Tài liệu Các tội phạm về hối lộ theo luật hình sự việt nam và công ước quốc tế của liên hiệp quốc về chống tham nhũng luận văn ths. luật

  • Số trang: 131 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 148 |
  • Lượt tải: 2
tailieuonline

Đã đăng 39907 tài liệu

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT VŨ VIỆT TƢỜNG C¸C TéI PH¹M VÒ HèI Lé THEO LUËT H×NH Sù VIÖT NAM Vµ C¤NG ¦íC QUèC TÕ CñA LI£N HIÖP QUèC VÒ CHèNG THAM NHòNG Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự Mã số: 60 38 01 04 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. TRỊNH TIẾN VIỆT HÀ NỘI - 2014 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội. Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn. Tôi xin chân thành cảm ơn! NGƯỜI CAM ĐOAN Vũ Việt Tƣờng MỤC LỤC Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục Danh mục chữ viết tắt Danh mục bảng biểu Danh mục biểu đồ MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1 Chƣơng 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÁC TỘI PHẠM VỀ HỐI LỘ ........................................................................................ 10 1.1. Nhận thức về các tội phạm về hối lộ ................................................ 10 1.1.1. Khái niệm các tội phạm về hối lộ ........................................................ 11 1.1.2. Khái niệm người có chức vụ, quyền hạn và lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội ......................................................................... 16 1.1.3. Nguyên nhân của các tội phạm về hối lộ............................................. 20 1.2. Các hình thức hối lộ phổ biến ........................................................... 26 1.2.1. Phân loại .............................................................................................. 26 1.2.2 Tiếp cận các hình thức hối lộ theo luật hình sự Việt Nam ............. 27 1.3. Khái quát sự hình thành và phát triển của luật hình sự Việt Nam về các tội phạm về hối lộ từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay ........................................................ 29 1.3.1. Giai đoạn từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến pháp điển hóa lần thứ nhất - Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1985 ...................... 30 1.3.2. Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1985 đến khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1999 ....................................... 32 1.3.3. Giai đoạn từ khi tham gia Công ước quốc tế của Liên Hiệp quốc về chống tham nhũng đến nay ............................................................. 34 Chƣơng 2: CÁC TỘI PHẠM VỀ HỐI LỘ THEO BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VÀ CÔNG ƢỚC QUỐC TẾ CỦA LIÊN HIỆP QUỐC VỀ CHỐNG THAM NHŨNG - NHỮNG SO SÁNH, ĐÁNH GIÁ ............................................................................ 38 2.1. Các tội phạm về hối lộ theo Bộ luật hình sự Việt Nam .................. 38 2.2. Các tội phạm về hối lộ theo Công ƣớc quốc tế của Liên Hiệp quốc về chống tham nhũng ............................................................... 52 2.3. So sánh, đánh giá những điểm tƣơng đồng và khác biệt giữa các tội phạm về hối lộ theo Bộ luật hình sự Việt Nam và Công ƣớc quốc tế của Liên Hiệp quốc về chống tham nhũng ................. 63 2.3.1. So sánh, đánh giá những điểm tương đồng ......................................... 64 2.3.2. So sánh, đánh giá những điểm khác biệt ............................................. 66 Chƣơng 3: THỰC TIỄN XÉT XỬ VÀ NHỮNG KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN CÁC TỘI PHẠM VỀ HỐI LỘ TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM TRÊN CƠ SỞ TIẾP THU CÔNG ƢỚC QUỐC TẾ CỦA LIÊN HIỆP QUỐC VỀ CHỐNG THAM NHŨNG .................. 71 3.1. Tình hình xét xử các tội phạm về hối lộ ở Việt Nam và ở một số nƣớc trên thế giới .......................................................................... 