Tài liệu Các tội vô ý làm chết người theo luật hình sự việt nam và thực tiễn xét xử ở nước ta hiện nay luận văn ths. luật

  • Số trang: 118 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 195 |
  • Lượt tải: 1
tailieuonline

Đã đăng 39837 tài liệu

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT HÀ HỒNG SƠN CÁC TỘI VÔ Ý LÀM CHẾT NGƯỜI THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VÀ THỰC TIỄN XÉT XỬ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC HÀ NỘI - 2011 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT HÀ HỒNG SƠN CÁC TỘI VÔ Ý LÀM CHẾT NGƯỜI THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VÀ THỰC TIỄN XÉT XỬ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY Chuyên ngành : Luật hình sự Mã số : 60 38 40 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Người hướng dẫn khoa học: TS. Trịnh Tiến Việt HẢ NỘI - 2011 MỤC LỤC Trang TRANG PHỤ BÌA Lời cam đoan MỤC LỤC Danh mục các bảng MỞ ĐẦU Chương 1: 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÁC TỘI VÔ Ý LÀM 8 CHẾT NGƯỜI THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM Khái niệm lỗi vô ý và cơ sở lý luận của việc quy định các tội phạm được thực hiện dưới hình thức lỗi vô ý theo luật hình sự Việt Nam 8 1.1.1. Khái niệm và cơ sở lý luận của lỗi theo luật hình sự Việt Nam 8 1.1.2. Khái niệm lỗi vô ý và cơ sở lý luận của việc quy định các tội phạm được thực hiện dưới hình thức lỗi vô ý theo luật hình sự Việt Nam 11 1.2. 15 1.1. Khái niệm tội vô ý làm chết người, tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính và phân biệt các tội phạm này với một số tội phạm khác theo luật hình sự Việt Nam 1.2.1. Khái niệm tội vô ý làm chết người 15 1.2.2. Khái niệm tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính 18 1.2.3. Phân biệt các tội vô ý làm chết người với một số tội phạm khác theo luật hình sự Việt Nam 20 1.3. 23 Khái quát lịch sử hình thành và phát triển của luật hình sự Việt Nam từ thời kỳ phong kiến đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1999 về các tội vô ý làm chết người 1.3.1. Giai đoạn từ thời kỳ phong kiến Việt Nam đến trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 23 1.3.2. Giai đoạn từ khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công cho đến trước pháp điển hóa lần thứ nhất - Bộ luật hình sự năm 1985 27 1.3.3. Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 đến trước pháp điển hóa lần thứ hai - Bộ luật hình sự năm 1999 30 Các tội vô ý làm chết người theo QUY Định Của Bộ Luật 33 Chương 2: Hình Sự việt nam NĂM 1999 và thực tiễn xét xử ở nước ta hiện nay 2.1. Các tội vô ý làm chết người theo quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 33 2.1.1. Những dấu hiệu pháp lý hình sự của tội vô ý làm chết người 34 2.1.2. Những dấu hiệu pháp lý hình sự của tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính 37 2.2. Thực tiễn xét xử các tội vô ý làm chết người ở nước ta hiện nay 39 2.2.1. Tình hình xét xử tội vô ý làm chết người 39 2.2.2. Tình hình xét xử tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính 46 Chương 3: hoàn thiện pháp luật và một số giải pháp nâng cao hiệu quả 74 áp dụng những quy định của bộ luật hình sự năm 1999 về các tội vô ý làm chết người 3.1. Sự cần thiết và ý nghĩa của việc hoàn thiện pháp luật những quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 về các tội vô ý làm chết người 74 3.1.1. Sự cần thiết của việc hoàn thiện pháp luật những quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 về các tội vô ý làm chết người 74 3.1.2. ý nghĩa của việc hoàn thiện pháp luật những quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 về các tội vô ý làm chết người 75 3.2. Hoàn thiện những quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 về các tội vô ý làm chết người 75 3.2.1. Nhận xét chung 75 3.2.2. Một số nội dung sửa đổi, bổ sung cụ thể 76 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng những quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 về các tội vô ý làm chết người 80 3.3.1. Tăng cường công tác xây dựng pháp luật, đồng thời hướng dẫn, giải thích những quy định của của Bộ luật hình sự liên quan đến các tội vô ý làm chết người 80 3.3.2. Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật trong nhân dân các văn bản pháp luật khác liên quan đến các hành vi có thể dẫn tới hậu quả chết người 86 3.3.3. Nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ tư pháp, tăng cường phối hợp giữa các chủ thể phòng ngừa tội phạm trong công tác đấu tranh phòng, chống các tội vô ý làm chết người 97 3.3. Kết luận 100 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 102 DANH MỤC CÁC BẢNG Số hiệu bảng Tên bảng Trang 2.1 Tổng số vụ, số bị cáo phải xét xử và tổng số vụ, bị cáo về tội vô ý làm chết người phải giải quyết trên toàn quốc từ năm 2005-2010 40 2.2 Tổng số vụ, số bị cáo đã bị Tòa án xét xử về tội vô ý làm chết người từ năm 2005 đến năm 2010 41 2.3 Phân tích chế tài theo quyết định của Tòa án 42 2.4 Đặc điểm về nhân thân của các bị cáo bị xét xử về tội vô ý làm chết người 43 2.5 Tổng số vụ án, bị cáo do Tòa án xét xử về tội vô ý làm chết người trong tương quan với các tội xâm phạm tính mạng của con người (các tội từ Điều 93 đến Điều 103 Bộ luật hình sự) 44 2.6 Tổng số vụ án, bị cáo do Tòa án xét xử về tội vô ý làm chết người trong tương quan với các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng (các tội từ Điều 202 đến Điều 256 Bộ luật hình sự) 45 2.7 Tổng số vụ, số bị cáo và tổng số vụ, bị cáo về tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính phải giải quyết trên địa bàn toàn quốc trong thời gian từ năm 2005-2010 47 2.8 Tổng số vụ, số bị cáo bị Tòa án xét xử về tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính 48 2.9 Phân tích chế tài theo quyết định của Tòa án đối với tội 49 1 vô ý làm chết người 2.10 Đặc điểm về nhân thân của các bị cáo bị xét xử về tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính 50 2.11 Tổng số vụ án, bị cáo do Tòa án xét xử về tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính trong tương quan với các tội xâm phạm tính mạng của con người (Các tội từ Điều 93 đến Điều 103 Bộ luật hình sự) 51 2.12 Tổng số vụ án, bị cáo do Tòa án xét xử về tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính trong tương quan với các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng (Các tội từ Điều 202 đến Điều 256 Bộ luật hình sự) 52 2.13 Số bị cáo do Tòa án xét xử từ năm 2005-2010 (thống kê cấp tỉnh + quận/huyện) về tội giết người, tội vô ý làm chết người, tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính, tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vi phạm quy tắc nghề nghiệp, tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ và tội vi phạm quy định về an toàn lao động 54 2.14 Những loại tội phạm chính qua nghiên cứu ngẫu nhiên 175 bản án hình sự sơ thẩm của các Tòa án nhân dân cấp tỉnh trên địa bàn cả nước đã xét xử từ ngày 01-01-2010 đến ngày 31-12-2010 57 2 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu Trong cuộc sống của con người thì những lợi ích về nhân thân (tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm) có ý nghĩa quan trọng nhất. Chính vì vậy mà Tuyên ngôn thế giới về quyền con người ngày 10-12-1948 của Đại Hội đồng Liên hợp quốc đã tuyên bố: "Mọi người đều có quyền sống và quyền an toàn về cá nhân". Như vậy, quyền sống là quyền trước tiên và quan trọng nhất của con người. Mọi hành vi xâm phạm quyền sống của con người đều bị coi là hành vi phạm tội nghiêm trọng nhất và phải bị nghiêm trị theo quy định của pháp luật. Việt Nam đã thừa nhận và cam kết thực hiện tốt nhất các quyền ấy. Lần lượt các bản Hiến pháp của nước ta (1946, 1959, 1980, 1992) đều thể hiện tinh thần đó. Điều 71 Hiến pháp hiện hành quy định: "Mọi công dân đều