Tài liệu Cảm hứng giễu nhại trong sbc là săn bắt chuột của hồ anh thái

  • Số trang: 125 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 359 |
  • Lượt tải: 2
nguyetha

Đã đăng 8490 tài liệu

Mô tả:

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 ===***=== PHẠM THỊ CHINH CẢM HỨNG GIỄU NHẠI TRONG SBC LÀ SĂN BẮT CHUỘT CỦA HỒ ANH THÁI Chuyên ngành: Lí luận văn học Mã số: 60 22 01 20 LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS Phùng Ngọc Kiếm HÀ NỘI – 2013 MỤC LỤC MỞ ĐẦU ....................................................................................................................5 NỘI DUNG ............................................................................................................. 18 Chương 1. GIỄU NHẠI TRONG MỐI LIÊN HỆ VỚI CÁC PHẠM TRÙ LIÊN QUAN...................................................................................................................... 18 1.1. Giới thuyết chung về giễu nhại và các phạm trù mĩ học ......................... 18 1.1.1. Khái niệm giễu nhại ..............................................................................18 1.1.2. Cái hài....................................................................................................20 1.1.3. Cái châm biếm .......................................................................................22 1.1.4. Hài hước ................................................................................................23 1.2. Cảm hứng giễu nhại trong văn học .......................................................... 25 1.2.1. Sự thể hiện của cảm hứng giễu nhại trong văn học Việt Nam.............25 1.2.2. Sự thể hiện của cảm hứng giễu nhại trong văn xuôi Việt Nam sau 1975 ..........................................................................................................29 1.3. Giễu nhại, một cảm hứng chủ đạo trong sáng tác của Hồ Anh Thái ....... 37 1.3.1 .Hành trình sáng tác của Hồ Anh Thái ..................................................37 1.3.2. Giễu nhại trong sáng tác của Hồ Anh Thái..........................................43 Chương 2. CÁI NHÌN GIỄU NHẠI TRONG SBC LÀ SĂN BẮT CHUỘT ....... 48 2.1. Giễu nhại trong cái nhìn về đời sống ....................................................... 48 2.1.1. Sự biến dạng và tha hoá trong đời sống con người .............................48 2.1.2. Những thói tật của giới công chức, trí thức .........................................54 2.1.3. Sự xuống cấp của văn hoá, khoa học giáo dục và văn học nghệ thuật .60 2.2. Giễu nhại trong cái nhìn về con người ..................................................... 72 2.2.1. Con người và thói háo danh..................................................................73 2.2.2. Con người tự nhiên bản năng ...............................................................76 2.2.3. Con người nghịch dị ..............................................................................79 Chương 3. NGHỆ THUẬT GIỄU NHẠI TRONG SBC LÀ SĂN BẮT CHUỘT 90 3.1. Nghệ thuật xây dựng nhân vật ................................................................. 90 3.1.1. Cách đặt tên, mã hoá nhân vật .................................................................90 3.1.2. Khai thác những yếu tố hài hước, nghịch dị ............................................94 3.2. Nghệ thuật tổ chức cốt truyện độc đáo .................................................. 101 3.2.1. Kết nối các chi tiết giễu nhại...................................................................102 3.2.2. Cốt truyện được tổ chức theo kiểu lắp ghép, phân mảnh ......................103 3.3. Ngôn ngữ và giọng điệu giễu nhại ......................................................... 107 3.3.1. Ngôn ngữ giễu nhại ..............................................................................107 3.3.2. Giọng điệu giễu nhại ............................................................................113 KẾT LUẬN ........................................................................................................... 118 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................ 