Tài liệu Các kiểu nhân vật trong truyện dân gian ở chương trình ngữ văn thcs

  • Số trang: 66 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 296 |
  • Lượt tải: 1
tailieuonline

Đã đăng 39841 tài liệu

Mô tả:

LỜI CỜ CỜM ỜN Trong thời gian thực hiện khóa luận tốt nghiệp, tôi xin chân thành cảm ơn giảng viên hướng dẫn ThS. Đỗ Thùy Trang đã giúp đỡ chỉ bảo tận tình để tôi hoàn thành tốt khóa luận của mình. Bên cạnh đó, tôi cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Khoa học Xã hội- trường Đại học Quảng Bình đã tạo điều kiện, giảng dạy và trang bị cho tôi những kiến thức cơ bản trong học tập nghiên cứu khóa luận cũng như trong công việc sau này. Những lời động viên, khích lệ từ gia đình, sự chia sẻ, học hỏi từ bạn bè cũng đã góp phần rất nhiều cho khóa luận tốt nghiệp của tôi đạt kết quả tốt hơn. Xin chân thành cảm ơn! Tác giả Nguyễn Hồng Sơn LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp này là do chính tôi thực hiện, các số liệu thu thập và kết quả phân tích trong khóa luận là trung thực, khóa luận không trùng với bất kỳ đề tài nghiên cứu khoa học nào. Những thông tin tham khảo trong khóa luận đều được trích dẫn cụ thể nguồn sử dụng. Tác giả Nguyễn Hồng Sơn MỤC LỤC PHẦN I: MỞ ĐẦU ...................................................................................................1 1. Lý do chọn đề tài .....................................................................................................1 2. Lịch sử nghiên cứu...................................................................................................1 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ...........................................................................2 4. Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu....................................................................3 5. Đóng góp của khoá luận ..........................................................................................4 6. Cấu trúc khoá luận ...................................................................................................4 PHẦN II: NỘI DUNG..............................................................................................5 CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỂN CỦA ĐỀ TÀI .......................5 1.1. Nhân vật văn học và chức năng của nhân vật văn học .........................................5 1.1.1. Nhân vật văn học............................................................................................5 1.1.2. Chức năng của nhân vật văn học....................................................................6 1.2. Phân loại nhân vật văn học ...................................................................................7 1.2.1. Xét từ góc độ nội dung tư tưởng hay phẩm chất nhân vật .............................7 1.2.2. Xét từ góc độ kết cấu .....................................................................................8 1.2.3. Xét từ góc độ thể loại .....................................................................................9 1.2.4. Xét từ góc độ chất lượng miêu tả ...................................................................9 1.3. Văn học dân gian và truyện dân gian..................................................................10 1.3.1. Văn học dân gian..........................................................................................10 1.3.1.1. Khái niệm văn học dân gian ..................................................................10 1.3.1.2. Chức năng và thuộc tính cơ bản của văn học dân gian .........................11 1.3.2. Truyện dân gian............................................................................................13 1.4. Truyện dân gian ở chương trình Ngữ văn THCS................................................14 CHƯƠNG 2. ĐẶC ĐIỂM CÁC KIỂU NHÂN VÂT ...........................................16 TRONG TRUYỆN DÂN GIAN Ở CHƯƠNG TRÌNH THCS ...........................16 2.1. Kiểu nhân vật truyền thuyết................................................................................17 2.1.1. Khái niệm truyện truyền thuyết ...................................................................17 2.1.2. Các kiểu nhân vật truyền