có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm…" [20, tr. 144]. Trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng và Nhà nước, đất nước ta đã vượt qua nhiều khó khăn, thách thức và đạt được nhiều thành tựu rất quan trọng. Nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước định hướng xã hội chủ nghĩa được xây dựng, tiềm lực kinh tế, cơ sở vật chất kỹ thuật được tăng cường. Đời sống văn hóa, xã hội tiến bộ trên nhiều mặt, cuộc sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện; chương trình xóa đói, giảm nghèo được thực hiện đạt nhiều kết quả nổi bật. Song song với việc phát triển kinh tế - xã hội, Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm đến vấn đề bảo đảm quyền của công dân, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội được tôn trọng, đặc biệt là quyền sống. Nhà nước Việt Nam đặc biệt ưu tiên và đã có những nỗ lực cao nhất nhằm bảo đảm quyền sống cho mọi người dân, kể cả quyền sống của những người phạm tội, quyền này được pháp luật Việt Nam 3 bảo vệ. Mọi hành vi xâm phạm đến quyền được sống của con người (dù là với lỗi cố ý hay vô ý) đều bị coi là tội phạm và bị xử lý bằng pháp luật hình sự trên những cơ sở chung. Bộ luật hình sự Việt Nam đều đã quy định những hình phạt nghiêm khắc đối với các hành vi trực tiếp hoặc gián tiếp xâm phạm đến quyền sống của con người. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, do tác động của nhiều nguyên nhân, tình hình tội phạm nói chung và các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe nói riêng diễn ra tương đối nghiêm trọng và phức tạp. Các hành vi sử dụng điện để bảo vệ tài sản gây ra hậu quả có người bị điện giật chết vẫn xảy ra nhiều nơi trên phạm vi cả nước. Mặc dù đã được các cơ quan có trách nhiệm tuyên truyền, giáo dục về pháp luật, các Tòa án đã áp dụng các hình phạt nghiêm khắc đối với những người có hành vi phạm tội để đấu tranh, nhưng do sự thiếu hiểu biết của người dân nên trên thực tế, loại tội này vẫn tiếp tục xảy ra. Ngoài ra, trong quá trình xây dựng và cải tạo cơ sở hạ tầng, duy tu, sửa chữa, quản lý các công trình giao thông phục vụ cuộc sống, đã xảy ra việc một số người bị chết do rò rỉ điện tại các thiết bị điện công cộng, ngã xuống cống ngầm…nhưng do chưa có hướng dẫn của các cơ quan có thẩm quyền về các trường hợp này, nên chưa được giải quyết một cách triệt để. Thực tiễn xét xử cho thấy, việc đánh giá chứng cứ trong những vụ án này rất phức tạp; bởi lẽ, văn bản pháp luật để các Tòa án áp dụng trong việc xét xử đối với loại tội này chưa đầy đủ, rõ ràng. Tình trạng đó đã và đang gây nhiều khó khăn cho các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong công tác điều tra, truy tố và xét xử cũng như trong chủ động phòng và đấu tranh chống tội phạm, gây ảnh hưởng tới việc phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý nghiêm minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội; gây tổn hại tới lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa. Ở một chừng mực nhất định, do các quy định của luật hình sự Việt Nam về các tội vô ý làm chết người còn chưa cụ thể, rõ ràng, chưa bảo đảm 4 tính hệ thống, đồng bộ; đặc biệt là thiếu quy phạm định nghĩa và các quy định liên quan đến các yếu tố định tội danh và định khung hình phạt nên dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau, không thống nhất trong việc nhận thức các dấu hiệu pháp lý, việc định tội danh và đường lối xử lý đối với các tội phạm này. Có trường hợp không làm sáng tỏ được ranh giới giữa tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật khác, sự khác nhau giữa các tội vô ý làm chết người với một số tội phạm khác có cùng tính chất lỗi vô ý trong Bộ luật hình sự như: tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ (Điều 202), tội vi phạm quy định về duy tu, sửa chữa, quản lý các công trình giao thông (Điều 220), tội vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy (Điều 240), tội vi phạm quy