Tài liệu Cải thiện cơ cấu thu nhập của ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn việt nam

  • Số trang: 116 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 96 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 27125 tài liệu

Mô tả:

1 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Nền kinh tế thế giới đang phát triển với tốc độ cao, khoa học công nghệ phát triển như vũ bão. Song hành với nó, xu hướng quốc tế hoá nền kinh tế ở nhiều lĩnh vực đã làm cho các nước xích lại gần nhau, ảnh hưởng lẫn nhau, làm chuyển biến sâu sắc mọi mặt của nền kinh tế mỗi nước. Nền kinh tế của Việt Nam nói chung và hệ thống các NHTM Việt Nam nói riêng đã và đang từng bước hội nhập sâu, rộng vào nền kinh tế quốc tế. Trong những năm gần đây, hệ thống NHTM Việt Nam đang trong quá trình tiếp tục cơ cấu lại, mở cửa thị trường dịch vụ ngân hàng theo các cam kết quốc tế. Đây là cơ hội để phát triển và mở rộng các dịch vụ ngân hàng, thay đổi cơ cấu thu nhập, tăng tỷ trọng thu nhập từ dịch vụ trong tổng thu nhập của các NHTM Việt Nam. Tuy nhiên, nó cũng là những trở ngại và thách thức lớn đối với các NHTM của Việt Nam. Cải thiện cơ cấu thu nhập tất yếu trong hoạt động kinh doanh của các NHTM là tăng dần tỷ trọng thu nhập từ hoạt động dịch vụ, giảm dần tỷ trọng thu nhập từ hoạt động tín dụng. Đó là điều kiện để phát triển một NHTM trong nền kinh tế thị trường. Nhưng cải thiện như thế nào? Bằng những cách nào vv…? chưa có một nguyên lý hoàn chỉnh cho mọi NHTM trên thế giới. Lý thuyết này cần được thay đổi và hoàn thiện theo sự phát triển của hệ thống ngân hàng của mỗi nước trong từng thời kỳ. Ở nước ta, một trong các nội dung cơ cấu lại hoạt động tài chính tổ chức tín dụng trong đề án “Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng giai đoạn 2011-2015” được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo Quyết định số 254/QĐ-TTg ngày 01/03/2012 là: Từng bước chuyển dịch mô hình kinh doanh của các NHTM theo hướng giảm bớt sự phụ thuộc vào hoạt động tín 2 dụng và tăng thu nhập từ hoạt động dịch vụ. Thực hiện tiến trình chung về cơ cấu lại hệ thống ngân hàng nói trên, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) đã và đang thực hiện nhiều giải pháp để phát triển, đa dạng hoá và nâng cao chất lượng các dịch vụ ngân hàng như: dịch vụ thanh toán trong và ngoài nước, dịch vụ thẻ, chuyển tiền, kiều hối, kinh doanh chứng khoán, ngoại tệ, ... từ đó tạo điều kiện chuyển dịch cơ cấu thu nhập theo hướng tăng tỷ trọng thu từ hoạt động dịch vụ. Tuy nhiên, so với tiềm năng và yêu cầu còn nhiều bất cập, thể hiện qua tỷ trọng thu từ hoạt động tín dụng vẫn giữ vai trò chủ đạo. Điều đó đòi hỏi phải được nghiên cứu có hệ thống, đầy đủ vấn đề này để chỉ ra những kết quả cần phát huy, những tồn tại cần khắc phục thông qua đề xuất các giải pháp và kiến nghị khả thi nhất. Từ cơ sở lý thuyết và thực tiễn nêu trên, tác giả chọn đề tài: "Cải thiện cơ cấu thu nhập của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam" làm mục tiêu nghiên cứu của Luận văn. 2. Mục đích nghiên cứu của đề tài - Hệ thống hoá lý luận cơ bản cơ cấu thu nhập của NHTM, của Agribank và một số lý luận liên quan. - Phân tích và đánh giá thực trạng cơ cấu thu nhập của Agribank. - Đề xuất những giải pháp phát triển hoạt động dịch vụ, qua đó tăng tỷ trọng thu từ hoạt động dịch vụ của Agribank. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu: Cơ cấu thu nhập của Agribank. - Phạm vi nghiên cứu: Cơ cấu thu nhập của NHTM và thực tiễn tại Agribank trong những năm gần đây, từ năm 2010 đến năm 2012. 4. Phương pháp nghiên cứu 3 - Phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. - Phương pháp thống kê, phân tích và tổng hợp từ số liệu thu thập được để đánh giá cơ cấu thu nhập của Agribank. 5. Kết cấu luận văn Ngoài mở đầu và kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo; nội dung luận văn được trình bày trong 98 trang và được kết cấu thành 3 chương: Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động và thu nhập hoạt động của Ngân hàng thương mại Chương 2: Thực trạng về hoạt động kinh doanh và cơ cấu thu nhập của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam Chương 3: Giải pháp cải thiện cơ cấu thu nhập của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam 4 Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG VÀ THU NHẬP HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1.1 Tổng quan về Ngân hàng thương mại 1.1.1.1 Khái niệm Từ khi con người bắt đầu biết sử dụng tiền như một phương tiện trao đổi và phương tiện thanh toán, các nhu cầu tiền tệ cũng bắt đầu nảy sinh và ngày càng trở nên đa dạng, chính điều này đã thúc đẩy sự ra đời và phát triển một loại hình trung gian tài chính chuyên kinh doanh về tiền tệ. Đó là các ngân hàng. Trong nền kinh tế thị trường hiện đại, các tổ chức tài chính như: Công ty kinh doanh chứng khoán, công ty môi giới chứng khoán, quỹ tương hỗ, công ty bảo hiểm,… đều đang cố gắng thực hiện việc cung cấp các dịch vụ ngân hàng và ngược lại, Ngân hàng cũng đang thực hiện đa dạng hoá sản phẩm dịch vụ thông qua việc cung ứng các dịch vụ mới như: Môi giới bất động sản, môi giới chứng khoán, hoạt động bảo hiểm, đầu tư vào các quỹ tương hỗ… Điều đó dẫn đến những cách nhìn nhận và hình thành những định nghĩa không hoàn toàn giống nhau về Ngân hàng thương mại. Tại Mỹ, người ta định nghĩa NHTM là một công ty kinh doanh chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành dịch vụ tài chính; ở Pháp, NHTM là những Xí nghiệp hay cơ sở hành nghề thường xuyên nhận của công chúng dưới hình thức ký thác hay hình thức khác các số tiền mà họ dùng cho chính họ vào nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ tài chính; trong khi đó, tại Ấn Độ lại quan niệm NHTM là cơ sở nhận các khoản tiền ký thác để cho vay hay tài trợ đầu tư . Nhà kinh tế học David Begg đưa ra định nghĩa: “Ngân hàng thương mại là trung gian tài chính, có giấy phép kinh doanh của Chính phủ để cho vay tiền và mở tài khoản tiền gửi, kể cả các 5 khoản tiền gửi mà đưa vào đó có thể sử dụng các tờ séc” [18,tr20]; Peter S.Rose định nghĩa: “Ngân hàng là tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất - đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán - và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế” [28,tr7]. Tại Việt Nam, theo khoản 3 điều 4 của Luật các Tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 16/06/2010 định nghĩa: “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận” [29,tr2]. Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây: Nhận tiền gửi; cấp tín dụng; cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản. Tuy các định nghĩa có khác nhau về ngôn từ, diễn đạt và một số nội dung, song về cơ bản có thể khái quát: NHTM là một doanh nghiệp đặc biệt kinh doanh về tiền tệ với hoạt động thường xuyên là huy động vốn, cho vay, chiết khấu, bảo lãnh, cung cấp các dịch vụ tài chính và các hoạt động khác có liên quan. Ngoài ra, NHTM còn là một định chế tài chính trung gian cực kỳ quan trọng trong nền kinh tế thị trường. Nhờ vào hệ thống này mà các nguồn tiền nhàn rỗi vốn nằm rải rác trong xã hội sẽ được huy động và tập trung lại với số lượng đủ lớn để cấp tín dụng cho các tổ chức kinh tế (TCKT), cá nhân nhằm mục đích phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Sự có mặt của NHTM trong hầu hết các mặt hoạt động của nền kinh tế - xã hội đã chứng minh rằng: Ở đâu có một hệ thống NHTM phát triển thì ở đó sẽ có sự phát triển với tốc độ cao của nền kinh tế - xã hội và ngược lại. Tại các nước đang phát triển như Việt Nam, NHTM thực sự đóng một vai trò rất quan trọng, vì nó đảm nhận vai trò giữ cho mạch máu (dòng vốn) của nền kinh tế được lưu thông và có vậy mới góp phần bôi trơn cho hoạt động của một nền kinh tế thị trường còn non yếu. 1.1.1.2 Phân loại Ngân hàng thương mại 6 Hệ thống Ngân hàng thương mại có thể được phân loại dựa theo một số tiêu chí sau đây: - Dựa theo tính chất sở hữu: Theo tính chất sở hữu, hệ thống NHTM được chia thành NHTM Nhà nước và NHTM thuộc các loại hình khác. NHTM Nhà nước là những NHTM thuộc quyền sở hữu của Nhà nước, được Nhà nước cấp vốn và chịu sự quản lý của Nhà nước. Những NHTM loại này có thể do Nhà nước lập mới hoặc có thể do Nhà nước quốc hữu hóa từ các NHTM cổ phần. NHTM thuộc các loại hình khác như: NHTM cổ phần, NHTM tư nhân, NHTM liên doanh... - Dựa theo lĩnh vực hoạt động của Ngân hàng: Theo lĩnh vực hoạt động, hệ thống NHTM có thể được chia thành các NHTM kinh doanh thông thường và các NHTM chính sách. Trong đó các NHTM kinh doanh thực hiện hoạt động kinh doanh nhằm mục đích thu lợi nhuận thông thường. Hoạt động kinh doanh này có thể chỉ bao gồm các nghiệp vụ kinh doanh đơn thuần, tuy nhiên hiện nay hầu hết các NHTM thực hiện hoạt động kinh doanh trên nhiều lĩnh vực khác nhau như bất động sản, bảo hiểm, cho thuê tài chính..., có thể do tự bản thân ngân hàng thực hiện, cũng có thể là thông qua các công ty do ngân hàng này lập ra. Nhóm các Ngân hàng chính sách thể hiện sự can thiệp của Nhà nước đối với một