71 3.1.1. Tình hình xét xử các tội phạm về hối lộ ở Việt Nam .......................... 71 3.1.2. Thực trạng hối lộ phản ánh qua các báo cáo quốc tế ............................ 89 3.2. Sự cần thiết của việc hoàn thiện các tội phạm về hối lộ trong Bộ luật hình sự Việt Nam trên cơ sở tiếp thu Công ƣớc quốc tế của Liên Hiệp quốc về chống tham nhũng ................................ 104 3.2.1. Về phương diện chính trị - pháp lý.................................................... 104 3.2.2. Về phương diện lý luận - thực tiễn .................................................... 105 3.2.3. Về phương diện xã hội và vấn đề nội luật hóa .................................. 106 3.3. Những kiến nghị hoàn thiện các tội phạm về hối lộ trong Bộ luật hình sự Việt Nam trên cơ sở tiếp thu Công ƣớc quốc tế của Liên Hiệp quốc về chống tham nhũng .................................... 106 3.3.1. Nhận xét chung .................................................................................. 106 3.3.2. Một số điểm cần nghiên cứu ............................................................. 108 3.3.3. Những đề xuất cụ thể ......................................................................... 110 KẾT LUẬN .................................................................................................. 115 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................... 117 DANH MỤC BẢNG BIỂU Bảng 3.1. Số liệu thống kê tình hình xét xử các tội hối lộ của Tòa án 2005-2012 .................................................................................... 72 Bảng 3.2. Bảng xếp hạng hối lộ của Tổ chức Minh bạch Quốc tế (TI) với 28 quốc gia và vùng lãnh thổ được chọn để khảo sát ............ 94 DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 3.1. Tình hình chung các tội phạm về hối lộ từ 2005- 2012 .......... 73 Biểu đồ 3.2. Tình hình tội phạm về nhận hối lộ, đưa hối lộ và làm môi giới hối lộ năm 2005 ................................................................ 73 Biểu đồ 3.3. Tình hình tội phạm về nhận hối lộ, đưa hối lộ và làm môi giới hối lộ năm 2006 ................................................................ 74 Biểu đồ 3.4. Tình hình tội phạm về nhận hối lộ, đưa hối lộ và làm môi giới hối lộ năm 2007 ................................................................ 74 Biểu đồ 3.5. Tình hình tội phạm về nhận hối lộ, đưa hối lộ và làm môi giới hối lộ năm 2008 ................................................................ 75 Biểu đồ 3.6. Tình hình tội phạm về nhận hối lộ, đưa hối lộ và làm môi giới hối lộ năm 2009 ................................................................ 75 Biểu đồ 3.7. Tình hình tội phạm về nhận hối lộ, đưa hối lộ và làm môi giới hối lộ năm 2010 ................................................................ 76 Biểu đồ 3.8. Tình hình tội phạm về nhận hối lộ, đưa hối lộ và làm môi giới hối lộ năm 2011 ................................................................ 76 Biểu đồ 3.9. Tình hình tội phạm về nhận hối lộ, đưa hối lộ và làm môi giới hối lộ năm 2012 ................................................................ 77 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài Công cuộc đổi mới và phát triển toàn diện đất nước do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo đã thu được nhiều thành công rực rỡ trên các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội, an ninh quốc phòng... Trong xu thế quốc tế hóa, Việt Nam đã và đang hội nhập sâu rộng với các nước trong khu vực và trên thế giới, có những bước tiến vững chắc trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; vị thế của Việt Nam trên trường quốc quốc tế ngày càng được củng cố và nâng cao; đời sống của nhân dân ngày càng được cải thiện, thu nhập bình quân trên đầu người liên tục tăng... Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, một trở lực của quá trình phát triển mà Đảng, Nhà nước đặc biệt quan tâm và quyết tâm ngăn chặn, đẩy lùi đó chính là nạn tham nhũng, hối lộ. Hiện tượng này đang diễn ra phổ biến, len lỏi vào tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, gây ảnh hưởng trực tiếp tới niềm tin của nhân dân vào các cơ quan công quyền, vào chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật và hiệu quả quản lý của Nhà nước, ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng và hiệu quả hoạt động đối ngoại và hợp tác quốc tế của Việt Nam... Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm nhận thấy mối họa lớn từ nạn tham nhũng, hối lộ, Người coi tham ô, lãng phí, hối lộ là “nạn nội xâm”, là thứ giặc ở trong lòng. Từ nhiều năm nay, Đảng và Nhà nước ta luôn coi cuộc đấu tranh chống tham nhũng, hối lộ là một nhiệm vụ nóng bỏng, cấp bách, có ý nghĩa sống còn. Quốc hội đã ra Nghị quyết chống tham nhũng từ những năm 1990; sau đó là quy định của Bộ luật hình sự về các tội tham nhũng, hối lộ; Pháp lệnh chống tham nhũng; Luật Giám sát, Luật Khiếu nại, tố cáo, Pháp lệnh Cán bộ, công chức; thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng;v.v... khẳng định sự cần thiết việc ngăn chặn và diệt trừ 1 tham nhũng, hối lộ. Khi nói về sự nguy hiểm của loại tội phạm này, Lênin đã từng nhận định: … Nếu còn có một hiện tượng như nạn hối lộ, nếu còn có thể hối lộ được thì cũng không nói đến chính trị được. Trong trường hợp này cũng không nói đến làm chính trị được, vì mọi biện pháp đều sẽ lơ lửng trên không trung, sẽ hoàn toàn không mang lại kết quả gì cả. Một đạo luật chỉ có thể mang lại kết quả xấu hơn nếu trên thực tế nó được đem áp dụng trong điều kiện nạn hối lộ còn được dung thứ và đang thịnh hành… [89; tr.218]. Tội phạm về hối lộ được hình thành, nuôi dưỡng và ngày càng phát triển bởi các nguyên nhân về kinh tế - xã hội, tâm lý xã hội, cơ chế quản lý, công tác tổ chức cán bộ và trong chính sách, thực tế xử lý các đối tượng phạm tội của các cơ quan bảo vệ pháp luật… Bên cạnh đó, nền kinh tế thị trường đã trực tiếp tác động đến đại bộ phận các tầng lớp trong xã hội cả về vật chất lẫn tinh thần, làm nảy sinh và phát triển tư tưởng thực dụng, làm chuẩn mực giá trị xã hội thay đổi. Nền kinh tế thị trường nhiều thành phần tạo thuận lợi cho việc phát triển nền kinh tế - xã hội, nhưng cũng làm nảy sinh nhiều tiêu cực; một bộ phận cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất, xa rời mục tiêu, lý tưởng cách mạng, bỏ quên lợi ích cộng đồng, chỉ lo thu vén cá nhân, bằng mọi thủ đoạn để “kiếm lợi”, đã tạo một tiền lệ xấu trong cán bộ các cơ quan, tổ chức, là nguyên nhân và điều kiện cho nạn hối lộ lộng hành. Ngoài ra, trong giai đoạn hiện nay, các cơ quan bảo vệ pháp luật còn gặp rất nhiều khó khăn, vướng mắc trong việc xây dựng và áp dụng các biện pháp để đấu tranh phòng, chống tội phạm về hối lộ, cơ sở vật chất còn hạn chế, sự phối hợp giữa các cơ quan bảo vệ pháp luật trong đấu tranh chống tham nhũng, hối lộ còn chưa toàn diện và triệt để, hiệu quả chưa cao; tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm, đấu tranh với loại tội phạm này còn diễn ra phổ biến trong xã hội. Một 2 số quy định của pháp luật về vấn đề này còn chung chung, khó giải thích, khó áp dụng; loại tội phạm này có đặc điểm tinh vi, chủ thể thực hiện tội phạm có điều kiện cản trở hoạt động điều tra... nhưng chưa được tổng kết để bổ sung, chỉnh sửa kịp thời các quy định của pháp luật. Vì vậy, việc nghiên cứu toàn diện và làm rõ hơn nữa những quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về các vấn đề có liên quan đến các tội phạm về hối lộ có một ý nghĩa quan trọng không chỉ về mặt nhận thức mà còn giúp các cơ quan tiến hành tố tụng có cơ sở pháp lý để phòng ngừa và đấu tranh với các hành vi phạm tội do người có chức vụ thực hiện. “Hối lộ” có thể được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau, có thể là một hành vi vi phạm pháp luật, một tệ nạn xã hội, một