào Tày hiện nay. Vì những lí do trên, đề tài “Câu hỏi trong tiếng Tày” đƣợc chọn làm hƣớng nghiên cứu trong luận văn này. 2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ 2.1. Các nghiên cứu về hành vi hỏi và câu hỏi trong ngôn ngữ học ở nƣớc ngoài và ngôn ngữ học ở Việt Nam 2.1.1. Nhƣ đã nói ở trên, hỏi với hình thức thể hiện và tính mục đích của nó, là một đối tƣợng đƣợc chú ý đặc biệt trong nghiên cứu ngôn ngữ học. Theo V.A. Xmirnov và V.K. Phin thì: “Cần xếp hỏi vào số những khái niệm có ý nghĩa chung đối với toàn bộ khoa học và văn hóa. Việc nghiên cứu nó có ý nghĩa cả trên quan điểm nhận thức luận và quan điểm sử dụng vào các mục đích khác” (Trích theo Lê Đông [16; 3]). Thực tế nghiên cứu ngôn ngữ cho thấy, khi nghiên cứu về hành vi hỏi và câu hỏi, phần lớn các nhà khoa học đã tập trung miêu tả câu hỏi về mặt hình thức, các thành phần, mô hình cấu trúc, các phƣơng tiện sử dụng để tạo nên các loại câu hỏi khác nhau. Việc nghiên cứu câu hỏi gắn với các hoạt động giao tiếp cụ thể với các mục đích trong các hoàn cảnh giao tiếp khác nhau còn hạn chế. Thời gian gần đây, cùng với sự phát triển của ngữ nghĩa - ngữ dụng học, các nhà khoa học đã chú ý hơn đến mục đích giao tiếp, đến mối quan hệ giữa ngữ nghĩa - ngữ dụng, đến các nhân tố cơ bản tác động đến các hành vi ngôn ngữ trong đó có hành vi hỏi. Tiêu biểu là các công trình của J.L. Austin (1962), của J.R. Searle (1975). Đặc biệt, trong tác phẩm của mình, J.R. Searle đã chỉ ra 12 kiểu loại khác nhau khi phân loại các hành vi ở lời. Theo ông, một hành vi hỏi đƣợc đánh giá là có hiệu quả phải thỏa mãn 4 điều kiện cụ thể là: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 3 - Điều kiện mệnh đề - Điều kiện chuẩn bị - Điều kiện chân thành - Điều kiện căn bản. Theo J.R. Searle thì những điều kiện đó đƣợc coi nhƣ là quy tắc để thực hiện hành vi hỏi. Tuy tác giả mới chỉ nghiên cứu về hành vi hỏi một cách chung chung đồng thời với các hành vi ngôn ngữ khác, chƣa đi sâu tìm hiểu một cách riêng biệt, chi tiết về hành vi hỏi, song kết quả nghiên cứu này có thể đƣợc xem là cơ sở cho các nghiên cứu về sau. 2.1.2. Ở Việt Nam, ngành ngôn ngữ học cũng đã đạt đƣợc một số thành tựu về câu hỏi, hành vi hỏi. Đã có một số nghiên cứu về câu hỏi ở nhiều góc độ khác nhau. Có thể kể đến các công trình đáng chú ý nhƣ: 1. Hoàng Trọng Phiến, Ngữ pháp tiếng Việt - câu, Nxb Đại học và trung học chuyên nghiệp, H., 1980. 2. Nguyễn Thị Thìn, Câu nghi vấn tiếng Việt, một số kiểu câu nghi vấn không dùng để hỏi, Luận án PTS khoa học Ngữ văn, H., 1994. 3. Nguyễn Thị Lƣơng, Tiểu từ tình thái dứt câu dùng để hỏi với việc biểu thị các hành vi ngôn ngữ, Luận án PTS khoa học Ngữ văn, H., 1996. 4. Lê Đông, Ngữ nghĩa - Ngữ dụng câu hỏi chính danh, Luận án PTS khoa học Ngữ văn, H., 1996. 5. Nguyễn Đăng Sửu, Câu hỏi tiếng Anh trong sự đối chiếu với tiếng Việt, Luận án TS Ngữ văn, H., 2002. 