Tài liệu Các lý thuyết công tác xã hội

  • Số trang: 30 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 105 |
  • Lượt tải: 0
tranphuong

Đã đăng 59174 tài liệu

Mô tả:

CHƯƠNG 3 CÁC LÝ THUYẾT CÔNG TÁC XÃ HỘI 1. Thuyết Năng động tâm lý/ trường phái phân tâm học 1.1 Nội dung chính của thuyết 1.1.1 Bản năng – Bản ngã và siêu ngã Bản chất của con người bao gồm 3 hệ thống: id (bản năng), ego (bản ngã) và siêu ngã. Bản năng: đại diện cho những động cơ bẩm sinh. Đây là phần chúng ta có chung với loài vật. Bản năng họat động trên nguyên tắc khoái lạc, thỏa mãn tức thời. Bản năng quan tâm đến việc đáp ứng các nhu cầu sinh học như đói ăn, khát uống… Bản năng phát triển quá mạnh sẽ làm cho con người trở nên dã man, thú tính.  Hệ thống căn bản khởi thủy của nhân cách  Mù quáng, chỉ biết đòi hỏi, trái với đạo đức  Giải tỏa căng thẳng tức thì để trở về trạng thái cân bằng  Tránh nỗi đau, tìm lạc thú  Chỉ biết ước muốn và hành động  Chủ yếu là phần vô thức, hoặc ngoài tầm ý thức  Có thể ví như đứa con nít Siêu ngã (cái Thiện): đối nghịch với bản năng, siêu ngã là phần cao cấp. Nơi siêu ngã, những giá trị của cá nhân, những nguyên tắc đạo đức được hình thành giúp con người phân biệt phải trái. Phần siêu ngã ở mỗi cá nhân khác nhau, tùy thuộc vào những giá trị của xã hội, nền giáo dục của gia đình. Cha mẹ có siêu ngã mạnh và phát triển tốt sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sự hình thành một siêu ngã mạnh nơi con cái, giúp trẻ có cảm thức về tội lỗi.  Tiếng nói của lương tâm  Tìm sự hoàn thiện  Ngăn cấm những xung động của bản năng  Phần thưởng của siêu ngã: cảm giác tự hào và quý trọng mình  Hình phạt của siêu ngã: mặc cảm tội lỗi và tự ti  Có thể ví như bậc cha mẹ Bản ngã (cái Tôi): là cái biểu hiện ra bên ngoài mọi người đều thấy. Bản ngã duy trì sự cân bằng giữa bản năng và siêu ngã liên quan đến những đòi hỏi của con người. Khi một người đói, bản năng sẽ yêu cầu con người thỏa mãn cơn đói bằng mọi cách (kể cả ăn cắp), siêu ngã chống lại bản năng bằng cách đưa ra những quy tắc đạo đức, giá trị bản thân (lòng tự trọng) và bản ngã sẽ giúp con người chọn thỏa mãn cái đói bằng cách thức xã hội chấp nhận được. Như vậy, bản ngã họat động trên nguyên tắc thực tế. Bản ngã giúp chế ngự những ham muốn bất chính, chống lại sự thất vọng, kiểm sóat căng thẳng, phân tích tổng hợp tình hình thực tế….  cách    Tiếp xúc với thế giới thực tại bên ngoài, bộ phận “điều hành” của nhân Trung gian giữa siêu ngã và bản năng Hoạt động theo quy luật thực tế Có thể ví như người trường thành Chính bản ngã và siêu ngã làm cho con người khác với loài vật. Tuy nhiên cần có sự kết hợp hài hòa giữa siêu ngã và bản ngã để những cảm giác có tội sinh ra từ siêu ngã được bản ngã xử lý có hiệu quả và hợp lý tạo điều kiện cho con người phát triển quân bình và lành mạnh. Nếu siêu ngã quá khắt khe, cảm giác tội lỗi sẽ áp đảo và ảnh hưởng đến tòan bộ nhân cách. Trong nhiều trường hợp tự tử, người ta thấy nguyên do đến từ cảm giác tội lỗi quá lệch lạc của đương sự. Trong ba thành phần cấu tạo nên bản chất con người, bản ngã là thành phần quan trọng nhất. Nó không ngừng đối phó với những lực nội tại cũng như ngoại lai và trưởng thành lên theo thời gian. 1.1.2 Chức năng chính của bản ngã Theo Schammes (1996), bản ngã có một số chức năng ý thức và vô thức sau đây:  ý thức môi trường bên ngoài: bản ngã định hướng chính xác về thế giới bên ngoài. Nó xác định thời gian, không gian, con người và phân biệt ảo giác, ảo tưởng và các mối liên kết hời hợt  phán đoán: khả năng phán đoán của bản ngã giúp ta chọn lựa hành vi phù hợp trong những hoàn cảnh khác nhau để đạt mục tiêu  khả năng nhận thức: đây là khả năng tạo ra những giới hạn tâm lý phù hợp (than mật hay giữ khoảng cách) trong tương quan với người khác  kiểm sóat xung lực: bản ngã phân biệt các lọai xung lực, kiểm sóat hành vi thái độ và tình cảm ở mức độ sao cho phù hợp với các quy tắc xã hội  điều tiết quá trình tư duy: đây là khả năng ghi nhớ, tập trung và đánh giá tình hình của bản ngã để đưa ra những hành vi và cảm xúc phù hợp  tạo tương quan: bản ngã có khả năng quản lý các mối tương quan nhằm đạt mục tiêu cá nhân và khả năng nhìn nhận mỗi người là một cá thể độc đáo  tạo cơ chế tự vệ: bản ngã giúp ta giảm thiểu lo lắng  điều tiết các tác nhân kích thích: đây là khả năng sàng lọc và chọn lựa các tác nhân kích thích bên ngòai để duy trì, tập trung vào điểm trọng tâm của đời người, giúp ta tránh hời hợt/buông thả hay kiệt lực  tự trị: đây là khả năng duy trì sự chú ý, tập trung, trí nhớ, trí hiểu  duy lý hóa: tránh những cảm xúc không thể chấp nhận được bằng cách nghĩ đến hay nói về những cảm xúc này một cách vô cảm (một người nói với tư vấn viên là cô ta rất buồn nhưng không biểu lộ cảm xúc buồn bã). Điều này làm cho đương sự không hiểu được vấn đề tác động lên cuộc sống của mình thế nào 1.1.3 Cơ chế phòng vệ Nhân viên xã hội ứng dụng thuyết năng động tâm lý cần phải nhạy bén với cơ chế phòng vệ mà thân chủ sử dụng bởi vì cơ chế này tác động rất nhiều đến khả năng giải quyết vấn đề của thân chủ. Phòng vệ là sự đáp trả vô thức, tự động giúp ta giảm thiểu những nguy cơ, đối phó với lo lắng. Người ta có thể sử dụng những cách phòng vệ lành mạnh hoặc có hại. Đây là điều nhân viên xã hội cần biết.  chối từ hay phủ nhận : không nhìn nhận thực tế vì nó có hại cho sự an toàn của tôi. Bóp méo những suy nghĩ và cảm nhận của mình trong một hoàn cảnh bi đát nào đó. Nhắm mắt trước những thực tế đáng lo sợ vì những thực tế này quá đau đớn không thể chấp nhận được (không chấp nhận mình quá ốm hay quá mập mà cho rằng mình coi được, không tin vào chẩn đoán của bác sĩ).  