Tài liệu Các tội xâm phạm tính mạng của con người trong luật hình sự việt nam (trên cơ sở các số liệu xét xử của tòa án tỉnh bình dương) luận văn ths. luật

  • Số trang: 113 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 95 |
  • Lượt tải: 0
tailieuonline

Đã đăng 39894 tài liệu

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT ĐOÀN VĂN LÂM CÁC TỘI XÂM PHẠM TÍNH MẠNG CỦA CON NGƢỜI TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM (TRÊN CƠ SỞ CÁC SỐ LIỆU XÉT XỬ CỦA TÒA ÁN TỈNH BÌNH DƢƠNG) Chuyên ngành: Luật hình sự - tố tụng hình sự Mã số: 60 38 01 04 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trịnh Quốc Toản HÀ NỘI - 2013 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội. Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn. Tôi xin chân thành cảm ơn! NGƯỜI CAM ĐOAN Đoàn Văn Lâm MỤC LỤC Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục Danh mục các từ viết tắt Danh mục các bảng MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1 Chƣơng 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÁC TỘI XÂM PHẠM TÍNH MẠNG CỦA CON NGƢỜI .................................................... 7 1.1. Khái quát lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam về các tội xâm phạm tính mạng của con ngƣời ......................................................... 7 1.1.1. Giai đoạn từ năm 1945 đến trước khi ban hành BLHS năm 1985 ............ 7 1.1.2. Giai đoạn từ khi ban hành BLHS năm 1985 đến trước khi ban hành BLHS năm 1999 ......................................................................... 19 1.2. Khái niệm và các dấu hiệu pháp lý của các tội xâm phạm tính mạng của con ngƣời .......................................................................... 21 1.2.1. Khái niệm các tội xâm phạm tính mạng của con người...................... 21 1.2.2. Các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của các tội xâm phạm tính mạng của con người ...................................................................................... 25 1.2.3. Chính sách hình sự áp dụng đối với các tội xâm phạm tính mạng của con người ...................................................................................... 45 1.3. Phân biệt các tội xâm phạm tính mạng của con ngƣời với một số tội phạm khác ................................................................................ 52 Kết luận Chƣơng 1 ........................................................................................ 57 Chƣơng 2: THỰC TIỄN XÉT XỬ CÁC TỘI XÂM PHẠM TÍNH MẠNG CON NGƢỜI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH DƢƠNG GIAI ĐOẠN 2008 – 2012 ........................................................................ 59 2.1. Đặc điểm chính trị, kinh tế-xã hội tỉnh Bình Dƣơng ..................... 59 2.2. Thực tiễn áp dụng các quy định của BLHS năm 1999 trong điều tra, truy tố, xét xử các tội xâm phạm tính mạng con ngƣời ở tỉnh Bình Dƣơng .................................................................. 62 2.2.1. Khái quát chung về tình hình điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự của các cơ quan tiến hành tố tụng ở tỉnh Bình Dương giai đoạn 2008- 2012 .................................................................................. 62 2.2.2. Tình hình điều tra, truy tố, xét xử các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người ở tỉnh Bình Dương từ năm 2008 đến 2012 ......................................................................... 66 2.2.3. Tình hình điều tra, truy tố, xét xử các tội xâm phạm tính mạng của con người ở tỉnh Bình Dương từ năm 2008 đến 2012 ................. 67 2.3. Đánh giá về những kết quả, tồn tại, hạn chế trong điều tra, truy tố, xét xử các tội xâm phạm tính mạng của con ngƣời ở tỉnh Bình Dƣơng từ năm 2008 đến 2012 và nguyên nhân của nó............ 70 2.3.1. Đối với hoạt động điều tra, truy tố ...................................................... 