6. Lê Anh Xuân, Câu trả lời gián tiếp có nghĩa hàm ẩn cho câu hỏi chính danh, Luận án TS Ngữ văn, H., 2004. ... Ngoài các công trình nghiên cứu trên, còn có thể kể đến một số bài tạp chí, một số khóa luận tốt nghiệp đại học nhƣ: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 4 - Câu trả lời và câu đáp của câu hỏi, Lê Đông, Ngôn ngữ (số phụ), 1985. - Cách tổ chức câu hỏi trong tiếng Kơ ho, Tạ Văn Thông, Trong: Những vấn đề ngôn ngữ học về các ngôn ngữ Phƣơng Đông, Viện Ngôn ngữ học., 1985. - Thử tìm hiểu phát ngôn hỏi và phát ngôn trả lời trong sự tương tác lẫn nhau giữa chúng trên bình diện giao tiếp, Nguyễn Chí Hòa, Ngôn ngữ số 1, 1993. - Vai trò của thông tin tiền giả định trong cấu trúc ngữ nghĩa - ngữ dụng của câu hỏi, Lê Đông, Ngôn ngữ số 2, 1994. - Một vài đặc điểm chung của câu nghi vấn (qua ngôn liệu một số ngôn ngữ), Nguyễn Đăng Sửu, Kỉ yếu hội thảo Ngữ học trẻ, 1998. - Một số tiểu từ tình thái đứng cuối câu dùng để hỏi, Nguyễn Thị Tuyết Mai, những vấn đề ngôn ngữ học, Kỉ yếu hội nghị khoa học 2001, Viện Ngôn ngữ học. - Giá trị ngữ nghĩa - ngữ dụng của câu hỏi trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan, Hà Thị Văn, Khóa luận tốt nghiệp, Khoa Ngôn ngữ học (Đại học khoa học xã hội và nhân văn), 2004. - Câu hỏi trong truyện ngắn Nam Cao, Nguyễn Thị Hồng Nhung, khóa luận tốt nghiệp, Khoa Ngôn ngữ học (Đại học Khoa học xã hội và nhân văn), 2005. ..... Có thể thấy rằng thời gian qua ở Việt Nam, việc nghiên cứu câu hỏi chủ yếu trên ngữ liệu tiếng Việt. Câu hỏi tiếng Việt đã dành đƣợc nhiều sự chú ý của các nhà nghiên cứu và cũng đã có những tìm tòi đáng ghi nhận ở tất cả các mặt hình thức, ngữ nghĩa và ngữ dụng. Việc nghiên cứu câu hỏi trong ngôn ngữ của các dân tộc thiểu số chƣa đƣợc quan tâm đúng mức. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 5 2.2. Các nghiên cứu về tiếng Tày và câu hỏi tiếng Tày Là ngôn ngữ của một dân tộc có số ngƣời lớn thứ hai ở Việt Nam (Theo thống kê năm 1999, ngƣời Tày ở Việt Nam có đến gần một triệu rƣỡi ngƣời), tiếng Tày đã thu hút đƣợc sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu. Có thể kể đến một số công trình về tiếng Tày đƣợc công bố nhƣ sau: 1. Nguyễn Hàm Dƣơng, Các chức năng xã hội của tiếng Tày - Nùng, T/c Ngôn ngữ số 1, H., 1970. 2. Hoàng Văn Ma, Lục Văn Pảo, Hoàng Chí, Ngữ pháp tiếng Tày - Nùng, Nxb Khoa học xã hội, H., 1971. 3. Nguyễn Minh Thuyết, Lƣơng Bèn, Nguyễn Văn Chiến, Góp ý về việc cải tiến chữ Tày - Nùng, T/c Ngôn ngữ số 2, H., 1971. 4. Đoàn Thiện Thuật, Hệ thống ngữ âm tiếng Tày - Nùng, Trong: Tìm hiểu ngôn ngữ các dân tộc thiểu số ở Việt Nam - T1, Viện Ngôn ngữ học, H., 1972. 5. Cung Văn Lƣợc, Chữ Nôm Tày qua so sánh với chữ Hán và chữ Việt Nôm, Luận án PTS khoa học Ngữ văn, H., 1992. 6. Lƣơng Bèn, Tình hình phát triển của chữ Tày - Nùng, Trong: Những vấn đề chính sách ngôn ngữ ở Việt Nam, Nxb KHXH, H., 1993. 7. Hoàng Văn Ma, Vấn đề tiếng và chữ Tày - Nùng, Trong: Những vấn đề chính sách ngôn ngữ ở Việt Nam, Nxb KHXH, H., 1993. 