123 5 MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài 1.1. Đất nước sau chiến tranh, đặc biệt là từ sau năm 1986, đã đặt ra yêu cầu đổi mới trên nhiều lĩnh vực trong đó có văn học. Sự phát triển và biến đổi nhanh chóng của xã hội đã kéo theo một hệ lụy không thể tránh được, đó là sự thay đổi của con người. Không còn là những con người hiền lành, chất phác, đôn hậu thuần tuý như xưa nữa mà thay vào đó, không ít người đã dần bị tha hoá, bị tham vọng, bị đồng tiền che mắt. Những mặt xấu của xã hội mới mỗi ngày một hiện ra rõ nét hơn, từ đó hình thành nên khuynh hướng văn chương mới hướng tới “những vấn đề đạo đức, nhân cách của con người trong xã hội hiện đại” [16, tr.99]. Giới phê bình gọi đó là những tác phẩm “áp sát đời sống”, nhìn sâu vào “con người trong con người” (chữ dùng của Bakhtin). Sở dĩ khuynh hướng văn xuôi này có điều kiện phát triển vì nó đáp ứng nhu cầu tự nhận thức của cá nhân, tạo nên cái gọi là văn xuôi tâm lí - xã hội. Trong các tác phẩm văn xuôi thuộc khuynh hướng này, nhà văn tái hiện bao nhiêu những câu chuyện éo le, thăng trầm, bao nhiêu cảnh đời và số phận khác nhau. Trong tiểu thuyết đương đại, tác phẩm đậm dấu ấn của chủ thể sáng tạo, dường như bớt đi sự miêu tả khách quan đời sống mà gia tăng trên từng trang viết những suy nghĩ, xúc cảm và trải nghiệm của nhà văn. Nhà văn vừa khám phá con người như một đối tượng phản ánh, vừa tự khám phá mình để tạo ra một cách cảm, cách nhìn, cách viết riêng hay nói cách khác là giọng điệu riêng. Sự thay đổi của nhân tính con người đã tạo tiền đề cho sự trở lại của tiếng cười châm biếm, mỉa mai, tiếng cười trào lộng và cảm hứng giễu nhại trong văn học. Trong suốt những năm tháng chiến tranh do những hoàn cảnh, điều kiện khách quan mà văn học gần như vắng bóng tiếng cười. Có thể nói, tiếng cười chỉ tồn tại trong quan hệ dân chủ, bình đẳng giữa nhà văn và nhân vật, nhà văn và bạn đọc. Tiếng cười góp phần nhìn nhận thế giới và con người 6 theo một chiều hướng tích cực và nhân bản, đưa văn học trở về với bản chất đích thực của nó. 1.2. Trong số những nhà văn thuộc thế hệ sau 1975, Hồ Anh Thái được xem là cây bút có dấu ấn riêng. Ngay từ khi mới xuất hiện trên văn đàn bằng một loạt các tác phẩm như Người đàn bà trên đảo, Trong sương hồng hiện ra, Tiếng thở dài qua rừng kim tước, Tự sự 265 ngày, Mười lẻ một đêm, Cõi người rung chuông tận thế... Hồ Anh Thái đã tạo được một tiếng vang lớn, giành được nhiều sự quan tâm của bạn đọc. Đây cũng là một trong số những nhà văn luôn tìm tòi và đổi mới phương thức thể hiện. Anh luôn biết cách làm mới sáng tác của mình, mỗi tác phẩm ra đời lại có một màu sắc riêng không trùng lặp. Hồ Anh Thái thu hút người đọc không phải bằng những chấn động dư luận trong đời sống văn học mà chính bằng sự thể nghiệm độc đáo các thủ pháp nghệ thuật mới và giọng văn hài hước, hóm hỉnh mà sâu cay. Bạn đọc tìm đến tác phẩm của Hồ Anh Thái như tìm đến một điều gì đó mới mẻ cần thiết cho cuộc sống trùng lặp một cách tẻ nhạt này. Sự kết hợp giữa cái phương Tây mới lạ và nét phương Đông thuần hậu đã ươm mầm cho cách cảm, cách nghĩ, cách chiêm nghiệm về “cõi người”, “cõi đời” với tất cả sự vô lí trong những trang viết sắc sảo của anh. Đứng trước những vòng xoáy ghê gớm của đồng tiền, của những bi hài thời kinh tế thị trường, bằng trực cảm và trí tuệ, nhà văn đã nhận ra không ít hiện tượng con người không còn là chính mình. Điểm qua gia tài văn học của Hồ Anh Thái, có thể thấy anh là một trong không nhiều cây bút tạo được thành công trong cuộc chạy tiếp sức qua hai thế kỉ. Với lương tâm nghề nghiệp, trách nhiệm công dân và sự nhạy bén, mới mẻ trong lối viết, tác giả đã mang vào tác phẩm của mình những cái nhìn toàn diện cùng những đánh giá sâu sắc về những vấn đề nổi cộm trong xã hội cũng như những vỉa sâu tâm hồn đang dậy sóng của con người. Đặc điểm dễ 7 nhận thấy nhất khi đọc tác phẩm của Hồ Anh Thái đó là tiếng cười. Tiếng cười xuất hiện với tần suất cao và nhiều cung bậc. Đó là tiếng cười giễu cợt hiện đại, dân gian tiếu lâm, hài hước nhưng không kém phần sâu sắc, chua cay. Ẩn trong đó là những ưu tư, phiền muộn và tiếc nuối, xót xa, cười cho một thời kì mà các giá trị tốt đẹp đang dần mai một. Trong văn học Việt Nam nói chung và văn học đương đại nói riêng, không phải ít tiếng cười. Nhưng cái cười cợt, châm biếm, giễu nhại trong các tác phẩm của Hồ Anh Thái mang một đặc trưng riêng mà không tác giả nào có được. Nó làm nên phong cách riêng, giọng điệu riêng và tiếng cười riêng mang tên Hồ Anh Thái. Bằng sức viết mạnh mẽ, bền bỉ và sự đổi mới không ngừng, tháng 9 năm 2011, Hồ Anh Thái trình làng cuốn tiểu thuyết mới có tên rất lạ: SBC là săn bắt chuột. Cái tên nghe qua tưởng như một chuyện bông phèng nhưng lại có ý nghĩa vô cùng sâu sắc. Người đọc sẽ lại bắt gặp một giọng văn đậm chất giễu nhại, hài hước nhưng cũng rất sâu cay. 1.3. Với một giáo viên dạy phổ thông, việc tìm hiểu, nghiên