Tiếp nhận: lấy suy nghĩ của người khác làm của mình để tránh xung đột trực tiếp (người vợ bị đánh cho rằng mọi sự là lỗi của mình vì đã bị ông chồng “nhét” vào đầu tư tưởng chị là người không biết cách chăm sóc chồng)  Dời chỗ/ Hóan đổi – giận cá chém thớt: chuyển những cảm xúc tiêu cực về một ai đó hay một sự việc nào đó lên người khác. Giải tỏa ức chế bằng cách chuyển từ đối tượng nguy hiểm qua đối tượng an toàn hơn (giận chồng mà không đánh chồng được nên đánh con)  Phóng chiếu: quy kết những cảm nghĩ, tình cảm của mình cho người khác. Gán cho người khác những ước muốn và những xung động bất ổn mà chính mình có, để khỏi phải đối diện với vấn đề của mình (anh thanh niên không muốn giận bạn gái, vì thế khi anh ta có bất đồng với cô ấy thì anh cho rằng cô giận anh)  Thóai lui/ co về quá khứ: quay lại những hành vi thiếu chín chắn ở giai đoạn đầu của sự phát triển. Trở về hình thái trước đây của mình trong những giai đoạn phát triển đã qua. Để đối phó với những tình huống quá căng thẳng, con người thường bám vào những hành vi thiếu trưởng thành mà thuở nhỏ mình vẫn làm vì thời đó là thời người ta cảm thấy an toàn trong tay mẹ (em bé 8 tuổi đái dầm sau khi biết kết quả thi ở trường tệ).  Viện lý/lý sự: tìm lý do để biện minh hành động không được xã hội chấp nhận (ăn cắp viện lý do giúp người nghèo). Đưa ra những lý do để biện hộ cho những hành vi và bản ngã bị tổn thương của mình (VD: xin việc nhưng bị từ chối…  Nhập nội: Cho vào , «nuốt vào» những giá trị và những chuẩn mực của người khác. Chấp nhận điều tiêu cực người khác gán cho mình mặc dù mình không có điều tiêu cực đó để tránh va chạm. Thí dụ: người bố luôn luôn mắng chửi đứa con là “đồ ngu”, đứa con chấp nhận điều đó (vì không thể cãi lại bố) và càng ngày càng học kém vì mất tự tin và ý chí học hỏi.  Dồn nén: Đây là cơ chế thông thường mà con người hay dùng, giúp đối phó với sự lo lắng và cứu con người khỏi bị choáng ngợp vì lo. Những ý nghĩ và cảm xúc đáng sợ bị đẩy ra khỏi ý thức một cách tự động. Đa số những kinh nghiệm đau đớn của tuổi thơ (1-5 tuổi) đều bị đẩy ra khỏi ý thức, nhưng vẫn ảnh hưởng đến hành vi con người sau này  Cao thượng hóa: Tái định hướng những xung động về tính dục và gây hấn vào những hoạt động có ích và được xã hội chấp nhận  Bù trừ: Che đậy những yếu điểm của mình bằng cách hình thành một số nét trội nào đó để bù trừ cho những giới hạn của mình (là học sinh giỏi nhất không được thì tìm cách là học sinh phá nhất) 1.1.4 Các giai đoạn phát triển Theo Erikson (1968), sự trưởng thành của con người chia ra 8 giai đoạn; mỗi giai đoạn có một giá trị riêng, và khi vượt qua từng giai đoạn, con người phải trải qua những khủng hoảng và mâu thuẫn do hai lực: lực đẩy do điều kiện sinh lý của bản thân và lực kéo của môi trường văn hóa xã hội của giai đoạn đó, và tùy theo mức độ thành công hay thất bại, sẽ đạt được nhiều hay ít giá trị của giai đoạn đó. Mức độ giá trị đạt được này có ảnh hưởng rất lớn đến bản ngã của con người trưởng thành. Giai đoạn cuộc đời Sơ sinh Giá trị Thách đố về mặt tâm lý Hy vọng Tin tưởng >< nghi ngờ Tập đi Ý chí Tự chủ >< xấu hổ, rụt rè Mẫu giáo Có chủ Chủ động >< cảm đích giác tội lỗi Nhi đồng Năng Năng nổ, hiệu quả lực >< tự ti Vị thành Trung Khẳng định bản niên thực thân, biết mình >< mơ hồ về căn tính của mình, phân tán nhân cách Thanh Yêu Thân thiết, gần niên thương gũi >< tách biệt, cô độc Tráng niên Chăm Năng động, tác sóc tạo >< tự đủ, trì trệ Lão niên Trí tuệ Mãn nguyện >< căm ghét, thất vọng Tác nhân quan trọng Người mẹ Bố mẹ Gia đình Lối xóm Nhóm Đồng đẳng Bạn phái khác Gia đình riêng Nhân sinh 1.2 Đánh giá và can thiệp CTXH 1.2.1 Đánh giá Nhân viên xã hội đánh giá điểm mạnh và những giới hạn về chức năng bản ngã của từng thân chủ bằng cách hỏi trực tiếp thân chủ hoặc hỏi những người khác hoặc xem xét các nguồn dữ liệu sẵn có như bệnh án, hồ sơ cảnh sát… để tìm ra những khiếm khuyết về mặt thể lý ảnh hưởng đến chức năng bản ngã, những yếu tố kích thích và khả năng tự trị của thân chủ. Việc đánh giá quá trình phát triển tâm lý của thân chủ đòi hỏi phải xem lại những kinh nghiệm quan trọng trong quá khứ vì theo tâm lý bản ngã, mọi giai đoạn phát triển được xây dựng trên nền tảng các giai đoạn trước đó và mọi trục trặc trong giai đoạn phát triển có thể gây ra sự bộc phát các hành vi bất thường. Việc thu thập thông tin sẽ giúp nhân viên xã hội tác định những kỹ năng cần thiết cho thân chủ trong quá trình phát triển 1.2.2 Can thiệp Phẩm chất mối tương quan giữa thân chủ và nhân viên xã hội vô cùng quan trọng, quyết định kết quả can thiệp. Ban đầu, nhân viên xã hội phải làm sao tạo được những tương quan cảm xúc tích cực nơi thân chủ qua việc cùng hợp tác, thỏa thuận mục tiêu can thiệp và làm cho đôi bên có cảm giác thỏai mái khi làm việc với nhau. Muốn vậy, nhân viên xã hội phải có kỹ năng thấu cảm (nhạy cảm và nhận thức đúng mọi cảm xúc của thân chủ, tỏ ra hiểu thân chủ) và lòng chân thực (thái độ tự nhiên và thành thật). Có hai hướng can thiệp ứng dụng thuyết năng động tâm lý:  duy trì bản ngã nếu khám phá ra rằng chức năng bản ngã của thân chủ không bị tổn hại. Phương pháp này giúp thân chủ hiểu rõ hơn về những động cơ và hành vi của mình và vận dụng những điểm mạnh của bản thân để giải quyết vấn đề. Với phương cách này, thân chủ được (a) khuyến khích phát triển và duy trì những tương quan tích cực, (b) khám phá, diễn tả và giải tỏa những cảm xúc để có cái nhìn khách quan về những khó khăn hiện tại (c) phản ánh tình hình và con người, tìm ra những giải pháp cho vấn đề hiện thời. Nhân viên xã hội có thể chỉ cho thân chủ các nguồn tài nguyên sẵn có hay tác động trực tiếp lên thân chủ, đặc biệt khi thân chủ đang gặp khủng hỏang và không thể phán đóan tốt được.  thay đổi bản ngã: kỹ thuật này được sử dụng khi nhân viên xã hội khám phá ra rằng trong quá khứ, thân chủ có lúc đã trải qua những giai đoạn thích nghi không tốt trong quá trình phát triển. nhân viên xã hội tạo điều kiện để thân chủ tự ý thức bằng cách (a) khám phá ra các kiểu hành vi bất thường của thân chủ, (b) cho giải thích mới về các kiểu tương quan (c) đối phó với những cơ chế tự vệ lệch lạc (d) sửa chữa những lỗ hổng trong quá trình phát triển và (e) hướng dẫn thân chủ đi vào những tương quan đúng đắn 2. Thuyết hành vi Bản chất của con người theo thuyết hành vi: con người là cái mà họ làm. 2.1 Một số nguyên tắc căn bản và những giả định của thuyết hành vi:  Hành vi là tất cả những sinh hoạt và phản ứng của con người mà quan sát được hay đo lường được. Ví dụ các cử động, tư thế cơ thể, giọng nói cũng như tất cả những gì thay đổi bên ngoài mà ta nhận ra được. Chỉ những gì quan sát được mới đáng kể, phần trừu tượng trong hoạt động của tâm lý không đáng quan tâm  Con người có khuynh hướng tự nhiên tìm kiếm lạc thú và tránh khổ đau. Hành vi của con người thường hướng đến mục tiêu này.  