định về an toàn vận hành công trình điện (Điều 241), tội vi phạm quy định về khám bệnh, chữa bệnh, sản xuất, pha chế thuốc, cấp phát thuốc, bán thuốc hoặc dịch vụ y tế khác (Điều 242); v.v... Do đó, để tiếp tục nghiên cứu một cách đầy đủ và sâu sắc hơn các vấn đề lý luận về cấu thành tội phạm này cũng như thực tiễn điều tra, truy tố và xét xử đối với các tội vô ý làm chết người từ đó đề xuất, kiến nghị tiếp tục hoàn thiện pháp luật hình sự; đồng thời qua đó nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm này, thì việc tác giả lựa chọn nghiên cứu đề tài: "Các tội vô ý làm chết người theo luật hình sự Việt Nam và thực tiễn xét xử ở nước ta hiện nay" làm luận văn thạc sĩ Luật học là cần thiết. 2. Tình hình nghiên cứu đề tài Dưới góc độ thực tiễn, Tòa án nhân dân tối cao đã có các văn bản hướng dẫn việc xử lý một số khía cạnh liên quan đến các tội này như Nghị quyết số 04/HĐTP ngày 29-11-1986 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định trong phần các tội phạm của Bộ luật hình sự năm 1985; Công văn số 81/2002/TANDTC ngày 10-6-2002 giải đáp các vấn đề nghiệp vụ. Tuy nhiên, những hướng dẫn trong các văn bản này mới chỉ đề cập tới từng trường hợp phạm tội cụ thể, những khái niệm của 5 hành vi phạm tội vô ý làm chết người nêu trong những hướng dẫn trên cũng chưa cụ thể, rõ ràng, gây khó khăn trong việc áp dụng trong thực tiễn, chưa đủ tác dụng để đấu tranh, phòng ngừa với loại tội phạm này. Dưới góc độ khoa học pháp lý, việc nghiên cứu các tội vô ý làm chết người đã được đề cập đến trong một số công trình nghiên cứu khoa học của các cơ sở đào tạo luật học như Trường Đại học Luật Hà Nội, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, Viện Nhà nước và Pháp luật thuộc Viện Khoa học xã hội Việt Nam và một số cơ sở đào tạo khác. Trong đó phải kể đến một số giáo trình, sách chuyên khảo hay những bài viết như: GS.TS Nguyễn Ngọc Hòa, Chương IV- Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm của con người, trong Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần các tội phạm), tập thể tác giả do TSKH.GS Lê Văn Cảm chủ biên, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2003; GS.TS Võ Khánh Vinh (chủ biên), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần các tội phạm), Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2003. Ngoài ra, các vấn đề lý luận và thực tiễn xét xử còn được nghiên cứu trong một số công trình nghiên cứu của ThS. Đinh Văn Quế như Bình luận khoa học Bộ luật hình sự năm 1999 - Phần chung, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 2000; Bình luận chuyên sâu Bộ luật hình sự, tập I, các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm của con người, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 2003; TS. Nguyễn Đức Mai, Phân biệt tội gây thương tích dẫn đến chết người với tội giết người và tội vô ý làm chết người, Tạp chí Tòa án nhân dân số 07/1998; PGS.TS Trần Văn Luyện, Những điểm mới cơ bản về các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người trong Bộ luật hình sự năm 1999, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 03/2001; TS. Đỗ Đức Hồng Hà, Phân biệt tội giết người với một số tội phạm khác xâm phạm tính mạng con người, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 02/2003. Bên cạnh đó, còn phải kể đến một số luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ Luật học chuyên ngành Tư pháp hình sự nghiên cứu các tội phạm xâm phạm tính mạng, sức khỏe 6 con người, nhưng chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập trực tiếp đến các tội vô ý làm chết người. Như vậy, các công trình nghiên cứu nêu trên đã phần nào làm sáng tỏ một số vấn đề về khái niệm, dấu hiệu pháp lý đặc trưng của cả nhóm tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người, trong đó có các tội vô ý làm chết người; nhưng dưới góc độ khoa học pháp lý, đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống