Tài liệu Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng và tính minh bạch của báo cáo tài chính

  • Số trang: 34 |
  • Loại file: DOCX |
  • Lượt xem: 229 |
  • Lượt tải: 0
tienmanhtruong

Tham gia: 09/11/2016

Mô tả:

2 TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG ----🙣🙣🙣---- TIỂU LUẬN MÔN: BÁO CÁO TÀI CHÍNH ĐỀ TÀI: CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG VÀ TÍNH MINH BẠCH CỦA BÁO CÁO TÀI CHÍNH 3 Mục lục Hà Nội, tháng 12 năm 2019 I Đặt vấn đề 4 II Mục tiêu, đối tượng, phạm vi và cách thức thực hiện 5 1. Mục tiêu nghiên cứu 5 2. Đối tượng nghiên cứu 5 3. Phạm vi nghiên cứu và thời gian nghiên cứu 5 4. Phương pháp nghiên cứu 5 III 6 Khái quát chung về chất lượng và tính minh bạch của BCTC 1. Cơ sở lý thuyết 6 2. Thực trạng chất lượng và tính minh bạch của BCTC của các công ty niêm yết (CTNY) trên sàn chứng khoán Việt Nam IV Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng thông tin báo cáo tài chính và giải pháp đề ra 1. Hành vi quản trị lợi nhuận: 7 9 9 2. Áp lực thuế 12 3. Hỗ trợ từ phía nhà quản trị 13 4. Đào tạo và bồi dưỡng nhân viên 14 5. Chiến lược Phần mềm Kế toán 15 6. Hệ thống kiểm soát nội bộ (HTKSNB) 17 7. Năng lực của nhân viên kế toán 19 8. Kiểm toán BCTC 21 V 24 Các nhân tố ảnh hưởng đến tính minh bạch của BCTC 1. Các yếu tố 24 4 2. Giải pháp 27 VI 29 Mối quan hệ giữa chất lượng và tính minh bạch của BCTC 1. Ảnh hưởng của tính minh bạch tới chất lượng 29 2. Ảnh hưởng của chất lượng tới tính minh bạch 29 VII Kết luận 31 VIII Tài liệu tham khảo 32 5 I Đặt vấn đề Trong xu thế hội nhập, nhu cầu cũng như đòi hỏi về chất lượng và tính công khai, minh bạch của thông tin trên Báo cáo tài chính của các doanh nghiệp niêm yết ngày càng cao. Đặc biệt là đối với công ty niêm yết ở Việt Nam, với bối cảnh thị trường chứng khoán còn khá non trẻ, những quy định và thực tế nội dung thông tin và công bố thông tin trên báo cáo tài chính của các công ty niêm yết gần đây bộc lộ một số bất cập. Trong khi đó, Báo cáo tài chính lại là một nguồn thông tin quan trọng để nhà đầu tư đánh giá thực trạng tài chính của doanh nghiệp, phục vụ việc ra quyết định đầu tư. Nhà đầu tư cần được đảm bảo rằng họ được cung cấp thông tin trung thực và đáng tin cậy về tình hình tài chính của doanh nghiệp. Qua đây nhận thấy được rằng sự chất lượng và tính minh bạch của Báo cáo tài chính là vô cùng cần thiết, quan trọng đối với mọi đối tượng sử dụng thông tin của Báo cáo tài chính. Vậy nên, bọn em đã chọn đề tài “Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng và tính minh bạch của Báo cáo tài chính” với đối tượng là các công ty niêm yết tại Việt Nam , để từ đó có thể đưa ra một số những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tin, tính minh bạch trong Báo cáo tài chính ở các công ty niêm yết tại Việt Nam. 6 II Mục tiêu, đối tượng, phạm vi và cách thức thực hiện 1. Mục tiêu nghiên cứu Nghiên cứu có hai mục tiêu chính sau: ● Xác định và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng và tính minh bạch của BCTC của các doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam. ● Đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng và tính minh bạch của BCTC. 2. Đối tượng nghiên cứu Thông tin kế toán trình bày trên BCTC theo Chuẩn mực Kế toán Việt Nam (VAS), Chuẩn mực lập BCTC Quốc tế (IFRS), các đặc tính của chất lượng và minh bạch của BCTC, các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng và tính minh bạch của BCTC. 3. Phạm vi nghiên cứu và thời gian nghiên cứu ● Phạm vi nghiên cứu: đề tài được giới hạn trong phạm vi các doanh nghiệp phi tài chính đã niêm yết tại Việt Nam (không nghiên cứu các doanh nghiệp tài chính như ngân hàng, tổ chức tín dụng, quỹ đầu tư). ● Thời gian nghiên cứu: dữ liệu nghiên cứu, khảo sát được tiến hành giai đoạn 20102019. 