cứu sâu về các phạm trù mĩ học như cái hài, trào lộng, giễu nhại... có ý nghĩa vô cùng to lớn. Điều này góp phần đáng kể cho việc hướng dẫn học sinh hình thành thế giới quan thẩm mĩ trong văn học, hình thành cách tiếp cận tác phẩm sâu sắc và trọn vẹn hơn. Tìm hiểu đề tài về tiểu thuyết SBC lăn bắt chuột cũng góp phần giúp học sinh tiếp cận với các tác giả và tác phẩm văn học đương đại, bổ sung những hạn chế thường thấy của môi trường giáo dục phổ thông. Vì những lí do trên, người viết muốn nghiên cứu sâu hơn về yếu tố giễu nhại trong tác phẩm SBC là săn bắt chuột của Hồ Anh Thái. Hy vọng, qua đó hiểu rõ hơn về các phạm trù mĩ học và phong cách của Hồ Anh Thái cũng như những đóng góp của anh trong nền văn học đương đại nói riêng và văn học Việt Nam nói chung. 8 2. Lịch sử vấn đề Từ cổ xưa, Aristot đã từng nói: người là sinh vật duy nhất biết cười. Đúng vậy, nụ cười là vô giá, là điểm khác biệt mà tạo hoá đã ban tặng cho loài người. Văn học là hình thức phản ánh cuộc sống của con người. Nhưng suốt một chăng đường dài, do nhiều yếu tố chi phối mà văn học của chúng ta dường như đã đã vắng bóng tiếng cười. Từ sau năm 1975, khi đất nước thống nhất, tạo điều kiện cho sự phát triển mọi mặt của đời sống xã hội, đã kéo theo cả sự trở lại của tiếng cười trong văn học. Tuy nhiên, lần trở lại này, tiếng cười trở nên đa dạng và phong phú hơn rất nhiều. Nó được biểu hiện ở nhiều dạng thức khác nhau như trào lộng, trào tiếu, châm biếm... và đặc biệt là giễu nhại. Cũng từ đây, nhiều công trình nghiên cứu văn học Việt Nam sau 1975 đã đề cập đến cái hài với cảm quan trào lộng, trào tiếu, giễu nhại để giải thiêng những giá trị cũ đã từng ăn sâu, bám rễ trong đời sống văn học và tiềm thức dân tộc. Trong số những nhà nghiên cứu chuyên sâu vấn đề này, PGS.TS Nguyễn Thị Bình là người đầu tiên đã có công trình nghiên cứu quy mô về những đổi mới của văn học Việt Nam sau 1975 và phát hiện cảm hứng giễu nhại chính là một trong những đặc điểm nổi bật của văn học. Trong công trình Những đổi mới của văn xuôi nghệ thuật Việt Nam sau 1975, tác giả nhận xét rằng, ở các nhà văn trẻ nổi bật lên là giọng giễu nhại. Nhà nghiên cứu, phê bình Lã Nguyên trong bài viết Nhìn lại những bước đi, lắng nghe những tiếng nói cũng nhận xét về đặc điểm nổi bật của văn học sau 1975: “giọng lu loa, sừng sộ, tiếng gầm gào cuộn réo trong văn học thời đổi mới không thể cất lên thành tiếng hát. Cái vô lí, cái phi lí, chất văn xuôi và vẻ đẹp của đời sống phồn tạp chỉ có thể hoá thân vào tiếng cười trào tiếu, giễu nhại để văn học thế sự biến thành tiếng nói nghệ thuật (...) Hình như giễu nhại đã trở thành kiểu quan hệ đời sống mang phong cách thời đại” [34, tr.66]. Theo ông, đã có 9 thời kì mà văn xuôi Việt Nam dường như nói rất bé, rất khẽ những điều muốn nói. Tiếng nói ấy không thể sánh được với thơ qua những tiếng reo ca, tiếng nói tự hào. Nhưng “sau 1975, văn học thế sự chuyển tiếng nói thành tiếng cười trào tiếu, giễu nhại. Tiếng cười trào tiếu, giễu nhại mở đường cho văn xuôi phát triển tạo môi trường để văn xuôi nói to hơn thơ” [34, tr.69]. Khẳng định rõ hơn cho quan điểm của mình, tác giả cũng đưa ra nhận định về cách viết của một số tác giả văn học đương đại. Bên cạnh những ý kiến, nhận xét của các nhà nghiên cứu, phê bình, trong các luận văn, luận án của nghiên cứu sinh, học viên tại các trường đại học cũng ghi nhận sự xuất hiện của cảm hứng giễu nhại trong sáng tác văn xuôi đương đại. Qua những thống kê tuy chưa thật đầy đủ nhưng có thể thấy rằng, việc tìm hiểu về cảm hứng giễu nhại trong sự phát triển của nền văn học đương đại đã có sức hút lớn đối với giới phê bình, nghiên cứu văn học. Từ đó cũng có thể khẳng định, cảm hứng giễu nhại đã trở thành một xu thế trong văn học Việt Nam hiện đại. Trong dòng chảy của văn xuôi đương đại, Hồ Anh Thái là một nhà văn tài năng, không ngừng sáng tạo, thường xuyên trình làng những tác phẩm mới có giá trị. Tuy nhiên những sáng tác của anh chủ yếu mới được bạn đọc tiếp nhận dưới góc độ thưởng thức, giải trí, độc giả phổ thông dường như chưa biết nhiều về Hồ Anh Thái và tác phẩm của anh. Cho đến nay, anh đã cho ra đời gần ba mươi truyện ngắn và tiểu thuyết. Tác phẩm nào cũng gây được sự chú ý của bạn đọc không chỉ trong nước mà cả quốc tế qua việc sách của anh đã được dịch ra nhiều thứ tiếng khác nhau trên thế giới. Các tác phẩm của Hồ Anh Thái cũng thu hút được sự chú ý của đông đảo nhà báo, nhà văn, nhà phê bình. Hàng loạt các bài viết ra đời bàn về những vấn đề trong tiểu thuyết của anh như đặc điểm cốt