8. Hoàng Văn Ma, Mông Kí Slay và các tác giả khác, Nghiên cứu ngôn ngữ các dân tộc ở Việt Nam, Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn Quốc gia, Viện Ngôn ngữ học, H., 1994 9. Nguyễn Thị Lƣơng, Tiếng Tày ở Na Hang, Khóa luận tốt nghiệp Đại học Tổng hợp, H., 1994. 10. Hoàng văn Ma, Loại từ trong tiếng Tày - Nùng, Trong: Ngôn ngữ dân tộc thiểu số ở Việt Nam - Một số vấn đề về quan hệ cội nguồn và loại hình học, Nxb KHXH, H., 2002 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 6 11. Hoàng Văn Ma, Lục Văn Pảo, Từ điển Việt - Tày - Nùng”, “Từ điển Tày - Nùng - Việt, Nxb Từ điển bách khoa, H., 2005. 12. Lƣơng Bèn (chủ biên), Slon phuối Tày (dùng cho cán bộ công tác tại vùng dân tộc), TN., 2007. ....... Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên đã tập trung chú ý đến một số khía cạnh cụ thể của tiếng Tày nhƣ: nguồn gốc lịch sử, vị trí của tiếng Tày và Nùng, mối quan hệ giữa tiếng Tày - Nùng với nhau và với tiếng Việt, chức năng xã hội của tiếng Tày, hệ thống chữ viết, các quy tắc chính tả và ngữ pháp của tiếng Tày - Nùng, giới thiệu khái quát tiếng Tày - Nùng về: ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp… Có thể thấy, nhìn chung trong ngôn ngữ học Việt Nam, hành vi hỏi và câu hỏi đã trở thành đối tƣợng quan tâm ngày càng sâu sắc hơn của nhiều nhà khoa học. Tuy nhiên, cho đến nay chƣa có một công trình nào xem xét riêng về câu hỏi trong tiếng Tày. Có thể nói đây là một mảnh đất chƣa có ngƣời khai phá. Đó vừa là khó khăn nhƣng cũng có thể xem là thuận lợi cho việc thực hiện đề tài “Câu hỏi trong tiếng Tày” này. 3. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 3.1. Mục đích nghiên cứu Luận văn có mục đích miêu tả và chỉ ra các đặc điểm câu hỏi tiếng Tày về các mặt: hình thức cấu tạo, các đặc điểm ngữ nghĩa - ngữ dụng. 3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu - Xác định những cơ sở lí luận và thực tiễn phục vụ cho việc nghiên cứu: sự phân định câu theo mục đích phát ngôn; lí thuyết hội thoại; lí thuyết về hành vi ngôn ngữ; hành vi hỏi và câu hỏi; các đặc điểm chung của tiếng Tày… Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 7 - Thu thập các dạng câu hỏi qua lời ăn tiếng nói tiếng Tày trong hoạt động giao tiếp, các văn bản viết bằng tiếng Tày. - Miêu tả câu hỏi tiếng Tày về mặt hình thức, ngữ nghĩa và một số điểm đáng chú ý dƣới góc nhìn ngữ dụng học. 4. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 4.1. Đối tƣợng nghiên cứu Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài là các câu hỏi tiếng Tày xuất hiện trong các văn bản nói và viết bằng tiếng Tày, chủ yếu là qua lời nói sinh động trong giao tiếp hàng ngày của ngƣời Tày (ở các huyện Hà Quảng, Hòa An, Thạch An thuộc tỉnh Cao Bằng). Và qua một số truyện ngắn trong tuyển tập của nhà văn ngƣời Tày Nông Viết Toại. Đó là các truyện ngắn: 1. Boỏng tàng tập éo 2. Hăn phi 3. Ngần muộc 4. Cái pửt 5. Chài vệ quốc đoàn. 4.2. Phạm vi nghiên cứu Luận văn sẽ chỉ tập trung nghiên cứu hai khía cạnh chính đối với câu hỏi