4. Phương pháp nghiên cứu Phương pháp định tính: Trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết kết hợp với kết quả của các nghiên cứu trước, nhóm tác giả tiến hành phân tích để đưa ra các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng và tính minh bạch của BCTC. 7 II 1. Khái quát chung về chất lượng và tính minh bạch của BCTC Cơ sở lý thuyết a, Yêu cầu chất lượng BCTC Chất lượng BCTC là khả năng mà BCTC cung cấp thông tin tài chính hữu ích của một thực thể cho nhà đầu tư, người cho vay, các chủ nợ khác hiện hữu và tiềm năng trong việc ra quyết định. Một BCTC chất lượng phải đảm bảo các yêu cầu sau: ● Thích hợp: thông tin thích hợp khi nó có thể làm thay đổi quyết định của người sử dụng. ● Phản ánh trung thực: phản ánh trung thực các sự kiện và nghiệp vụ muốn trình bày. ● Có khả năng so sánh: thông tin có liên quan đến một thực thể sẽ trở nên hữu ích hơn nếu nó có thể được so sánh với những thông tin tương tự của các thực thể khác hoặc là giữa các kỳ khác nhau trong cùng một thực thể thông tin. ● Có thể kiểm chứng: giúp đảm bảo người sử dụng rằng thông tin phản ánh các hiện tượng kinh tế một cách đúng sự thật. Có thể kiểm chứng có nghĩa là những người quan tâm độc lập và có kiến thức đến thông tin đều đạt được sự đồng thuận, mặc dù sự đồng thuận đó không phải là toàn vẹn, đó là một sự mô tả đặc thù của thông tin được trình bày trung thực. ● Kịp thời: thông tin luôn sẵn sàng cho việc ra quyết định. Một cách chung nhất, thông tin càng lỗi thời thì tính hữu ích càng thấp. ● Có thể hiểu được: việc phân loại, mô tả và trình bày thông tin rõ ràng và súc tích làm cho thông tin trở nên có thể hiểu được. Có một số hiện tượng vốn đã phức tạp và không dễ dàng để hiểu được. Việc loại bỏ các thông tin này ra khỏi BCTC có thể làm cho thông tin được trình bày có thể hiểu được hơn, tuy nhiên, các báo cáo này sẽ không toàn vẹn và có thể dẫn đến sai lầm cho việc ra quyết định. 8 b, Tính minh bạch của BCTC Trước hết, sự minh thể hiện ở việc thông tin được cung cấp một cách rõ ràng, không mập mờ, che giấu. Tính minh bạch là nguyên tắc tạo lập một môi trường, trong đó các thông tin về thực trạng hiện tồn, về các quyết định và các hoạt động đều dễ dàng tiếp cận, đều có thể thấy được và dễ hiểu đối với tất cả các đối tượng tham gia thị trường. Tính minh bạch là điều kiện cần để duy trì tính trách nhiệm giữa ba nhóm thành viên thị trường chính: những người đi vay và những người cho vay, các tổ chức phát hành và nhà đầu tư, các cơ quan quản lý nhà nước và các tổ chức tài chính quốc tế. 2. Thực trạng chất lượng và tính minh bạch của BCTC của các công ty niêm yết (CTNY) trên sàn chứng khoán Việt Nam a, Về chất lượng thông tin công bố Trong thực tế, tồn tại một khoảng cách không nhỏ giữa nội dung thông tin phải công bố theo quy định và nội dung thông tin mà các CTNY thực tế công bố. Điều này dẫn đến những hệ quả không mong muốn cho mục tiêu nâng cao chất lượng thông tin trên TTCK Việt Nam. Nhiều công ty coi nhẹ việc công bố thông tin. Có CTNY, trên website chỉ có những thông tin cũ ít cập nhật. Sự chênh lệch đáng kể số liệu tài chính trước và sau kiểm toán của các CTNY cũng đang trở thành một vấn đề nóng trên TTCK hiện nay. Chênh lệch số liệu lợi nhuận trước và sau khi kiểm toán là điều vẫn thường diễn ra, tuy nhiên, việc ngày càng có nhiều công ty bị giảm doanh thu, giảm lợi nhuận đến trên 50% sau kiểm toán đã gây ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả đồng vốn của nhà đầu tư, khiến môi trường đầu tư chứng khoán rủi ro hơn, ít nhiều làm xói mòn niềm tin của nhà đầu tư. Lại có công ty chỉ trích lập dự phòng ngắn hạn mà không trích lập dự phòng dài hạn. Việc làm lơ đi cả khoản mục quan trọng này đã khiến nhiều nhà đầu tư tưởng rằng công ty làm ăn có lãi nhưng rất có thể đây là “lời ảo, lỗ thật”. Về Báo các bộ phận, VAS 28 đã yêu cầu chi tiết về báo cáo các bộ phận, giống như IAS 14, tuy nhiên nhiều CTNY 9 làm báo cáo bộ phận sơ sài, chưa đáp ứng được các yêu cầu của VAS cũng như yêu cầu của nhà đầu tư. b, Về tính minh bạch Trong những năm gần đây, các vi phạm về minh bạch thông tin mà cụ thể là vi phạm về báo cáo và công bố thông tin đã giảm trong tổng số các vi phạm