Mọi người học cách cư xử từ những phản ứng trực tiếp của môi trường, từ việc quan sát người khác hành xử ra sao.  Hành vi có thể thay đổi được  Cần lý giải hành vi cách đơn giản.  Biện pháp giúp thay đổi ứng xử tập trung vào phản ứng có tính cách khuyến khích hay trừng phạt. Những biện pháp này phải tức thời và trước sau như một, không thay đổi. Khuyến khích thường tạo ra những thay đổi nhanh nhất. Khuyến khích có thể được hiểu là bất kỳ phản ứng của môi trường tạo ra tính liên tục của hành vi, làm cho hành vi tiếp tục lập lại. Ví dụ trẻ đánh bạn được sự đồng tình của người khác sẽ tiếp tục đánh bạn. Trừng phạt là những phản ứng của môi trường ngăn cản hành vi tiếp diễn. Cũng trẻ ở trên khi đánh bạn bị trừng phạt sẽ không đánh bạn nữa. Mọi hành vi đều bị ảnh hưởng bởi các nguyên tắc học hỏi bao gồm nguyên tắc điều kiện cổ điển, điều kiện hóa phản ứng. 2.1.1 Điều kiện hóa cổ điển Khoa học hành vi cho rằng một kích thích nhất định nào đó sẽ tạo nên những phản ứng vô tình ở đối tượng. Quá trình này được Iwan P. Pavlov nhà sinh lý học người Nga gọi là điều kiện hóa cổ điển. Điều kiện hóa là một quá trình phát triển các dạng hành vi thông qua những đáp trả lại kích thích của môi trường hay những kích thích của hành vi cụ thể nào đó. Nó là quá trình mà trong đó một kích thích trung tính liên kết lập đi lập lại nhiều lần tạo ra dấu hiệu và phản ứng nhất định nơi đối tượng. Thí nghiệm của Pavlov cho thấy rõ quá trình này. Khi con chó nhìn hay ngửi thấy đồ ăn (kích thích tự nhiên, không điều kiện), tự nhiên nó chảy nước dãi vì sinh lý (phản ứng tự nhiên). Bây giờ gõ tiếng chuông (kích thích có điều kiện) cùng lúc cho đồ ăn thì con chó không có phản ứng gì khác ngoại trừ một ít tò mò. Pavlov đã phối hợp cả hai kích thích nhiều lần và con chó cứ nghe tiếng chuông là có phản ứng chẩy nước rãi. Ông Pavlov gọi phản ứng này là phản ứng được tập luyện (phản ứng có điều kiện) (conditioned reaction CR). Kích thích tự nhiên (unconditioned stimulus = đồ ăn UCS) Phản ứng tự nhiên (unconditioned reaction = Tiết nước rãi UCR) Kích thích trung tính = Tiếng chuông (neutral stimulus NS) Kích thích tập luyện (cưỡng bức) = Tiếng chuông (conditioned stimulus CS) Phản ứng tập luyện (cưỡng bức) = Tiết nước rãi khi nghe (conditioned reaction CR) tiếng chuông Điều kiện hóa cổ điển giúp ta hiểu các vấn đề thân chủ đã trải qua. Những kích thích trung tính như một nơi chốn, một người, một tâm trạng nào đó có thể làm nảy sinh những hành vi có vấn đề. Một vết chó cắn có thể tạo nên sự sợ hãi loài chó. Vì thế, can thiệp dựa trên nguyên tắc đảo nghịch, nghĩa là giúp thân chủ trở về với tình trạng an toàn trước đó. Thân chủ được dạy cách dần dần đương đầu với căng thẳng. 2.1.2 Ðiều kiện hóa phản ứng /có hiệu lực Ðiều kiện hóa phản ứng cho rằng hành vi tương lai được quyết định bởi những hậu quả của hành vi hiện tại. Những điều kiện có trước có thể gây ra hành vi, có hai dạng củng cố trong mô hình này: dạng tích cực và dạng tiêu cực. Xét một người nào đó có những hành vi do ngẫu nhiên hoặc đột khởi. Sau đó người ấy có những cảm nhận về kết quả của hành vi. Kết quả này có thể là dễ chịu, trung tính hoặc khó chịu. Nếu cảm nhận là dễ chịu người đó sẽ có khuynh hướng tái lập hành vi đó, ngược lại nếu khó chịu sẽ có khuynh hướng tránh hành vi đó đi * Mô hình cơ bản là R → S Đặc biệt đối với những hành vi sử dụng chất gây nghiện có một động lực kép khiến người nghiện bị thôi thúc mạnh mẽ phải tiếp tục hành vi đó là họ phải thực hiện hành vi để có được những khoái cảm do chất gây nghiện mang lại đồng thời để tránh những khó chịu do không sử dụng gây ra. 2.2 Đánh giá và can thiệp CTXH 2.2.1 Đánh giá Sau khi giúp thân chủ hiểu rõ nguyên tắc can thiệp hành vi, nhân viên xã hội có thể thực hiện việc đánh giá qua tiến trình phân tích chức năng hành vi Dấu hiệu xã hội Dấu hiệu môi trường Dấu hiệu cảm xúc Dấu hiệu nhận thức Dấu hiệu thể lý Hành vi Hệ quả Sơ đồ phân tích chức năng hành vi Trước hết, hành vi có vấn đề của thân chủ phải được xác định rõ ràng, cụ thể. Kế tiếp, nhân viên xã hội xác định những điều kiện môi trường nào đã làm cho hành vi được củng cố và duy trì. Sau cùng cũng phải xem xét hệ quả của hành vi. Trong suốt quá trình đánh giá, nhân viên xã hội có thể hỏi những câu hỏi sau:  Vấn đề của bạn là gì?  Vân đề này bắt đầu xảy ra khi nào?  Vấn đề này xảy ra trong những tình huống nào?  Cái gì có khuynh hướng xảy ra trước khi vấn đề xảy ra? (bạn/ hay ai đó thường làm gì trước khi vấn đề xảy ra)  Cái gì có khuynh hướng xảy ra sau khi vấn đề xảy ra? (bạn/ hay ai đó thường làm gì sau khi vấn đề xảy ra)  Khi vấn đề xảy ra có ai hiện diện?  Vấn đề xảy ra bao lâu một lần? thông thường vào giờ nào (trong ngày/tuần/tháng/năm)  Vấn đề kéo dài trong bao lâu?  Vấn đề này ảnh hưởng đến đời sống của bạn như thế nào?  Khi vấn đề xảy ra, bạn nghĩ gì?  Khi vấn đề xảy ra, bạn cảm thấy thế nào? Phản ứng của cơ thể ra sao?  Bạn đã làm gì để giải quyết hay giảm thiểu vấn đề? Kết quả thế nào?  