truyện, nghệ thuật xây dựng nhân vật, cách thức trần thuật... Đặc biệt thời gian gần đây, giới phê bình, nghiên cứu quan tâm nhiều 10 đến giọng điệu trong sáng tác của Hồ Anh Thái, đó là chất giọng hài hước, giễu nhại chua cay mà sâu sắc. Có thể khẳng định, chất giễu nhại đã xuất hiện trong các tác phẩm của Hồ Anh Thái, nhưng phải đến giai đoạn sáng tác sau nó mới thực sự nở rộ tạo nên một giọng điệu giễu nhại không lẫn với bất cứ tác giả nào. Bởi vậy mà giới phê bình cũng mới quan tâm nhiều đến nó trong vài năm gần đây. Đáng tiếc, sự quan tâm đó chỉ trên mức độ vài trang tiểu luận, chuyên luận đánh giá một cách khái quát, chung chung, chưa đi sâu vào nghiên cứu, đánh giá trên một đơn vị sáng tác cụ thể nào. Những nghiên cứu về sáng tác của Hồ Anh Thái có nhiều nhưng hầu hết là về những vấn đề khác. Trong mảng nghiên cứu, phê bình về những tác phẩm đời tư thế sự của Hồ Anh Thái đáng kể đến là những bài viết của các tác giả Nguyễn Thị Minh Thái, Nguyễn Anh Vũ, Ngô Thị Kim Cúc, Vân Long, Hoài Nam, Phạm Chí Dũng... và luận văn của các tác giả Nguyễn Thị Vân Nga (2004): Về tiểu thuyết Cõi người rung chuông tận thế của Hồ Anh Thái; tác giả Võ Anh Minh (2005): Văn xuôi Hồ Anh Thái nhìn từ quan điểm nghệ thuật vì con người... Tác giả Ngô Thị Kim Cúc trong bài viết Có ai chẳng muốn đùa đã nhận xét: “Thật thú vị khi được dẫn đường bởi một người hiểu chuyện, hóm hỉnh và biết đùa như thế. Ở đâu, với ai, trong chuyện gì Hồ Anh Thái cũng tìm ra được bao nhiêu là cái hài hước, đáng cười, mà lại cười một cách rất đúng mực, chỉn chu, rất an toàn. Tưởng có thể cười mãi với Hồ Anh Thái đến lúc buông sách ra” [51, tr.231]. Bàn về tiểu thuyết Mười lẻ một đêm, tác giả Hoài Nam nhận định: “Bằng tiếng cười, tác giả Mười lẻ một đêm đã phanh phui cái nhẽ ra không có quyền tồn tại song lại nghiễm nhiên đang tồn tại trong cuộc sống, và mặt khác, nhà văn cũng buộc người đọc phải nhận thức một sự thật: cuộc sống này, ở đây, bây giờ đều đang ngổn ngang, và chắc hẳn để có một trật tự tương đối sẽ phải mất không ít thời gian và nỗ lực cho nó” [54, tr.378]. 11 Sự ra đời của ba tác phẩm: Tự sự 265 ngày, Bốn lối và nhà cười, Mười lẻ một đêm đánh dấu một phong cách mới, một lối viết mới của Hồ Anh Thái. Trong đó, tiếng cười trào lộng, giễu nhại đã xuất hiện nhiều với ý đồ nghệ thuật rõ nét của tác giả. Tác giả Vân Long trong Một giọng văn khác đã nhận thấy ở tập truyện ngắn Tự sự 265 ngày: “Nhà văn hình thành một giọng văn hoàn toàn khác thời kì đầu: trào lộng, châm biếm hóm hỉnh và sắc sảo những câu chuyện, những thói tật đáng cười trong xã hội. Đọc tập truyện này, người đọc nhiều chỗ phải bật cười thành tiếng như đọc Số đỏ của Vũ Trọng Phụng, truyện ngắn Nguyễn Công Hoan hay những chuyện châm biếm của Azit Nexin (Thổ Nhĩ Kì)” [51, tr.245]. Cũng trong bài viết này, tác giả đã chỉ ra một vài thủ pháp nghệ thuật đặc sắc tạo nên một vị trí riêng ở thể văn này và cho rằng đó cũng là một cách nhà văn nhập sâu vào thực tại đời sống đang đan xen lẫn lộn giữa cái mới đích thực và sự học đòi nhố nhăng, dùng tiếng cười thông minh để phê phán chúng. Trong bài Nói bằng lời của mình, tác giả Võ Anh Minh nhận xét, Hồ Anh Thái là nhà văn tinh nhạy trong việc phát hiện những thói xấu đáng cười, đáng chê của con người và vạch nó ra bằng cái nhìn hài hước. Nhưng cái cười trong văn xuôi Hồ Anh Thái thật thâm sâu, đến mức cười xong thì thấy ưu tư, xa xót, thậm chí giật mình chợt nghe khéo ta mới cười chính ta. Tác giả bài viết còn phân tích rõ đối tượng của tiếng cười trong sáng tác của Hồ Anh Thái. Nếu như ở tập truyện Tự sự 265 ngày, nhà văn chủ yếu hướng tiếng cười vào giới trí thức, công chức, thì đến Bốn lối vào nhà cười, cái cười có phạm vi rộng hơn, vươn tới bao trùm nhiều hạng người trong xã hội, nhiều lĩnh vực khác nhau...Nó đã làm bật lên được ý thức tự trào của một người Việt tự trào. Tự trào từ những chuyện vụn vặt. Nhưng khả năng phóng chiếu của nó thì không “vặt” chút nào bởi nó chạm đến phần nhạy cảm (và có khi rất phổ biến) trong tính cách con người ta. Mà nếu “tự tri tự ngộ” nó, thì tự 12 cười cũng là cách để thoát ra khỏi nó để tự tiến bộ vậy. Cũng như người ta biết đời là bể khổ, thoát ra tứ đại khổ, nhìn xuống thì thấy nhân sinh có khi chợt thấy một nhà cười. Nhận xét về tập truyện này, tác giả Xuân Hạo trong bài viết Bước vào đó mà ...cười đã khẳng định thêm: “Trong Bốn lối vào nhà cười, ở lối nào (Sinh – Lão _ Bệnh - Tử) cũng có tiếng cười, nó biến giọng văn của Hồ Anh Thái thành cái giọng khác: giọng châm chọc, giọng hoạt kê, đả