hành chính trên thị trường chứng khoán (TTCK). Tỷ trọng vi phạm về minh bạch hóa thông tin giảm từ 86,7% năm 2013 xuống còn 60,7% năm 2016. Theo kết quả khảo sát năm 2018 thực hiện với 686 công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam, có 266 công ty đạt chuẩn công bố thông tin theo các tiêu chí khảo sát đề ra, chiếm 38,78%, tăng so với con số 16,96% của năm 2017. Mặc dù vậy, thực trạng minh bạch thông tin DNNY trên TTCK Việt Nam vẫn còn nhiều vấn đề: Thứ nhất, tình trạng vi phạm hành chính về công bố và minh bạch thông tin vẫn tăng cao. Theo thống kê của Ủy ban Chứng khoán nhà nước, giai đoạn 2010-2016, cơ quan chức năng đã ra hơn 1.000 quyết định xử phạt vi phạm hành chính trên TTCK. Năm 2017, con số này là 214 quyết định xử phạt 80 cá nhân và 134 tổ chức. Trong năm 2018, có 397 trường hợp vi phạm của 129 tổ chức và 268 cá nhân, trong đó, xử phạt 9 cá nhân có hành vi thao túng, tạo cung cầu giả, buộc cải chính thông tin đối với 3 trường hợp báo cáo không chính xác hoặc công bố thông tin sai lệch, buộc từ bỏ quyền biểu quyết đối với 1 trường hợp vi phạm chào mua công khai. Số lượng vi phạm về báo cáo và công bố thông tin luôn chiếm trên 50% tổng số vi phạm bị xử phạt. Thứ hai, báo cáo tài chính ở một số doanh nghiệp chất lượng còn hạn chế, việc công bố báo cáo tài chính còn chậm, phải xin gia hạn. Một số DNNY vẫn chưa chủ động trong việc công khai các thông tin về tình hình hoạt động, tình hình sử dụng vốn, tình hình quản trị công ty, số liệu tại báo cáo tài chính còn có sai sót. Để lý giải việc chậm công bố thông tin BCTC, nhiều doanh nghiệp thường đưa lý do khách quan như công tác kế toán, kiểm toán cần thời gian dài; công ty con… 10 III Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng thông tin báo cáo tài chính và giải pháp đề ra Quá trình tìm hiểu, thảo luận và phân tích, nhóm đã thống nhất có 8 yếu tố ảnh hưởng đến CLTT BCTC 1. Hành vi quản trị lợi nhuận 2. Áp lực từ thuế 3. Hỗ trợ từ phía nhà quản trị 4. Đào tạo và bồi dưỡng nhân viên 5. Chiến lược phần mềm kế toán 6. Hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ 7. Năng lực nhân viên kế toán 8. Kiểm toán Báo cáo tài chính 1. Hành vi quản trị lợi nhuận: a, Quản trị lợi nhuận và mục đích của quản trị lợi nhuận Quản trị lợi nhuận là “một sự can thiệp có cân nhắc trong quá trình cung cấp thông tin tài chính nhằm đạt được những mục đích cá nhân. Quản trị lợi nhuận xảy ra khi “nhà quản lý điều chỉnh báo cáo tài chính và cơ cấu giao dịch để thay đổi báo cáo tài chính hoặc là đánh lừa một số các bên liên quan về kết quả kinh doanh của công ty. Quản trị lợi nhuận phản ánh hành động của nhà quản trị trong việc lựa chọn các phương pháp kế toán để mang lại lợi ích cho họ hoặc làm gia tăng giá trị thị trường của công ty. Quản trị lợi nhuận là nhằm đạt được lợi nhuận mục tiêu đề ra. Ví dụ, các nhà quản lý có thể muốn tránh báo cáo lỗ hoặc lợi nhuận giảm so với cùng quý, năm trước. Ngoài ra, các nhà quản lý có thể muốn báo cáo lợi nhuận đáp ứng hoặc vượt quá dự báo của các nhà phân tích. Giá cổ phiếu thường giảm đáng kể khi các mục tiêu lợi nhuận không đạt được, thậm chí lợi nhuận giảm rất nhỏ. Động cơ để nhà quản trị thực hiện hành động điều 11 chỉnh lợi nhuận có thể là: Công ty lần đầu niêm yết trên thị trường chứng khoán hoặc trong các đợt phát hành thêm cổ phiếu; khi thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp thay đổi; khi công ty được hưởng các ưu đãi miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp; khi công ty thuộc đối tượng được tham gia các chương trình giải thưởng công ty của tỉnh, thành phố hoặc quốc gia; các nhà quản trị này làm thay đổi lợi nhuận thực tế để được thưởng và chia lợi nhuận tại một thời điểm nào đó. Đối với các công ty cổ phần, xu hướng quản trị lợi nhuận là điều chỉnh tăng lợi nhuận với mục đích là gia tăng giá trị công ty, bởi vì khi lợi nhuận tăng, giá trị cổ phiếu của công ty tăng lên. b, Tác động của quản trị lợi nhuận đến chất lượng thông tin báo cáo tài chính