thuyết...................................................................18 2.1.2.1. Nhân vật truyền thuyết khởi nguyên và anh hùng văn hóa .................18 2.2. Kiểu nhân vật cổ tích ..........................................................................................20 2.2.1. Khái niệm truyện cổ tích ..............................................................................20 2.2.2. Các kiểu nhân vật cổ tích .............................................................................21 2.2.2.1. Nhân vật cổ tích thần kỳ........................................................................21 2.2.2.2. Nhân vật cổ tích hiện thực (Cổ tích sinh hoạt)......................................22 2.2.2.3. Nhân vật cổ tích sự tích .........................................................................22 2.2.2.4. Nhân vật cổ tích loài vật........................................................................24 2.3. Kiểu nhân vật ngụ ngôn ......................................................................................24 2.3.1. Khái niệm truyện ngụ ngôn..........................................................................24 2.3.2. Các kiểu nhân vật ngụ ngôn .........................................................................25 2.3.2.1. Nhân vật loại vật....................................................................................25 2.3.2.2. Các nhân vật khác..................................................................................27 2.4. Kiểu nhân vật trong truyện cười .........................................................................28 2.4.1. Khái niệm truyện cười..................................................................................28 2.4.2. Các kiểu nhân vật trong truyện cười ............................................................29 2.4.2.1. Nhân vật của truyện cười hài hước và nhân vật của truyện cười châm biếm ....................................................................................................................29 2.4.2.2. Nhân vật chính và nhân vật phụ trong truyện cười ...............................31 CHƯƠNG 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIẢNG DẠY TÁC PHẨM TRUYỆN DÂN GIAN TRONG NHÀ TRƯỜNG THCS TỪ GÓC ĐỘ HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT.............................................................................................................34 3.1. Thực trạng và biện pháp giảng dạy tác phẩm truyện dân gian trong nhà trường THCS từ góc độ hình tượng nhân vật ........................................................................34 3.1.1. Thực trạng việc giảng dạy môn Ngữ văn nói chung và phân môn văn học dân gian trong nhà trường THCS nói riêng............................................................34 3.1.2. Các biện pháp giảng dạy tác phẩm truyện dân gian trong nhà trường THCS từ góc độ hình tượng nhân vật ...............................................................................35 3.1.2.1. Phân tích ngoại hình nhân vật ...............................................................37 3.1.2.2. Phân tích hành động, nội tâm, ngôn ngữ nhân vật ................................39 3.1.2.3. Kể chuyện phân vai nhân vật ................................................................39 3.1.2.4. Đóng kịch ..............................................................................................40 3.2. Thực nghiệm sư phạm ........................................................................................41 3.2.1. Những vấn đề chung của thực nghiệm.........................................................41 3.2.1.1. Mục đích, nhiệm vụ của thực nghiệm ...................................................41 3.2.1.2. Địa bàn, thời gian, đối tượng thực nghiệm............................................42 3.2.2. Tiến hành thực nghiệm.................................................................................42 3.2.2.1. Chọn nội dung thực nghiệm ..................................................................42 3.2.2.2. Thiết kế giáo án và phiếu điều tra .........................................................43 3.2.2.3. Lên lớp, dự giờ, rút kinh nghiệm...........................................................53 3.2.2.4. Tổ chức kiểm tra và chấm bài ...............................................................54 3.2.3. Đánh giá kết quả thực nghiệm .....................................................................54 3.2.3.1. Bảng đối chiếu kết quả thực nghiệm 1:.................................................54 3.2.3.2. Bảng đối chiếu kết quả thực nghiệm 2:.................................................54 PHẦN 3: KẾT LUẬN.............................................................................................56 TÀI LIỆU THAM KHẢO......................................................................................59 PHỤ LỤC ................................................................................................................60 DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ĐH, CĐ: Đại học, Cao đẳng Nxb GD: Nhà xuất bản giáo dục Nxb KHXH: Nhà xuất bản Khoa học xã hội Nxb: Nhà xuất bản SGK: Sách giáo khoa THCS: Trung học cơ sở VHDG: Văn học dân gian PHẦN I: MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Nhân vật là một trong những yếu tố trung tâm của văn học. Nhân vật trong chương trình Ngữ văn THCS góp phần làm cho tác phẩm thêm sinh động và là cầu nối đi tới tâm hồn của các em. Trong chương trình Ngữ văn THCS, các tác phẩm truyện dân gian chiếm số lượng tương đối khiêm tốn. Đó là những câu chuyện đầy chất kỳ ảo về một thời kì lịch sử trong quá khứ hay mang yếu tố hoang đường nhưng lại thể hiện ước mơ niềm tin của nhân dân về chiến thắng cuối cùng của cái thiện đối với cái ác, cái tốt đối với cái xấu, sự công bằng đối với sự bất công trong truyện cổ tích và sâu lắng về cuộc sống, tình người, về vạn vật xung quanh. Học sinh tiếp nhận những tác phẩm trong sách giáo khoa Ngữ văn với nhiều mục đích, với những cung bậc tình cảm khác nhau. Tuy vậy, phải nói rằng dù là tiếp nhận dưới hình thức nào nhân vật vẫn là yếu tố trung tâm giúp học sinh hiểu và nhớ lâu hơn về tác phẩm. Nghiên cứu các kiểu nhân vật trong truyện dân gian ở chương trình THCS mà tập trung chủ yếu là ở Ngữ văn lớp 6, góp phần khẳng định rõ hơn giá trị của văn học đối với các em. Đây là hướng nghiên cứu lý luận, hướng đến giáo pháp ứng dụng rất cần thiết đối với giáo viên THCS. Nghiên cứu các kiểu nhân vật trong truyện dân gian ở chương trình Ngữ văn THCS giúp hiểu rõ hơn về nhân vật, từ đó vận dụng vào quá trình học tập cũng như dạy học một cách có hiệu quả. Từ những lý do đó, chúng tôi đã quyết định chọn đề tài "Các kiểu nhân vật trong truyện dân gian ở chương trình Ngữ văn THCS" để nghiên cứu. Hi vọng đây sẽ là một tài liệu tham khảo hữu ích cho giáo viên và học sinh ở bậc cơ sở. 2. Lịch sử nghiên cứu Nhân vật văn học là một trong những yếu tố trung tâm trong tác phẩm văn xuôi tự sự. Nhân vật văn học chính vì vậy từ lâu đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều công trình. Đầu tiên, có thể kể đến công trình "Lý luận văn học" của Hà Minh Đức (chủ biên). Trong công trình, tác giả đề cập đến những yếu tố nghệ thuật tạo thành một tác phẩm chỉnh thể. Trong đó có yếu tố nhân vật nghệ thuật. Tác giả cho rằng: "văn học không thể thiếu nhân vật, vì đó là phương tiện cơ bản để nhà văn khái quát hiện thực một 1 cách hình tượng". Công trình đã cho chúng ta một cách nhìn nhận đúng đắn về nhân vật văn học. Đây cũng là cơ sở cho tôi trong việc xác định vai trò nhân vật trong tác phẩm truyện mà đặc biệt là trong truyện dân gian. Thứ hai, có thể kể đến công trình nghiên cứu “Văn học dân gian Việt Nam” của Hoàng Tiến Tựu (NXB GD- năm 1998). Nó giúp cho người đọc có một cái nhìn đa chiều hơn về những thuộc tính và chức năng cơ bản của văn học dân gian; Cảm nhận được cái hay, cái đẹp, giá trị thẩm mỹ của những tác phẩm văn học dân gian tiêu biểu được nhiều người ưa thích; Từ đó, hình thành được quan niệm, ý thức và những kỹ năng ban đầu về phương pháp học tập, nghiên cứu và giảng dạy văn học dân gian. Ngoài ra, còn có các công trình nghiên cứu về truyện dân gian như: Lịch sử văn học Việt Nam, tập I: Văn học dân gian, Giáo trình Đại học Sư phạm, 1961 (Bùi Văn Nguyên và nhiều tác giả biên soạn); Văn học dân gian Việt Nam, 1962, Giáo trình Đại học Tổng hợp (Đinh Gia Khánh- Chu Xuân Diên biên soạn); Văn học dân gian Việt Nam, 2 tập, 1972- 1973, Giáo trình Đại học Tổng hợp (Đinh Gia Khánh- Chu Xuân Diên biên soạn); Văn học