70 2.3.2. Đối với hoạt động xét xử của Tòa án .................................................. 71 2.3.3 Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế trong điều tra, truy tố, xét xử các tội xâm phạm tính mạng của con người ............................ 83 Kết luận chƣơng 2 ......................................................................................... 85 Chƣơng 3: HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ HIỆN HÀNH VỀ CÁC TỘI XÂM PHẠM TÍNH MẠNG CON NGƢỜI VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG ................................................................................. 87 3.1. Sự cần thiết phải tiếp tục hoàn thiện các quy định về các tội xâm phạm tính mạng con ngƣời và nâng cao hiệu quả áp dụng ............... 87 3.2. Một số giải pháp hoàn thiện các quy định về các tội xâm phạm tính mạng con ngƣời trong BLHS năm 1999 ....................... 89 3.3. Một số giải pháp khác nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định về các tội xâm phạm tính mạng con ngƣời trong BLHS năm 1999. ............................................................................................ 94 3.3.1. Tăng cường công tác giáo dục, tuyên truyền nếp sống văn minh, lành mạnh, sự tôn trọng lẫn nhau trong đời sống cộng đồng đặc biệt giáo dục ý thực tôn trọng pháp luật và luôn đoàn kết yêu thương giúp đỡ lẫn nhau ................................................................................................ 94 3.3.2. Củng cố và kiện toàn tổ chức hệ thống cơ quan điều tra, VKSND, TAND đáp ứng yêu cầu với tình hình mới ......................................... 96 Kết luận chƣơng 3 ....................................................................................... 100 KẾT LUẬN .................................................................................................. 101 TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................... 103 DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT BLHS: Bộ luật hình sự LPHS: Lập pháp hình sự CSHS: Chính sách hình sự LHS: Luật hình sự TNHS: Trách nhiệm hình sự TAND: Toà án nhân dân TANDTC: Toà án nhân nhân tối cao VKSND: Viện kiểm sát nhân dân VKSNDTC: Viện kiệm sát nhân dân tối cao DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 1.1: So sánh nhóm tội xâm phạm tính mạng con người và tội xâm phạm sức khỏe con người ............................................................ 53 Bảng 1.2: So sánh tội giết người và cố ý gây thương tích ............................ 54 Bảng 1.3: So sánh tội bức tử và tội hành hạ người khác .............................. 56 Bảng 2.1: Thống kê về án hình sự giải quyết của toàn ngành Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương từ 2008 – 2012. ......................................... 64 Bảng 2.2: Thống kê, phân tích số vụ án hình sự sơ thẩm toàn ngành TAND tỉnh Bình Dương đã thụ lý giải quyết từ năm 2008-2012 ... 65 Bảng 2.3: Thống kê số liệu điều tra các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người ở tỉnh Bình Dương từ năm 2008 đến 2012 .................................................................. 66 Bảng 2.4: Thống kê số liệu truy tố, xét xử sơ thẩm các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người ở tỉnh Bình Dương từ năm 2008 đến 2012 ............................................. 67 Bảng 2.5: Thống kê số liệu điều tra các tội xâm phạm tính mạng con người ở tỉnh Bình Dương từ năm 2008 đến 2012. ....................... 67 Bảng 2.6: Biểu đồ số liệu truy tố, xét xử sơ thẩm các tội xâm phạm tính mạng của con người ở tỉnh Bình Dương từ năm 2008 đến 2012. ... 68 Bảng 2.7: Phân tích đặc điểm nhân thân bị cáo đã xét xử. ........................... 