các vấn đề lý luận và thực tiễn xét xử đối với các tội vô ý làm chết người ở cấp độ một luận văn thạc sĩ luật học. 3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 3.1. Đối tượng nghiên cứu Luận văn nghiên cứu và làm sáng tỏ những vấn đề lý luận, các dấu hiệu pháp lý, đường lối xử lý và thực tiễn xét xử đối với các tội vô ý làm chết người theo luật hình sự Việt Nam, qua đó đưa ra giải pháp hoàn thiện pháp luật và một số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng những quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 về các tội phạm này. 3.2. Phạm vi nghiên cứu Trong khuôn khổ của một luận văn thạc sĩ luật học, phạm vi nghiên cứu của luận văn tập trung vào các dấu hiệu pháp lý đặc trưng và những vấn đề liên quan đến việc định tội danh, thực tiễn xét xử đối với các tội vô ý làm chết người trong những năm gần đây với tư cách là hai tội phạm trong chương các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm của con người mà chưa có điều kiện nghiên cứu, phân tích. 4. Mục đích nghiên cứu của luận văn Luận văn nghiên cứu một cách tương đối có hệ thống về những vấn đề pháp lý cơ bản của các tội vô ý làm chết người theo luật hình sự Việt Nam 7 như: khái niệm, các dấu hiệu pháp lý, trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội; phân biệt các tội vô ý làm chết người với một số tội phạm khác trong Bộ luật hình sự; đồng thời đi sâu phân tích thực tiễn xét xử các tội vô ý làm chết người trong thời gian từ năm 2005-2010. Trên cơ sở đó, luận văn chỉ ra một số vướng mắc, tồn tại trong công tác xử lý, từ đó đề xuất một số kiến nghị, giải pháp hoàn thiện pháp luật và những giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam về xử lý các loại tội phạm này. 5. Cơ sở phƣơng pháp luận và các phƣơng pháp nghiên cứu 5.1. Cơ sở phương pháp luận Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và những chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước ta về đấu tranh phòng, chống tội phạm. 5.2. Các phương pháp nghiên cứu Trong quá trình nghiên cứu luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phân tích, tổng hợp và thống kê xã hội học; phương pháp so sánh, đối chiếu; phân tích quy phạm pháp luật, khảo sát thực tiễn; nghiên cứu, điều tra án điển hình… để phân tích và luận chứng các vấn đề khoa học cần nghiên cứu trong luận văn này. 6. Những đóng góp mới của luận văn 6.1. Về mặt lý luận Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần hoàn thiện lý luận về hành vi vô ý làm chết người trong khoa học luật hình sự Việt Nam; phân tích thông qua nghiên cứu số liệu thực tiễn xét xử sơ thẩm trên địa bàn toàn quốc từ năm 2005-2010 và các bản án hình sự cụ thể của một số Tòa án để đánh giá. Qua đó chỉ ra những mâu thuẫn, bất cập trong các quy định của pháp luật hiện hành; các sai sót trong quá trình áp dụng các quy định đó, cũng như đưa ra 8 nguyên nhân để tìm giải pháp khắc phục, đề xuất những giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự về các tội vô ý làm chết người ở khía cạnh lập pháp hình sự và việc áp dụng trong thực tiễn. 6.2. Về mặt thực tiễn Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo, nghiên cứu, học tập. Những đề xuất, kiến nghị của luận văn sẽ cung cấp những luận cứ khoa học phục vụ cho công tác lập pháp và hoạt động thực tiễn áp dụng Bộ luật hình sự Việt Nam liên quan đến các tội vô ý làm chết người, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống những tội này hiện nay và sắp tới. 7. Kết cấu của luận văn Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương: Chương 1: Những vấn đề chung về các tội vô ý làm chết người theo luật hình sự Việt Nam. Chương 2: Các tội vô ý làm chết người theo quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 và thực tiễn xét xử ở nước ta hiện nay. Chương 3: Hoàn thiện pháp luật và một số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng những quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 về các tội vô ý làm chết người. 