dân gian Việt Nam, 1990, Giáo trình Đại học Tổng hợp (Lê Chí Quế, Võ Quang Nhơn, Nguyễn Hùng Vĩ biên soạn); Văn học dân gian, 2 tập, 19901991 (Tập 1: Đỗ Bình Trị biên soạn, Tập 2: Hoàng Tiến Tựu biên soạn); Văn học dân gian Việt Nam, 1997 (Đinh Gia Khánh- Chu Xuân Diên- Võ Quang Nhơn biên soạn), tái bản lần thứ 6, 2002; Bình giải ngụ ngôn Việt Nam, 1997, NXB Giáo dục (Trương Chính biên soạn). Đồng thời là các chuyên luận của các nhà nghiên cứu như: Tìm hiểu tiến trình văn học dân gian Việt Nam,1974 (Cao Huy Đỉnh) và Nghiên cứu tiến trình lịch sử văn học dân gian Việt Nam, 1978 (Đỗ Bình Trị) v.v...Nghiên cứu nhân vật ở sách giáo khoa chương trình Ngữ văn THCS chưa nhiều, vì vậy đề tài “Các kiểu nhân vật trong truyện dân gian ở chương trình Ngữ văn THCS” góp phần khái quát hóa hình tượng nhân vật văn học dân gian ở THCS. Hi vọng chúng tôi sẽ đưa đến cho bạn đọc cái nhìn đúng về bản chất của tác phẩm truyện dân gian và giá trị của nó đối với học sinh THCS. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3.1. Đối tượng nghiên cứu - Đề tài nghiên cứu các kiểu nhân vật trong các tác phẩm truyện dân gian ở chương trình Ngữ văn THCS. 2 3.2. Phạm vi nghiên cứu - Các tác phẩm truyện dân gian trong sách giáo khoa chương trình Ngữ văn THCS lớp 6 tập 1, NXBGD, tháng 4 năm 2006. 4. Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu 4.1. Nhiệm vụ nghiên cứu - Khảo sát và hệ thống hoá một số vấn đề cơ bản về nhân vật văn học và các phẩm truyện dân gian trong chương trình Ngữ văn THCS mà chủ yếu là ở chương trình Ngữ văn 6, tập 1. Từ đó, thấy được sự khác nhau giữa các kiểu nhân vật trong truyện dân gian. - Đề tài tập trung nghiên cứu các đặc điểm về tên gọi, ngoại hình, hành động, tính cách và diễn biến tâm lý của các kiểu nhân vật trong truyện truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện ngụ ngôn và truyện cười. - So sánh, đối chiếu các kiểu nhân vật và giá trị biểu hiện của hình tượng nhân vật trong từng tác phẩm truyện dân gian ở chương trình Ngữ văn THCS. - Đề xuất một số giải pháp và biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học và cảm thụ văn học dân gian qua hệ thống nhân vật. 4.2. Phương pháp nghiên cứu Để thực hiện đề tài: "Các kiểu nhân vật trong truyện dân gian ở chương trình Ngữ văn THCS", chúng tôi đã sử dụng các phương pháp sau: 4.2.1. Phương pháp đọc sách và tài liệu: Dùng để tìm hiểu, tham khảo những vấn đề nhân vật văn học, các kiểu nhân vật và ngôn ngữ nhân vật trong truyện dân gian ở chương trình Ngữ văn THCS. 4.2.2. Phương pháp phân tích- tổng hợp: dùng để phân tích, làm rõ được nét đẹp và ý nghĩa của từng nhân vật trong mỗi tác phẩm truyện dân gian. Phân tích yếu tố ngôn ngữ nhân vật, góp phần làm rõ đặc điểm của các nhân vật được nhắc đến. Phương pháp tổng hợp giúp cho người viết có cái nhìn khái quát, toàn diện về các kiểu nhân vật trong các tác phẩm truyện dân gian ở chương trình Ngữ văn THCS. 4.2.3. Phương pháp so sánh: Để tìm thấy điểm chung và điểm khác biệt giữa hệ thống các nhân vật và giá trị biểu hiện trong tác phẩm truyện truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện ngụ ngôn và truyện cười ở chương trình Ngữ văn THCS. Từ đó, đưa ra một cái nhìn bao quát hơn về các kiểu nhân vật trong các tác phẩm truyên dân gian đối với học sinh THCS. 3 4.2.4. Phương pháp khảo sát- thống kê: Dùng để khảo sát và thống kê các tài liệu đã tham khảo, các tác phẩm truyện dân gian trong sách giáo khoa Ngữ văn THCS có sự tham gia của các kiểu và loại nhân vật nào?. Từ đó, xác định được tầm quan trọng và vị trí của từng kiểu nhân vật trong các tác phẩm truyện dân gian được trích dạy trong chương trình. 