kích, hơi giống cái giọng của Vũ Trọng Phụng ở đầu thế kỉ trước” [23]. Về điều này, tác giả của cuốn sách đã thừa nhận: “Trong cuốn sách này, tôi chỉ muốn đưa ra trước người đọc một tấm gương lồi để cho họ soi vào và tự hỏi: Đấy là ta hay không phải là ta? Tôi cũng không muốn làm cho ai phải khóc. Chỉ vì cuộc đời nhiều khi buồn quá, thấy nhiều cái buồn thì phải tìm cách mà cười vậy thôi” [50, tr.214]. Nhiều bài viết cũng đánh giá cao tiếng cười của Hồ Anh Thái trong Mười lẻ một đêm. Tác giả Hoài Nam trong bài Chất hài hước, nghịch dị trong Mười lẻ một đêm của Hồ Anh Thái đã viết : “Chất hài hước, nghịch dị trong Mười lẻ một đêm có thể khiến ta phải bật cười, bởi tính chất hài hước của nó(...) kể từ khi Số đỏ của nhà văn Vũ Trọng Phụng ra đời đến nay, văn xuôi Việt Nam nói chung và tiêu thuyết Việt Nam nói riêng đã đánh mất (một cách đáng tiếc) tiếng cười hài hước. Suốt một thời gian dài, các nhà văn Việt Nam ít cười mà cũng ít muốn cho đọc giả phải bật cười thông qua tác phẩm của mình” [54, tr.370]. Tác giả bài viết đã đặt tiểu thuyết Mười lẻ một đêm của Hồ Anh Thái trong bối cảnh văn học đương thời đang thiếu vắng tiếng cười sắc sảo. Có thể nói, với cuốn tiểu thuyết này, Hồ Anh Thái đã dũng cảm nhảy thẳng vào những ngổn ngang của cuộc sống hôm nay. Cũng nhận xét về tiểu thuyết Mười lẻ một đêm, tác giả Tuyền Lâm viết:“ Vẫn một sân khấu cuộc đời nhưng không phải cười xong... đỏ mặt mà cười xong để xót, để suy tư. Đọc Hồ Anh Thái xong còn muốn ngứa tay để... viết văn, mà khó” [54, tr.353] . 13 Ghi nhận tài năng của lớp nhà văn trẻ, nhà văn Ma Văn Kháng đã khẳng định trong Cái mà văn chương còn thiếu là:“ Tôi thích giọng văn của Hồ Anh Thái. Nó có cái thông minh, hóm hỉnh, vừa sâu sắc, vừa có tính truyền thống. Hơn nữa cái này mới thật thích đây: chất trào phúng, giễu nhại chua cay mà tâm thiện. Chất này văn chương ta thiếu quá” [49, tr.326-327]. Bằng nhận định này, Ma Văn Kháng đã khẳng định vai trò của Hồ Anh Thái khi góp phần đổi mới văn học theo khuynh hướng dân chủ hoá thông qua việc sáng tạo tiếng cười giễu nhại, cái vốn có truyền thống trong văn học nhưng đã bị đứt gãy, vắng bóng một thời gian dài bởi sự chi phối của điều kiện lịch sử, chính trị, xã hội... Ông cũng nhận thấy những câu chuyện của Hồ Anh Thái đã mở ra một góc nhìn nhân sinh, cho thấy tính đa tầng, những thực tại nhìn thấy và không nhìn thấy, những ấn tượng đặc sắc thông qua chủ đề của nó ở chính cuộc đời này, của hôm nay. Trong bài Dấu ấn hiện đại trong truyện Hồ Anh Thái, tác giả Bùi Thanh Truyền trong khi nhận xét về thi pháp truyện của Hồ Anh Thái cũng khẳng định yếu tố trào lộng, giễu nhại, châm biếm cũng là một đặc điểm nổi bật của văn học Việt Nam đương đại nói chung, tiểu thuyết Hồ Anh Thái nói riêng. Tác giả viết: “Hình thức giễu nhại - một trong những đặc trưng nổi bật của phong cách sáng tác hậu hiện đại - đang ngày càng phổ biến trong đời sống văn học Việt Nam thời đổi mới. Lắng nghe kĩ, người đọc sẽ thấy, mỗi truyện ngắn của Hồ Anh Thái đều ít nhiều vang lên âm giọng này. Bằng cách ấy, nhà văn công khai bày tỏ thái độ của mình đối với sự rối ren, phi lý, bất công trong cuộc sống. Phát hiện rất nhanh nhạy cái lố bịch trong thực tại, tác giả đã khai thác đến cùng phương diện gây cười của chúng để đưa vào tuyến vận động của cốt truyện. Châm biếm, mỉa mai, trào lộng, hài hước là những nhân tố tạo nên sắc thái giễu nhại trong truyện ngắn của ông... Giọng giễu nhại, bỡn cợt vì thế trở thành yếu tố thẩm mĩ nổi bật trong 14 truyện ngắn Hồ Anh Thái, thành phương diện mổ xẻ những ung nhọt, quái trạng của xã hội...” [60]. Sau khi cuốn tiểu thuyết Cõi người rung chuông tận thế ra mắt bạn đọc, tác giả Nguyễn Đăng Điệp trong bài viết Hồ Anh Thái người mê chơi cấu trúc đã đưa ra nhận xét mang tính khái quát về những sáng tác ở giai đoạn sau của Hồ Anh Thái: “Trong sáng tác của Hồ Anh Thái nhất là giai đoạn sau, ta bắt gặp khá nhiều giọng giễu nhại. Sự xuất hiện của loại giọng này hiếm khi xuất hiện trong tư duy sử thi. Cái nụ cười chua chát về cõi nhân sinh, khả năng lật tẩy những trớ trêu, nghịch cảnh trong đời chỉ có thể có được khi nhà văn không nhìn đời bằng cảm hứng lãng mạn thuần tuý màu hồng mà nhìn nó như những mảnh vỡ...” [49, tr.357]; Hồ Anh Thái đã “dám nhìn thẳng vào những mảnh vỡ, những bi kịch nhân sinh, mổ sẻ nó bằng cái nhìn trung thực, táo bạo...” [49, tr.357]. Chính vì hình dung cuộc sống như những mảnh vỡ, tác giả sẽ nhận thấy sự xen cài của cái ác và cái thiện, cái cao cả và cái thấp hèn, cái sang trọng đi