số hoạt động kinh tế trong xã hội, như: Ngân hàng xuất, nhập khẩu quốc gia của một số nước được thành lập nhằm tài trợ cho hoạt động xuất, nhập khẩu của quốc gia đó; hay các ngân hàng hỗ trợ người nghèo, ngân hàng hỗ trợ nông nghiệp... Những ngân hàng loại này nhận được rất nhiều sự hỗ trợ từ phía Nhà nước xuất phát từ đặc điểm của mình. 1.1.1.3 Chức năng của Ngân hàng thương mại - Chức năng trung gian tín dụng: 7 Khi thực hiện chức năng trung gian tín dụng, NHTM đóng vai trò là cầu nối giữa người dư thừa vốn và người có nhu cầu về vốn. Thông qua việc huy động các khoản tiền tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế bằng nhiều hình thức, NHTM hình thành quỹ cho vay để cung cấp tín dụng cho nền kinh tế. Với chức năng này, NHTM vừa đóng vai trò là người đi vay vừa đóng vai trò là người cho vay. Với chức năng trung gian tín dụng, NHTM đã góp phần tạo ra lợi ích cho các bên tham gia bao gồm: người gửi tiền, ngân hàng, người đi vay, đồng thời góp phần thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế. Chức năng trung gian tín dụng được xem là chức năng quan trọng nhất của NHTM, quyết định sự tồn tại và phát triển của ngân hàng đồng thời cũng là cơ sở để thực hiện chức năng khác. - Chức năng trung gian thanh toán: NHTM thực hiện chức năng trung gian tài chính khi thực hiện thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như trích tiền từ tài khoản tiền gửi thanh toán của họ để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ, hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng bán hàng và các khoản thu khác. NHTM đóng vai trò là người “thủ quỹ” cho các doanh nghiệp và cá nhân bởi ngân hàng là người giữ tài khoản của họ và thực hiện các lệnh thu, chi của khách hàng. NHTM thực hiện chức năng trung gian thanh toán dựa trên cơ sở thực hiện chức năng trung gian tín dụng. Bởi vì thông qua việc nhận tiền gửi, NHTM đã mở cho khách hàng tài khoản tiền gửi để theo dõi khoản thu, chi. Đó chính là tiền đề để khách hàng thực hiện thanh toán qua ngân hàng. Chức năng trung gian thanh toán có ý nghĩa quan trọng đối với toàn bộ nền kinh tế - xã hội. NHTM cung ứng cho khách hàng nhiều phương tiện thanh toán thuận lợi như séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, thẻ rút tiền, thẻ thanh toán, thẻ tín dụng... Tùy theo nhu cầu, khách hàng có thể chọn phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt thích hợp. Các chủ thể kinh tế không cần giữ, mang và thanh toán, chi trả cho khách hàng bằng tiền mặt. Do đó, sẽ tiết 8 kiệm được chi phí, thời gian và đảm bảo được thanh toán an toàn. Đồng thời, thúc đẩy lưu thông hàng hóa, đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ lưu chuyển vốn, giảm được lượng tiền mặt cũng như chi phí in ấn, đếm nhận, bảo quản tiền,... góp phần phát triển kinh tế - xã hội. Đối với NHTM, chức năng này góp phần tăng thêm lợi nhuận cho ngân hàng thông qua việc thu phí thanh toán, tăng nguồn vốn cho vay của ngân hàng thể hiện trên số dư Có trong tài khoản tiền gửi của khách hàng. - Chức năng “tạo tiền”: Khi hệ thống ngân hàng được chia thành hai cấp (cấp hệ thống) thì Ngân hàng Trung ương là ngân hàng phát hành còn NHTM thực hiện kinh doanh tiền tệ - tín dụng. Với chức năng là trung gian tín dụng, trung gian thanh toán, NHTM có khả năng tạo ra tiền gửi thanh toán của khách hàng tại NHTM. Với chức năng tạo tiền, hệ thống NHTM đã làm tăng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả của xã hội. Rõ ràng khái niệm về tiền hay tiền giao dịch không chỉ là tiền giấy do Ngân hàng trung ương phát hành mà còn bao gồm một bộ phận quan trọng là lượng tiền ghi sổ do các NHTM tạo ra. Chức năng này cũng chỉ ra mối quan hệ giữa tín dụng ngân hàng và lưu thông tiền tệ. Một khối lượng tín dụng mà NHTM cho vay ra làm tăng khả năng tạo tiền của NHTM, từ đó làm tăng lượng tiền cung ứng. Các chức năng của NHTM có mối quan hệ chặt chẽ, bổ sung, hỗ trợ cho nhau, trong đó chức năng trung gian tín dụng là chức năng cơ bản nhất, tạo cơ sở thực hiện các chức năng sau. Đồng thời khi NHTM thực hiện tốt các chức năng trung tâm thanh toán và chức năng tạo tiền lại góp phần làm tăng nguồn vốn tín dụng, mở rộng hoạt động tín dụng. 1.1.1.4 Vai trò của Ngân hàng thương mại trong nền kinh tế Trong tư bản luận, Các Mác đã đánh giá cao vai trò "bà đỡ" của ngân hàng như sau: Ngân hàng ra đời với vai trò tài chính trung gian đã tập trung 9 những khoản tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế đem đến cho các nhà doanh nghiệp và công chúng vay. Thông