9 Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÁC TỘI VÔ Ý LÀM CHẾT NGƢỜI THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1.1. KHÁI NIỆM LỖI VÔ Ý VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC QUY ĐỊNH CÁC TỘI PHẠM ĐƢỢC THỰC HIỆN DƢỚI HÌNH THỨC LỖI VÔ Ý THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1.1.1. Khái niệm và cơ sở lý luận của lỗi theo luật hình sự Việt Nam Nguyên tắc có lỗi là một trong những nguyên tắc cơ bản của luật hình sự Việt Nam. Có lỗi là cơ sở chủ quan để có thể buộc chủ thể phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi nguy hiểm cho xã hội của mình và về hậu quả nguy hiểm cho xã hội do hành vi đó gây ra. Dù hành vi của họ có gây hậu quả nguy hiểm cho xã hội, nhưng nếu họ không có lỗi thì không phải chịu trách nhiệm hình sự. Có thể nói, hành vi nguy hiểm cho xã hội chỉ bị coi là tội phạm khi được thực hiện một cách có lỗi. Lỗi là thái độ tâm lý của chủ thể đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội mà họ thực hiện và với hậu quả nguy hiểm cho xã hội do hành vi ấy gây ra thể hiện dưới hình thức lỗi cố ý hay vô ý. "Một người phải chịu trách nhiệm hình sự không chỉ vì họ đã có hành vi nguy hiểm cho xã hội, mà còn vì họ đã có lỗi trong việc thực hiện hành vi đó" [23, tr. 87]. Theo nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin thì mỗi hiện tượng trong thực tại khách quan đều được quy định bởi một hoặc nhiều hiện tượng khác nhau; sự tồn tại, thay đổi và phát triển của mọi hiện tượng đều chịu sự chi phối của những quy luật khách quan. Hoạt động của con người cũng chịu sự chi phối của những quy luật khách quan. Tuy vậy, nhờ hoạt động có ý thức, con người có khả năng nhận thức được quy luật và lợi dụng quy luật để thực hiện mục đích của mình, đó là sự tự do của con người. Con người có tự do đối với xử sự của mình có nghĩa là họ có tự do lựa chọn, quyết định và thực hiện xử sự. Tuy nhiên, con người chỉ có thể tự do thực sự khi xử sự của họ phù hợp với quy luật, nếu không 10 phù hợp với quy luật thì có nghĩa họ đã tự tước bỏ khả năng tự do của mình. Tự do và trách nhiệm là hai phương diện của một vấn đề, không thể có trách nhiệm mà không được tự do, cũng như không thể có tự do không liên quan gì đến trách nhiệm đối với người khác, đối với xã hội. Tự do không phải bẩm sinh con người có được mà gắn với quá trình hoạt động, lịch sử phát triển của loài người. Trách nhiệm được hiểu là khả năng của con người ý thức được những kết quả hoạt động của mình, đồng thời là khả năng thực hiện một cách tự giác những nghĩa vụ được đặt ra cho mình. Cũng như tự do, trách nhiệm của con người được quy định bởi những nhu cầu phát triển của đời sống con người. Trách nhiệm hình thành trong quá trình điều chỉnh lợi ích giữa cá nhân với cộng đồng và xã hội. Lợi ích của mỗi người chỉ có thể thực hiện được trong một tương quan nhất định với lợi ích của lợi ích của một xã hội nhất định. Trách nhiệm tồn tại dưới hai hình thức cơ bản là hình thái tích cực, tức là hình thái có trách nhiệm của con người và hình thái tiêu cực, tức là hình thái chịu trách nhiệm của con người. Dưới hình thái tích cực, trách nhiệm thể hiện ở những hoạt động nhằm duy trì, phát triển trật tự xã hội, pháp chế, đạo đức. Còn dưới hình thái tiêu cực, trách nhiệm phát sinh từ những lợi ích của xã hội và của con người bị vi phạm, khi không thực hiện đầy đủ trách nhiệm với xã hội thì người đó phải chịu trách nhiệm trước xã hội. Có thể nói, con người có trách nhiệm là con người thấy trước những hậu quả của hành động của mình, cố gắng ngăn chặn những tác hại có thể xảy ra đối với lợi ích của xã hội. Khi xã hội bảo đảm cho mỗi cá nhân được tự do thì cũng đòi hỏi cá nhân phải đáp ứng đòi hỏi của xã hội, đó là vấn đề trách nhiệm của cá nhân trong xã hội, trách nhiệm đó hoàn toàn phù hợp với tự do. Những đòi hỏi của xã hội nhằm thực hiện sự