hiện tượng tiêu cực trong xã hội hay tàn dư của chế độ cũ hoặc thậm chí là một loại hành vi tham nhũng... [85; tr.3]. Dưới góc độ khoa học luật hình sự Việt Nam, “hối lộ” được hiểu thống nhất bao gồm ba loại hành vi phạm tội tương ứng với ba tội hối lộ cụ thể - Tội nhận hối lộ, tội đưa hối lộ và tội làm môi giới hối lộ. Do đó, việc tìm hiểu, nghiên cứu so sánh các quy định về các tội phạm về hối lộ quy định trong Bộ luật hình sự năm 1999, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009 với những quy định tương ứng trong Công ước quốc tế của Liên Hiệp quốc về chống tham nhũng để tiếp tục hoàn thiện Bộ luật Hình sự Việt Nam về ba tội phạm này cho tương thích với Công ước quốc tế có ý nghĩa chính trị - pháp lý và xã hội quan trọng, đáp ứng kịp thời quá trình hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa, cũng như nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm về chức vụ nói chung, các tội phạm về hối lộ nói riêng trong giai đoạn cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền hiện nay. Đặc biệt, tiểu mục 3.5 tiểu mục 3 Phần IV - Định hướng cơ bản sửa đổi Bộ luật hình sự trong Đề cương định hướng sửa đổi, bổ sung Bộ luật hình sự số 7724/ĐC-BSTBLHS (SĐ) ngày 24/9/2012 quy định: 3 Sửa đổi, bổ sung các quy định của Bộ luật hình sự về các tội phạm về chức vụ, các tội xâm phạm hoạt động tư pháp, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước nói chung cũng như các cơ quan điều tra, kiểm sát, xét xử, thi hành án nói riêng trong việc bảo vệ quyền lợi của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân. Đối với các tội phạm về tham nhũng, cần sửa đổi Bộ luật hình sự theo hướng tăng hình thức phạt tiền, miễn hoặc giảm hình phạt khác đối với những đối tượng có hành vi tham nhũng nhưng đã chủ động khai báo, khắc phục hậu quả theo tinh thần Kết luận số 21-KL/TƯ của Hội nghị Trung ương 5 (khóa XI), đồng thời, đáp ứng yêu cầu của Công ước chống tham nhũng mà nước ta là thành viên, nhất là vấn đề tham nhũng trong lĩnh vực tư... [10]. Do đó, việc thống kê các nhóm tội phạm, các loại tội phạm cụ thể có yếu tố lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội, cũng như nghiên cứu các tội phạm về hối lộ trong Bộ luật hình sự Việt Nam và so sánh với Công ước quốc tế của Liên Hiệp quốc về chống tham nhũng là rất cần thiết cả về mặt lập pháp cũng như áp dụng pháp luật, tránh được những sai lầm trong việc xác định tội danh và quyết định hình phạt đối với người phạm tội. Ngoài ra, việc nghiên cứu các tội hối lộ còn có ý nghĩa vô cùng quan trọng, giúp chúng ta xây dựng được các biện pháp hữu hiệu để đấu tranh phòng, chống có hiệu quả đối với loại tội phạm nguy hiểm này. Trên cơ sở này, chúng tôi quyết định lựa chọn đề tài: “Các tội phạm về hối lộ theo luật hình sự Việt Nam và Công ước quốc tế của Liên Hiệp quốc về chống tham nhũng” làm luận văn thạc sĩ luật học của mình. 2. Tình hình nghiên cứu của đề tài Qua tìm hiểu, nghiên cứu cho thấy, ở các mức độ trực tiếp và gián 4 tiếp khác nhau đã có một số công trình đề cập đến đề tài các tội phạm về hối lộ, như: * Dưới góc độ sách chuyên khảo, giáo trình: 1) GS.TSKH. Lê Văn Cảm (Chủ biên), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần các tội phạm), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2003 (Chương Các tội phạm về chức vụ); 2) GS.TS. Nguyễn Ngọc Hòa (Chủ biên), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, Tập II, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2010 (Chương Các tội phạm về chức vụ); 3) GS.TS. Võ Khánh Vinh (Chủ biên), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần các tội phạm), Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2003 (Chương Các tội phạm về chức vụ); 4) GS.TS. Võ Khánh Vinh, Tìm hiểu trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về chức vụ, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1996; 5) GS.TSKH. Phan Xuân Sơn, TS. Phạm Thế Lực (Đồng chủ biên), Nhận diện tham nhũng và các giải pháp phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2008; 6) Nguyễn Văn Kim, Nguyễn Huy Hoàng (Chủ biên), Pháp luật chống tham nhũng của các nước trên thế giới, Nxb Văn hóa Dân tộc, 2003; 7) ThS. Đinh Văn Quế, Bình luận khoa học Bộ luật hình sự - Phần các tội phạm, Tập V - Các tội phạm về chức vụ, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 2006; v.v... * Dưới góc độ luận án tiến sỹ, luận văn thạc sỹ luật học: 1) Đào Lệ Thu, Các tội phạm về hối lộ theo luật hình sự Việt Nam trong sự so sánh với luật hình sự Thụy Điển và Ôt-xtrây-lia, Luận án tiến sỹ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2011; 2) Nguyễn Thu Huyền, Tội nhận hối lộ trong luật hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sỹ luật học, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2006. * Một số sách báo pháp lý quốc tế: 1) Reisman, W. M. Folded lies Bribery, Crusades, and Reforms, New York: The Free Press - A Division of Macmillan Publishing Co., Inc, 1979; 2) Andersson. S., Corruption in 5 Sweden - Exploring Danger Zones and Change, Department of Political Science of Umeå University of Sweden, 2002; v.v... * Một số đề tài, bài viết khoa học: 1) Đề tài về tham nhũng và chống tham nhũng ở Việt Nam do PGS.TS. Nguyễn Ngọc Chí làm Chủ nhiệm, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2001; 2) Kỷ yếu Hội thảo khoa học về những nội dung của Công ước của Liên Hiệp quốc về chống tham nhũng do PGS.TS. Trịnh Quốc Toản chủ trì, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2011; 3) TS. Trịnh Tiến Việt, Nghiên cứu, so sánh các quy định về tội đưa hối lộ, tội làm môi giới hối lộ trong luật hình sự Việt Nam và Công ước quốc tế của Liên Hợp quốc về chống tham nhũng, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 17, 18 (tháng 9/2011); 4) ThS. Bùi Thế Tỉnh, Hình sự hóa hành vi tham nhũng trong lĩnh vực công theo công ước chống tham nhũng của Liên Hợp quốc năm 2003, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 01/2012; v.v... Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình khoa học nào ở cấp độ luận văn thạc sỹ luật học đề cập tới các tội phạm về hối lộ theo luật hình sự Việt Nam và so sánh với Công ước quốc tế của Liên Hiệp quốc về chống tham nhũng, cũng như so sánh, đánh giá để tiếp thu vào sửa đổi, bổ sung Bộ luật hình sự Việt Nam, qua đó nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm về tham nhũng nói chung, các tội phạm về hối lộ nói riêng. 3. Mục đích, phạm vi và đối tƣợng nghiên cứu của luận văn 3.1. Mục đích nghiên cứu của luận văn Luận văn nghiên cứu và làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về các tội phạm về hối lộ trong luật hình sự Việt Nam (khái niệm, hình thức, các luận điểm khoa học...), khái quát lịch sử hình thành và phát triển từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay của luật hình sự Việt Nam về các tội phạm này; phân tích các tội phạm về hối lộ trong Công ước quốc tế của Liên Hiệp quốc về chống tham nhũng; nghiên cứu, so sánh với luật hình sự Việt Nam. Ngoài 6 ra, luận văn còn phân tích thực tiễn xét xử ở nước ta về nhóm tội phạm này, kinh nghiệm thế giới trong công tác đấu tranh phòng, ngừa tội phạm. Trên cơ sở đó, đưa ra những kiến nghị hoàn thiện các tội phạm về hối lộ trong Bộ luật hình sự Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm về hối lộ nói riêng, các tội phạm về tham nhũng nói chung. 3.2. Phạm vi nghiên cứu của luận văn Phạm vi nghiên cứu của luận văn nghiên cứu, giải quyết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về các tội phạm về hối lộ trong luật hình sự Việt Nam và nghiên cứu, so sánh với quy định tương ứng trong Công ước quốc tế của Liên Hiệp quốc về chống tham nhũng. Ngoài ra, luận văn còn phân tích thực tiễn xét xử ở nước ta về nhóm tội phạm này, kinh nghiệm thế giới trong công tác đấu tranh phòng, ngừa các tội phạm về hối lộ. Trên cơ sở đó, đưa ra những kiến nghị hoàn thiện các tội phạm về hối lộ trong Bộ luật hình sự Việt Nam hiện hành. 3.3. Đối tượng nghiên cứu của luận văn Đối tượng nghiên cứu của luận văn đúng như tên gọi của nó - Các tội phạm về hối lộ theo luật hình sự Việt Nam và Công ước quốc tế của Liên Hiệp quốc về chống tham nhũng. 