4.2.5. Phương pháp phân loại: Trên cơ sở phân tích và tổng hợp lý thuyết, tiến hành phân tích và phân loại những nét đặc trưng của các kiểu nhân vật trong các tác phẩm truyện dân gian ở chương trình Ngữ văn THCS. Tất cả các phương pháp trên đều phục vụ cho việc nghiên cứu nhằm rút ra những ý cơ bản nhất liên quan đến đề tài. Trên cơ sở những kiến thức về tâm lý học, giáo dục học và những quan điểm, đường lối và chủ trương của Đảng, những chuẩn mực, quy phạm đạo đức của xã hội. Những tác phẩm truyện dân gian, lý luận và văn học đại cương, lý luận liên quan đến đặc điểm của các kiểu nhân vật trong truyện dân gian. 5. Đóng góp của khoá luận Từ việc phân tích đặc điểm của các kiểu nhân vật ở tác phẩm truyện dân gian trong sách Ngữ văn, chúng tôi khái quát đặc điểm của các kiểu nhân vật trong truyện dân gian ở trường THCS, góp phần giúp người đọc có cái nhìn sâu sắc hơn về bản chất và giá trị biểu hiện của các kiểu nhân vật trong các tác phẩm truyện dân gian ở trường THCS. Đề tài góp phần nâng cao kiến thức cho người nghiên cứu, là tài liệu tham khảo bổ ích cho sinh viên các trường ĐH, CĐ khối ngành sư phạm; học sinh và giáo viên THCS. 6. Cấu trúc khoá luận Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục. Phần nội dung của đề tài gồm có ba chương: Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiển của đề tài. Chương 2. Đặc điểm các kiểu nhân vật trong truyện dân gian ở chương trình THCS. Chương 3. Một số biện pháp giảng dạy tác phẩm truyện dân gian trong nhà trường THCS từ góc độ hình tượng nhân vật. 4 PHẦN II: NỘI DUNG CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỂN CỦA ĐỀ TÀI Con người luôn là hình tượng trung tâm của văn học thuộc mọi trào lưu và khuynh hướng. Hình tượng nhân vật là linh hồn của tác phẩm. Vì vậy, việc xây dựng thế giới hình tượng nhân vật bao giờ cũng là mối quan tâm hàng đầu của nhà văn, làm nên sức sống, giá trị của tác phẩm văn học. Tiếp nhận một tác phẩm, điều đọng lại sâu sắc, mạnh mẽ trong tâm hồn người đọc thường là số phận, tình cảm, diễn biến tâm trạng, dòng cảm xúc, suy nghĩ của những con người trong tác phẩm được nhà văn dày công thể hiện. 1.1. Nhân vật văn học và chức năng của nhân vật văn học 1.1.1. Nhân vật văn học Nhân vật văn học là con người được nhà văn miêu tả trong tác phẩm bằng phương tiện văn học. Những con người này có thể được miêu tả kỹ hay sơ lược, sinh động hay không rõ nét, xuất hiện một hay nhiều lần, thường xuyên hay từng lúc, giữ vai trò quan trọng nhiều, ít hoặc không ảnh hưởng nhiều lắm đối với tác phẩm. M.Gorki có lần khuyên một nhà văn trẻ: "Anh hãy bỏ nghề viết đi. Đó không phải là việc của anh, có thể thấy rõ như thế. Anh hoàn toàn không có khả năng miêu tả con người cho sinh động, mà đấy lại là điều chủ yếu". Miêu tả con người, đó chính là việc xây dựng nhân vật của nhà văn [4,tr.126]. Nhân vật văn học có thể là con người có tên (như Tấm Cám, Thạch Sanh, Sọ Dừa, Thánh Gióng, Âu Cơ, Lạc Long Quân...), có thể là những người không có tên (như thằng bán tơ, viên quan, mụ dì ghẻ, Thầy bói, Chú Ếch...) hay có thể là một đại từ nhân xưng nào đó (như một số nhân vật xưng tôi trong các truyện ngắn, tiểu thuyết hiện đại, như mình- ta trong ca dao...). Khái niệm con người này cũng cần được hiểu một cách rộng rãi trên 2 phương diện: về số lượng: hầu hết các tác phẩm từ văn học dân gian đến văn học hiện đại đều tập trung miêu tả số phận của con người. Về chất lượng: dù nhà văn miêu tả thần linh, ma quỉ, đồ vật, con vật, muông thú, cây cỏ hay những sinh thể hoang đường... như Dế Mèn, Dế Trũi, Xiến Tóc trong Dế Mèn phiêu lưu kí (Tô Hoài)... nhưng lại gán cho nó những phẩm chất của con người. Trong nhiều trường hợp, khái niệm nhân vật được sử dụng một cách ẩn dụ nhằm chỉ một hiện tượng nổi bật nào đó trong tác phẩm. Chẳng hạn, người ta thường nói đến nhân dân như là một nhân vật trung tâm trong Chiến tranh và hòa bình của L. Tônxtôi, 5 Ca cao là nhân vật chính trong Ðất dữ của G. Amađô, chiếc quan tài là nhân vật trong tác phẩm Chiếc quan tài của Nguyễn Công Hoan...Tô Hoài nhận xét về Chiếc quan tài: "Trong truyện ngắn Chiếc quan tài của Nguyễn Công Hoan, nhân vật không phải là người mà là một chiếc quan tài. Nhưng chiếc quan tài ấy chẳng phải là vô tri mà là một sự thê thảm, một bản án tố cáo chế độ thảm khốc thời Pháp thuộc. Như vậy, chiếc quan tài cũng là một thứ nhân vật". Tuy vậy, nhìn chung, nhân vật vẫn là hình tượng của con người trong tác phẩm văn học [24]. Nhân vật văn học là một hiện tượng nghệ thuật có tính ước lệ, có những dấu hiệu để nhận biết: tên gọi, những dấu hiệu về tiểu sử, nghề nghiệp, những đặc điểm riêng... Những dấu hiệu đó thường được giới thiệu ngay từ đầu và thông thường, sự phát triển về sau của nhân vật gắn bó mật thiết với những giới thiệu ban đầu đó. Nhân vật văn học không giống với các nhân vật thuộc các loại hình nghệ thuật khác. Ở đây, nhân vật văn học được thể hiện bằng chất