tiến bộ, sự phát triển của xã hội theo tất yếu khách quan, việc thực hiện những đòi hỏi của xã hội cũng chính là thực hiện sự tự 11 do. "Con người có tự do để thực hiện trách nhiệm và thực hiện đầy đủ trách nhiệm cũng là sự thực hiện tự do" [23, tr. 86]. Mặc dù con người trong xã hội có khả năng thực tế để tự do, nhưng trong xã hội vẫn có những xử sự không đúng, đó là những hành vi phạm tội, hành vi vi phạm pháp luật và những hành vi trái đạo đức. Đối với những hành vi như vậy xã hội và Nhà nước có quyền buộc họ phải chịu trách nhiệm, đó là hậu quả của việc không thực hiện đầy đủ những nghĩa vụ trên cơ sở quyền hạn của tự do. "Tự do là cơ sở của trách nhiệm và trách nhiệm chỉ đặt ra cho một người khi họ có tự do. Con người xử sự trái với lợi ích của Nhà nước, của xã hội thì có nghĩa họ là người có lỗi, trách nhiệm chỉ đặt ra khi có lỗi" [23, tr. 86]. Tự do, trách nhiệm là cơ sở lý luận của lỗi. Lỗi là một dấu hiệu của tất cả các cấu thành tội phạm, đòi hỏi phải được xác định trong mọi trường hợp khi áp dụng luật hình sự. Việc ghi nhận nguyên tắc có lỗi trong Luật hình sự chính là sự thừa nhận và tôn trọng tự do thực sự của con người. Xác định lỗi đúng là một điều kiện cần thiết định tội danh, nếu xác định lỗi sai thì sẽ dẫn đến định tội danh sai. Trong thực tiễn, việc xác định lỗi trong nhiều trường hợp rất phức tạp. Để có thể xác định lỗi một cách chính xác, đòi hỏi phải nắm vững những dấu hiệu về hình thức cấu trúc tâm lý của các loại lỗi đã được mô tả trong các điều luật của Bộ luật hình sự và hiểu rõ bản chất của lỗi nói chung cũng như mặt nội dung của từng loại. "Trên cơ sở nhận thức đầy đủ về lỗi và từng loại lỗi mới có thể có được phương pháp đúng trong việc xác định lỗi trong những trường hợp phạm tội cụ thể" [51, tr. 25]. Trong khoa học luật hình sự Việt Nam, tuy có nhiều cách thể hiện khác nhau, song về cơ bản các quan điểm đều thống nhất về nội hàm của chế định lỗi là nhằm xác định rõ lý trí và ý chí của người phạm tội đối với những biểu hiện bên ngoài của tội phạm. 12 Có quan điểm định nghĩa lỗi căn cứ vào mặt hình thức của lỗi như sau: "Lỗi là thái độ tâm lý của con người đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội của mình và đối với hậu quả do hành vi đó gây ra được biểu hiện dưới hình thức cố ý hoặc vô ý" [22, tr. 101]. Có quan điểm định nghĩa lỗi theo đặc điểm cấu trúc tâm lý, cụ thể là: "Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là có lỗi nếu khi thực hiện nhận thức được hoặc có đủ điều kiện để nhận thức được tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi và có đủ điều kiện lựa chọn, thực hiện hành vi khác phù hợp với đòi hỏi của xã hội" [23, tr. 91]. Có quan điểm cho rằng: Lỗi hình sự là mặt chủ quan của tội phạm và là một trong những điều kiện bắt buộc của trách nhiệm hình sự, đồng thời là thái độ tâm lý của người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm mà người đó thực hiện và hậu quả do hành vi ấy gây nên dưới hình thức cố ý hoặc vô ý [9, tr. 422]. Trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc những quan điểm khác nhau trên đây về lỗi và căn cứ vào các quy định về lỗi trong pháp luật hình sự Việt Nam, có thể đưa ra khái niệm về lỗi như sau: Lỗi là thái độ tâm lý của người phạm tội đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự quy định là tội phạm mà họ đã thực hiện dưới hình thức lỗi cố ý hoặc vô ý và đối với hậu quả do hành vi đó gây ra. Căn cứ vào các yếu tố lý trí và ý chí trong những trường hợp có lỗi, trong cả ba lĩnh vực thể hiện của luật hình sự Việt Nam (pháp luật hình sự thực định, lý luận và xét xử) bao gồm hai hình thức lỗi - cố ý và vô ý. Hình thức lỗi cố ý được phân chia thành hai hình thức là cố ý trực tiếp và cố ý gián tiếp. Hình thức lỗi vô ý được chia thành hai hình thức là vô ý phạm tội vì quá tự tin và vô ý phạm tội vì cẩu thả. 13 1.1.2. Khái niệm lỗi vô ý và cơ sở lý luận của việc quy định các