Những người xung quanh bạn thường làm gì khi vấn đề xảy ra? Nhân viên xã hội có thể hỏi thân chủ các câu hỏi theo 5 lãnh vực liên quan đến vấn đề Lãnh vực Xã hội Môi trường Cảm xúc Nhận thức Thể lý Tiền tố (Dấu hiệu) Đa phần thời gian thân chủ ở với ai? Thân chủ có tương quan với những người không có vấn đề này không? Thân chủ có sống với người liên quan đến vấn đề không? Những ai, nơi nào, sự vật/việc gì đóng vai trò tiền tố của vấn đề? Mức độ thân chủ tiếp xúc với các tiền tố này ra sao? Có dễ tránh không? Tình trạng cảm xúc trước khi vấn đề xảy ra? Hệ quả (yếu tố củng cố) Mạng lưới xã hội của thân chủ có thay đổi không khi vấn đề bắt đầu xuất hiện hay trầm trọng? Các tương quan của thân chủ bị ảnh hưởng như thế nào? Những ai, nơi nào, sự vật/việc đã bị ảnh hưởng bởi vấn đề này? Môi trường của thân chủ có thay đổi vì vấn đề này không? Sau khi vấn đề xảy ra thân chủ cảm thấy thế nào? Thân chủ cảm thấy thế nào về bản thân mình? Những tư tưởng nào diễn ra Sau đó thân chủ nghĩ gì? trong đầu của thân chủ hay thân Thân chủ tự nhủ gì? chủ có niềm tin gì đối với vấn đề này? Những tình trạng thể lý khó Sau đó, thân chủ cảm thấy thể chịu nào xuất hiện trước khi vấn đề lý thế nào? xảy ra? Hậu quả sức khoẻ thể lý của thân chủ ra sao? Từ việc phân tích hành vi này, nhân viên xã hội xác định được các yếu tố kích thích làm củng cố và duy trì hành vi. Dựa trên đó, nhân viên xã hội lập kế hoạch cùng với thân chủ xây dựng mục tiêu điều chỉnh hành vi bằng cách xem xét các điều kiện và sự kiện xảy ra trước khi hành vi bắt đầu xuất hiện để từ đó đề ra những mục tiêu cụ thể để đem lại những hành vi mới như mong ước. Thân chủ và những người tác động quan trọng đến thân chủ như bạn đời, bạn thân, giáo viên thống nhất vai trò của mình trong việc giúp thân chủ thay đổi hành vi. 2.2.2 Can thiệp Mặc dù việc trị liệu hành vi phải theo một cấu trúc chặt chẽ nhưng tương quan giữa nhân viên xã hội và thân chủ cũng phải được coi trọng. Nhân viên xã hội phải tỏ ra là người đáng tin cậy, có khả năng và tận tụy nếu không nhân viên xã hội có thể tạo ra nơi thân chủ một vài hành vi phòng vệ đối phó lại cảm giác bị đe dọa. Nhân viên xã hội phải hết sức thận trọng không nên sử dụng hành vi trừng phạt đối với thân chủ vì việc trừng phạt có thể tạo ra sự xa lánh. Những đặc điểm của mô hình can thiệp theo trường phái hành vi  Tính khoa học  Tính năng động  Nhấn mạnh hiện tại  Nhấn mạnh sự cộng tác của thân chủ  Nhấn mạnh việc học hỏi  Tính cá nhân hóa  Sự tiến bộ theo mô hình bậc thang  Thời gian trị liệu ngắn  Trị liệu trọn gói Tiến trình can thiệp theo thuyết hành vi gồm các bước sau:  xác định vấn đề của thân chủ theo thuyết hành vi (Làm rõ nghĩa những từ trọng tâm mà thân chủ dùng khi trình bày vấn đề, đổi vô số những vấn đề và những lời than phiền chung chung thành một hai hành vi cụ thể)  nhân viên xã hội và thân chủ thu thập thông tin về vấn đề  xác định hành vi mục tiêu -> Phân nhỏ hành vi mục tiêu -> Xếp các hành vi mục tiêu phân nhỏ theo thứ tự (một hành vi mục tiêu tốt phải nhỏ, cụ thể, đo lường được, thích hợp với vấn đề và thân chủ  cụ thể hóa các bước cần thiết để giải quyết vấn đề  xác định các kết quả cụ thể có thể có được khi trị liệu  xác định nguồn lực môi trường và tài nguyên con người của thân chủ có thể tạo ra sự đổi thay. Nhận dạng và tìm ý kiến của những người có thể tham gia vào tiến trình can thiệp (thường những người này là những người đóng vai trò củng cố hoặc kích thích hành vi)  dự đoán những trở ngại có thể có ngăn cản việc đạt được mục tiêu và lên kế hoạch giảm thiểu những trở ngại này  chọn lựa chiến lược can thiệp phù hợp với sự tham gia của thân chủ và với trọng tâm là tạo ra những kết quả tích cực cho các hành vi mới. Nên chú trọng đến hành vi đem lại phần thưởng hơn là đem lại sự trừng phạt  nhân viên xã hội, thân chủ và người khác thu thập các dữ liệu liên quan đến hoạt động của thân chủ. Những chuyển biến của thân chủ phải được ghi chép đều đặn  thân chủ và nhân viên xã hội thường xuyên đánh giá tiến trình can thiệp, so sánh tình trạng ban đầu với hành vi mới được thiết lập  quá trình can thiệp chấm dứt khi thân chủ đạt được mục tiêu và tỏ ra ý muốn duy trì kết quả đạt được Phương pháp can thiệp theo thuyết hành vi có thể sử dụng trong các trường hợp trẻ em bị đối xử tệ bạc, bạo lực học đường, lạm dụng chất kích thích, tội phạm, mâu thuẫn gia đình, bạo hành gia đình, các vấn đề bệnh lý mãn tính 3. Thuyết nhận thức 3.1 Nội dung chính của thuyết Nhận thức là sự hiểu biết của cá nhân về sự vật. Thuyết nhận thức chủ trương mỗi cá nhân có một suy nghĩ và hiểu biết riêng về sự vật, cách thu nhận và diễn giải các thông tin, đánh giá các kinh nghiệm, các phán đoán, và quyết định cách ứng xử. Tất cả những khái niệm này được Piaget gọi là cấu trúc nhận thức. Cấu trúc nhận thức là cách người ta suy diễn sự vật, phân tích các thông tin, tạo ra sự hiểu biết về sự vật, ảnh hưởng đến cảm xúc và cách ứng xử. Nói cách khác, cảm xúc và cách ứng xử của con người là sản phẩm của cấu trúc nhận thức khi đánh giá các thông tin đến từ thế giới chung quanh cá nhân (nhận thức quyết định cảm xúc và hành vi). Cấu trúc nhận thức được hình thành và phát triển bằng học hỏi qua kinh nghiệm sống của bản thân và qua sự quan sát, học hỏi từ ngoại cảnh. Những kinh nghiệm mới phù hợp với cấu trúc nhận thức được sát nhập vào nó; ngược lại, khi gặp những kinh nghiệm mới trái ngược với cấu trúc nhận thức, người ta sẽ chỉnh sửa lại cấu trúc nhận thức để chứa đựng được kinh nghiệm mới. Beck (1995) mô tả mối quan hệ giữa niềm tin, cảm xúc, và ứng xử như sau: sự vật diễn ra (A - activating event) dẫn đến tư tưởng hay niềm tin (B - belief); tư tưởng hay niềm tin dẫn đến cảm xúc hay hành động (C - consequences). Ví dụ người trầm cảm có một thành kiến tiêu cực về sự vật và thế giới. Tức là trong cấu trúc nhận thức/cognitive schemas của những người trầm cảm có sẵn ba thành kiến tiêu cực: tôi không có giá trị, tôi càng ngày càng tệ hơn, thế giới này là một nơi không an lành. Vì có những thành kiến như thế nên khi sự việc diễn ra (A) họ suy diễn (B) theo hướng tiêu cực và dẫn đến buồn bã (C). Albert Ellis (1962), một trong những người áp dụng thuyết nhận thức đầu tiên trong tâm lý trị liệu, tin rằng phần đông con người có cách suy nghĩ hẹp hòi và không hợp lý về sự vật và về cách phải ứng xử như thế nào để được an toàn trong cuộc sống. Do đó, mục tiêu của tâm lý trị liệu là giúp thân chủ có được cách suy nghĩ đúng đắn về cuộc đời và về cách ứng xử thích hợp. Thuyết Nhận Thức chủ trương cá nhân gặp khó khăn vì rơi vào một trong ba trường hợp sau:  Không có nhận thức/cognitive deficit.  Nhận thức cứng nhắc/cognitive rigidity: trắng đen, có không, đúng sai…  Nhận thức lệch lạc/cognitive distortion: tức là những tin tưởng sai, dựa trên một cấu trúc nhận thức tiêu cực, thí dụ: bị xử ức nhưng không khiếu nại vì “khiếu nại cũng chẳng đi đến đâu”. 