69 Bảng 2.8: Phân tích hình phạt cho các bị cáo qua các vụ sơ thẩm các tội xâm phạm tính mạng con người. .................................................. 70 Bảng 2.9: Thống kê án bị đình chỉ, trả hồ sơ các tội xâm phạm tính mạng của con người ở tỉnh Bình Dương từ năm 2008 đến 2012.............. 72 MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài Quyền sống là một trong những quyền tự nhiên, quan trọng nhất mà ai cũng có như một lẽ đương nhiên. Các thiết chế xã hội đặc biệt là Nhà nước có trách nhiệm tôn trọng, bảo vệ quyền sống của con người, chống lại bất kỳ hành vi nào xâm phạm đến quyền này. Luật Quốc tế về nhân quyền đưa ra các tiêu chí về quyền con người và các đảm bảo quyền con người, trong đó có quyền sống. Ngay sau khi Cách mạng tháng 8 thành công, trong bản tuyên ngôn độc lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tại Quảng trường Ba Đình đã khẳng định: “Mọi người sinh ra có quyền được sống, quyền tự do và mưu cầu hạnh phúc…”. Với tinh thần đó, pháp luật nước ta luôn khẳng định bảo vệ quyền con người tại Điều 71 – Hiến pháp 1992 nước ta quy định: “Công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm…”. Trên cơ sở Hiến pháp năm 1992, Bộ luật hình sự (BLHS) năm 1999 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009) đã qui định các tội xâm phạm tính mạng con người và hình phạt tương ứng áp dụng đối với những người phạm tội. Các qui định của BLHS đã góp phần tích cực trong bảo vệ quyền được sống, bảo vệ tính mạng con người, góp phần làm ổn định trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, việc đấu tranh phòng ngừa các hành vi xâm phạm tính mạng của các cơ quan tiến hành tố tụng còn bộc lộ nhiều hạn chế, ảnh hưởng tiêu cực đến việc bảo vệ tính mạng con người. Những hạn chế đó thể hiện ở việc vẫn còn hiện tượng bỏ lọt tội phạm, bỏ lọt những hành vi xâm phạm tính mạng con người, không bị điều tra xử lý. Về việc áp dụng trách nhiệm hình sự (TNHS) đối với người người có hành vi 1 xâm phạm tính mạng con người, còn nhiều trường hợp chưa tương xứng với tính chất, mức độ tội phạm. Trong quá trình giải quyết vụ án, các cơ quan tiến hành tố tụng còn lúng túng trong việc vận dụng pháp luật, do luật hình sự (LHS) qui định còn chưa cụ thể, rõ ràng, nên đã ảnh hưởng đến hiệu quả đấu tranh, xử lý đối với loại tội phạm này. Trải qua các thời kỳ cách mạng, trong quá trình kiến thiết và bảo vệ đất nước, vấn đề bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của con người được Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đặc biệt coi trọng, nhất là trong hoạch định chính sách hình sự, nhằm đảm bảo cho hoạt động phòng và chống tội phạm đạt hiệu quả cao, thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, từng bước hội nhập với quốc tế. Trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội từ năm 2011 – 2020 của đất nước, Đảng ta đưa ra quan điểm: “Mở rộng dân chủ, phát huy tối đa nhân tố con người; coi con người là chủ thể, nguồn lực chủ yếu và là mục tiêu của sự phát triển”. Tuy nhiên, từ thực tiễn của cuộc sống mỗi ngày diễn ra hết sức sôi động, tình hình tội phạm xâm phạm tính mạng con người diễn ra rất đa dạng, phức tạp, trong khi đó chính sách hình sự (CSHS) nói chung và hệ thống pháp luật về đấu tranh phòng chống tội phạm nước ta nói riêng vẫn còn những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện, đảm bảo đủ cơ sở pháp lý cho các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử tội phạm, đáp ứng theo yêu cầu cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền, đem lại bình yên cho cuộc sống. Với ý nghĩa trên, tác giả chọn đề tài: Các tội xâm phạm tính mạng của con người trong LHS Việt Nam (trên cơ sở các số liệu xét xử của Toà án tỉnh Bình Dương) để nghiên cứu. 2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Các