tội phạm đƣợc thực hiện dƣới hình thức lỗi vô ý theo luật hình sự Việt Nam Theo Từ điển Tiếng Việt "vô ý" được hiểu là "không để ý đến" [56, tr. 1329]. Như vậy, phạm tội do lỗi vô ý được hiểu là người phạm tội do bất cẩn, không để ý các quy tắc, quy định của đời sống xã hội nên đã gây nên thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản... của người khác. "Lỗi vô ý là trường hợp người phạm tội thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội do không nhận thức được tính nguy hiểm cho xã hội của các hành vi đó. Nói cách khác, không giống như lỗi cố ý, ở trường hợp lỗi vô ý người phạm tội không lựa chọn hành vi phạm tội" [23, tr. 97]. Có thể nhận thấy lỗi vô ý có các dấu hiệu cơ bản, một là - người phạm tội không nhận thức được tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình khi quyết định thực hiện hành vi đó và hai là - người phạm tội có đủ điều kiện để nhận thức được vấn đề đó và có điều kiện lựa chọn, thực hiện hành vi phù hợp với yêu cầu của xã hội. Như vậy, họ đã thực hiện hành vi do không nhận thức đầy đủ tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi do họ thực hiện. Vì vậy, tội phạm do lỗi vô ý nói chung chỉ nguy hiểm khi gây ra hậu quả nghiêm trọng. Việc gây thiệt hại cho xã hội là một căn cứ xác định hành vi đã thực hiện có mức độ nguy hiểm đáng kể cho xã hội. Hành vi được thực hiện do lỗi vô ý có mức độ nguy hiểm thấp hơn hành vi phạm tội thực hiện do lỗi cố ý. Những trường hợp người phạm tội không nhận thức đầy đủ tính nguy hiểm cho xã hội (mặc dù có đủ điều kiện để nhận thức được) có thể xảy ra như sau: Thứ nhất, người phạm tội không nhận thức được tính chất thực tế của hành vi và do vậy không nhận thức được khả năng gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội của hành vi đó. 14 Thứ hai, người phạm tội tuy có khả năng nhận thức được tính chất thực tế của hành vi nhưng hoàn toàn không nhận thức được khả năng gây hậu quả nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình. Thứ ba, người phạm tội nhận thức được tính chất thực tế của hành vi, nhận thức được hậu quả xảy ra nhưng sau khi cân nhắc đã loại trừ khả năng đó khi lựa chọn hành vi. So với lỗi cố ý thì đây là điểm khác nhau cơ bản, vì trong trường hợp lỗi cố ý, người phạm tội đã chấp nhận khả năng hậu quả xảy ra khi lựa chọn và thực hiện hành vi. "Trong trường hợp lỗi vô ý, người phạm tội loại trừ khả năng đó và cho rằng hậu quả không xảy ra" [25, tr. 151]. Căn cứ vào việc người phạm tội không nhận thức được đầy đủ tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi trong những trường hợp có lỗi vô ý, khoa học luật hình sự phân lỗi vô ý thành hai hình thức là vô ý phạm tội vì cẩu thả và vô ý phạm tội vì quá tự tin. Với cách phân chia này, lỗi vô ý phạm tội vì cẩu thả bao gồm những trường hợp người phạm tội không nhận thức được đầy đủ tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi (không thấy trước hậu quả). Trường hợp không nhận thức được đầy đủ tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi, tuy nhận thức được khả năng hậu quả xảy ra nhưng đã tự loại trừ khả năng đó thuộc hình thức lỗi vô ý phạm tội vì quá tự tin. Trong thực tiễn cuộc sống, hành vi phạm tội do lỗi vô ý thường được biểu hiện dưới các hình thức như: thiếu tinh thần trách nhiệm trong công tác chuyên môn nghiệp vụ; thiếu kỷ luật trong khi thực hiện nhiệm vụ được giao; thái độ bất cẩn trong quá trình thực hiện nhiệm vụ; không quan tâm đến tính mạng và lợi ích của những người xung quanh; làm những công việc không phù hợp với năng lực chuyên môn của bản thân; thiếu kinh nghiệm và không được chuẩn bị chu đáo về chuyên môn nghiệp vụ. Các lĩnh vực thường xảy ra tội phạm do lỗi vô ý là các tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông, vi phạm quy định về phòng cháy và chữa cháy; vi phạm quy định về bảo đảm an toàn trong sử dụng điện, xây dựng, lao động, vệ sinh an toàn thực 15
- Xem thêm -