tiếng Tày nhƣ sau: - Câu hỏi xét về mặt hình thức, tức là các phƣơng tiện đƣợc sử dụng để cấu tạo nên câu hỏi tiếng Tày. - Câu hỏi xét về mặt ngữ nghĩa - ngữ dụng, tức là sự sử dụng câu hỏi tiếng Tày trong những hoàn cảnh khác nhau, nhằm thể hiện các ý đồ giao tiếp khác nhau của ngƣời nói. - Đối với các truyện ngắn trog “Tuyển tập Nông Viết Toại” luận văn sẽ tập chung miêu tả một số đặc điểm chính trong câu hỏi ở các tác phẩm này, Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 8 trên cơ sở đó chỉ ra một số vai trò dễ nhận thấy qua việc sử dụng câu hỏi của nhà văn. 5. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Để thực hiện đề tài này, luận văn áp dụng những phƣơng pháp nghiên cứu chủ yếu sau: - Phƣơng pháp ngôn ngữ học điền dã: Trong việc thu thập tƣ liệu câu hỏi tiếng Tày, phƣơng pháp này cần sử dụng khi tìm hiểu, nghe, ghi trực tiếp các cứ liệu ngôn ngữ trong sinh hoạt hàng ngày của ngƣời Tày ở một số địa phƣơng thuộc tỉnh Cao Bằng. Các chủ thể phát ngôn các câu này có thể thuộc nhiều độ tuổi khác nhau, giới tính khác nhau, có trình độ, nghề nghiệp khác nhau. Nội dung phát ngôn có thể liên quan đến các chủ đề đa dạng thuộc đời sống, trong các mối quan hệ gia đình, bạn bè, đồng nghiệp..., trong các hoàn cảnh giao tiếp khác nhau. - Phƣơng pháp thống kê phân loại: Căn cứ vào ngữ liệu về câu hỏi tiếng Tày đƣợc thu thập trong các tác phẩm văn học cụ thể, tác giả sẽ tiến hành thống kê các dạng câu hỏi tiếng Tày đã đƣợc sử dụng, phục vụ cho các mục đích nghiên cứu trong luận văn. - Phƣơng pháp miêu tả (với các thủ pháp phân tích, tổng hợp): Trên cơ sở thống kê, phân loại, luận văn tiến hành phân tích, tổng hợp các câu hỏi và các phƣơng tiện sử dụng trong tạo lập câu hỏi tiếng Tày, chỉ ra các đặc điểm của câu hỏi tiếng Tày và các quy tắc của chúng trong cấu tạo và cách dùng Mặt khác, để phục vụ cho yêu cầu nghiên cứu mặt ngữ nghĩa - ngữ dụng đối với câu hỏi tiếng Tày, luận văn còn chú ý phân tích đánh giá các hoàn cảnh giao tiếp trong đó nảy sinh hành vi hỏi, chỉ ra một số nhân tố văn hóa của ngƣời Tày có ảnh hƣởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến hành vi hỏi (vai giao tiếp, phép lịch sự, chiến lƣợc giao tiếp, cách lập luận…). Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 9 6. ĐÓNG GÓP MỚI 6.1. Về mặt lí luận - Nghiên cứu câu hỏi trong tiếng Tày nhằm miêu tả một dạng sử dụng ngôn ngữ trong thực hành kĩ năng giao tiếp bằng một ngôn ngữ cụ thể, vì vậy có thể góp tƣ liệu và cách nhìn nhận đối với việc nghiên cứu các kiểu câu theo mục đích phát ngôn. Đồng thời, việc nghiên cứu này có thể còn hƣớng đến làm sáng tỏ một số vấn đề có ý nghĩa lí thuyết của Ngữ dụng học: hành vi ngôn ngữ, các nét nghĩa tình thái. . . - Việc nghiên cứu câu hỏi tiếng Tày còn có thể có ý nghĩa trong việc chỉ ra một số nét đặc trƣng trong văn hóa, đặc biệt trong quan niệm về cƣ xử của ngƣời Tày thể hiện qua hành vi ngôn ngữ phổ biến là hỏi. 6.2. Về mặt thực tiễn Kết quả của luận văn có