tội xâm phạm tính mạng con người được nhiều nhà khoa học pháp lý trong nước quan tâm nghiên cứu. Sau khi BLHS năm 1985 được ban hành, 2 tội xâm phạm tính mạng con người được đề cập trong nhiều giáo trình, sách pháp lý, đề tài nghiên cứu như: Giáo trình LHS Việt Nam trong Phần các tội phạm của Khoa luật, Đại học quốc gia Hà Nội (ĐHQGHN), Nhà xuất bản ĐHQGHN; Giáo trình LHS Việt Nam, tập II của Trường Đại học Luật Hà Nội, Nhà xuất bản Công an nhân dân năm 1998; Bình luận khoa học BLHS của Viện khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1987 sau đó tái bản năm 1992, 1997. Sau khi BLHS năm 1999 được ban hành, đề tài “Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người” của TS Trần Văn Luyện, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000; Giáo trình LHS Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội, Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội, 2000; Giáo trình LHS Việt Nam, Phần các tội phạm của Khoa luật, ĐHQGHN, Nhà xuất bản ĐHQGHN, Hà Nội, 2002, Tập thể tác giả do GS.TSKH Lê Văn Cảm chủ biên; Bình luận khoa học BLHS 1999 - Phần các tội phạm của PGS.TS Phùng Thế Vắc và các tác giả khác, Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội, 2001; Bình luận khoa học BLHS, Phần các tội phạm, tập I (Bình luận chuyên sâu) của Th.S Đinh Văn Quế, NXB thành phố Hồ Chí Minh, 2002; Bình luận khoa học BLHS (được sửa đổi, bổ sung) của PGS.TS Trần Minh Hưởng, NXB Hồng Đức, 2012. Các công trình nói trên đã đề cập tội xâm phạm tính mạng con người dưới góc độ pháp lý hình sự nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống về nhóm tội này. Vì vậy, việc lựa chọn đề tài các tội xâm phạm tính mạng của con người làm luận văn thạc sĩ luật học là phù hợp với thực tế yêu cầu về xây dựng và hoàn thiện pháp luật hình sự (PLHS) hiện nay. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài - Mục đích nghiên cứu: - Làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận chung về các tội xâm phạm tính 3 mạng con người; những dấu hiệu pháp lý hình sự đặc trưng của tội phạm này trong PLHS Việt Nam hiện hành. - Phân tích, đánh giá những quy định về các tội xâm phạm tính mạng con người trong PLHS nước ta, thực trạng điều tra, truy tố, xét xử các tội danh này trên địa bàn tỉnh Bình Dương nhằm rút ra những tồn tại, hạn chế về lập pháp, áp dụng PLHS, qua đó đề xuất những giải pháp hoàn thiện PLHS, góp phần nâng cao hiệu quả phòng chống tội phạm, phục vụ phát triển kinh tế, xã hội của đất nước. - Nhiệm vụ nghiên cứu: Để đạt được những mục đích trên, đề tài đi sâu giải quyết các nhiệm vụ cơ bản sau: + Nghiên cứu làm rõ lý luận cơ bản về các tội xâm phạm tính mạng con người trong LHS Việt Nam và thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử các tội xâm phạm tính mạng con người trên địa bàn tỉnh Bình Dương giai đoạn 05 năm 2008-2012. + Đề xuất nội dung để hoàn thiện các quy định của BLHS hiện hành về các tội xâm phạm tính mạng con người và một số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng. 4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu: Các qui định của CSHS Việt Nam, tập trung nhất là BLHS Việt Nam và các công trình nghiên cứu, chuyên khảo về khoa học pháp lý liên quan đến tội xâm phạm tính mạng con người, thực tiễn xử lý tội này của các cơ quan tiến hành tố tụng trên địa bàn tỉnh Bình Dương giai đoạn 2008-2012. - Phạm vi nghiên cứu: + Phạm vi về nội dung: Các tội xâm phạm tính mạng con người được qui định ở nhiều chương của BLHS, tuy nhiên trong khuôn khổ luận văn này, 4 tác giả xác định phạm vi nghiên cứu các tội xâm phạm tính mạng con người là các tội phạm quy định tại Chương XII của BLHS năm 1999 và thực tiễn xử lý các tội xâm phạm tính mạng con người trên địa bàn tỉnh Bình Dương. + Phạm vi về thời gian: Khảo sát thực tế 5 năm, từ năm 2008 đến năm 2012. 5. Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài - Cơ sở lý luận: Cơ sở lý luận của luận văn là hệ thống các quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng cộng sản Việt Nam về xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân và pháp luật về đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung, tội xâm phạm tính mạng con người nói riêng; là các văn bản pháp luật, các giáo trình về LHS nói chung và các tội xâm phạm tính mạng con người nói riêng. - Cơ sở thực tiễn: Là kết quả khảo sát tình hình xử lý tội phạm xâm phạm tính mạng con người trên địa bàn tỉnh Bình Dương trong 5 năm từ năm 2008 đến năm 2012 trên cả hai phương diện: Những kết quả đạt được, hạn chế thiếu sót và nguyên nhân hạn chế, thiếu sót. 6. Phƣơng pháp nghiên cứu Trong quá trình nghiên cứu áp dụng những phương pháp nghiên cứu: Tổng hợp, phân tích, thống kê, so sánh, điều tra xã hội học, tọa đàm trao đổi và phương pháp chuyên gia. 7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn - Ý nghĩa lý luận: Nội dung của đề tài có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong quá trình giảng dạy chuyên ngành luật và nghiên cứu hoàn thiện PLHS Việt Nam. 5 - Ý nghĩa thực tiễn: Những đề xuất của đề tài có thể được nghiên cứu, sử dụng trong quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật phòng chống tội phạm, cũng như trong hoạt động tố tụng, nhất là trong giai đoạn xét xử, định tội danh, quyết định hình phạt đối với các vụ án xâm phạm tính mạng con người. Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu về khoa học pháp lý nói chung, khoa học LHS và áp dụng thực tiễn công tác tại các cơ quan bảo vệ pháp luật… 8. Cấu trúc nội dung của đề tài Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, nội dung của đề tài được cấu trúc thành 03 chương. - Chương 1: Một số vấn đề chung về các tội xâm phạm tính mạng con người. - Chương 2: Thực tiễn xét xử các tội xâm phạm tính mạng con người trên địa bàn tỉnh Bình Dương giai đoạn 2008 - 2012. - Chương 3: Hoàn thiện các quy định của Bộ luật hình sự hiện hành về các tội xâm phạm tính mạng con người và một số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng. 6 Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÁC TỘI XÂM PHẠM TÍNH MẠNG CỦA CON NGƢỜI 1.1. Khái quát lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam về các tội xâm phạm tính mạng của con ngƣời 1.1.1. Giai đoạn từ năm 1945 đến trước khi ban hành BLHS năm 1985 Trải qua các giai đoạn lịch sử hình thành và phát triển, xuất phát từ đặc điểm riêng của mình, LHS Việt Nam nhìn chung có nhiệm vụ bảo vệ chế độ, quyền làm chủ của nhân dân, quyền bình đẳng giữa đồng bào các dân tộc, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức; bảo vệ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa, chống mọi hành vi phạm tội; đồng thời giáo dục mọi người có ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm. Từ khi ra đời đến nay, LHS Việt Nam đã trải qua nhiều thời kỳ thay đổi, phát triển, từng bước đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ tổ quốc, tăng cường giao lưu hội nhập với quốc tế của đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN. * Thời kỳ 1945-1954: Thời kỳ này đánh dấu bước phát triển quan trọng của quá trình lập pháp hình sự. Sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, chính quyền nhân dân non trẻ phải đối mặt với những khó khăn chồng chất. Nền kinh tế của đất nước vốn đã nghèo nàn, lạc hậu, trong khi đó các thế lực thù địch câu kết với nhau dùng nhiều thủ đoạn thâm độc nhằm đánh đổ chính quyền nhân dân do Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân ta phải đánh đổi biết bao mồ hôi, xương máu mới giành được. Miền Nam, được sự yểm trợ của quân Anh, Thực dân Pháp xâm chiếm Sài Gòn, rồi sau đó các tỉnh Nam Bộ và Nam Trung Bộ. 7 Trong