liền với cái nhếch nhác, cái trong suốt xen lẫn cái phàm tục. Đây là cái nhìn suồng sã của tư duy nghệ thuật hiện đại. Như vậy, qua những ý kiến vừa dẫn có thể khẳng định: cho đến nay, phạm trù giễu nhại đang ngày càng được sử dụng rộng rãi trong văn xuôi đương đại và đã trở thành đề tài thu hút nhiều sự quan tâm của giới nghiên cứu, phê bình văn học. Mặc dù vậy, người ta mới chỉ xem xét giễu nhại trên bình diện nội dung tác phẩm mà chưa đặt nó trong mối liên hệ với các phạm trù mĩ học như cái hài, cái châm biếm, ... Chúng tôi cũng nhận thấy: Giới phê bình đều thống nhất cho rằng những sáng tác gần đây của Hồ Anh Thái đều mang yếu tố giễu nhại hài hước sâu cay, nhà văn đang hướng đến bút pháp trào phúng để phản ánh hiện thực. Tuy nhiên, những nhận định đó vẫn chỉ tồn tại ở dạng phác thảo, chưa có bài viết, chuyên luận chuyên sâu về vấn đề này. Đặc biệt, về tiểu thuyết SBC là săn bắt chuột, một tác phẩm mới đậm chất 15 giễu nhại hài hước, sâu cay thì càng chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu về chất giễu nhại sâu sắc trong đó. Chúng tôi kế thừa những thành tựu đã có, đặt vấn đề nghiên cứu Cảm hứng giễu nhại trong SBC là săn bắt chuột của Hồ Anh Thái với mong muốn góp phần nhìn nhận đầy đủ hơn về bút pháp giễu nhại thường được nhà văn sử dụng trong những tác phẩm gần đây, đồng thời làm rõ hơn cảm hứng này trên cơ sở phân tích tác phẩm khá mới - SBC là săn bắt chuột của anh. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3.1. Mục đích nghiên cứu Qua nghiên cứu đề tài, chúng tôi muốn chỉ ra những mối liên hệ mật thiết giữa các phạm trù mĩ học được thể hiện qua một tác phẩm văn học cụ thể. Đồng thời cũng góp tiếng nói khẳng định đặc điểm nổi bật trong sáng tác của Hồ Anh Thái chính là cảm hứng giễu nhại. Cảm hứng ấy được thể hiện trong cái nhìn đời sống và con người cũng như trong các phương diện nghệ thuật được nhà văn sử dụng. Từ đó, luận văn khẳng định những đóng góp của nhà văn trong việc khám phá và miêu tả đời sống con người cũng như những đóng góp của anh cho sự đổi mới văn học Việt Nam đương đại. 3.2. Nhiệm vụ nghên cứu Để đạt được mục đích như trên, luận văn hướng đến giải quyết những nhiệm vụ chính sau đây: Thứ nhất, tìm hiểu những vấn đề lý thuyết về giễu nhại và các phạm trù mĩ học; giễu nhại với phạm trù tiể thuyết và giễu nhại gắn với hành trình sáng tác của Hồ Anh Thái. Thứ hai, đặt sáng tác của Hồ Anh Thái vào xu hướng nảy sinh và phát triển cảm hứng giễu nhại trong văn học Việt Nam từ sau năm 1975. Từ đó tìm hiểu sự thể hiện cụ thể cảm hứng giễu nhại trong SBC săn bắt chuột qua cái nhìn hiện thực và con người của tác giả và các phương thức nghệ thuật đặc trưng để thể hiện cảm hứng ấy. 16 4. Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu 4.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài là cảm hứng giễu nhại trong mối liên hệ với các khái niệm liên quan (cái hài, cái châm biếm, cái trào lộng...). Từ đó đi sâu vào tác phẩm cụ thể để thấy được những biểu hiện và giá trị của giễu nhại trong SBC là săn bắt chuột của Hồ Anh Thái. Qua việc đi sâu khảo sát, phân tích, tìm hiểu những biểu hiện đa dạng và hiệu quả thẩm mĩ của yếu tố giễu nhại để thấy được giễu nhại đã trở thành thủ pháp nghệ thuật của tiểu thuyết Việt Nam đương đại nói chung và tiểu thuyết của Hồ Anh Thái nói riêng, đồng thời cũng khẳng định vai trò của yếu tố này tới sáng tác của các nhà văn đương đại. Trong khuôn khổ luận văn, chúng tôi chỉ chủ yếu khảo sát trong SBC là săn bắt chuột và mở rộng ra một vài tiểu thuyết khác của Hồ Anh Thái như: Cõi người rung chuông tận thế; Mười lẻ một đêm... Ngoài ra, luận văn cũng có sự liên hệ với các tác phẩm văn học đương đại khác như : Thiên thần sám hối của Tạ Duy Anh, Thiên sứ của Phạm Thị Hoài... 4.2. Phương pháp nghiên cứu Trong quá trình triển khai đề tài, chúng tôi chủ yếu sử dụng các phương pháp sau: - Phương pháp so sánh: So sánh loại hình : Đặt giễu nhại và phạm trù cái hài, cái trào lộng... trong tương quan với các phạm trù đối lập như cái bi để thấy rằng nó vẫn thuộc phạm trù cái đẹp thì cũng gây xúc động cho người đọc nhưng ở một khía cạnh cảm xúc khác : sự hài hước, giễu nhại. So sánh lịch sử : So sánh các thời điểm sáng tác khác nhau của Hồ Anh Thái để thấy được sự nhất quán và sáng tạo không ngừng của anh qua từng tác phẩm được thể hiện. - Phương pháp thống kê. Chúng tôi sử dụng phương pháp thống kê để khảo sát về cách giễu nhại và về tần suất của các yếu tố nhại được tác giả sử dụng trong tác phẩm. 17 - Phương pháp phân tích: Chúng