thể đƣợc sử dụng trong việc biên soạn các sách giáo khoa, các sách mô tả ngữ pháp tiếng Tày, giúp cho việc dạy và học tiếng Tày có hiệu quả hơn, làm tài liệu tham khảo cho giáo viên, học sinh và những ai quan tâm đến ngôn ngữ và văn hóa Tày. Đây cũng có thể xem nhƣ một cơ sở cho những nghiên cứu tiếp theo về tiếng Tày. 7. CẤU TRÖC LUẬN VĂN Ngoài Mở đầu, Kết luận và Phụ lục luận văn gồm ba chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1- Cơ sở lí luận và thực tiễn Chƣơng 2- Đặc điểm câu hỏi tiếng Tày Chƣơng 3 - Câu hỏi trong các truyện ngắn của “Tuyển tập Nông Viết Toại” Trong phần phụ lục gồm có: - Trang bìa của “Tuyển tập Nông Viết Toại” và một số trang chính văn của tuyển tập. - Một số hình ảnh về cuộc sống, sinh hoạt văn hóa của ngƣời Tày. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 10 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1. CƠ SỞ LÍ LUẬN 1.1.1.Những vấn đề liên quan đến câu hỏi 1.1.1.1. Câu và sự phân loại câu theo mục đích phát ngôn Trong hệ thống các đơn vị ngôn từ làm thành ngôn bản, câu là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất có chức năng thông báo, có cấu tạo ngữ pháp nhất định với một ngữ điệu mang một ý nghĩa tƣơng đối trọn vẹn, giúp biểu thị một nhận định và có thể kèm thái độ của ngƣời nói hoặc biểu thị thái độ tình cảm của ngƣời nói. Câu có thể đƣợc xem xét dƣới nhiều bình diện khác nhau: không chỉ ở bình diện cấu trúc thuần túy, mà cả ở mặt ngữ nghĩa và mặt sử dụng. Theo cấu trúc cú pháp, câu có thể đƣợc phân loại thành các kiểu: câu đơn và câu phức. Theo truyền thống câu đơn có thể đƣợc phân biệt thành câu đơn bình thƣờng, câu một thành phần và câu đặc biệt: câu phức có thể phân biệt thành câu ghép đẳng lập, câu ghép chính phụ. Trong nội bộ câu ghép có thể đƣợc phân biệt nhỏ hơn nữa. Ngoài ra, còn có sự phân biệt: câu đơn, câu phức và câu ghép. Xét về mặt mục đích phát ngôn câu có thể đƣợc chia thành bốn loại sau: Câu tƣờng thuật (câu kể), câu cầu khiến (câu mệnh lệnh), câu cảm thán (câu cảm) và câu hỏi (câu nghi vấn). - Câu tường thuật: là câu dùng để miêu tả về một sự tình hoặc nêu một nhận định, một phán đoán ..., nhằm thông báo về những hiện thực khách quan, hoặc thể hiện những nhận định, đánh giá của ngƣời nói về một sự việc hiện tƣợng nào đó. Câu tƣờng thuật có ngữ điệu bình thƣờng và hạ thấp dần ở cuối câu. Trong văn bản viết, cuối câu thƣờng dùng dấu chấm. Câu tƣờng thuật có thể đƣợc phân loại thành câu khẳng định và câu phủ định. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 11 - Câu cầu khiến: là câu dùng để yêu cầu ngƣời nghe thực hiện yêu cầu đƣợc nêu trong câu. Nó chứa đựng ý muốn, nguyện vọng hay mệnh lệnh của ngƣời nói đối với ngƣời nghe. Câu cầu khiến thƣờng có chứa những từ ngữ cầu khiến nhƣ: hãy, đừng, chớ, đi, thôi, nào... và ngữ điệu cầu khiến. Khi viết câu cầu khiến thƣờng kết thúc bằng dấu chấm cảm. - Câu cảm thán: là câu dùng để trực tiếp bộc lộ cảm xúc. Loại câu này xuất hiện chủ yếu trong