qua thực hiện các chức năng của mình, NHTM đã thể hiện được rõ nét vai trò quan trọng trong nền kinh tế : - Cung ứng vốn cho nền kinh tế Từ chức năng làm trung gian tín dụng, thông qua nghiệp vụ huy động vốn, ngân hàng đã tập hợp những khoản vốn nhàn rỗi tạm thời của các tổ chức, cá nhân và thực hiện cung ứng vốn cho nền kinh tế nhằm thúc đẩy phát triển sản xuất, tăng trưởng kinh tế, góp phần vào lưu thông hàng hoá tiền tệ, cũng như đẩy mạnh tiêu dùng cá nhân. - Thúc đẩy sự luân chuyển vốn trong nền kinh tế Thông qua chức năng thanh toán, ngân hàng thực hiện dịch vụ thanh toán hộ cho nền kinh tế, thúc đẩy luân chuyển hàng hoá và vốn trong xã hội. Đồng thời giám sát toàn bộ nền kinh tế, góp phần tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh, tạo sự ổn định trong đời sống kinh tế xã hội. Với nguồn vốn huy động, bên cạnh cung ứng vốn cho nền kinh tế, ngân hàng thực hiện mở rộng đầu tư trong và ngoài nước, tạo điều kiện tốt nhất giúp các doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả. - Tham gia vào quá trình cung ứng tiền tệ, ngân hàng còn là công cụ để thực hiện chính sách tiền tệ của Ngân hàng Trung ương (NHTW) Để thực hiện các chính sách đó, NHTW phải sử dụng công cụ điều tiết đảm bảo thực hiện được các chính sách kinh tế vĩ mô, mà đặc biệt là mục tiêu ổn định tiền tệ. Phần lớn các công cụ đó chỉ thực hiện có hiệu quả khi có các NHTM và các trung gian tài chính tham gia đầy đủ theo quy định của NHTW. Đó chính là nét nổi bật nhất trong vai trò của ngân hàng tạo điều kiện và thúc đẩy nền kinh tế hàng hoá phát triển mạnh mẽ. 1.1.2 Các hoạt động kinh doanh cơ bản của Ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại là doanh nghiệp do vậy nó đáp ứng cái gì mà thị trường cần, hay nói cách khác cơ sở khách quan của sự hình thành các hoạt động của ngân hàng là những nhu cầu của nền kinh tế. Nền kinh tế càng phát 10 triển, nhu cầu sử dụng các hoạt động và tiện ích của ngân hàng càng đa dạng. Tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế của mỗi nước, nội dung các nghiệp vụ kinh doanh có thể có sự khác nhau về phạm vi và công nghệ, nhưng vẫn có một điểm chung là: Các ngân hàng đều thực hiện hoạt động huy động vốn, hoạt động tài trợ từ số tiền gửi đã nhận được và thực hiện các uỷ thác cho khách hàng. 1.1.2.1 Hoạt động huy động vốn Đây là hoạt động khởi đầu tạo điều kiện cho sự hoạt động của NHTM. Sau khi ổn định, các hoạt động xen lẫn nhau trong suốt quá trình hoạt động. Các ngân hàng thu hút vốn theo theo 3 kênh chính gồm: - Huy động tiền gửi từ cá nhân, hộ gia đình và các tổ chức Các ngân hàng huy động tiền gửi dưới các hình thức cơ bản như nhận tiền gửi không kỳ hạn, có kỳ hạn hoặc tiền gửi tiết kiệm. - Vay vốn trên các thị trường Các ngân hàng còn chủ động vay vốn trên thị trường dưới những hình thức chủ yếu như: vay Ngân hàng Trung ương, vay ngân hàng khác, vay vốn qua phát hành các hợp đồng mua lại, phát hành trái phiếu ngân hàng... - Huy động vốn từ chủ sở hữu Việc phát hành các hợp đồng để thu hút vốn từ chủ sở hữu cũng là một cách thông thường trong kinh doanh ngân hàng. Đối với ngân hàng đây là loại nguồn vốn tồn tại thường xuyên, ổn định nhất song cũng là loại nguồn vốn có chi phí đắt nhất, nên quy mô của chúng thường rất nhỏ so với các loại nguồn vốn kể trên. Mặc dù vậy, vì sự tồn tại của loại nguồn vốn này là điều kiện duy trì hoạt động của ngân hàng nên các ngân hàng không những phải luôn duy trì, bảo toàn mà còn thường xuyên bổ sung bằng con đường trích lập quỹ dự trữ vốn từ lợi nhuận hàng năm. 1.1.2.2 Hoạt động sử dụng vốn 11 Sử dụng vốn là cách thức cơ bản để các ngân hàng tạo được thu nhập. Những cách sử dụng vốn thông thường bao gồm: - Sử dụng một phần quỹ vốn dưới hình thức mua các công cụ ngắn hạn, các chứng khoán Hoạt động này có tính thanh khoản cao và rủi ro thấp nhằm đáp ứng được các quy định pháp lý về dự trữ, đảm bảo dự phòng cho các nhu cầu thanh khoản. - Cấp tín dụng cho vay khách hàng Cấp tín dụng cho vay khách hàng là cách thiết lập những khoản cho vay và cho thuê sao cho phù hợp với nhu cầu và khả năng của khách hàng. Đây là cách sử dụng vốn thông dụng nhất và luôn chiếm vai trò trọng yếu. Lãi suất cho vay, cho thuê như là nguồn thu nhập căn bản của ngân hàng… Tuy nhiên đây cũng là mảng hoạt động làm phát sinh rủi ro nhiều nhất (đặc biệt là rủi ro tín dụng) và do ngân hàng phải tập trung nhiều nỗ lực nhất, nên cũng làm phát sinh nhiều chi phí. - Đầu tư chứng khoán Ngân hàng đầu tư vào chứng khoán bằng cách tiến hành các hoạt động mua và nắm giữ các loại chứng khoán nợ, có độ rủi ro thấp, năng lực thị trường cao, chủ yếu do chính phủ hoặc do các doanh nghiệp lớn phát hành. Mục đích là để hỗ trợ đáp ứng các nhu cầu thanh khoản khi cần và mặt khác để thu lợi nhuận và quản lý rủi ro. Trong nhiều trường hợp ngân hàng có thể bị cấm tham gia đầu tư vốn vào cổ phiếu và những loại chứng khoán nợ có độ rủi ro cao. Ngày nay các ngân hàng đã tham gia ngày càng nhiều hơn vào các thị trường chứng khoán. 