3.2 Đánh giá và can thiệp CTXH Trong quá trình Đánh giá và can thiệp CTXH nhân viên xã hội phải luôn luôn ý thức rằng thân chủ những nhận thức định kiến, do đó nhân viên xã hội nên:  không ngừng kiểm tra niềm tin và thái độ của mình đối với thân chủ  xây dựng và đánh giá các loại giả thiết về tình trạng của thân chủ  xem xét và sắp xếp thư tự ưu tiên các giả thiết tích cực và tiêu cực về thân chủ  sử dụng các công cụ đánh giá những thay đổi của thân chủ  sử dụng các nguồn phản hồi khác như người giám sát, nhóm đồng đẳng có quan hệ với thân chủ 3.2.1 Đánh giá Trước hết nhân viên xã hội chỉ cho thân chủ thấy tính logic của lý thuyết nhận thức. Sau đó, nhân viên xã hội đánh giá niềm tin của thân chủ, xác định những niềm tin lệch lạc gây ra vấn đề hiện tại. Niềm tin của thân chủ được đánh giá qua một tiến trình gọi là “chất vấn kiểu Socrat” (Socrat dạy học bằng cách đặt câu hỏi cho sinh viên trả lời cho đến khi ra câu trả lời). nhân viên xã hội đánh giá tính xác thực của các giả định của thân chủ lien quan đến vấn đề qua việc đặt câu hỏi. Sau khi thân chủ mô tả vấn đề hiện tại, nguồn gốc phát sinh vấn đề, nhân viên xã hội có thể hỏi các dạng câu hỏi sau để đánh giá:  trước hết, khám phá niềm tin cốt lõi liên quan đến vấn đề hiện tại của thân chủ (anh/chị nghĩ gì khi……? Anh/chị kết luận sao? Việc đó có ý nghĩa gì đối với anh/chị?  Đằng sau niềm tin cốt lõi liên quan đến vấn đề hiện tại của thân chủ có gì logic?  Có gì hỗ trợ cho quan điểm của thân chủ  Có những giải thích nào khác cho quan niệm của thân chủ?  Có những niềm tin, cảm xúc, hành vi nào tác động đến mức dính bén vấn đề của thân chủ? 3.2.2 Can thiệp Một khi niềm tin của thân chủ quá kiên vững, nhân viên xã hội can thiệp bằng cách giúp cho thân chủ nhận ra vấn đề hiện tại, thực hành các bài tập giải quyết vấn đề hay đối phó với vấn đề. Khi thân chủ tỏ ra có niềm tin lệch lạc trầm trọng, nhân viên xã hội và thân chủ phải xác định các hoàn cảnh, tình huống tạo ra sự lệch lạc niềm tin, quyết định phương cách thích nghi hay thay đổi cách nghĩ và sau đó điều chỉnh cách nghĩ. Nhân viên CTXH ứng dụng thuyết Nhận Thức có thể giúp thân chủ bằng các phương pháp sau: Thay đổi nhận thức/cognitive restructuring: Kỹ thuật này được sử dụng khi niềm tin của thân chủ lệch lạc có vấn đề. Thông qua thảo luận, trao đổi, nhân viên xã hội giúp thân chủ thay đổi phần B trong mô hình ABC (A = sự việc diễn ra/ activating event; B = niềm tin về sự việc belief; C = cảm xúc hay hành động gây ra do niềm tin/consequences. Ví dụ trời mưa thay vì suy nghĩ tiêu cực như “Mọi thứ xám xịt và xấu xí. Một ngày như vầy chẳng đem lại ích lợi gì cho mình hết” thì đổi cách nghĩ tích cực “Bình an biết bao! Hôm nay mình có thể ở nhà đọc sách. Thật tuyệt!” Để thay đổi hệ thống niềm tin của thân chủ cân thực hiện 3 bước sau: Thứ nhất giúp thân chủ xác định những tư tưởng trước và trong khi xảy ra hành vi, tình cảm tiêu cực (Cái gì diễn ra trong đầu tôi?). Cần phải giúp thân chủ phản ánh lại tư tưởng cảm xúc của mình như thể sự việc đang xảy ra lúc này đây. Nhân viên xã hội có thể giúp thân chủ tưởng tượng lại sự việc (anh/chị hãy nhắm mắt lại, hít thở sâu, hình dung ra mình đang ở trong tình huống đó. Anh chị đang làm gì? Đang nghĩ gì?) nhân viên xã hội có thể mời các thân chủ khác tham gia đóng kịch để đi đến kết luận. Bằng cách diễn lại tình huống, thân chủ có thể gợi lại luồng tư tưởng tạo ra vấn đề. Cũng có thể sử dụng bảng đánh gía bốn cột: các tình huống gây stress (A), tư tưởng tự động (B), giả định của thân chủ, cảm xúc (C). ví dụ một người bị từ chối khi đi xin việc (A) có thể nghĩ rằng “mình sẽ không bao giờ có việc làm” (B), bởi vì “mình không có giá trị” (giả định), dẫn đến trầm cảm (C) Bước hai là đánh giá mức độ mong muốn thay đổi tư tưởng của thân chủ. Để làm được điều này, nhân viên xã hội giúp thân chủ phân tích lợi hại của việc thay đổi tư tưởng. Có thể sử dụng giấy viết để liệt kê hết những phần thưởng cũng như cái gia phải trả cho việc thay đổi niềm tin. Sau cùng, nhân viên xã hội thách đố các niềm tin lệch lạc của thân chủ bằng cách thiết kế các thí nghiệm hay công tác tự nhiên lien quan đến vấn đề của thân chủ để phá đổ niềm tin lệch lạc đó. Ví dụ một sinh viên tin rằng hễ cô nói gì ra thì cả lớp đều cười, nhân viên xã hội có thể yêu cầu cô thử phát biểu 1 lần trước lớp và xem phản ứng của người khác. 3.2.2.1 Ứng phó nhận thức/cognitive coping: Giúp thân chủ chuẩn bị sẵn một phương thức mới để ứng phó với những hoàn cảnh tiêu cực. Thí dụ mỗi lần giận dữ muốn la hét, đập phá thì đi bộ 100 bước ra khỏi hiện trường. Một số phương cách: Huấn luyện Tự bảo mình: thân chủ nhận và học đối phó với tình huống cách hiệu quả hơn bằng cách tự kỷ ám thị ý nghĩ tích cực. Ví dụ một người sợ nói trước đám đông có thể tự nói với mình rằng tôi cũng đâu có thua ai, tôi làm được bao nhiêu chuyện huống hồ gì đây chỉ là chuyện nhỏ Huấn luyện kỹ năng giao tiếp: thân chủ được huấn luyện các kỹ năng xã hội, kỹ năng thương thuyết, sự quyết đoán để có thể xây dựng các mối tương quan thân thiết với người khác mà cải thiện tình cảm tiêu cực. Thân chủ học cách lắng nghe, đối thoại ôn hoà, rõ ràng, mạch lạc, dùng câu nói chủ yếu về “Tôi”/“I” messages, tức là nói về vấn đề, cảm xúc, ý muốn của bản thân, thay vì chĩa mũi dùi công kích sang người đối diện. Thí dụ người chồng đã hẹn sáng thứ bảy chở vợ về thăm quê ngoại, nhưng lại đi uống cà phê với bạn gần trưa mới về. Thay vì nói “Tại sao sáng thứ bảy nào anh cũng phải đi uống cà phê, bỏ uống một sáng thứ bảy có chết không? Người gì đâu không biết giữ lời hứa gì hết? Nói đi nửa tiếng mà đi tới giờ này mới về? Sao không đi luôn tới sáng mai đi?” Người vợ có thể nói “Em chờ gần hai tiếng đồng hồ, mất hết cả hứng thú. Em không muốn trễ hẹn với Ba Má.” 3.2.2.2 Huấn luyện phương pháp giải quyết khó khăn/problem solving training Đây là phương pháp 5 bước gồm xác định vấn nạn, tìm kiếm và liệt kê các giải pháp, gạn lọc giải pháp, chọn giải pháp thích hợp nhất, và sau cùng, hoạch định kế hoạch thi hành. Phương cách hữu