4. Cơ sở lý luận và các phƣơng pháp nghiên cứu đề tài 4.1. Cơ sở lý luận Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng Mác-xít, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng Nhà nước pháp quyền, về công tác đấu tranh, phòng chống các loại tội phạm, về vấn đề cải cách tư pháp được thể hiện trong các Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI và các Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị “Về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới”; Nghị 7 quyết số 48/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị “Về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2020”; Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị “Về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020”, cũng như các công trình khoa học của các nhà khoa học - luật gia trong và ngoài nước. 4.2. Các phương pháp nghiên cứu Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả sử dụng phương pháp cụ thể của khoa học luật hình sự như: phương pháp phân tích và tổng hợp, thống kê, đối chiếu, đặc biệt là phương pháp so sánh luật học... Từ đó, có sự tổng hợp kiến thức, rút ra những đánh giá, kết luận và đề xuất những kiến nghị hoàn thiện liên quan đến các tội phạm về hối lộ để các nhà làm luật nước ta có thêm tư liệu tham khảo khi sửa đổi toàn diện Bộ luật hình sự Việt Nam hiện hành. 5. Những điểm mới về khoa học và đóng góp chính của luận văn Luận văn là công trình nghiên cứu đầu tiên ở cấp độ một luận văn thạc sỹ luật học phân tích, lập luận, làm rõ về mặt lý luận và thực tiễn về các tội phạm về hối lộ theo luật hình sự Việt Nam và Công ước quốc tế của Liên Hiệp quốc về chống tham nhũng, để từ đó có thể đưa ra những kiến giải lập pháp và xây dựng mô hình khoa học về các tội phạm về hối lộ trong Bộ luật hình sự Việt Nam. Về thực tiễn, luận văn nghiên cứu, làm sáng tỏ bức tranh về tình hình tội phạm về các tội phạm về hối lộ (tội nhận hối lộ, tội đưa hối lộ và tội làm môi giới hối lộ) trong đời sống xã hội thông qua các báo cáo tổng kết, chuyên đề của các cơ quan bảo vệ pháp luật và Tòa án, cũng như thông qua đánh giá các bản án hình sự, các bài báo trên các phương tiện truyền thông trong nước. Ngoài ra, luận văn còn làm sáng tỏ một số tồn tại, bất cập trong quá trình áp dụng pháp luật trong thực tiễn. Vì vậy, luận văn còn có ý nghĩa chính trị - xã hội và pháp lý quan trọng trong việc toàn Đảng, toàn quân và toàn dân kiên 8 quyết đấu tranh phòng, chống tham nhũng nói chung, các tội phạm hối lộ nói riêng, qua đó xác lập một khuôn khổ pháp lý cơ bản làm tiền đề cho việc xây dựng Chiến lược toàn diện và lâu dài cho cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam, qua đó khẳng định với quốc tế rằng Việt Nam cam kết thực hiện Công ước quốc tế của Liên Hiệp quốc về đấu tranh chống tham nhũng. Bên cạnh đó, luận văn là tài liệu tham khảo cần thiết và bổ ích cho các nhà nghiên cứu, các nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên đại học ở các cơ sở đào tạo về luật trong cả nước, cũng như phục vụ trực tiếp việc sửa đổi, bổ sung Bộ luật hình sự sắp tới theo Định hướng sửa đổi, bổ sung Bộ luật hình sự đã nêu của Bộ Tư pháp (Ban Soạn thảo sửa đổi Bộ luật hình sự). 6. Kết cấu của luận văn Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm có ba chương. Chương 1: Những vấn đề chung về các tội phạm về hối lộ. Chương 2: Các tội phạm về hối lộ theo Bộ luật hình sự Việt Nam và Công ước quốc tế của Liên Hiệp quốc về chống tham nhũng - những so sánh, đánh giá. Chương 3: Thực tiễn xét xử và những kiến nghị hoàn thiện các tội phạm về hối lộ trong Bộ luật hình sự Việt Nam trên cơ sở tiếp thu Công ước quốc tế của Liên Hiệp quốc về chống tham nhũng. 