Nguồn gốc làm phát sinh hành vi này được giải thích rất rõ bởi lý thuyết Đại diện, đó chính là sự tách biệt giữa quyền quản lý và quyền sở hữu trong các tổ chức, DN. Điều này làm nảy sinh khuynh hướng cá nhân, tư lợi và cơ hội của người ủy quyền (cổ đông) và người đại diện (giám đốc) trong DN. Cụ thể là, mặc dù cùng tồn tại trong cùng một công ty, nhưng vì bản chất sở hữu vốn là khác nhau nên bên ủy quyền và bên đại diện tuy về hình thức là cùng hướng đến lợi ích cho công ty, nhưng về bản chất thì lại thường có đối kháng lợi ích . Lý thuyết Đại diện cũng cho rằng khi người đại diện không sở hữu cổ phiếu hoặc sở hữu không đáng kể cổ phiếu của công ty thì người đại diện thường không cố gắng làm gia tăng lợi ích của cổ đông mà ngược lại, họ sẵn sàng đeo đuổi những phương án, cách thức kinh doanh, đầu tư, quản lý,… không mang đến hiệu quả cao nhất, hay thậm chí không hiệu quả nếu các phương án này là có lợi cho họ về lợi ích vật chất và lúc này, kế toán được xem là một công cụ hữu hiệu được người đại diện sử dụng để đạt được các lợi ích này. c, Các giải pháp hạn chế tác động tiêu cực của Hành vi quản trị lợi nhuận - Trong kế toán, hành vi quản trị lợi nhuận xuất phát từ việc sử dụng các thủ thuật, phương pháp kế toán và mặc dù hành vi này không vi phạm pháp luật, nhưng đây là một trong những nguyên nhân làm phát sinh khuynh hướng cá nhân, tư lợi và cơ hội của nhà quản lý. Vì vậy thẳng thắn nhìn nhận sự tồn tại tất yếu của hành vi này cũng là một tiền đề để tìm ra các giải pháp hạn chế tác động tiêu cực của nó. Muốn vậy, cần sử dụng song 12 song hai giải pháp: thực hiện một cơ chế giám sát từ phía bên trong lẫn bên ngoài DN và có một cơ chế động viên khen thưởng hợp lý - Thực hiện kiểm tra, giám sát từ bên trong DN thông qua thiết lập, vận hành hiệu quả và phát huy vai trò của HTKSNB. - Thực hiện kiểm tra, giám sát thông tin KT của DN từ các đối tượng bên ngoài như ngân hàng, kiểm toán Nhà nước, kiểm toán độc lập, Sở giao dịch chứng khoán. - Tăng cường kiểm soát, giám sát, đánh giá chi tiêu, đầu tư của giám đốc; sử dụng triệt để bên thứ ba là ngân hàng, các định chế tài chính, nhà đầu tư để kiểm soát hoạt động của giám đốc. - Cần thực hiện cơ chế động viên khen thưởng hợp lý cho nhà quản lý. Thực tế cho thấy cơ chế đãi ngộ nhà quản lý trong các DNNN còn hạn chế, dẫn đến nhu cầu tìm kiếm lợi ích cho cá nhân bất chấp lợi ích của DN là một trong những nguyên nhân làm gia tăng hành vi quản trị lợi nhuận trong các DNNN. Vì vậy, cần có những chính sách hợp lý: + Cần có chế độ khuyến khích tạo điều kiện cho người đại diện tham gia làm chủ, sở hữu vốn của tổ chức. DN thông qua các ưu tiên, ưu đãi về quyền mua cổ phiếu, khen thưởng bằng cổ phiếu. Các nghiên cứu ở các nước kinh tế thị trường cho thấy, mức độ sở hữu vốn (cổ phiếu và hoặc các quyền mua cổ phiếu) của giám đốc công ty cổ phần sẽ tỷ lệ nghịch với hành vi quản trị lợi nhuận. + Cần xây dựng tiêu chí khen thưởng cho đội ngũ quản lý dựa trên đánh giá hiệu quả công việc cho cả một thời kỳ. Hiện nay, các DN thường dựa vào tiêu chí tỷ suất lợi nhuận trên vốn hàng năm để làm căn cứ đánh giá hiệu quả của nhà quản lý từ đó quyết định các hình thức khen thưởng. Chẳng hạn như: quy chế trả thưởng cho đội ngũ quản lý trong các DN Nhà Nước hiện nay quy định tiền thưởng của viên chức quản lý được xác định theo năm tương ứng với hiệu quả sản xuất, kinh doanh, kết quả quản lý, điều hành hoặc kiểm soát, được trả một phần vào cuối năm (90% quỹ tiền thưởng hàng năm), phần còn lại (10%) được trả sau khi kết thúc nhiệm kỳ (Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội, 2013). Quy định trên sẽ dẫn đến các cán bộ quản lý trong nhiệm kỳ của mình sẽ sử dụng 13 nhiều cách thức, trong đó có công cụ kế toán để xử lý, trình bày BCTC theo hướng làm gia tăng lợi nhuận như hoãn việc mua sắm, sửa chữa tài sản, kéo dài thời gian khấu hao, …. 