tôi sử dụng các thao tác phân tích tác phẩm theo đặc trưng thể loại, phân tích nhân vật… để làm sáng tỏ các thủ pháp nghệ thuật giễu nhại trong tác phẩm của Hồ Anh Thái. - Phương pháp tổng hợp. Trên cơ sở phân tích, so sánh, đối chiếu, chúng tôi sử dụng phương pháp tổng hợp để nhằm đưa ra những kết luận, đánh giá khái quát về nghệ thuật giễu nhại trong sang tác của Hồ Anh Thái. 5. Đóng góp của đề tài Đi sâu nghiên cứu về giễu nhại trong SBC là săn bắt chuột của Hồ Anh Thái, luận văn muốn góp phần làm sáng tỏ hai vấn đề: Thứ nhất, làm rõ hơn về khái niệm giễu nhại trong quan hệ với các phạm trù liên quan, từ đó có cái nhìn toàn diện hơn về các phạm trù mĩ học. Và thêm một lần nữa góp tiếng nói khẳng định yếu tố giễu nhại đang hồi sinh mạnh mẽ và trở thành thủ pháp nghệ thuật không thể thiếu trong văn học hiện đại. Đây chính là phương diện thể hiện hiệu ứng thẩm mĩ của văn học, mang ý nghĩa nhận thức và nhân văn sâu sắc, đem đến cho người đọc một cái nhìn mới về tiểu thuyết Việt Nam đương đại. Thứ hai, SBC là săn bắt chuột là một tác phẩm mới của Hồ Anh Thái. Đi sâu tìm hiểu đề tài sẽ chỉ ra được cấu trúc và giá trị của giễu nhại trong tác phẩm. Từ đó giúp người đọc đến gần hơn với tác phẩm và hiểu được tầng sâu trong cấu trúc hình tượng cũng như thế giới nghệ thuật mà tác giả đã sáng tạo. 6. Cấu trúc của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận và phần thư mục tham khảo, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương: Chương 1: Giễu nhại trong mối liên hệ với các phạm trù liên quan. Chương 2: Cái nhìn giễu nhại trong SBC là săn bắt chuột. Chương 3: Nghệ thuật giễu nhại trong SBC là săn bắt chuột. 18 NỘI DUNG Chương 1 GIỄU NHẠI TRONG MỐI LIÊN HỆ VỚI CÁC PHẠM TRÙ LIÊN QUAN 1.1. Giới thuyết chung về giễu nhại và các phạm trù mĩ học 1.1.1. Khái niệm giễu nhại Theo Từ điển tiếng Việt, nhại được dùng với nghĩa là động từ giống như nhái, tức là bắt chước ai đó, bắt chước một cái gì đó. Ở Từ điển thuật ngữ văn học thì nhại là “một thể văn châm biếm dùng sự bắt chước để chế giễu một tác phẩm hoặc cả một trào lưu nghệ thuật. Phương tiện chủ yếu cử nhại là bắt chước phong cách. Hai kiểu nhại chủ yếu (đôi khi tách thành những thể tài riêng) là: kiểu khôi hài trong đó đối tượng thấp đôi khi được trình bày bằng một phong cách cao; và kiểu chế nhạo trong đó đối tượng cao được trình bày bằng phong cách thấp. Sự chế nhạo có thể nhằm vào phong cách, có thể nhằm vào đề tài, có thể nhằm vào những thủ pháp thi ca đã trở thành khuôn sáo, lỗi thời hoặc những hiện tượng đời sống vốn dung tục không xứng với thi ca. Có thể có lối nhại một thi pháp, một tác giả, một thế giới quan...” [19, tr.155]. Nhại (parody) có nguồn gốc từ tiếng Hy lạp paroidia, có nghĩa là “một bài hát được hát cùng lúc với bài hát khác”. Trong văn học, từ xuất phát điểm của khái niệm, nhại là hình thức phê bình châm biếm hoặc là hình thức chế giễu khôi hài bằng cách bắt chước phong cách (style) và bút pháp (manner) của một nhà văn hoặc nhóm nhà văn đặc biệt để nhấn mạnh đến sự non yếu của nhà văn ấy hoặc những quy ước bị lạm dụng của trường phái ấy. Xét theo quan niệm về kiểu nhại giữa tác phẩm này với tác phẩm khác như trên, tức là bao gồm hầu hết các yếu tố làm nên chỉnh thể tác phẩm như hình tượng nhân vật, hệ thống chi tiết, ngôn từ nghệ thuật, nghệ thuật trần thuật... “nhại khác 19 với vai trò hài hước (burlesque) ở độ sâu từ sự xâm nhập kỹ thuật của nó vào đối tượng nhại và bởi độ sâu từ sự bôi bác được dùng để xử lý những vấn đề được đề cao trong bút pháp tầm thường, nhại thực sự bóc trần một cách tàn nhẫn những mánh lới của bút pháp lẫn tư tưởng của những nạn nhân của nó, nhưng lại không thể thực hiện nếu không có sự đánh gái thấu đáo tác phẩm mà nó chế giễu” Xét ở phạm vi rộng hơn, trong văn học còn có những kiểu nhại khác như nhại chính các đối tượng phản ánh của văn học. Kiểu nhại này đa dạng cả về đối tượng nhại và cấp độ nhại. Các vấn đề về thể chế chính trị, văn hóa khoa học, văn chương nghệ thuật, đạo đức lối sống, thói hư tật xấu của con người ở mọi tầng lớp, địa vị xã hội... Mức độ của nhại có thể đi từ khái quát đến chi tiết tuỳ theo mục đích của chủ thể sử dụng nhại trong tác phẩm của mình. Đặc điểm dễ nhận thấy nhất ở nhại là sự mô phỏng, hùa theo, bắt chước đối tượng nhại hoặc một đặc điểm nào đó của đối tượng nhại để làm bật lên cái đáng cười, đáng phê phán, chế giễu. Nhại gắn với bắt chước, mô phỏng âm thanh của đối tượng nhại (một bài hát, điệu hát) nhưng nhại còn gắn với bắt chước, mô phỏng cả dáng