1.1.2.3 Các hoạt động khác Ngoài những hoạt động chính như nhận tiền gửi, cho vay, đầu tư, để tạo tiền đề cho sự phát triển của chính những hoạt động đó, ngân hàng còn cung cấp hàng loạt các dịch vụ khác. Những hoạt động dịch vụ quan trọng bao gồm: 12 - Các dịch vụ thanh toán Cung cấp dịch vụ thanh toán là nét đặc trưng trong hoạt động của các ngân hàng. Họ thực hiện những dịch vụ này để thu phí, nhưng vì chúng gắn liền với các hoạt động huy động tiền gửi và cho vay của mỗi ngân hàng, nên cũng góp phần quan trọng vào việc mở rộng các hoạt động huy động vốn cũng như mở rộng hoạt động cho vay và đầu tư kiếm lời. - Các dịch vụ khác Hoạt động ngân hàng cung cấp các dịch vụ thanh toán vừa là nét đặc trưng, vừa là mảng hoạt động quan trọng và gắn liền với các hoạt động huy động tiền gửi, cho vay, đầu tư chứng khoán. Bên cạnh đó, các ngân hàng còn cung cấp nhiều loại hình dịch vụ ngân hàng, tài chính khác cho khách hàng như: dịch vụ uỷ thác, dịch vụ tư vấn tài chính, dịch vụ kế toán và kiểm toán, dịch vụ chứng khoán, dịch vụ cho thuê két sắt... Việc thực hiện các hoạt động này, một mặt hỗ trợ phát triển các hoạt động chính của ngân hàng. Mặt khác, qua các hoạt động đó ngân hàng khuyếch trương, thu hút thêm khách hàng vay và gửi tiền. Ngày nay, đa dạng hoá hoạt động để phân tán rủi ro và để tạo thêm thu nhập đã trở thành một xu hướng phổ biến trong ngành công nghiệp ngân hàng. 1.2 HOẠT ĐỘNG DỊCH VỤ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.2.1 Khái niệm Hiện nay có rất nhiều quan điểm khác nhau xoay quanh khái niệm về dịch vụ ngân hàng. Nếu đứng trên góc độ thoả mãn nhu cầu của khách hàng thì có thể hiểu dịch vụ ngân hàng là tập hợp những đặc điểm, tính năng, công dụng do ngân hàng tạo ra nhằm thoả mãn những nhu cầu nhất định của khách hàng trên thị trường tài chính. Cụ thể hơn, dịch vụ ngân hàng được hiểu là các nghiệp vụ ngân hàng về vốn, tiền tệ, thanh toán,… mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng nhằm đáp ứng nhu cầu kinh doanh, sinh lời, sinh hoạt đời sống, cất trữ tài sản,… từ đó ngân hàng thu lại phần chênh lệch lãi suất, tỷ giá và các khoản phí từ các dịch vụ này. 13 Ở nước ta, đến nay vẫn chưa có văn bản pháp lý nào đưa ra khái niệm rõ ràng về dịch vụ ngân hàng. Có quan điểm cho rằng bất cứ hoạt động sinh lời nào của NHTM ngoài hoạt động tín dụng thì đều được gọi là hoạt động dịch vụ. Quan điểm này đã phân định rõ giữa hoạt động tín dụng – là hoạt động truyền thống và chủ yếu trong thời gian qua của các NHTM Việt Nam – và hoạt động dịch vụ – là hoạt động mới phát triển ở nước ta trong những năm gần đây. Sự phân định này trong xu thế hội nhập và mở cửa thị trường dịch vụ tài chính hiện nay là nền tảng cho phép ngân hàng thực thi chiến lược tập trung đa dạng hóa, phát triển và nâng cao hiệu quả của các hoạt động phi tín dụng. Tuy nhiên, trong cuốn nghiệp vụ ngân hàng hiện đại, David Cox cho rằng: “hầu hết các hoạt động nghiệp vụ của NHTM gọi là dịch vụ ngân hàng hoặc là cơ sở, điều kiện để mở rộng và phát triển dịch vụ ngân hàng” [17,tr25]. Ông cũng giải thích: “Mọi ngân hàng hoạt động với ba chức năng cơ bản là nhận các khoản tiền gửi, cho phép rút tiền và vận hành hệ thống chuyển tiền, cho vay các khoản tiền gửi tới khách hàng có nhu cầu vay vốn” [17,tr74]. Đây là các chức năng cơ bản nhất, nhưng bước sang đầu những năm 90, hệ thống ngân hàng hiện đại còn có các dịch vụ khác rộng rãi hơn. Trong thực tế, một ngân hàng lớn thường có khoảng 3.000 dịch vụ khác nhau cho khách hàng là các cá nhân hay doanh nghiệp. Như vậy, theo cách hiểu này thì dịch vụ ngân hàng là tất cả các hoạt động của ngân hàng, bao gồm cả các hoạt động truyền thống và các dịch vụ thu phí. Mặt khác nếu căn cứ theo cách thức phân tổ các ngành kinh tế của Tổng cục Thống kê Việt Nam thì ngân hàng là một trong những ngành được phân tổ trong lĩnh vực dịch vụ. Do vậy, ngân hàng được xem là loại hình doanh nghiệp đặc biệt, thực hiện kinh doanh tiền tệ và cung cấp dịch vụ cho các đối tượng khách hàng. Quan niệm này đồng thời cũng phù hợp với cách