2. Áp lực thuế a, Tác động của Áp lực từ thuế đến CLTT trên BCTC Qua tìm hiểu, đây là 1 trong 3 nhân tố tác động mạnh nhất đến CLTT BCTC. Thực trạng trong các DN Việt Nam cho thấy nhân tố này thực sự tồn tại và tác động tiêu cực đến CLTT BCTC. Mối quan hệ của nhân tố này đến CLTT BCTC được lý giải là tại các quốc gia mà cơ quan thuế được xem là đối tượng chính sử dụng BCTC thì việc cung cấp thông tin kế toán đảm bảo chất lượng sẽ không được đặt nặng. Thực tế tại Việt Nam cho thấy, cơ quan thuế vẫn được xem là đối tượng chính yếu sử dụng BCTC. Mặc dù sự khác biệt giữa thuế và kế toán đã được khẳng định qua VAS 17 - Chuẩn mực thuế thu nhập doanh nghiệp, kết quả phỏng vấn các chuyên gia, và khảo sát dữ liệu tại các DN cho thấy phần lớn các DN đều thừa nhận rằng ưu tiên áp dụng quy định thuế trong công tác kế toán giúp sẽ giúp khai báo, quyết toán thuế được thuận lợi. Bên cạnh đó, một số cán bộ thuế vẫn còn can thiệp vào công tác kế toán tại các DN. Ngoài ra, khi ban hành các hướng dẫn về các nghiệp vụ liên quan đến thuế, các quy định của kế toán thường tham chiếu những văn bản của thuế hiện có. Trong khi đó, các quy định của thuế thường xuyên thay đổi và vì vậy làm cho các hướng dẫn của kế toán nhanh chóng không còn phù hợp với thực tế, gây tranh cãi và khó khăn khi áp dụng những quy định của kế toán vào trong thực tế. Khảo sát gần đây về mức độ hài lòng của DN về ngành thuế do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam -VCCI thực hiện cho thấy tới gần một nửa số DN từng gặp phiền hà khi thực hiện thủ tục thuế, trong đó, một trong những nhóm thủ tục “bị kêu” nhất là khai thuế . Những lập luận trên cho thấy giảm Áp lực từ thuế sẽ góp phần làm gia tăng CLTT BCTC. 14 b, Giảm áp lực từ thuế để gia tăng CLTT BCTC Ở Việt Nam, mặc dù VAS 17 và các quy định về thuế thu nhập DN đã khẳng định rõ sự khác biệt giữa nguyên tắc kế toán và kê khai thuế, quan điểm làm kế toán dựa trên quy định của thuế vẫn còn ăn sâu vào tư tưởng của nhiều người và cả cán bộ quản lý thuế. Nhiều nhân viên quản lý thuế, trực tiếp hoặc gián tiếp, lại đảm nhận vai trò xử lý công tác kế toán tại các DN; thường yêu cầu các DN phải xử lý số liệu kế toán theo kết quả kê khai thuế. Điều này đã gây áp lực rất lớn đến việc tuân thủ chuẩn mực và quy định kế toán của các DN và làm giảm CLTT BCTC. Vì vậy, tác giả kiến nghị cán bộ quản lý thuế cần thay đổi quan điểm làm việc, tránh gây áp lực lên DN trong quá trình xử lý và trình bày thông tin BCTC, cụ thể: + Bộ Tài Chính cần có quy định rõ cán bộ thuế không được can thiệp vào công việc kế toán tại các DN và không có trách nhiệm hướng dẫn công tác kế toán cho các DN. + Cần có quy định nghiêm cấm việc cán bộ thuế thông qua hình thức trực tiếp, hay gián tiếp đảm nhận cung cấp dịch vụ kế toán tại các DN. + Tăng cường bồi dưỡng và nâng cao thường xuyên kiến thức và quy định về kế toán cho nhân viên thuế. + Lãnh đạo Bộ Tài chính và ngành Thuế công khai số điện thoại cá nhân và đường dây nóng để các đối tượng kê khai và nộp thuế có có thể nhắn tin hay phản ảnh trực tiếp về phong cách làm việc của nhân viên thuế 3. Hỗ trợ từ phía nhà quản trị a, Tác động của việc hỗ trợ từ phía nhà quản trị đến CLTT trên BCTC Nhân tố này được xem là nhân tố tác động mạnh nhất góp phần làm gia tăng CLTT BCTC. Điều này cũng cho thấy việc gia tăng giá trị nhân tố này được xem là giải pháp hiệu quả nhất cho sự gia tăng CLTT BCTC. Mối quan hệ giữa nhân tố này đến CLTT BCTC được lý giải bởi lý thuyết Sự khuyết tác kỹ thuật; lý thuyết Ngẫu nhiên, theo đó chính hạn chế về sự hiểu biết của nhà quản lý về tầm quan trọng của thông tin kế toán đã làm giảm hiệu quả của HTTT kế toán trong việc đáp ứng nhu cầu thông tin, trong 15 đó có thông tin trên BCTC. Kết quả phân tích thống kê cho thấy mặc dù các nhà quản trị trong DN Việt Nam đã không đứng ngoài đối với quá trình thiết kế, vận hành, kiểm tra, giám sát thông tin BCTC tuy nhiên vai trò của họ cũng còn hạn chế. b, Giải pháp gia tăng CLTT BCTC từ phía các nhà quản trị DN. Từ vai trò đặc biệt quan trọng của nhà quản trị, tác giả kiến nghị các giải pháp từ phía nhà quản trị đối