những ngày đầu giành được chính quyền và liên tiếp thời gian sau đó, để ổn định an ninh trật tự trong điều kiện chưa xây dựng được hệ thống luật pháp hình sự, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký lệnh ban hành hàng loạt các sắc lệnh nhằm giải quyết những vấn đề phát sinh trước mắt. Trong giai đoạn 1945-1954, Nhà nước ta đã ban hành các văn bản sau: - Sắc lệnh số 21/SL ngày 14/2/1946 trừng trị bọn phản cách mạng, bọn địa chủ cường hào ngoan cố; - Sắc lệnh số 26/SL ngày 25/2/1946 trừng trị tội phạm phá hoại công sản; - Sắc lệnh số 27/SL ngày 28/2/1946 trừng trị các tội phạm bắt cóc, tống tiền, ám sát; - Sắc lệnh số 40/SL ngày 29/3/2946 đảm bảo tự do cá nhân; - Sắc lệnh số 223/SL ngày 20/01/1953 trừng trị tội phạm xâm hại đến an toàn nhà nước; - Sắc lệnh 150/SL và Sắc lệnh số 151/SL ngày 12/4/1953 trừng trị địa chủ chống pháp luật… Ở giai đoạn này, LHS phải thực hiện nhiệm vụ chung là bảo vệ chính quyền nhân dân còn non trẻ, trừng trị bọn Việt Gian, phản động để phục vụ cuộc kháng chiến chống Pháp đi đến thắng lợi; trừng trị bọn địa chủ cường hào ngoan cố, các đối tượng hình sự lợi dụng xã hội nước ta còn chưa ổn định có hành vi gây phương hại đến chính quyền, tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, tài sản của nhân dân. Liên quan đến hành vi xâm phạm tính mạng con người có các sắc lệnh: Sắc lệnh số 27/SL ngày 28/2/1946 trừng trị tội bắt cóc, tống tiền, ám sát. Sắc lệnh này nhằm chống lại tình hình bọn "Việt Nam quốc dân Đảng" dùng các thủ đoạn bắt cóc, tống tiền, ám sát để chống phá cách mạng và Nhà nước ta. Về hình phạt đưa ra cũng khá nghiêm khắc: Những người phạm tội bắt cóc, tống tiền và ám sát sẽ bị phạt tù từ 2 năm đến 10 năm và có thể bị xử tử hình. 8 Như vậy, sau Cách mạng Tháng tám thành công, Nhà nước ta tuy còn rất non trẻ nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tích cực tiến hành hoạt động lập pháp hình sự. Và chỉ trong thời gian ngắn đã ban hành hàng loạt các văn bản quy phạm PLHS, đáp ứng yêu cầu giữ vững chính quyền nhân dân, góp phần xây dựng và phát triển lực lượng, chuẩn bị sẵn sàng bước vào cuộc kháng chiến lâu dài của cả nước. Bước vào thời kỳ toàn quốc kháng chiến, kể từ ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến (19-12-1946) đến ngày 20-71954, quân dân cả nước đã tiến hành cuộc kháng chiến ròng rã chín năm với nhiều đau thương mất mát và cuối cùng đã giành được thắng lợi: Đánh đuổi đế quốc Pháp ra khỏi đất nước, mở ra thời kỳ mới- Cách mạng XHCN ở Miền Bắc và Cách mạng dân tộc dân chủ ở Miền Nam. Nghiên cứu các văn bản quy phạm PLHS được ban hành trong thời kỳ này liên quan đến các tội xâm phạm tính mạng con người nói riêng và các qui định của LHS nói chung có một số đặc điểm như sau: - Về tội phạm, PLHS thời kỳ này chưa có quy phạm định nghĩa về tội phạm, mà chỉ quy định những tội phạm cụ thể và các biện pháp pháp lý hình sự áp dụng đối với chúng, nhằm phục vụ yêu cầu của cuộc kháng chiến. Chế định đồng phạm được ghi nhận ở nhiều văn bản quy phạm pháp luật hình sự, nhưng mới chỉ được xem xét ở một số khía cạnh nhất định, vẫn chưa có quy định về khái niệm đồng phạm. Phạm vi đồng phạm được quy định rộng, được hiểu với nghĩa là đồng thực hành. - Về hình phạt, các hình phạt được quy định trong thời kỳ này đã được chia làm hai loại: Hình phạt chính và hình phạt phụ. Các hình phạt chính bao gồm: Phạt tiền; tù có thời hạn; tù chung thân; tử hình. Các hình phạt phụ bao gồm: Tịch thu tài sản; tước quyền công dân; phạt tiền; quản thúc. Hình phạt tiền vừa là hình phạt chính vừa là hình phạt bổ sung. 9 Trong giai đoạn này, không có văn bản nào quy định riêng về tội giết người mà tội giết người chỉ được đề cập trong các văn bản quy định về một nhóm tội cần tập trung trấn áp để bảo vệ chính quyền, công sản và một số đối tượng đặc biệt nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phản đế, phản phong. Theo Điều 4, Mục 2, Sắc lệnh số 133-SL ngày 20/01/1953, trừng trị những tội xâm phạm an ninh đối nội và an toàn đối ngoại của Nhà nước quy định:“Kẻ nào phạm những tội vây quét, bắt, giết, tra tấn, khủng bố, hà hiếp cán bộ và nhân dân, áp bức, bóc lột, cướp phá nhân dân, bắt phu, bắt lính, thu thuế cho địch, sẽ tuỳ tội nặng nhẹ mà xử phạt như sau: Bọn chủ mưu, tổ chức, chỉ huy sẽ bị xử tử hình hoặc chung thân; …”; Điều 6 Sắc lệnh số 151-SL, ngày 12/4/1953, trừng trị địa chủ chống pháp luật quy định:“Địa chủ nào phạm một trong những tội sau đây: Cấu kết với đế quốc, ngụy quyền, gián điệp thành lập hay cầm đầu những tổ chức, những đảng phái phản động để chống Chính phủ, phá hoại kháng chiến, làm hại nhân dân, giết hại nông dân, cán bộ và nhân viên… thì sẽ bị phạt tù từ 10 năm đến chung thân hoặc xử tử hình…” Trong giai đoạn này, hành vi xâm phạm tính mạng của con người được quy định dưới nhiều hình thức khác nhau như: Ám sát, giết hại, cố ý giết người… Như Điều 1, Sắc lệnh số 27- SL, ngày 28/02/1946 trừng trị các tội bắt cóc, tống tiền và ám sát quy định: “Những người phạm tội bắt cóc, tống tiền, ám sát sẽ bị phạt từ 2 năm đến 10 năm tù và có thể bị xử tử”; Khoản 1, Điều 6 Sắc lệnh số 151-SL ngày 12/4/1953 trừng trị địa chủ chống pháp luật quy định địa chủ nào phạm một trong những tội sau đây thì sẽ bị phạt tù từ 10 năm đến chung thân hoặc xử tử hình: Cấu kết với đế quốc, ngụy quyền, gián điệp thành lập hay cầm đầu những tổ chức, những đảng phái phản động để chống Chính phủ, phá hoại kháng chiến, làm hại nhân dân, giết hại nông dân, cán bộ và nhân viên; Điểm 3 của Thông tư số 442-TTg ngày 19/01/1955 quy định: Cố ý giết người phạt tù từ 5 năm đến 20 năm, nếu có trường hợp nhẹ thì có thể hạ xuống đến 1 năm, giết người có dự mưu có thể phạt đến tử hình. 10 Quy định về tội giết người trong giai đoạn này đã có sự phân hóa TNHS cũng như trong đường lối xử lí người phạm tội giết người và thể hiện rõ nguyên tắc nghiêm trị người chủ mưu, cầm đầu, người hoạt động đắc lực, gây hậu quả nghiêm trọng…; khoan hồng đối với những người bị cưỡng bức, lừa gạt…Điều 4, Mục 2, Sắc lệnh số 133-SL ngày 20/01/1953 trừng trị những tội xâm phạm an ninh đối nội và an toàn đối ngoại của Nhà nước quy định: “Kẻ nào phạm những tội vây quét, bắt, giết, tra tấn, khủng bố, hà hiếp cán bộ và nhân dân, áp bức, bóc lột, cướp phá nhân dân, bắt phu, bắt lính, thu thuế cho địch, sẽ tùy tội nặng nhẹ mà xử phạt như sau: a) Bọn chủ mưu, tổ chức, chỉ huy sẽ bị xử tử hình hoặc chung thân; b) Bọn hoạt động đắc lực làm hại nhiều người sẽ bị phạt tù từ 10 năm trở lên; c) Những kẻ phạm các tội trên mà tội trạng tương đối nhẹ, sẽ bị phạt tù từ 10 năm trở xuống ; Điều 6 Sắc lệnh số 151-SL ngày 12/4/1953 trừng trị địa chủ chống pháp luật quy định: Những kẻ bị cưỡng bức hay bị lừa gạt mà phạm tội thì tùy tội nặng nhẹ, thái độ hối lỗi của họ mà sẽ bị phạt tù từ 10 năm trở xuống. Về đường lối xử lí, người phạm tội xâm phạm tính mạng con người mà tập trung ở tội giết người đã được mở rộng với nhiều loại và mức hình phạt có tính chất nghiêm khắc khác nhau. Như tại Điểm 3, Thông tư số 442-TTg ngày 19/01/1955 quy định: Cố ý giết người phạt tù từ 5 năm đến 20 năm, nếu có trường hợp nhẹ thì có thể hạ xuống đến 1 năm, giết người có dự mưu có thể phạt đến tử hình. Đối với hình phạt bổ sung, được quy định và áp dụng đối với người phạm tội giết người nhằm hỗ trợ cho hình phạt chính và mở thêm khả năng pháp lí cho toà án có thể lựa chọn hình phạt phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm và nhân thân người phạm tội. Điều 6 Sắc lệnh số 151-SL ngày 12/4/1953, trừng trị địa chủ chống pháp luật quy định: Địa chủ nào phạm một trong những tội sau đây: Cấu kết với đế quốc, ngụy quyền, gián điệp