liệu riêng là ngôn từ. Vì vậy, nhân vật văn học đòi hỏi người đọc phải vận dụng trí tưởng tượng, liên tưởng để dựng lại một con người hoàn chỉnh trong tất cả các mối quan hệ của nó. 1.1.2. Chức năng của nhân vật văn học Nhân vật văn học có chức năng khái quát những tính cách, hiện thực cuộc sống và thể hiện quan niệm của nhà văn về cuộc đời. Khi xây dựng nhân vật, nhà văn có mục đích gắn liền nó với những vấn đề mà nhà văn muốn đề cập đến trong tác phẩm. Vì vậy, tìm hiểu nhân vật trong tác phẩm, bên cạnh việc xác định những nét tính cách của nó, cần nhận ra những vấn đề của hiện thực và quan niệm của nhà văn mà nhân vật muốn thể hiện. Chẳng hạn, khi nhắc đến một nhân vật, nhất là các nhân vật chính, người ta thường nghĩ đến các vấn đề gắn liền với nhân vật đó. Gắn liền với Chị Dậu, Lão Hạc là thân phận của những người nông dân nghèo trong xã hội cũ. Gắn liền với nhân vật anh thanh niên trong "Lặng lẽ Sa Pa" của Nguyễn Thành Long là vấn đề về những con người thầm lặng cống hiến sức mình cho đất nước trong buổi đầu xây dựng xã hội chủ nghĩa. Gắn liền với Giôn-xi là vấn đề đấu tranh với căn bệnh sưng phổi và lý trí để được sống...Trong Chí Phèo của Nam Cao, nhân vật Chí Phèo thể hiện quá trình lưu manh hóa của một bộ phận nông dân trong xã hội thực dân nửa phong kiến. Ðằng sau nhiều nhân vật trong truyện cổ tích là vấn đề đấu tranh giữa thiện và ác, tốt và xấu, giàu và nghèo, những ước mơ tốt đẹp của con người... Do nhân vật có chức năng khái quát những tính cách, hiện thực cuộc sống và thể 6 hiện quan niệm của nhà văn về cuộc đời cho nên trong quá trình mô tả nhân vật, nhà văn có quyền lựa chọn những chi tiết, yếu tố mà họ cho là cần thiết bộc lộ được quan niệm của mình về con người và cuộc sống. Chính vì vậy, không nên đồng nhất nhân vật văn học với con người trong cuộc đời. Khi phân tích, nghiên cứu nhân vật, việc đối chiếu, so sánh có thể cần thiết để hiểu rõ thêm về nhân vật, nhất là những nhân vật có nguyên mẫu ngoài cuộc đời (Tnú trong Rừng xà nu ; bé Thu, ông Sáu trong tác phẩm Chiếc lược ngà ...) nhưng cũng cần luôn luôn nhớ rằng nhân vật văn học là một sáng tạo nghệ thuật độc đáo gắn liền với ý đồ tư tưởng của nhà văn trong việc nêu lên những vấn đề của hiện thực cuộc sống. Betông Brecht cho rằng: "Các nhân vật của tác phẩm nghệ thuật không phải giản đơn là những bản dập của những con người sống mà là những hình tượng được khắc họa phù hợp với ý đồ tư tưởng của tác giả” [25]. Tuy nhiên, hiện nay nhiều nhà nghiên cứu đã thấy rõ một số chức năng của nhân vật như: Chức năng miêu tả và khái quát các loại tính cách xã hội; chức năng tương tự như chức năng của một chìa khóa; chức năng biểu hiện quan niệm nghệ thuật của nhà văn về thế giới; chức năng tạo nên mối liên kết giữa các sự kiện trong tác phẩm. 1.2. Phân loại nhân vật văn học Nhân vật văn học là một hiện tượng hết sức đa dạng. Những nhân vật được xây dựng thành công từ xưa đến nay bao giờ cũng là những sáng tạo độc đáo, không lặp lại. Tuy nhiên, xét về mặt nội dung tư tưởng, kết cấu, chất lượng miêu tả..., có thể thấy những hiện tượng lặp đi lặp lại tạo thành các loại nhân vật khác nhau. Ðể nắm bắt được thế giới nhân vật đa dạng, phong phú, có thể tiến hành phân loại chúng ở nhiều góc độ khác nhau. 1.2.1. Xét từ góc độ nội dung tư tưởng hay phẩm chất nhân vật Có thể nói đến các loại nhân vật chính diện (nhân vật tích cực), nhân vật phản diện (nhân vật tiêu cực). Nhân vật chính diện là nhân vật đại diện cho lực lượng chính nghĩa trong xã hội, cho cái thiện, cái tiến bộ. Khi nhân vật chính diện được xây dựng với những phẩm chất hoàn hảo, có tính chất tiêu biểu cho tinh hoa của một giai cấp, một dân tộc, một thời đại, mang những mầm mống lí tưởng trong cuộc sống...có thể được coi là nhân vật lí tưởng. Ở đây, cũng cần phân biệt nhân vật lí tưởng với nhân vật lí tưởng hóa. Loại nhân vật sau là loại nhân vật được tô hồng, hoàn toàn theo chủ quan của nhà văn. Ở đây, nhà văn đã vi phạm tính chân thực của sự thể hiện. 7 Nhân vật phản diện là nhân vật đại diện cho lực lượng phi nghĩa, cho cái ác, cái lạc hậu, phản động, cần bị lên án. Trong quá trình phát triển của văn học, trong mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau, việc xây dựng các loại nhân vật trên cũng khác nhau. Nếu như trong