với việc gia tăng CLTT BCTC như sau: + DN cần xây dựng chiến lược phát triển HTTT phù hợp với chiến lược kinh doanh của toàn DN; phổ biến và truyền thông một cách đầy đủ và hiệu quả chiến lược này cho tất cả các bộ phận trong DN. Việc xây dựng chiến lược này phải có sự tham gia của nhà quản trị cấp cao cùng với các bộ phận có liên quan như IT, kế toán,… + Cần xây dựng các kế hoạch phát triển HTTT và ứng dụng công nghệ thông tin tiên tiến vào trong quá trình vận hành, kiểm tra, giám sát HTTT. + Việc triển khai, ứng dụng công nghệ thông tin cần phải được thực hiện dưới sự chỉ đạo của Ban quản lý dự án (dự án ERP, dự án triển khai phần mềm quản lý, dự án triển khai phần mềm kế toán tại DN,…). Người đứng đầu ban quản lý dự án này phải là một thành viên quản lý cấp cao trong DN cùng với dự tham gia của các bộ phận, phòng ban chức năng có liên quan. Nhà quản lý cấp cao cũng cần phải tham gia xây dựng các tiêu chuẩn lựa chọn nhà tư vấn triển khai việc ứng dụng công nghệ thông tin; giám sát qui trình mời và đánh giá nhà tư vấn triển khai,…Cần tuân thủ triệt để qui trình phát triển hệ thống, không bỏ bớt để rút ngắn giai đoạn phát triển. + Nhà quản trị cần đề cao và khuyến khích việc đảm bảo CLTT BCTC tại DN. 4. Đào tạo và bồi dưỡng nhân viên a, Tác động từ đào tạo và bồi dưỡng nhân viên tới CLTT BCTC Hỗ trợ từ phía nhà quản trị được xem là một nhân tố ảnh hưởng đến CLTT BCTC, được giải thích dựa vào lý thuyết Quản trị CL toàn diện, trong đó nhân tố đào tạo được xem là đóng vai trò quan trọng cho quản trị CL toàn diện trong các DN, góp phần làm gia 16 tăng CLTT của DN . Thực tế cho thấy ở các DN có thực hiện đầy đủ chính sách đào tạo, bồi dưỡng và cập nhật kịp thời chính sách về KT, thuế, kỹ năng vi tính cho nhân viên thì ở đó CLTT BCTC được nâng cao. Kết quả phân tích thống kê cũng như tác động của các biến điều tiết cho thấy mặc dù các nhà quản trị trong DN Việt Nam đã chú trọng đến việc đôn đốc, hỗ trợ nâng cao kiến thức về thuế và KT cho nhân viên, tuy nhiên mức độ thực hiện chỉ mới đáp ứng được yêu cầu cho các nhóm DN đã niêm yết; DN vừa và lớn và chưa đồng đều giữa các nhóm DN b, Giải pháp từ đào tạo và bồi dưỡng nhân viên để nâng cao CLTT BCTC - Các DN cần thấy rõ vai trò và trách nhiệm của mình đối với việc đào tạo nguồn nhân lực: DN không chỉ là nơi thụ hưởng sản phẩm giáo dục của nhà trường mà còn có trách nhiệm trong việc kết hợp với nhà trường cung cấp kiến thức thực tế cho người học. Các DN cần hỗ trợ trong việc nhận người học đến kiến tập, thực tập, tìm hiểu thực tế cũng như tạo điều kiện cho người làm việc có thể thích nghi vào công việc tại DN, phản hồi những ý kiến chính xác về yêu cầu công việc, CL đào tạo của nhà trường, giúp nhà trường hoàn thiện nội dung và chương trình đào tạo. - Cần nhận thức rõ vai trò của đào tạo và bồi dưỡng nhân viên đối với chiến lược phát triển của DN: trong lĩnh vực kế toán và kiểm toán, các DN cần có chính sách hỗ trợ, khuyến khích nhân viên của mình thường xuyên cập nhật các quy định, chính sách về kế toán, thuế. Cần có cơ chế hỗ trợ học phí và chế độ thăng tiến cho các nhân viên tham gia học tập và đạt được các chứng chỉ nghề nghiệp quốc tế giúp gia tăng kiến thức và khả năng về kế toán, tài chính, quản lý như ACCA, CPA, CMA,… 5. Chiến lược Phần mềm Kế toán a, Tác động của CL PMKT lên CLTT BCTC Lý thuyết xử lý Thông tin cho rằng sự thích hợp của khả năng xử lý thông tin sẽ có một ảnh hưởng rõ rệt đến hiệu quả của DN. Để vậy, một trong những cách thức cần phải thực hiện là gia tăng năng lực xử lý thông tin nhằm gia tăng hiệu quả của thông tin. Khi PMKT được thiết lập trên cơ sở tuân thủ các quy định của chuẩn mực và chế độ kế toán 17 sẽ gia tăng tính thích hợp của BCTC; PMKT được thiết lập trên cơ sở lưu lại đầy đủ các vết tích của quá trình ghi nhận và xử lý các nghiệp vụ kinh tế phát sinh sẽ giúp đảm bảo việc trình bày trung thực của BCTC. Bên cạnh đó, PMKT có chất lượng còn giúp giảm thiểu các sai sót thông qua việc xử lý công tác kế toán bằng