hiệu nhất để Huấn luyện phương pháp giải quyết khó khăn là sắm vai. Trước hết, Nhân viên xã hội làm mẫu để thân chủ học và rồi yêu cầu thân chủ đóng vai, luyện cách giải quyết khó khăn. Nhiều nhân viên XH phối hợp hai thuyết Nhận Thức và Thuyết hành vi để giúp thân chủ. Thí dụ để giúp những người có bệnh trầm cảm, nhân viên CTXH trước hết tập cho thân chủ thay đổi cách suy nghĩ từ “ly nước vơi một nửa” sang “ly nước đầy một nửa” (đây là giai đoạn B của công thức ABC), từ đó tiến đến giai đoạn C tức là có một hành động tích cực nào đó để chống cơn trầm cảm. Kỹ thuật dùng phản ứng thưởng hay phạt/positive hoặc negative reinforcement của thuyết hành vi được áp dụng để khuyến khích những cách ứng xử lành mạnh và làm giảm dần những ứng xử không lành mạnh, dẫn đến bi quan yếm thế. Nhận Thức hành vi liệu pháp/Cognitive behavioral therapy thường được áp dụng trong thuật làm cha mẹ; trong việc điều trị bệnh nghiện ngập kể cả ma túy, rượu, cờ bạc và tình dục; trong tư vấn gia đình; và trong điều trị các triệu chứng tâm lý như bồn chồn, trầm cảm, căng thẳng thần kinh. 4. Thuyết hệ thống cảm xúc gia đình Từ những năm 1960 khi mới bắt đầu xuất hiện, học thuyết hệ thống cảm xúc gia đình của Murray Bowen đề xướng đã trở nên rất hữu dụng đặc biệt trong việc đánh giá và trị liệu gia đình. Học thuyết này đã cho một khung phân tích toàn diện để hiểu được các mối lien kết tình cảm gia đình tác động thế nào đến mỗi cá nhân trong gia đình. 4.1 Nội dung chính của thuyết 4.1.1 Đa thế hệ Cá tính của con người và cách ứng xử của họ trong gia đình chịu ảnh hưởng từ nhiều thế hệ. Thí dụ những cá tính phục tùng, trấn áp, thống trị, hay gây sự, lạnh lùng… có thể trở nên cố định hơn, hoặc đậm nét hơn qua các thế hệ (cha nào con nấy). Mặt khác, Bowen còn chỉ ra rằng các mối quan hệ với đại gia đình có thể cũng quan trọng cho sự phát triển cá tính của con người như các mối quan hệ với gia đình hạt nhân. 4.1.2 Sự tách rời của cá nhân Cá nhân lành mạnh hay dễ thích nghi là do sự tách rời cá nhân quyết định. Điều này mang hai ý nghĩa, sự tách rời cả về tâm lý lẫn thể lý. Trước hết đó là khả năng một người có thể phân biệt và quân bình giữa những gì người ấy nghĩ và những gì người ấy cảm thấy, giữa lý trí và tình cảm. Suy nghĩ là có khả năng nhìn các phản ứng và các thành kiến của mình một cách khách quan. Còn cảm xúc thì cung cấp các thông tin về tầm quan trọng của vấn đề đối với bản thân. Sau nữa, sự tách rời cá nhân còn là khả năng tách rời thể lý. Qua quá trình trưởng thành, cá nhân lành mạnh sẽ dần dần tách rời khỏi gia đình, ở riêng, có suy nghĩ, cảm xúc, và cuộc sống riêng. Sự phát triển lành mạnh này không làm hại đến mối quan hệ tốt đẹp với gia đình gốc. 4.1.3 Mối quan hệ ba chiều/ tam giác Quan hệ thân thiết giữa hai người trong gia đình có thể trở nên căng thẳng (hai người, dù thương yêu nhau đến nấy, cũng không tránh khỏi những lúc mâu thuẫn, xung đột) vì vậy cần người thứ ba để được ổn định Khi có chuyện buồn phiền hay mâu thuẫn, ta thường có khuynh hướng giải tỏa hay tìm sự giúp đỡ của người thứ ba. Người thứ ba (có thể là nhiều người thứ ba khác nhau tùy theo nhu cầu của hai người kia) giữ vai trò trung gian hoà giải, cố vấn tâm lý, hay an ủi (nghe than thở). Thí dụ khi tôi có chuyện buồn phiền với người chồng thì tôi đi giải tỏa nỗi niềm với bạn thân để hỏi ý kiến. Quan hệ ba chiều là lành mạnh, tuy nhiên, trong một số trường hợp, nó có thể có ảnh hưởng tai hại đến sự tách rời (trưởng thành lên) của cá nhân. Thí dụ: người mẹ nạn nhân của bạo hành bởi người cha, luôn luôn dựa vào đứa con trai để tìm nguồn an ủi và chỗ nương tựa tinh thần. Tình trạng này sẽ biến đứa con thành người bảo vệ mẹ và hoà giải bố mẹ. Vai trò kéo dài này sẽ ảnh hưởng đến sự trưởng thành tự nhiên của đứa con nghĩa là tách rời khỏi suy nghĩ, cảm xúc, vấn đề, cuộc sống thường ngày của gia đình gốc và xây dựng suy nghĩ, cảm xúc, vấn đề, cuộc sống thường ngày của riêng mình. 4.1.4 Bồn chồn lo lắng trong hệ thống tâm lý gia đình Bồn chồn lo lắng là một cảm xúc khó chịu nhưng lành mạnh có công dụng như một tín hiệu báo trước các mối đe doạ hay hiểm nguy (Marks, 1987). Triệu chứng của bồn chồn khó chịu là cảm giác căng thẳng và sự hoạt động vượt mức bình thường của hệ thống thần kinh trung ương. Tình huống gây ra cảm giác bồn chồn khó chịu có thể là các cơ hội phát triển (thí dụ sinh viên sắp đến kỳ thi ra trường, cô gái sắp đến ngày lên xe hoa…) hoặc là các mối đe doạ. Cảm giác này chỉ trở thành vấn nạn nếu nó cản trở khả năng giải quyết sự việc của cá nhân. Có bốn loại gia đình thường xảy ra bồn chồn khó chịu:  Gia đình vợ chồng không hoà thuận: mỗi người trút cảm giác bồn chồn khó chịu của mình lên người kia và tìm cách điều động, kiểm soát người đó.  Gia đình một người trong hai vợ chồng có vấn đề tâm lý: người còn lại cố gắng thích ứng để duy trì hạnh phúc, và vì vậy có thể có cảm giác bồn chồn khó chịu.  Gia đình có một hay nhiều đứa con có vấn đề tâm lý: cha mẹ sẽ hướng cảm giác bồn chồn khó chịu của mình vào đứa trẻ, làm cho nó có những phản ứng đối phó tiêu cực.  Gia đình có những thành viên gắn bó với nhau một cách bất bình thường về tâm lý, làm cản trở quá trình tách rời khỏi gia đình một cách lành mạnh và cần thiết của cá nhân. Mối quan hệ gắn bó quá đáng này, mà Erikson gọi là “vướng mắc”/enmeshed, tạo ra căng thẳng, và để giảm căng thẳng những người liên quan sẽ có thể cố gắng tránh mặt nhau. Thí dụ trong nhiều gia đình Á châu cha mẹ thường tự hào họ hy sinh tất cả cho con cái, vui cái vui của con, buồn cái buồn của con, coi sự thành công hay thất bại của con cái là thành công hay thất bại của mình. Sự nhập chung/fusion này không lành mạnh, nó làm cản trở sự tách rời tự nhiên của đứa con, có thể tạo ra sự căng thẳng cho mọi người liên quan và đứa con có thể sẽ tìm cách tránh xa bố mẹ. Trong bốn loại gia đình trên, bầu không khí căng thẳng ảnh hưởng đến tất cả các thành viên và có thể truyền qua các thế hệ. Trong các gia đình bất hạnh này, những thành viên kém khả năng tách rời sẽ có triệu chứng bồn chồn khó chịu cao, sẽ có khuynh hướng tìm