thần thoại chưa có sự phân biệt rạch ròi giữa nhân vật chính diện và nhân vật phản diện thì trong truyện cổ tích, các truyện thơ Nôm, các nhân vật thường được xây dựng thành hai tuyến rõ rệt có tính chất đối kháng quyết liệt. Ở đây, hễ là nhân vật chính diện thường tập trung những đức tính tốt đẹp còn nhân vật phản diện thì hoàn toàn ngược lại. Trong văn học hiện đại, nhiều khi khó phân biệt đâu là nhân vật chính diện, đâu là nhân vật phản diện. Việc miêu tả này phù hợp với quan niệm cho rằng hiện thực nói chung và con người nói riêng không phải chỉ mang một phẩm chất thẩm mĩ mà bao hàm nhiều phẩm chất thẩm mĩ khác nhau, cái nhìn của chủ thể đối với sự vật nhiều chiều, phức hợp chứ không đơn điệu...Những nhân vật như Chí Phèo, Thị Nỡ, Tám Bính, Năm Sài Gòn...là những nhân vật có bản chất tốt nhưng đó không phải là phẩm chất duy nhất của nhân vật. Bakhtin cho rằng: cần phải thống nhất trong bản thân mình vừa các đặc điểm chính diện lẫn phản diện, vừa cái tầm thường lẫn cái cao cả, vừa cái buồn cười lẫn cái nghiêm túc. Chính vì vậy, ở đây, sự phân biệt chính diện, phản diện chỉ có ý nghĩa tương đối. Khi đặt nhân vật vào loại nào để nghiên cứu, cần phải xét khuynh hướng chủ đạo của nó đồng thời phải chú ý đến các khuynh hướng, phẩm chất thẩm mĩ khác nữa. Trong giai đoạn trước, những nhân vật như Kiều, Hoạn Thư, Thúc Sinh cũng được Nguyễn Du miêu tả ở nhiều góc độ, với nhiều phẩm chất khác nhau chứ không phải chỉ có một phẩm chất chính diện hoặc phản diện. 1.2.2. Xét từ góc độ kết cấu Xem xét chức năng và vị trí của nhân vật trong tác phẩm, có thể chia thành các loại nhân vật: nhân vật chính, nhân vật trung tâm, nhân vật phụ. Nhân vật chính là nhân vật giữ vai trò quan trọng trong việc tổ chức và triển khai tác phẩm. Ở đây, nhà văn thường tập trung miêu tả, khắc họa tỉ mỉ từ ngoại hình, nội tâm, quá trình phát triển tính cách của nhân vật. Qua nhân vật chính, nhà văn thường nêu lên những vấn đề và những mâu thuẫn cơ bản trong tác phẩm và từ đó giải quyết vấn đề, bộc lộ cảm hứng tư tưởng và tình điệu thẩm mĩ. Nhân vật chính có thể có nhiều hoặc ít tùy theo dung lượng hiện thực và những vấn đề đặt ra trong tác phẩm. Với những tác phẩm lớn có nhiều nhân vật chính thì 8 nhân vật chính quan trọng nhất xuyên suốt toàn bộ tác phẩm được gọi là nhân vật trung tâm. Trong không ít trường hợp, nhà văn dùng tên nhân vật trung tâm để đặt tên cho tác phẩm. Ví dụ: Lão Hạc của Nam Cao; Cô bé bán diêm của An-đéc-xen; Thạch Sanh và Sơn Tinh, Thủy Tinh,... Trong văn học dân gian; A.Q chính truyện của Lỗ Tấn; Truyện Kiều của Nguyễn Du... Trừ một hoặc một số nhân vật chính, những nhân vật còn lại đều là những nhân vật phụ ở các cấp độ khác nhau. Ðó là những nhân vật giữ vị trí thứ yếu so với nhân vật chính trong quá trình diễn biến của cốt truyện, của việc thể hiện chủ đề tư tưởng của tác phẩm. Nhân vật phụ phải góp phần hỗ trợ, bổ sung cho nhân vật chính nhưng không được làm mờ nhạt nhân vật chính. Có nhiều nhân vật phụ vẫn được các nhà văn miêu tả đậm nét, có cuộc đời và tính cách riêng, cùng với những nhân vật khác tạo nên một bức tranh đời sống sinh động và hoàn chỉnh. 1.2.3. Xét từ góc độ thể loại Có thể phân thành các nhân vật: nhân vật trữ tình, nhân vật tự sự và nhân vật kịch. Nhân vật tự sự là nhân vật được miêu tả theo phương thức tự sự, chủ yếu xuất hiện trong các tác phẩm tự sự như trong tiểu thuyết, truyện ngắn, truyện vừa, truyện thơ. Đây là loại nhân vật có thể được miêu tả đầy đặn nhất, phong phú nhất, ít bị hạn chế. Nhân vật kịch là nhân vật được miêu tả theo phương thức kịch, chủ yếu xuất hiện ở trong kịch. Vì kịch viết là để diễn bị hạn chế bởi không gian và thời gian nên nhân vật kịch chỉ được miêu tả ở những khâu xung đột căng thẳng nhất. Do đó nhân vật kịch giàu kịch tính, góp phần tạo nên tính kịch của vở kịch. Các nhân vật có tính kịch trong tư sự là loại nhân vật gần gũi với nhân vật kịch. Nhân vật trữ tình là nhân vật được xây dựng theo phương thức trữ tình, trực tiếp thể hiện cảm xúc, ý nghĩ trong tác phẩm. Nhân vật trữ tình thường xuất hiện dưới dạng phiến đoạn trong nhiều thể loại khác nhau như thơ trữ tình, bút kí, tùy bút nhưng chủ yếu là trong thơ trữ tình và thường gọi là "cái tôi trữ tình". 