các bút toán tự động; đảm bảo các thuộc tính gia tăng chất lượng BCTC như tính kịp thời, toàn vẹn,…Nhìn chung, PMKT trong các DN Việt Nam hiện nay đã đảm bảo chất lượng, tuy nhiên một số nội dung vẫn còn được đánh giá chưa cao cho thấy yếu tố an toàn truy cập và việc lưu lại các bằng chứng xử lý trên PMKT chưa thực sự được các nhà cung cấp PMKT quan tâm. Xuất phát từ các lập luận trên, tác giả kiến nghị cần phải gia tăng chất lượng PMKT để đảm bảo gia tăng CLTT BCTC b, Giải pháp gia tăng CL PMKT nhằm góp phần gia tăng CLTT BCTC Tại một số quốc gia trên thế giới, việc kiểm tra PMKT thường được thực hiện bởi cơ quan thuế thông qua quá trình kiểm tra và quyết toán thuế tại các DN. Tại Đức, Bộ Luật thuế- German Tax code 1977 quy định quyền hạn và trách nhiệm của cơ quan thuế trong việc kiểm tra PMKT khi thực hiện quyết toán thuế tại các DN; tại Singapore, kiểm tra PMKT được hướng dẫn tại quy định về Hướng dẫn PMKT do Cơ quan thuế ban hành. Tại Pháp, việc kiểm tra thuế tại các đơn vị tổ chức công tác KT bằng máy tính được quy định tại Luật BO-13L-1-06 “Kiểm tra công tác KT trên máy tính” do Tổng Cục Thuế Pháp ban hành và tại tài liệu hướng dẫn quy trình thuế. Nội dung chính của các quy định này thường hướng đến những nội dung chính như: phạm vi kiểm tra; yêu cầu về điều kiện của PMKT; cách thức kiểm tra; xử phạt…. Tại Việt Nam, mặc dù Bộ tài Chính đã đưa ra các quy định về tiêu chí CL của PMKT, tuy nhiên vẫn chưa có quy định nào hướng dẫn cụ thể cơ quan có trách nhiệm kiểm tra việc tuân thủ những quy định này. Luật Quản lý thuế hiện nay cũng vậy, chưa có quy định nào về việc kiểm tra công tác KT trong các đơn vị sử dụng PMKT cũng như hướng dẫn cụ thể quyền hạn và trách nhiệm của cơ quan thuế về việc kiểm tra PMKT trong quá trình kiểm tra, quyết toán thuế tại các DN. Vì vậy, Nhà Nước cần nghiên cứu và ban hành quy định cụ thể về kiểm tra việc tuân thủ các tiêu chí về chất lượng PMKT 18 tại các DN; triển khai những quy định về kiểm định chất lượng PMKT trên cơ sở tham khảo và học hỏi kinh nghiệm từ các quốc gia trên thế giới. Hiện nay trên thị trường Việt Nam, có rất nhiều PMKT đã và đang được sử dụng tại các DN. Việc tồn tại nhiều nhà cung cấp PMKT như hiện nay bên cạnh việc tạo điều kiện cho các DN có quyền lực chọn PMKT phù hợp với đặc điểm sản xuất kinh doanh và điều kiện kinh tế của đơn vị mình thì cũng gây ra những hậu quả không tốt làm ảnh hưởng đến CLTT trên BCTC. Có rất nhiều PMKT hiện nay chưa đảm bảo yêu cầu về chất lượng được quy định bởi Bộ Tài Chính và người tiêu dùng rất có ít thông tin để lựa chọn PMKT có chất lượng. Vì vậy, đối với những PMKT đóng gói (là các phần mềm được nhà cung cấp thiết kế sẵn, đóng gói thành các hộp sản phẩm), Bộ Tài Chính cần yêu cầu những PMKT này cần phải được kiểm định chất lượng trước khi được lưu thông trên thị trường. Bên cạnh đó, các DN trước khi lựa chọn PMKT cho DN mình cần phải tìm hiểu uy tín và chất lượng của PMKT, cần lựa chọn PMKT đã được kiểm định để nâng cao CLTT BCTC. 6. Hệ thống kiểm soát nội bộ (HTKSNB) a, Tác động của HT KSNB lên CLTT BCTC Đây là nhân tố này tác động đến CLTT BCTC của tất cả các nhóm DN, ngoại trừ nhóm các DN nhỏ (điều này được ý giải là đa phần các DN nhỏ tại Việt Nam hiện nay chưa chú trọng đến vai trò của HT KSNB tại DN mình). Mối quan hệ này được giải thích trên cơ sở lý thuyết Đại diện. Chính thông tin bất tương xứng và lợi ích cá nhân đã ngăn cản sự hợp tác giữa người ủy quyền và người đại diện, và là một đòn bẩy quyền lực để thực hiện hành vi tư lợi của nhà quản lý. Để giải quyết mâu thuẫn này, cần thiết lập cơ chế giám sát hiệu quả để hạn chế những hành vi không bình thường, tư lợi của người đại diện. Phân tích thống kê về hiệu quả hoạt động của HTKSNB trong các DN Việt Nam cho thấy các nội dung đo lường đều được đánh giá ở mức độ chưa cao, hiệu quả giám sát các hoạt động của HTTT kế toán từ phía KSNB giúp ngăn ngừa hiệu quả các gian lận và sai sót cũng như đảm bảo CLTT BCTC vẫn còn hạn chế. 19 b, Giải pháp