9 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÁC TỘI PHẠM VỀ HỐI LỘ 1.1. Nhận thức về các tội phạm về hối lộ Từ trước đến nay, thuật ngữ “hối lộ” có thể được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau, có thể là một hành vi vi phạm pháp luật, một tệ nạn xã hội, một hiện tượng tiêu cực trong xã hội hay tàn dư của chế độ cũ hoặc thậm chí là một loại hành vi tham nhũng... Nghiên cứu dưới góc độ khoa học luật hình sự Việt Nam, loại hành vi liên quan tới “hối lộ” được hiểu thống nhất bao gồm ba loại hành vi phạm tội tương ứng với ba tội hối lộ cụ thể - Tội nhận hối lộ, tội đưa hối lộ và tội làm môi giới hối lộ. Do đó, để phòng, chống và xử lý nghiêm minh các loại hành vi này, ở Việt Nam, cùng với công cụ pháp lý quan trọng là Bộ luật hình sự, ngày 29/11/2005, Quốc hội cũng đã ban hành Luật Phòng, chống tham nhũng, được sửa đổi, bổ sung năm 2013. Theo đó, đây là một đạo luật quan trọng thể hiện quyết tâm của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta trong công cuộc chống tham nhũng. Đồng thời, để khẳng định với cộng đồng quốc tế về một Việt Nam cam kết thực hiện nghiêm túc Công ước của Liên Hiệp quốc về đấu tranh chống tham nhũng mà Việt Nam đã cam kết. Vì vậy, nhiệm vụ nghiên cứu, so sánh quy định các nhóm hành vi tội phạm trên trong Bộ luật hình sự Việt Nam với những quy định tương ứng trong Công ước quốc tế của Liên Hiệp quốc về chống tham nhũng, nhằm mục đích tiếp tục hoàn thiện Bộ luật hình sự Việt Nam, đề xuất những giải pháp góp phần làm tương thích, phù hợp với Công ước quốc tế về ba loại tội phạm này. Điều đó không những có ý nghĩa về mặt chính trị - pháp lý, mà còn góp phần không nhỏ trong việc nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm về chức vụ nói chung, các tội phạm về hối lộ nói riêng trong giai đoạn cải cách tư pháp và xây dựng Nhà 10 nước pháp quyền ở nước ta hiện nay. Do đó, trước khi đi vào so sánh, đánh giá, chúng ta cần làm rõ khái niệm và những hình thức hối lộ phổ biến là việc làm cần thiết. 1.1.1. Khái niệm các tội phạm về hối lộ Theo Đại từ điển Tiếng Việt, “hối lộ” là hành vi lén lút đưa tiền của để nhờ người có quyền làm điều trái với pháp luật nhưng có lợi cho mình... [41; tr.365]. Theo Từ điển Tiếng Việt năm 2004, do Hoàng Phê chủ biên, “hối lộ” là việc đưa tiền của cho người có quyền hành để làm việc gì đó có lợi cho mình, bằng hành vi lạm dụng chức vụ hoặc làm sai pháp luật [42; tr.459]. Trong khi đó, về phương diện xã hội, “hối lộ” là hành vi thông qua các quan hệ xã hội để tiếp cận người có quyền lực liên quan tới khu vực hành chính công để đưa tiền, quà hoặc lợi ích vật chất khác theo yêu cầu hoặc hành vi tự nguyện của người đưa nhằm thay đổi thái độ của người nhận để làm một hoặc nhiều việc có lợi cho người đưa. Tương tự, về phương diện chính trị, “hối lộ” được coi là một trong những bổng lộc của quyền lực, được thực hiện bởi những người nắm quyền [5; tr.36]. Còn dưới góc độ hành chính - nhà nước, “hối lộ” là một loại tham nhũng, xảy ra nhiều ở nơi thiếu minh bạch về cơ chế, thông tin; làm cho bộ máy nhà nước trở nên trì trệ và quan liêu; hủy hoại đạo đức của những người thực thi chức trách, làm mất lòng tin của người dân vào bộ máy Nhà nước... [72; tr.27]. Ngoài ra, theo tổng kết trong nghiên cứu của mình, TS. Đào Lệ Thu có rất nhiều cách tiếp cận và quan điểm khác nhau về “hối lộ”. “Hối lộ” có thể là một hành vi vi phạm pháp luật, một tệ nạn xã hội, một hiện tượng tiêu cực trong xã hội, thậm chí là một dạng tham nhũng... Hiện tượng hối lộ thường được nghiên cứu từ góc độ đạo đức, chính trị, kinh tế và pháp lý. Nhưng phần lớn những nghiên cứu này đều tiếp cận “hối lộ” từ một góc độ rộng hơn, đó là “tham nhũng”... Rất nhiều quan điểm nghiên cứu trên thế giới đồng nhất khái niệm 11 “tham nhũng” và “hối lộ”, nói đến tham nhũng là nói đến hối lộ. Hối lộ được các chuyên gia nước ngoài coi là một biểu