hình, cử chỉ, điệu bộ, phong cách của đối tượng là con người. Bên cạnh nhại là giễu. Thuật ngữ giễu chủ yếu được các nhà lý luận, phê bình văn học của Việt Nam sử dụng trong các công trình nghiên cứu gần đây. Khái niệm này được sử dụng song hành với nhại một cách khá phổ biến trong nghiên cứu các tác phẩm văn học chứa đựng yếu tố hài hước, trào lộng, châm biếm… Tuy nhiên nội hàm khái niệm này lại chưa được nghiên cứu một cách thấu đáo kể cả những công trình mang tính chất công cụ như Từ điển thuật ngữ văn học. Trong Từ điển tiếng Việt, từ này được giải thích như sau : “Giễu là nêu ra để đùa bỡn, chế nhạo hoặc đả kích”, “giễu cợt là nêu thành trò cười nhằm chế nhạo, đả kích”. 20 Trong nghiên cứu văn học Việt Nam, giễu thường đi liền với nhại để trở thành một thuật ngữ kép là giễu nhại và được sử dụng khá phổ biến trong nghiên cứu, phê bình văn học sau 1975. Qua tìm hiểu thuật ngữ giễu nhại cả trên lý luận và thực tiễn, chúng tôi nhận thấy giễu nhại vừa là sự nhắc lại, mô phỏng, bắt chước một lời nói, một cử chỉ hay một phong cách, giọng điệu của đối tượng nhại (bao gồm cả đối tượng phản ánh của văn học, tác giả văn học và bản thân văn học) nhằm làm bật lên cái đáng cười, cái tầm thường, xấu xa, kệch cỡm đáng phê phán của chúng. Trong giễu nhại luôn có sự bắt chước, mô phỏng các đặc điểm của đối tượng giễu nhại nhằm tạo ra sự đối lập giữa bản chất và hiện tượng, nội dung và hình thức, bên trong và bên ngoài… hướng người đọc đến nhận thức cái khiếm khuyết, cái lỗi thời, lạc hậu, phản tiến bộ của đời sống xã hội và trong bản thân con người để cùng nhau nhận thức lại, hoàn thiện bản thân và thúc đẩy tiến bộ xã hội. Giễu nhại có quan hệ mật thiết với một số phạm trù và khái niệm như : cái hài, châm biếm, trào phóng… 1.1.2. Cái hài Theo Từ điển 150 thuật ngữ văn học, cái hài là một trong những phạm trù mĩ học căn bản xác định giá trị thẩm mĩ thông qua việc phát hiện tính mâu thuẫn có ý nghĩa xã hội của thực tại và thông qua thái độ phê phán đối với tính mâu thuẫn ấy, xuất phát từ lý tưởng thẩm mỹ. Trong lịch sử tư tưởng mỹ học, cái hài được nhận định như là kết quả sự tương phản, sự “ bất đồng”, sự “ mâu thuẫn” giữa xấu và đẹp (Theo Aristot), giữa cái quan trọng giả và cái quan trọng thật (Theo Kant), giữa cái nhỏ nhặt, trống rỗng bên trong và bề ngoài mang tham vọng có nội dung, có ý nghĩa (Theo Jean Paul), giữa tính tiền định vô biên và tính võ đoán vô biên (theo Schelling), giữa hình hài và ý tưởng (theo Vischer)… 21 Theo Từ điển thuật ngữ văn học định nghĩa thì : Cái hài là một phạm trù mĩ học, phản ánh một hiện tượng phổ biến của thực tế đời sống vốn có khả năng tạo ra tiếng cười ở nhiều cung bậc và sắc thái khác nhau. Đó là sự mâu thuẫn, sự không tương xứng mà người ta có thể cảm nhận được về phương diện xã hội - thẩm mỹ như hình thức với nội dung, mục đích và phương diện, bản chất và hiện tượng… Trong đó, hoặc là chính bản thân mâu thuẫn hoặc là những mặt của nó đối lập với lý tưởng thẩm mĩ cao đẹp. Cái hài bao hàm một ý nghĩa xã hội gắn liền với sự khẳng định lý tưởng thẩm mĩ cao cả. Nó là sự phê phán mang tính cảm xúc sáng tạo tích cực và có sức công phá mãnh liệt đối với những cái xấu xa, lỗi thời. Sức mạnh phê phán của nó vừa có tính phủ định lại vừa mang ý nghĩa khẳng định. Nó phủ định cái lỗi thời, xấu xa nhân danh cái đẹp (một chiều). Ba yếu tố tạo nên cái hài là bản chất mang tính hài của đối tượng mà cũng dễ nhận thấy; sự cường điệu những đường nét, kích thước và những liên hệ của chúng trong việc mô tả đối tượng; sự sắc bén, ý nhị, hóm hỉnh của người thể hiện làm tăng hiệu quả của tiếng cười. Có thể thấy, cảm hứng giễu nhại nằm trong phạm trù cái hài, là một dạng biểu hiện độc đáo bằng thủ pháp giễu cợt và mô phỏng (nhại) đối tượng để tạo nên cái hài như một hiệu quả thẩm mĩ ở người đọc. Cái hài là sự mâu thuẫn giữa các hiện tượng không hoàn thiện và kinh nghiệm tích cực của nhân loại, là sự không tương dung mang ý nghĩa xã hội giữa mục đích và phương tiện, giữa hình thức và nội dung, giữa hành động và hoàn cảnh, giữa bản chất và các biểu hiện của nó, giữa tham vọng cá nhân và các khả năng chủ quan của nó…Trong sự vận động và phát triển không ngừng, cái hài là đặc tính vốn có của đời sống thực tại : mọi lúc, mọi nơi đều đầy rẫy những cái có thể gây cười. Tuy nhiên, tiếng cười chỉ bộc lộ khi chủ thể phát hiện ra đối tượng gây cười ấy. Về nội dung, tiếng cười mang tính phổ quát và tính lưỡng trị… trong tiếng cười nguyên hợp chứa đựng dưới dạng phôi thai nhiều thể loại của cái
- Xem thêm -