đến bạn bè, hay chồng, vợ cũng có triệu chứng bồn chồn khó chịu như mình, và thế là sự bồn chồn khó chịu được truyền sang và gia tăng qua các thế hệ. 4.1.5 Cha mẹ phóng chiếu lên con cái Đây là một trong những hình thức của “cơ chế tự vệ”: quy kết những cảm nghĩ, tình cảm của mình cho người khác, gán cho người khác những ước muốn và những xung động bất ổn mà chính mình có, để khỏi phải đối diện với vấn đề của mình. Thí dụ người vợ giận chồng vì không dành nhiều thời gian cho gia đình nhưng nói với người chồng rằng đứa con của mình giận bố vì vắng nhà nhiều. Cơ chế tự vệ tâm lý này là cách truyền cảm xúc bồn chồn lo lắng qua các thế hệ. Những đứa con thường xuyên lâu dài bị cha mẹ đổ cho những cảm xúc, đặc tính tiêu cực sẽ có thể tin là chúng thực sự có những cảm xúc, những cá tính đó và có cách cư xử thích ứng. Trong thí dụ trên, có thể sự kiện bố vắng nhà không ảnh hưởng nhiều đến vui buồn của đứa trẻ (có khi các con còn vui khi bố vắng nhà nếu bố khó tính, hay la rầy), nhưng do ảnh hưởng của mẹ, đứa trẻ có thể dần dần sẽ có cảm xúc buồn. Một thí dụ khác: nếu đứa trẻ thường xuyên bị bố mẹ mắng là ngu dốt, đứa trẻ sẽ có khả năng mất dần ý chí phấn đấu học hỏi và trở thành ngu dốt thật sự. 4.1.6 Sự đồng hóa/tan biến và cắt đứt tình cảm Sự đồng hóa/tan biến trái nghĩa với sự tách rời của cá nhân. Đây là tình trạng liên quan đến hai hay nhiều người trong hệ thống tam giác mà trong đó một thành viên hy sinh sự tách rời, trưởng thành của cá nhân để tạo ra sự quân bình cho hai người kia. Khi một người đặc biệt bị đồng hóa/tan biến trong mối tương quan với 1 người khác thì người này sẽ có phản ứng mạnh mẽ với người kia. Ví dụ một người mẹ bị chồng đánh và lôi đứa con gái 12 tuổi về phía mình thì tương quan mẹ con giữa 2 người này có khuynh hướng hợp nhất/tan biến. Cảm xúc vui buồn của mẹ sẽ trở thành cảm xúc của con và đứa trẻ không có chỗ để phát triển đời sống cảm xúc của cá nhân mình. Thông thường cả hai phía đều không nhận ra sự tai hại này vì thiếu khả năng biện phân. Đối với đứa bé, cơ cấu này đã hình thành trước khi giai đoạn trưởng thành để nó có thể phân biệt được sự việc. Nếu như chúng ta thường kém sáng suốt trong khi bị tan biến/ đồng hóa trong các tương quan thì ta lại cũng có khả năng thoát khỏi các mối tương quan. Đây gọi là cắt đứt tình cảm khi một người cố gắng tách mình ra khỏi một số thành viên hay toàn bộ gia đình. Cắt đứt tình cảm có khi là kết quả của việc người đó không có khả năng trực tiếp giải quyết vấn đề bị đồng hóa nói trên nên tự tách mình ra khỏi các tương quan với người khác. Sự cắt đứt tình cảm này đôi khi rất phức tạp, đi từ việc tránh gặp mặt (bỏ nhà ra đi ở tuổi dạy thì) đến việc không nói về tương quan căng thẳng giữa hai người. ví dụ một bé trai mâu thuẫn với mẹ nó có thể kể cho mẹ các sinh hoạt ở trường nhưng lại không nói về cảm xúc của nó đối với mẹ, do đó đã tạo ra các tương quan giả tạo và đứa trẻ có khuynh hướng đi tìm những tương quan khác bên ngoài gia đình như trường học, công sở 4.1.7 Những ý khác Bowen cho rằng trong gia đình hạt nhân, thứ tự anh chị em ai sinh trước ai sinh sau cũng có thể nói lên phần nào đó sự phát triển nhân cách của trẻ. Ví dụ con lớn thường có khung hướng bảo thủ và trách nhiệm hơn trong khi con út lại xã giao giỏi và dễ nổi loạn. Các vấn đề khác cũng cần quan tâm như giới tính của anh chị em, khoảng cách giữa từng đứa, các ảnh hưởng của môi trường bên ngoài…. 4.2 Đánh giá và can thiệp CTXH Thông thường, các vấn đề trong gia đình tựu trung ở quan hệ tam giác, sự đồng hóa/tan biến, và sự cắt đứt tình cảm. Những vấn đề này cho thấy gia đình hoặc quá thờ ơ hoặc quá chú tâm đến các hoạt động gia đình mình. Mục tiêu của loại trị liệu này là làm sao mở ra, hay khai khẩn hệ thống gia đình, phá bỏ tương quan tam giác, thiết lập các tương quan mới giữa các thành viên trong gia đình hạt nhân và gia đình mở rộng. Nhân viên xã hội có thể thực hiện các công việc sau: - giảm sự căng thẳng gia đình - gia tăng khả năng phản tỉnh của các thành viên - gia tăng sự tách biệt cá nhân bằng cách tổ chức lại hệ thống tình cảm gia đình sau khi xác định và điều chỉnh các tương quan tam giác có vấn đề và khai khẩn các tương quan tránh né - tăng cường khả năng chia sẻ các bận tâm về hệ thống gia đình của các thành viên - uốn nắn sự bất bình đẳng trong gia đình bằng cách ngăn chặn hay kiểm soát những thành viên cư xử theo lối thống trị không phù hợp 4.2.1 Đánh giá Một trong các phương pháp có thể sử dụng để đánh giá đó là sơ đồ quan hệ gia đình. Sơ đồ này thể hiện tương quan 3 thế hệ, gồm các thông tin cơ bản về các thành viên trong gia đình (ngày sinh, ngày mất, hôn nhân, các cuộc di chuyển, bệnh tật), tính cách căn bản và mức độ chức năng của mỗi thành viên (trình độ học vấn, nghề nghiệp, tình trạng sức khỏe, tài năng, những thành công, thất bại) và các kiểu tương quan. Cũng có thể thêm vào cấu trúc gia đình (vai trò, nguyên tắc, giới hạn) và các tác động của các biến cố trong sơ đồ này. Qua việc tham gia lập sơ đồ quan hệ, các thành viên trong gia đình hiểu hơn về gia đình mình, những tương quan giữa các thành viên và các mối quan hệ tam giác đã phát triển ra sao. Đây còn là cơ hội để các thành viên bộc lộ suy nghĩ và biết nhau hơn. Họ cũng nhận ra những hành vi của họ đã nâng đỡ hay cản trở tương quan gia đình để từ đó chính bản thân họ đưa ra những giải pháp cải thiện tình hình. Tương quan giữa thân chủ và nhân viên xã hội trong phương pháp trị liệu này phải làm sao cho các thành viên trong gia đình cảm thấy an toàn và thoải mái giải tỏa các lo âu của mình. Nhân viên xã hội phải cố gắng tập trung vào những bận tâm của gia đình và tạo ra tương quan trao đổi thân thiện cũng như phải bình tĩnh, hâm nóng bầu khí nguội lạnh hoặc làm giảm nhiệt bầu khí quá nóng trong gia đình phải giữ được tính khách quan trong mọi vấn đề, tránh mọi thành kiến hay định kiến để làm sao cho mọi thành viên giải tỏa được mọi suy nghĩ của họ. Nhân viên xã hội phải để ý đến những phản ứng tình cảm thái quá và những tương quan tam giác giữa các thành viên trong gia đình. Nói cách khác, vai