hiện của tham nhũng... [72; tr.44]. Do đó, dưới góc độ nghiên cứu khoa học, tác giả luận văn thống nhất quan điểm khái niệm “hối lộ” là hành vi cụ thể, hẹp hơn, nằm trong khái niệm “tham nhũng”. Một số nước trên thế giới (Mỹ, Australia...) coi hối lộ là một tội phạm và được định nghĩa theo Từ điển pháp luật Mỹ của Henry Campbell Black (được sử dụng rộng rãi tại Mỹ), “hối lộ” bao gồm các hành vi “đề nghị”, “đưa”, “nhận” hoặc “gạ gẫm” bất kỳ một dạng giá trị làm ảnh hưởng đến hành vi của một công chức hay người nào đó thực hiện công vụ hoặc chức vụ pháp lý; hay hối lộ “là hình thức tham nhũng thể hiện bằng cách một người đưa tiền để thuyết phục một công chức Nhà nước chấp thuận để làm hoặc không làm một việc có lợi cho mình” [72; tr.46]. Như vậy, qua các nghiên cứu có thể bước đầu nhận xét, “hối lộ” luôn thể hiện bản chất của một hiện tượng tiêu cực trong xã hội. Nó có tác động xấu tới đời sống, tâm lý xã hội, ảnh hưởng nghiêm trọng tới nền chính trị và sự tồn tại của mỗi chính thể quốc gia, lãnh thổ. Bên cạnh đó, trong khoa học luật hình sự trên thế giới, nhiều ý kiến nhận định: tham nhũng bao gồm các hành vi đưa, nhận hối lộ, môi giới hối lộ và một số loại hành vi khác như tham ô tài sản, lợi dụng chức trách cưỡng đoạt tài sản, lợi dụng chức trách lừa đảo chiếm đoạt tài sản, lạm dụng chức trách công... Một số ý kiến đồng tình, cho rằng tham nhũng bao gồm hối lộ và nhiều dạng hành vi khác. Trong nghiên cứu của hầu hết các tác giả Việt Nam, nhận thức về khái niệm tham nhũng dường như không khác biệt nhiều so với những quan điểm nêu trên, đánh giá tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn; còn hối lộ lại bao gồm cả hành vi của người có chức vụ, quyền hạn (hành vi nhận hối lộ) và hành vi của người không có chức vụ, quyền hạn (hành vi đưa hối lộ, hành vi làm môi giới hối lộ), chỉ hành vi nhận hối lộ được 12 coi là một dạng của tham nhũng. Như vậy, theo quan niệm của các tác giả Việt Nam, khái niệm tham nhũng không hoàn toàn bao hàm khái niệm hối lộ. Bản chất của hối lộ có thể được nhận thức từ nhiều góc độ khác nhau. Từ góc độ xã hội, hối lộ có thể được xem là một hình thức biến tướng của việc đền đáp, trả ơn, hối lộ là một kiểu đền đáp. Một số sự đền đáp bị xem là hối lộ trong từng nền văn hoá cụ thể, được phân biệt với các trường hợp khác bởi sự cố ý, bởi hình thức và hoàn cảnh cụ thể.... Như vậy, hối lộ có thể được xem là hiện tượng xã hội tiêu cực, là sự lạm dụng những truyền thống tốt đẹp của xã hội loài người, như truyền thống tặng quà, truyền thống đền đáp ơn nghĩa. Tính chất sai trái của hối lộ có thể không được nhận thức hoặc được nhận thức ở mức độ khác nhau tùy thuộc vào từng xã hội. Sự nhận thức đó chịu ảnh hưởng rất nhiều bởi yếu tố văn hóa - xã hội và sau đó lại ảnh hưởng ít nhiều đến việc xác định tính chất nguy hiểm cho xã hội của hiện tượng hối lộ... Như vậy, từ góc độ đạo đức xã hội, bản chất xấu xa của hối lộ chính là biện giải đầu tiên cho sự cần thiết phải sử dụng pháp luật đấu tranh với hiện tượng này. Ngoài ra, từ góc độ chính trị, “hối lộ là một trong những loại bổng lộc của quyền lực và là một hình thức trao đổi chung giữa quyền lực và sự giàu có” [88; tr.36]. Lúc này, hối lộ mang bản chất chính trị sâu sắc, là tặng phẩm tiêu cực của quyền lực và thể hiện mặt trái của sự phân tầng xã hội. Thông qua hối lộ quyền lực tạo ra tiền bạc và ngược lại tiền bạc có thể mua được quyền lực, chức tước. Hối lộ trở thành công cụ tìm kiếm và duy trì quyền lực chính trị, đồng thời tạo ra sự bất công và bất ổn trong xã hội. Từ góc độ hành chính - nhà nước, hối lộ được các học giả cũng như hầu hết các quốc gia nhận thức chung là một loại hành vi tham nhũng. Như một tác giả đã nhận định: “Nơi nào tồn tại hiện tượng hối lộ có hệ thống của một số công chức nơi đó sẽ có xu hướng hoạt động kém hiệu quả và đạo đức của các nhân viên trở nên xuống cấp” [72; tr.67]. Do đó, từ khía cạnh nghiên cứu 13
- Xem thêm -