nâng cao hiệu quả của HT KSNB nhằm gia tăng CLTT BCTC - Giải pháp từ phía DN: Theo COSO (1992), bất kỳ HT KSNB nào cũng bao gồm những bộ phận cơ bản: môi trường kiểm soát; đánh giá rủi ro; hoạt động kiểm soát; thông tin và truyền thông; giám sát. Vì vậy, để nâng cao hiệu quả HTKSNB cần thực hiện các giải pháp: + Hoàn thiện môi trường kiểm soát: Các nhà quản trị bao gồm các nhà điều hành hoạt động DN cần định hướng rõ vai trò và quan điểm của mình đối với CLTT BCTC; am hiểu và kiểm soát được thông tin tài chính của đơn vị mình; xác định rõ tầm quan trọng trong việc nâng cao CLTT BCTC và xây dựng một môi trường văn hóa chú trọng đến sự liêm chính, đạo đức nghề nghiệp, thực hiện nghiêm túc việc tuân thủ các qui định chế độ hiện hành về kế toán. + Thực hiện đánh giá rủi ro: các DN cần thường xuyên xác định rủi ro hiện hữu và tiềm tàng làm phương hại đến CLTT BCTC. Phân tích ảnh hưởng của chúng, xác định tần suất xuất hiện và đề ra các biện pháp để quản lý và giảm thiểu tác hại của chúng bằng cách tăng cường việc sử dụng HTKSNB nhằm làm giảm khả năng xuất hiện hoặc tác động của rủi ro đến CLTT BCTC. + Thực hiện hoạt động kiểm soát: những hoạt động kiểm soát có thể được gộp thành hai nhóm chính đó là kiểm soát phòng ngừa và kiểm soát phát hiện. Kiểm soát phòng ngừa được thể hiện ở việc thiết lập những chính sách và thủ tục mang tính chuẩn mực, phân công trách nhiệm hợp lý và ủy quyền phê duyệt. Kiểm soát phát hiện được thể hiện dưới dạng thực hiện báo cáo đặc biệt, đối chiếu hay kiểm tra định kỳ. + Thiết lập HTTT và truyền thông: HTTT của DN cần đảm bảo cho nhân viên ở mọi cấp độ đều có thể hiểu và nắm rõ các nội quy, chuẩn mực của tổ chức, đảm bảo thông tin được cung cấp kịp thời, chính xác đến các cấp có thẩm quyền theo quy định. Cần phải thiết lập các kênh thông tin hiệu quả cho phép nhân viên báo cáo về các hành vi, sự kiện bất thường có khả năng gây thiệt hại cho DN. Thực hiện lắp đặt hệ thống bảo vệ, theo 20 dõi, giám sát truy cập dữ liệu nhằm phòng ngừa những rủi ro ảnh hưởng đến đảm bảo an toàn thông tin, dữ liệu nhất là thông tin kế toán. + Thực hiện giám sát: đây là quá trình theo dõi và đánh giá chất lượng KSNB để đảm bảo việc kiểm soát được triển khai, điều chỉnh và cải thiện liên tục. Để việc giám sát có hiệu quả, DN cần có có hệ thống báo cáo cho phép phát hiện các sai lệch so với chỉ tiêu, kế hoạch đã định. Bên cạnh đó, những khiếm khuyết của HTKSNB; gian lận; nghi ngờ gian lận; các vi phạm nội quy, quy định của DN cũng như quy định của luật pháp hiện hành cần được báo cáo trực tiếp và kịp thời với cấp phụ trách cao hơn, kể cả ban lãnh đạo để điều chỉnh đúng lúc, kịp thời. Việc giám sát, đánh giá hiệu quả HTKSNB thường được thực hiện bởi KTNB. Bộ phận KTNB hữu hiệu sẽ giúp cho DN có được những thông tin kịp thời và và xác thực về các hoạt động trong DN, chất lượng của hoạt động KSNB nhằm kịp thời điều chỉnh và bổ sung các qui chế kiểm soát thích hợp và hiệu quả cho nhà quản lý điều hành công ty mình và có sự độc lập với các bộ phận khác trong đơn vị, chỉ chịu trách nhiệm trước ban giám đốc về công việc của mình. - Giải pháp từ phía cơ quan Nhà nước: Bộ Tài chính cần quy định rõ trách nhiệm của bộ phận quản lý trong các công ty niêm yết trong việc thiết lập và duy trì hoạt động hữu hiệu của hệ thống KSNB; trách nhiệm đánh giá và giải trình hiệu quả hoạt động của KSNB vào cuối mỗi niên độ kế toán. 7. Năng lực của nhân viên kế toán a, Tác động của Năng lực nhân viên KT đối với CLTT BCTC Đây là nhân tố này tác động đến CLTT BCTC của nhóm DN chưa niêm yết và DN nhỏ. Điều này cho thấy năng lực nhân viên kế toán hiện nay tuy đã đáp ứng được nhu cầu trong các DN niêm yết; các DN vừa và lớn nhưng vẫn còn nhiều hạn chế trong nhóm các DN còn lại. Mối quan hệ giữa nhân tố này và CLTT BCTC được lý giải, theo đó, chính sự thiếu sót về kỹ năng con người đã dẫn đến việc vắng mặt chiến lược về thông tin kế toán trong các DN và điều này làm ảnh hưởng đến CLTT BCTC được cung cấp.
- Xem thêm -