thành lập hay cầm đầu những tổ chức, những 11 đảng phái phản động để chống Chính phủ, phá hoại kháng chiến, làm hại nhân dân, giết hại nông dân, cán bộ và nhân viên;… thì sẽ bị phạt tù từ 10 năm đến chung thân hoặc xử tử hình, phải bồi thường thiệt hại cho nông dân, bị tịch thu một phần hay tất cả tài sản. * Thời kỳ 1954-1975: Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Hiệp định Giơnevơ được ký kết, miền Bắc hoàn toàn được giải phóng, miền Nam bị đế quốc Mỹ và bọn tay sai thống trị. Miền Bắc tiến hành cách mạng XHCN, quyết tâm phát triển đi lên để trở thành hậu phương vững chắc cho cách mạng cả nước, đặc biệt là hỗ trợ miền Nam tiến hành cách mạng dân tộc, dân chủ đánh đổ đế quốc Mỹ và tay sai, thực hiện mục tiêu giành lại độc lập tự do, thống nhất nước nhà. Nghiên cứu PLHS nước ta trong thời kỳ này cho thấy có nhiều tiến bộ thể hiện ở một số đặc điểm chung như sau: Về tội phạm, đối với trẻ em có sự khoan hồng, chiếu cố; dưới 14 tuổi thì không đưa ra Tòa án xét xử; từ 14 tuổi đến 18 tuổi, nếu trường hợp phạm pháp cần thiết phải đưa ra xét xử thì có châm chước; riêng đối với người phạm tội từ 14 tuổi đến 16 tuổi thì chỉ xét xử trong những trường hợp phạm tội nghiêm trọng. Quy định tiến bộ này tiếp tục được ghi nhận trong BLHS năm 1985 và BLHS năm 1999 sau này. Về khái niệm lỗi, tuy chưa được chính thức ghi nhận trong các văn bản quy phạm pháp luật hình sự nhưng trong các văn bản của ngành Tòa án đã có sự phân biệt giữa các hình thức lỗi: Cố ý trực tiếp, cố ý gián tiếp, vô ý vì quá tự tin và vô ý vì cẩu thả. Về lỗi cố ý, từ thực tiễn xét xử loại tội giết người đã đưa ra khái niệm lỗi cố ý trực tiếp và lỗi cố ý gián tiếp. Theo đó, trong tội giết người có hai hình thức lỗi là cố ý- có sự cố ý trực tiếp khi can phạm thấy rõ rằng hành động của mình sẽ có hậu quả làm chết người khác, và chính vì mong muốn cho hậu quả đó xảy ra nên đã có hành vi. Lỗi cố ý gián tiếp: Can 12 phạm không mong muốn nạn nhân chết, nhưng biết rằng hành vi của mình có nhiều khả năng làm nạn nhân chết mà vẫn cứ làm và không trông mong vào một điều kiện cụ thể nào có thể ngăn chặn cho hậu quả đó đừng xảy ra. Ý thức chủ quan của can phạm là ý thức mặc kệ không quan tâm đến việc nạn nhân sống hay chết. Về lỗi vô ý được đề cập đến các hành vi: “Thiếu tinh thần trách nhiệm vi phạm quy tắc lao động, gây thiệt hại nghiêm trọng về người và tài sản”. Định nghĩa pháp lý về các giai đoạn thực hiện tội phạm chưa được ghi nhận chính thức trong các văn bản quy phạm PLHS thời kỳ này, nhưng trong các văn bản của ngành Tòa án cũng đã đề cập các giai đoạn: Âm mưu phạm tội; Chuẩn bị phạm tội; Phạm tội chưa đạt; Tội phạm hoàn thành. Xuất phát từ việc phòng chống tội phạm phản cách mạng – là nhóm tội rất nghiêm trọng cần phải trấn áp ngay từ khi kẻ phạm tội bắt đầu biểu hiện ý nghĩ phản cách mạng nên hình thành khái niệm về “âm mưu phạm tội” - là giai đoạn đầu của việc tiến hành các tội phản cách mạng. Các văn bản quy phạm PLHS thời kỳ này đối với tội xâm phạm tính mạng con người (giết người) đã đề cập đến khái niệm chuẩn bị phạm tội. Theo Bản tổng kết số 452-HS2 ngày 10-8-1970 của TANDTC: Muốn gọi là có dự mưu, việc chuẩn bị kế hoạch giết người của can phạm phải được suy nghĩ tương đối kỹ càng trước khi bước vào hành động. Tương tự như giai đoạn chuẩn bị phạm tội, giai đoạn phạm tội chưa đạt và tội phạm hoàn thành cũng chỉ được đề cập đối với tội giết người trong văn bản trên: Tội giết người hoàn thành khi người bị nạn chết. Đối với trường hợp giết người, nhưng không chết, nên thống nhất gọi là giết người chưa đạt; trong trường hợp này tuy giết người chưa đạt, nạn nhân không chết, nhưng can phạm cho là đã làm hết mọi việc cần thiết để giết người và tưởng nạn nhân đã chết. Cùng với sự phát triển của khoa học LHS, khái niệm đồng phạm đã bắt 13
- Xem thêm -