khẩu ngữ hay trong lời thoại của nhân vật ở các tác phẩm văn chƣơng. Câu cảm thán thƣờng chứa đựng các từ cảm thán nhƣ: ôi, chao ôi, ồ, ô hay, trời ơi, ái... hoặc những từ biểu hiện mức độ của cảm xúc, mức độ đánh giá nhƣ: thật, quá, lắm, ghê, cực kì... Câu cảm thán thƣờng mang ngữ điệu cảm thán và thƣờng có cấu tạo của một câu đặc biệt. Khi viết câu cảm thán thƣờng đƣợc kết thúc bằng dấu chấm cảm - Câu hỏi (câu nghi vấn): là một loại câu thuộc phạm trù phân chia câu theo thực tại hoá, cụ thể là phạm trù theo khả năng. Các sự kiện làm biểu vật cho câu là khả năng hoặc phi hiện thực. Vd: Chị ăn cơm chưa? Cái biểu vật trong câu trả lời của câu hỏi trên tồn tại ở dạng khả năng và phi hiện thực. Nội dung câu hỏi cần làm nổi rõ "cái không rõ" mà câu trả lời hƣớng đến 1.1.1.2. Mối quan hệ giữa câu hỏi và câu trả lời Hỏi và trả lời có mỗi quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau. “Đây là mối quan hệ cơ bản nhất quy định bản chất bên trong của bản thân các câu hỏi và là nơi bộc lộ rõ nét nhất những đặc điểm ngữ nghĩa - ngữ dụng của các câu hỏi nói chung cũng nhƣ từng loại câu hỏi nói riêng.” (Dẫn theo Lê Đông, [16, 15]). Trong giao tiếp, hỏi và trả lời là hai mặt thống nhất, biện chứng lẫn nhau. Hỏi là nguyên nhân nảy sinh câu trả lời. Ngƣợc lại, trả lời là đích hƣớng tới Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 12 của câu hỏi. Mục đích mà câu trả lời và câu hỏi cùng hƣớng đến là làm sáng tỏ, sáng rõ cái chƣa biết, chƣa rõ. Để đạt đƣợc mục đích trên, theo Lê Đông giữa câu trả lời và câu hỏi phải có sự tƣơng hợp trên các phƣơng diện sau: a. Sự tƣơng hợp về hiệu lực ở lời (hay sự tƣơng hợp về khung tình thái mục đích phát ngôn) Ngữ nghĩa học hiện đại, xét theo quan điểm của Ch. Bally thì trong cấu trúc ý nghĩa của câu có hai thành tố cơ bản là: Modus (tình thái hiển ngôn và ngầm ẩn) tƣơng ứng với dictum (nội dung mệnh đề). Khung tình thái về hiệu lực tại lời thƣờng đƣợc trình diễn bằng cấu trúc gồm một số thành tố cơ bản nhƣ: - Ngƣời nói, gắn với hành động nói năng nhƣ một số đặc trƣng cơ bản của nó, đóng vai trò là chủ thể tình thái. Tính tình thái đƣợc xác lập theo quan điểm của ngƣời nói. Nó phản ánh vị trí của ngƣời nói với tính cách là chủ thể của hành vi phát ngôn, và là một biểu hiện về sự có mặt của ngƣời nói trong câu, cho dù cái tôi chủ thể đó có một hình thức biểu hiện tƣờng minh hay ngầm ẩn (Benvenist, dẫn theo Lê Đông [16,17]). - Thái độ đánh giá của ngƣời nói đóng vai trò là những vị từ tình thái trong khung tình thái mục đích phát ngôn. Các vị từ này có thể là những sự đánh giá khác nhau của bản thân ngƣời nói đối với nội dung thông báo. Cũng có thể là kiểu tác động đến đối tƣợng giao tiếp gắn với ý đồ, mục đích phát ngôn. - Đối tƣợng giao tiếp - ngƣời đối thoại và nội dung mệnh đề đóng vai trò là những đối tƣợng của sự tác động hay đánh giá tình thái. b. Sự tƣơng hợp về nội dung mệnh đề Nội dung mệnh đề của câu hỏi và câu trả lời tƣơng ứng với nhau theo quy luật là cả ngƣời hỏi và ngƣời nghe cùng hƣớng một sự tình duy nhất Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 13 ngoài hiện thực với những thành tố hoàn cảnh đồng nhất, đƣợc nối kết với nhau bằng những quan hệ đồng nhất, và cùng đƣợc đặt trong hệ quy chiếu về không gian, thời gian...