phân loại các phân ngành dịch vụ tài chính trong Hiệp định về thương mại dịch vụ (GATS) của WTO. Khái quát lên, dịch vụ ngân hàng thường được hiểu theo hai khía cạnh: 14 Theo nghĩa hẹp, dịch vụ ngân hàng chỉ bao gồm những hoạt động không thuộc phạm vi kinh doanh tiền tệ và các nghiệp vụ ngân hàng theo chức năng của một trung gian tài chính (huy động tiền gửi, cho vay) - theo đó, dịch vụ ngân hàng chỉ bao gồm những hoạt động: thu phí chuyển tiền, kinh doanh ngoại hối, thanh toán, .... Theo nghĩa rộng thì dịch vụ ngân hàng bao gồm tất cả các hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Khác với các doanh nghiệp sản xuất thông thường, sản phẩm đầu ra là các loại hàng hoá hữu hình, NHTM là một doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ có sản phẩm đầu ra cũng là các sản phẩm nhưng là các sản phẩm dịch vụ. Sản phẩm dịch vụ này được cung ứng đến các chủ thể khác nhau của nền kinh tế, nhằm thoả mãn các nhu cầu nhất định. Các chủ thể tiêu dùng dịch vụ ngân hàng ở đây có thể là cá nhân, doanh nghiệp khác nhau trong nền kinh tế. Cung cấp dịch vụ là hoạt động bao gồm các yếu tố không hiện hữu, giải quyết các mối quan hệ giữa khách hàng hoặc tài sản mà khách hàng sở hữu với người cung cấp mà không có sự chuyển giao quyền sở hữu. Sản phẩm của các dịch vụ có thể trong phạm vi hoặc vượt quá phạm vi của sản phẩm vật chất. 1.2.2 Phân loại dịch vụ ngân hàng Nếu đứng trên quan điểm phù hợp với thông lệ quốc tế như đã nêu ở phần trên thì chúng ta có thể tạm chia các dịch vụ ngân hàng thành hai nhóm gồm nhóm các dịch vụ ngân hàng truyền thống và nhóm các dịch vụ ngân hàng mới phát triển trong thời gian gần đây. 1.2.2.1 Nhóm dịch vụ ngân hàng truyền thống - Dịch vụ thanh toán tiền mặt và phi tiền mặt Đây là dịch vụ điển hình cho nhóm dịch vụ phi tín dụng truyền thống, tính truyền thống còn thể hiện là lao động thủ công trong xử lý các uỷ nhiệm thanh toán của khách hàng. Mặc dù có sự hỗ trợ của máy tính nhưng việc tự động hoá vẫn rất thấp, hầu hết phải qua sự can thiệp trực tiếp của nhân viên 15 kế toán thanh toán. Chứng từ gốc và chứng từ ghi sổ còn mang tính thủ công. Nguyên nhân chính là khối lượng chứng từ hàng ngày ở các chi nhánh, các trung tâm thanh toán của các NHTM Việt Nam lớn nhưng chưa ứng dụng máy đọc và xử lý tự động bằng máy như ở NHTM các nước phát triển. Hơn nữa chi phí đầu tư cao cũng là một vấn đề đòi hỏi phải có thời gian thì các NHTM Việt Nam mới khắc phục được. - Dịch vụ thanh toán bằng séc Là lệnh của chủ tài khoản yêu cầu ngân hàng trích một số tiền nhất định trên tài khoản của mình để trả cho người thụ hưởng có tên trên séc hay người cầm tờ séc đó. Séc là hình thức thanh toán lâu đời, phổ biến ở hầu hết các nước trên thế giới, đòi hỏi người phát hành séc phải có đủ số dư trên tài khoản tiền gửi và chỉ được phát hành trong phạm vi số dư đó. - Dịch vụ thanh toán quốc tế truyền thống Dịch vụ thanh toán quốc tế truyền thống: là việc thực hiện chi trả bằng tiền liên quan đến các dịch vụ thương mại giữa các tổ chức và cá nhân nước này với các tổ chức cá nhân nước khác hay giữa một quốc gia với tổ chức quốc tế thông qua quan hệ giữa các ngân hàng của các nước liên quan. Ngày nay, khi Việt Nam đã gia nhập WTO thì các NHTM phải nâng cao chất lượng dịch vụ thanh toán quốc tế, đa dạng hoá các sản phẩm thanh toán để đáp ứng được các nghiệp vụ kinh tế quốc tế vốn đa dạng và phức tạp. Các phương thức thanh toán quốc tế chủ yếu như phương thức thanh toán chuyển tiền, phương thức thanh toán nhờ thu (Colection), phương thức thanh toán tín dụng chứng từ (L/C), thanh toán biên mậu. - Dịch vụ bảo lãnh Bằng việc phát hành thư bảo lãnh, NHTM cam kết thực hiện nghĩa vụ thay cho khách hàng (người được bảo lãnh). Thực chất bảo lãnh không phải là hoạt động cho vay vì người bảo lãnh không hề ứng tiền mà chỉ nhận bảo đảm cho người có nợ đối với chủ nợ mà thôi. Như vậy chỉ khi nào con nợ không 16 trả được nợ thì Ngân hàng mới trả nợ hộ. Ngoài ra trong chu chuyển kinh tế thường có những sự không khớp về thời gian chi trả và thời gian nhận hàng, do đó cần có sự bảo đảm về chi trả hoặc cung cấp của người thứ ba, người đó có thể là ngân hàng. Như vậy bảo lãnh là hành vi có thể gặp nhiều rủi ro, do đó trước khi bảo lãnh ngân hàng cần nghiên cứu thận trọng uy tín và năng lực tài chính của khách hàng. Sau khi bảo lãnh, ngân hàng sẽ được hưởng khoản phí, có thể nói phí bảo lãnh là giá phải trả cho người bảo lãnh do việc sử dụng uy tín và khả năng tài chính của người bảo lãnh. Các trường hợp bảo lãnh bao gồm: bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh dự thầu... - Dịch vụ ngân quỹ Các ngân hàng mở tài khoản và giữ tiền của phần lớn các doanh nghiệp, cá nhân. Do kinh nghiệm trong quản lý ngân quỹ và khả năng trong việc thu ngân, nhiều ngân hàng đã cung cấp cho khách hàng dịch vụ quản lý ngân quỹ, trong đó ngân hàng đồng ý quản lý việc thu và chi cho một công ty kinh doanh và tiến hành đầu tư phần thặng dư tiền mặt tạm thời vào các chứng khoán sinh lợi và tín dụng ngắn hạn cho đến khi khách hàng cần tiền mặt để thanh toán. Các hoạt động của ngân quỹ gồm các hoạt động như: Kiểm đếm tiền mặt hộ khách hàng tại trụ sở ngân hàng: Kiểm đếm, thu tiền mặt ngoài trụ sở ngân hàng bao gồm cả phí vận chuyển, an ninh, bảo hiểm, chi hộ tiền mặt ngoài trụ sở ngân hàng nhận giữ tiền qua đêm. Thu đổi tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông, đổi tiền mệnh giá lớn lấy mệnh giá nhỏ, đối tiền mệnh giá nhỏ lấy mệnh giá lớn, phí thu đổi ngoại tệ. kiểm định tiền thật, tiền giả, lưu giữ, bảo quản tài sản quý hiếm; cất giữ giấy tờ có giá như chứng chỉ tiền gửi, sổ tiết kiệm, kỳ phiếu, trái phiếu, tín phiếu, các giấy tờ khác .... - Dịch vụ cho thuê ngăn tủ két sắt Các NHTM lớn, có nhiều vốn đầu tư cơ sở vật chất của mình, có khả năng thuê đội ngũ vệ sĩ và nhân viên bảo vệ, có trụ sở ở các thành phố lớn có thể mở dịch vụ cho thuê ngăn tủ két sắt. Sở dĩ phải có đủ ba điều kiện tiên quyết trên là vì rủi ro chủ yếu trong dịch vụ này xảy ra trong quá trình bảo 17 quản tài sản của khách do bọn cướp nhà băng hoặc nội bộ ngân hàng lấy trộm. Do đó đòi hỏi phải tuân thủ nghiêm ngặt các điều kiện sau đây : Dịch vụ cho thuê ngăn tủ két sắt đòi hỏi phải có trụ sở kiên cố, phải bỏ vốn để xây kho lớn rất kiên cố để chứa tủ két sắt. Tài sản mà khách gửi trong các ngăn tủ két sắt là những tài sản tuy khối lượng nhỏ nhưng có giá trị lớn nên thường là mục tiêu săn đuổi của bọn đạo trích có trình độ cao tầm cỡ quốc tế. Do đó ngoài trụ sở kho kiên cố, NHTM mở dịch vụ cho thuê ngăn tủ két sắt phải thuê một đội ngũ vệ sĩ chuyên nghiệp để canh gác ngày đêm liên tục 24/24 giờ để đề phòng mọi bất trắc có thể xảy ra. Trụ sở NHTM nơi mở dịch vụ cho thuê ngăn tủ két sắt phải đặt ở nội thành của thành phố lớn đông dân cư mới có đủ lượng khách hàng có nhu cầu dịch vụ này. Mặt khác tại các thành phố đông người cũng hạn chế khả năng bao vây tấn công của bọn cướp nhà băng vì gần nên lực lượng cảnh sát có thể đến ứng cứu kịp thời . Cho thuê ngăn tủ két sắt là loại dịch vụ dành riêng để phục vụ tầng lớp giàu có trong dân cư. Những người giàu có thuộc tầng lớp này thường có những tài sản quý như: vàng, kim cương, đá quý. Các báu vật thiêng liêng lưu truyền của dòng họ, di chúc về thừa kế món tài sản lớn, các văn tự sở hữu nhà, mua bán nhà đất, các giấy tờ có giá như cổ phiếu, trái phiếu, các công trình nghiên cứu khoa học chưa kịp đăng ký quyền sở hữu, các bằng sáng chế phát minh có giá trị lớn. Tại các thành phố lớn thì trộm cướp cũng ranh ma hung hãn liều lĩnh và có trình độ cao, trang bị hiện đại, chúng có thể đột nhập vào nhà ở của những gia đình giàu có để ăn trộm hoặc cướp giật các tài sản có giá trị lớn. Ngoài ra, bọn gián điệp nước ngoài cũng tăng cường mạng lưới hoạt động ở các thành phố lớn là trung tâm khoa học kỹ thuật nhằm đánh cắp các bí mật khoa học công nghệ, phát minh, sáng chế của nước sở tại. Tình hình trên khiến cho các chủ sở hữu các tài sản có giá trị lớn luôn không an tâm khi tự mình bảo quản các tài sản đó. Họ rất thiết tha được gửi tài sản quý của mình vào một nơi thật an toàn và đảm bảo bí mật cho họ. Những nhu cầu 18 khách quan này là nhân tố quyết định việc hình hành dịch vụ cho thuê ngăn tủ két sắt của ngân hàng. Đi đôi với sự phát triển kinh tế các tầng lớp dân cư giàu có sẽ ngày càng nhiều, các phát minh sáng chế cũng sẽ đua nhau nảy nở, và do đó ở Việt Nam nhu cầu thuê ngăn tủ két sắt sẽ có cơ hội phát triển trong tương lai không xa. Ngoài ra còn một số loại dịch vụ phi tín dụng truyền thống khác như dịch vụ cầm đồ, dịch vụ tư vấn và thông tin khách hàng,dịch vụ uỷ thác .... Đặc điểm của nhóm dịch vụ ngân hàng truyền thống Nhìn chung các dịch vụ ngân hàng truyền thống đếu có từ lâu đời, sử dụng kỹ thuật thủ công hoặc bán thủ công, chi phí phát sinh cao do tốn công sức, thời gian, thường có quan hệ giao dịch trực tiếp với khách hàng, vận chuyển xử lý chứng từ bằng phương tiện xử lý thô sơ .... Các phương pháp xử lý dịch vụ truyền thống bằng phương pháp thủ công tồn tại cho tới khi cuộc cách mạng công nghệ thông tin bùng nổ trong thập kỷ 70, 80, 90 của thế kỷ 20. Ngày nay, khởi đầu là các nước công nghiệp tiên tiến và các nước mới nổi đã thay thế hoàn toàn lao động thủ công trong thực hiện dịch vụ bằng công nghệ thông tin hiện đại. 1.2.2.2 Nhóm dịch vụ ngân hàng hiện đại - Dịch vụ thanh toán bằng thẻ Thanh toán bằng thẻ là một loại hình dịch vụ mới xuất hiện trong những năm gần đây, là hình thức thanh toán tiên tiến, có độ an toàn cao, thanh toán nhanh, thuận tiện, văn minh, là loại phương tiện thanh toán dễ bảo quản, cất giữ khi mang theo.  