trò của nhân viên xã hội giống như là một huấn luyện viên: giữ tình trạng lo lắng hay căng thẳng ở mức thấp nhất, tránh các phản ứng tình cảm, tạo ra những tương quan mang tính cách xây dựng, gợi mở để các thành viên thảo luận và tương tác với nhau. 4.2.2 Can thiệp Phá vỡ quan hệ ba chiều/ tam giác Với kỹ thuật này, nhân viên xã hội giúp phá bỏ quan hệ tam giác có vấn đề và mở ngõ cho các thành viên trong gia đình tạo ra các mối liên kết lành mạnh hơn, giúp cho một thành viên nào đó trong quan hệ tam giác cũ trở nên tự lập và có khả năng tách rời hơn. Ví dụ trong tam giác cha, mẹ, con có vấn đề, cả hai cha mẹ tránh né tương quan đổ vỡ giữa 2 người bằng cách lập ra quan hệ ba chiều, lôi đứa con vào cuộc. nhân viên xã hội có thể hướng dẫn đôi vợ chồng dành thời gian nói lên những suy nghĩ của bản thân mình về người kia. Nếu họ cần người thứ ba làm trung gian, họ có thể nhờ một thành viên đáng kính trong gia đình như anh chị, chú, thím. Nhân viên xã hội giúp họ diễn lại các biến cố để xem lại cách họ đã tương tác (hoặc có thể đổi vai cho nhau). Gia tăng khả năng thấu hiểu Thuyết hệ thống gia đình tin rằng hiểu biết sẽ dẫn đến đổi thay. Nhân viên xã hội tạo ra những buổi thảo luận giúp những người trong cuộc tự soi để hiểu rõ hơn những tác động của các mối tương quan lên tính cách và hành vi của mình. Nhân viên xã hội có thể sử dụng kỹ thuật tự xét lại bản thân và tình thế trong đó nhân viên xã hội đặt câu hỏi, đưa ra những nhận định, đề nghị các cách giải thích mới về vấn đề để các thành viên trong gia đình có thể tự phản tỉnh. Ví dụ 2 người trong gia đình có mâu thuẫn với nhau được giúp ngồi lại thảo luận về những khác biệt của mình trong bình tĩnh và tôn trọng để từ đó cùng với nhau tìm ra hướng giải quyết vấn đề. Nhân viên xã hội đóng vai trò hướng dẫn trực tiếp và cắt nghĩa các hành vi hiện tại. phương pháp này làm cho các thành viên trong gia đình tăng khả năng đánh giá và hiểu biết cảm xúc, thái độ và hành vi của người khác để cùng nhau chọn lựa các giải pháp. Nhân viên xã hội cũng có thể sử dụng kỹ thuật nhìn lại quá trình phát triển để khám phá mối liên hệ giữa hành vi hiện tại với các hành vi trong quá khứ. Nếu một thanh thiếu niên tỏ thái độ chống đối gia đình, nhân viên xã hội có thể tổ chức một buổi thảo luận cho các bậc cha mẹ xem nguyên nhân gốc từ đâu, những bối cảnh nào suốt đời thơ ấu đã khiến trẻ hôm nay lại có hành vi như thế. Nhân viên xã hội giúp gia đình trực diện với các hành vi lệch lạc của trẻ để từ đó hiểu hơn những tâm tư, cảm xúc của trẻ mà có những cách nghĩ, cách làm khác phù hợp hơn khi đối xử với trẻ. Hai kỹ thuật khác có thể được sử dụng là giải tỏa suy nghĩ (giúp nói ra được những gì giữ trong lòng) và bày tỏ cảm xúc bằng cách dùng đại từ “tôi” (bày tỏ cảm xúc của mình thay vì dán nhãn, chỉ trích tiêu cực) Giáo dục Phương pháp này liên quan đến việc làm phát triển sự thấu hiểu. Bằng cách giải thích cho thân chủ biết các giai đoạn phát triển thong thường của một gia đình, nhân viên xã hội giúp các thành viên trong gia đình cảm thấy những cảm xúc hành vi của họ hiện thời là điều bình thường. điều này giúp họ bớt phòng vệ và chủ động hơn trong việc tìm cách thay đổi tình thế. Nhân viên xã hội cũng chỉ cho thân chủ thấy rõ những yếu tố môi trường nào ảnh hưởng đến đời sống gia đình của họ. Ví dụ, một người chồng có thể dùng những bận rộn của công việc để tránh né những căng thẳng gia đình sau vỡ ra vấn đề sẽ tự tìm hướng giải quyết sao cho dung hòa giữa bản thân – công việc – vợ con. Những câu chuyện thay thế Vào giai đoạn đầu của quá trình can thiệp, nhân viên xã hội có thể yêu cầu các thành viên trong gia đình nói riêng với mình những vấn đề nhạy cảm để tránh những căng thẳng giữa họ. nếu căng thẳng ở mức cao độ đến nỗi tương quan tốt đẹp giữa họ không thể phát triển được, nhân viên xã hội có thể dung những câu chuyện thay thế để kéo họ ra khỏi sự bận tâm về gia đình mình mà có cái nhìn khách quan về tình hình thực tế. nhân viên xã hội kể cho họ nghe ví dụ về một gia đình nào đó có những vấn đề tương tự và yêu cầu các thành viên trong gia đình chia sẻ nhận định và đề nghị giải pháp cho gia đình thay thế kia (nhưng thực chất là cho chính bản thân họ). Làm việc với các cá nhân Một trong những ưu điểm của thuyết hệ thống gia đình là cho phép làm việc với tiểu hệ thống hay từng thành viên trong gia đình. Can thiệp theo thuyết này đòi hỏi sự ý thức (mà không nhất thiết phải có sự hiện diện) của mọi thành viên trong gia đình. Qua trị liệu cá nhân, nhân viên xã hội giúp thân chủ vẽ biểu đồ hệ thống tương tác gia đình và xem xét các hành vi của thân chủ trong tương quan với biểu đồ đó. Nhân viên xã hội giúp thân chủ quan sát bản thân trong các quan hệ ba chiều và sau đó phá vỡ các tương quan tiêu cực bằng cách phát triển các tương quan lành mạnh với các thành viên khác trong gia đình. 5. Thuyết can thiệp khủng hoảng 5.1 Nội dung chính của lý thuyết Khủng hỏang: một tình trạng nguy khốn xảy ra, thường vượt quá khả năng đối phó của nạn nhân. Nếu không được giúp đỡ, khủng hoảng có thể gây ra những hậu quả trầm trọng về tâm lý, tư tưởng, khả năng ứng xử và cuộc sống của con người. Có thể chia khủng hoảng ra làm ba loại khác nhau: khủng hoảng phát triển, xảy ra trong cuộc đời bình thường, trong các biến cố thường nhật của cuộc sống khi người ta gặp phải những thay đổi sâu sắc (tốt nghiệp trung học, sinh con, đổi nghề, về hưu) của mọi người, thí dụ thi cử, lập gia đình, sinh con, về hưu… ; Khủng hoảng hoàn cảnh: xuất hiện trong các biến cố bất thường, không được sự báo trước, ngoài tầm kiểm sóat (bệnh tật, thương tích, bị xâm hại tình dục, mất việc, mất người thân). Khủng hỏang sinh tồn thường xảy ra khi có mâu thuẫn nội tâm liên quan đến những vấn đề thuộc về mục đích sống, trách nhiệm, tính độc lập, tự do, cam kết (chọn lựa trong quá khứ, cảm thấy đời vô nghĩa, vấn đề về bậc thang giá trị và niềm tin) Khủng hoảng là mối nguy hiểm có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng kể cả tự tử, nhưng đồng thời cũng là cơ hội vì nó buộc con người phải cố gắng nỗ lực
- Xem thêm -