đồng nhất nhƣ là tiêu chuẩn cho tính xác định của nội dung mệnh đề, tiêu chuẩn để định vị và nhận diện các sự kiện, các quá trình đƣợc nói tới. Nói đúng ra, khi hỏi ngƣời hỏi đã tự xác định và đồng thời ấn định luôn cho ngƣời trả lời toàn bộ hệ tọa độ đó. Và ngƣợc lại, ngƣời trả lời buộc phải chấp nhận toàn bộ những điều kiện ấy để đảm bảo cho những thông tin mà anh ta cung cấp là những thông tin ngƣời hỏi cần. Nhƣ vậy, sự tƣơng hợp về nội dung mệnh đề của câu hỏi và câu trả lời có thể đƣợc thể hiện một cách hiển ngôn hoặc ngầm ẩn tùy mục đích giao tiếp cụ thể. c. Sự tƣơng hợp về cấu trúc thông báo Câu hỏi ngoài việc thể hiện nhu cầu nhận thức của con ngƣời còn ngầm chỉ ra cho ngƣời đối thoại biết đƣợc những đặc điểm trong nhu cầu nhận thức của ngƣời hỏi. Chẳng hạn nhƣ: những gì ngƣời hỏi đã biết, những gì chƣa biết và đâu là trọng tâm cần biết. Ngƣời đối thoại chỉ thực sự đáp ứng đƣợc nhu cầu khi họ có chung những tri thức đã biết và cùng muốn hƣớng tới làm sáng tỏ những điều mà ngƣời hỏi đang cần. Chính câu hỏi đã quy định trƣớc cách tổ chức và phân bố thông tin trong câu trả lời tƣơng ứng. d. Sự tƣơng hợp về tiền giả định Mỗi quan hệ thống nhất, chặt chẽ giữa câu hỏi và trả lời cũng đƣợc thể hiện rõ thông qua sự tƣơng hợp về tiền giả định. Tiền giả định là yếu tố tạo nên cái chỉnh thể ngữ nghĩa của câu hỏi. Đồng thời còn là yếu tố tạo nên tính thống nhất về logic - ngữ nghĩa giữa câu hỏi và câu trả lời. Chấp nhận tiền giả định chứa trong câu hỏi là một điều kiện để mở rộng đối thoại và đảm bảo sự tƣơng hợp về hiệu lực tại lời. Đây chính là một tiêu chuẩn nội dung của câu trả lời. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 14 1.1.2. Lí thuyết hội thoại 1.1.2.1. Sự trao lời, trao đáp và tương tác trong hội thoại Hội thoại: là hình thức giao tiếp thƣờng xuyên, phổ biến của ngôn ngữ. Nó cũng là hình thức cơ sở của mọi hoạt động ngôn ngữ khác. Trong bất kì một cuộc hội thoại nào cũng bao gồm ba vận động chủ yếu: trao lời, trao đáp và tƣơng tác. Trao lời: là vận động mà ngƣời nói (SP1) nói ra và hƣớng lời nói của mình vào phía ngƣời nhận (SP2), cốt để nhận biết đƣợc lời đƣợc nói ra đó là dành cho SP2. Trong một cuộc song thoại, việc xác định SP2 là đơn giản. Tuy nhiên trong những cuộc đa thoại cần phải xác định ngƣời nghe đích thực đối với lƣợt lời đó. Thông thƣờng SP1 và SP2 là hai ngƣời khác nhau, trừ trƣờng hợp độc thoại. Tuy vậy, ngay cả trong trƣờng hợp độc thoại ở ngƣời nói có sự phân đôi nhân cách (còn gọi là sự phân thân): nhân cách nghe và nhân cách nói. Đó vừa là SP1 vừa là SP2, khi hoạt động theo nhân cách SP1 hay SP2 tự mình “biến thành” hai nhân vật khác nhau. Để có đƣợc lời