Thẻ ghi nợ (Debit card) là loại thẻ gắn liền với tài khoản tiền gửi thanh toán hay tài khoản séc của khách hàng. Khách hàng sử dụng thẻ để thanh toán, chi trả tiền mua hàng hoá, dịch vụ ở bất kỳ điểm bán hàng nào có đặt máy đọc thẻ (POS - Point of Sale). 19  Thẻ tín dụng (Credit card) là loại thẻ khi phát hành, ngân hàng cho phép chủ thẻ sử dụng một hạn mức tín dụng nhất định mà không cần có số dư trên tài khoản. Với tính năng ưu việt, gọn nhẹ, an toàn, tiện lợi, khả năng sinh lời cao… thẻ tín dụng luôn là mục tiêu phát triển của các ngân hàng.  Thẻ rút tiền tự động ATM: Với hình thức này, chủ thẻ phải để một số dư nhất định bằng số tiền trên thẻ. Khách hàng sử dụng thẻ để rút tiền tại bất kỳ các điểm đặt máy của ngân hàng mà không phải đến ngân hàng. - Dịch vụ kinh doanh ngoại tệ, vàng bạc đá quý Kinh doanh ngoại tệ là một dịch vụ một mặt đáp ứng các nhu cầu ngoại tệ của khách hàng, và tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng, mặt khác giúp các ngân hàng điều hoà cung cầu ngoại tệ trên thị trường, ổn định tỷ giá, thực hiện chính sách quản lý ngoại hối của NHNN, từ đó có tác động đến hoạt động xuất nhập khẩu cũng như hoạt động khác của nền kinh tế. Có nhiều hình thức kinh doanh ngoại tệ khác nhau trên thị trường ngoại hối, bao gồm:  Giao dịch mua bán giao ngay (Spot Operations)  Giao dịch có kỳ hạn (Forward Operations)  Giao dịch hoán đổi (Swap Operations)  Giao dịch hợp đồng tương lai (Future Operations)  Giao dịch hợp đồng quyền chọn (Option Operations) - Dịch vụ tư vấn Với chức năng là trung gian thu hút tiền gửi và cấp tín dụng cho khách hàng, là người quản lý tài khoản và thanh toán hộ, các NHTM có thể tham gia tư vấn cho khách hàng của mình trên hai khía cạnh là tư vấn đầu tư và tư vấn thông tin, với mục tiêu tìm cách giúp đỡ khách hàng kinh doanh tạo ra nhiều lợi nhuận mà trong đó sẽ bao hàm lợi ích của cả ngân hàng. 20 Với hoạt động tư vấn đầu tư, ngân hàng có thể hướng dẫn khách hàng xây dựng dự án, lựa chọn loại hình sản phẩm sản xuất, cung cấp thông tin thị trường, phương án kỹ thuật, tính toán nguồn tài trợ cho dự án, tư vấn cả về quản lý kinh doanh cho khách hàng như hướng dẫn hoạch định tài chính và kiểm soát, tư vấn số lượng vốn, và thời gian cần thiết để khách hàng tham gia thị trường có thể thu được lợi nhuận cao. Với hoạt động tư vấn thông tin, các ngân hàng cung cấp thông tin cho khách hàng về thị trường tiền tệ, thị trường sản phẩm đầu vào, đầu ra. Ở thời đại bùng nổ thông tin thì thông tin kịp thời, chính xác sẽ luôn đảm bảo sự thành công trong kinh doanh. Những thông tin mà ngân hàng cung cấp sẽ tạo điều kiện mở rộng các cơ hội kinh doanh cho khách hàng. Tạo cơ hội tăng lợi nhuận cho khách hàng nghĩa là ngân hàng cũng tăng lợi nhuận cho mình, đó không những là phí dịch vụ mà còn có lợi ích nhiều mặt khi có một quan hệ khách hàng lâu dài. Hoạt động ngân hàng là một hoạt động gặp nhiều rủi ro nhất trên thị trường, để phòng tránh rủi ro, các ngân hàng có những biện pháp nghiệp vụ chuyên môn cao để nắm bắt khả năng tài chính của từng doanh nghiệp cũng như tình hình sản xuất kinh doanh của họ, do đó có thể giúp doanh nghiệp nắm bắt hay dự báo được diễn biến của thị trường tài chính, tiền tệ, thị trường các sản phẩm khác. Ngân hàng có một lượng thông tin phong phú, đa dạng, chính xác để cung cấp cho khách hàng của mình. Nguồn thông tin mà ngân hàng có được chủ yếu thu thập từ các nhân viên ngân hàng khi họ thực hiện các dịch vụ cho khách hàng. Ngày nay, các NHTM trang bị các thiết bị tin học hết sức hiện đại để xây dựng một kho dữ liệu vô cùng phong phú và được cập nhật hằng ngày, vì vậy có thể cung cấp cho khách hàng những thông tin nhanh và kịp thời. - Dịch vụ môi giới đầu tư chứng khoán Ngân hàng cung cấp cho khách hàng cơ hội mua cổ phiếu, trái phiếu và các loại chứng khoán khác mà không cần phải thông qua các nhà môi giới chứng khoán. Hiện nay, các ngân hàng còn thành lập các công ty chứng khoán hoặc
- Xem thêm -