trao, sự có mặt của SP1 là tất yếu. Điều đó thể hiện ở cách xƣng hô ngôi thứ nhất, ở thái độ, sự hiểu biết, ở quan điểm của SP1 trong nội dung của lƣợt lời trao. Mặt khác, tình thế giao tiếp trao lời cũng ngầm ẩn rằng ngƣời nhận SP2 cũng có mặt trong lƣợt lời của SP1 qua những yếu tố tƣờng minh nhƣ những lời kêu gọi, chỉ định, những lời thƣa gửi và cách xƣng gọi đối với ngôi thứ hai, qua những yếu tố hàm ẩn nhƣ những tiền giả định giao tiếp, những hiểu biết mà SP1 và SP2 đã có chung, ở hứng thú hoặc tâm trạng của SP2 đối với đề tài giao tiếp, ở tâm lí giao tiếp của SP2 đƣợc SP1 nhận biết trƣớc khi trao lời. Trong hội thoại, SP1 luôn bị SP2 theo dõi các hành vi ngôn ngữ và phản ứng lại nếu không phù hợp. Do đó, SP1 phải "lấn trước" vào SP2, phải dự kiến trƣớc, hình dung đƣợc hình ảnh tinh thần của SP2 về các mặt tâm lí, tình cảm, sở thích... Phải dự đoán đƣợc hiệu Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 15 quả lƣợt lời của mình, phải dự kiến trƣớc phản ứng của SP2 để vạch kế hoạch, định hành động nhằm có thể "áp đặt" điều mình muốn nói đối với SP2. Trao đáp: Phát ngôn sẽ trở thành hội thoại khi SP2 nói ra lời đáp lại lời của SP1. Trong một cuộc thoại bình thƣờng và suôn sẻ, quá trình lần lƣợt thay đổi vai nói - nghe giữa các nhân vật giao tiếp sẽ diễn ra liên tục. Chúng ta đều biết diễn ngôn là sản phẩm của các hành vi ngôn ngữ và tất cả các hành vi ngôn ngữ đều đòi hỏi có sự hồi đáp. Điều này không chỉ đúng với các hành động nhƣ: hỏi (trả lời), chào (đáp lại), cầu khiến (nhận hay không nhận lệnh)... mà còn có thể thực hiện cho những hành vi không tƣơng thích với hành vi dẫn nhập. Ngay cả những hành vi tự thân không đòi hỏi sự hồi đáp nhƣ hành vi cảm thán, chào, thì vẫn cần đƣợc hồi đáp có thể bằng nhiều hình thức khác nhau. Tất nhiên có những diễn ngôn mà ngƣời nghe không thể hồi đáp đƣợc nhƣ những diễn ngôn viết, những diễn ngôn trong những cuộc hội thoại mà ngƣời nghe không đƣơng diện, hoặc những cuộc hội thoại mặt đối mặt mà ngƣời nghe không đƣợc quyền hồi đáp. Nhƣng nhƣ đã nói đây chỉ là sự loại trừ sự hồi đáp mang tính lâm thời. Trong chiều sâu những diễn ngôn này vẫn cần đến sự hồi đáp hiển ngôn hoặc không hiển ngôn ở ngƣời tiếp nhận. Tương tác: Trong hội thoại, các nhân vật hội thoại ảnh hƣởng lẫn nhau, tác động qua lại với nhau và có thể làm biến đổi nhau. Trƣớc cuộc hội thoại, giữa các nhân vật giao tiếp có sự khác biệt, thậm chí đối lập, trái ngƣợc nhau về các mặt nào đó. Nếu không có sự khác biệt này thì giao tiếp thành ra thừa. Trong hội thoại và qua hội thoại những khác biệt này giảm dần và mất đi hoặc mở rộng ra căng lên thành xung đột. Nhân vật hội thoại cũng là nhân vật liên tƣơng tác. Họ có thể tác động qua lại bằng mọi phƣơng tiện đặc biệt là bằng ngôn ngữ. Liên tƣơng tác trong hội thoại trƣớc hết là sự tƣơng tác giữa các lƣợt lời của SP1 và SP2... Nhƣ vậy lƣợt lời vừa là cái chịu tác động vừa là Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
- Xem thêm -