1.2.4. Xét từ góc độ chất lượng miêu tả Có thể phân thành các loại: nhân vật, tính cách, điển hình. Nhân vật là những con người nói chung được miêu tả trong tác phẩm. Ở đây, nhà văn có thể chỉ mới nêu lên một vài chi tiết về ngôn ngữ, cử chỉ, hành động...cũng có thể miêu tả kĩ và đậm nét. 9 Tính cách là nhân vật được khắc họa với một chiều sâu bên trong. Nó như một điểm quy tụ mà từ đó có thể giải thích được mọi biểu hiện muôn màu, muôn vẻ sinh động bên ngoài của nhân vật. Ðiển hình là tính cách đã đạt đến độ thực sự sâu sắc, là sự thống nhất giữa cái chung và cái riêng, cái khái quát và cái cá thể... Nói một cách nghiêm ngặt, thuật ngữ này chỉ được áp dụng từ chủ nghĩa hiện thực phê phán trở về sau. Ngoài những loại nhân vật được trình bày, có thể nêu lên một số khái niệm khác về nhân vật qua các trào lưu văn học khác nhau. Chẳng hạn, khái niệm nhân vật bé nhỏ trong văn học hiện thực phê phán, khái niệm nhân vật- con vật người trong chủ nghĩa tự nhiên, nhân vật- phi nhân vật trong các trào lưu văn học hiện đại chủ nghĩa ở phương Tây. 1.3. Văn học dân gian và truyện dân gian 1.3.1. Văn học dân gian 1.3.1.1. Khái niệm văn học dân gian Có không ít quan niệm và những cách diễn đạt khác nhau về khái niệm văn học dân gian đáng chú ý là những quan niệm sau đây: 1. Coi văn học dân gian là thành phần ngôn từ ở trong những sáng tác dân gian mang tính nguyên hợp (như tục ngữ, ca dao, dân ca, thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích…). Thành phần ngôn từ ở đây vừa là bộ phận của một chỉnh thể lớn hơn là nghệ thuật diễn xướng dân gian (bao gồm nhiều thành tố như: ngôn ngữ, nhạc, vũ điệu bộ) vừa là một chỉnh thể nhỏ có tính độc lập tương đối, có quy luật sinh thành, tồn tại, phát triển riêng, có thể và cần phải tách ra để nghiên cứu như một đối tượng riêng của một ngành khoa học chuyên môn. Và đó là ngành nghiên cứu chuyên môn về văn học dân gian (bên cạnh các ngành nghiên cứu chuyên môn khác, như: âm nhạc dân gian, vũ đạo dân gian, nghệ thuật sân khấu, nghệ thuật tạo hình dân gian…). 2. Quan niệm coi văn học dân gian chỉ là những sáng tác ngôn từ có giá trị nghệ thuật thực sự của nhân dân, chứ không phải là không thể bao gồm toàn bộ thành phần ngôn ngữ ở trong những sáng tác dân gian mang tính nguyên hợp và diễn xướng (như tục ngữ, ca dao, dân ca, truyện kể dân gian…). Với quan niện này, đối tượng nghiên cứu của môn văn học dân gian bị co lại rất hẹp, chỉ bao gồm những gì được coi là có giá trị văn học (nghĩa là có tính hình tượng rõ rệt). Đây là một biểu hiện của khuynh hướng lấy quan điểm nghiên cứu văn học (mà chủ yếu là văn học hình tượng, văn học 10 đã được chuyên môn hóa cao) để nhìn nhận, đánh giá văn học dân gian, một loại sáng tác ngôn từ khác với văn học viết rất nhiều phương diện (về lịch sử hình thành, phát triển, lực lượng sáng tác, phương thức, chức năng, thi pháp…). 3. Quan niệm coi văn học dân gian chỉ là một trong những thành tố của nghệ thuật diễn xướng (hay biểu diễn), một loại nghệ thuật tổng hợp bao gồm nhiều thành tố (ngôn ngữ, nhạc, vũ, động tác…) kết hợp chặt chẽ với nhau trong một chỉnh thể thống nhất không thể chia tách được. Và do đó, không có và không thể có nghiên cứu riêng về văn học dân gian mà chỉ có thể nghiên cứu chung tất cả các thành tố (văn- vũnhạc…) trong nghệ thuật diễn xướng mang tính tổng hợp ấy mà thôi. Với quan niệm này, chẳng những việc nghiên cứu riêng về thành phần nghệ thuật ngôn từ (văn học dân gian) bị phủ nhận mà việc nghiên cứu riêng về tất cả các thành phần nghệ thuật khác trong loại hình sáng tác dân gian mang tính tổng hợp và diễn xướng (như âm nhạc, vũ đạo…) đều bị phủ nhận. Trong ba quan niệm khác nhau về văn học dân gian đã nói trên, quan niệm thứ nhất được nhiều người tán thành hơn cả. Tuy cách diễn đạt, thể hiện có khác nhau, nhưng nhìn chung hầu hết các giáo trình, giáo khoa, tài liệu hướng dẫn học tập, giảng dạy về văn học dân gian trong nhà trường nước ta những năm gần đây đều đã và đang được viết chủ yếu theo quan điểm này. Nói một cách ngắn gọn thì văn học dân gian là một bộ phận của sáng tác dân gian, là nghệ thuật ngôn từ sinh thành, phát triển trong đời sống của nhân dân theo phương thức truyền miệng và tập thể. 1.3.1.2. Chức năng và thuộc tính cơ bản của văn học dân gian 1.3.1.2.1. Tính nguyên hợp và tính đa chức năng của văn học dân gian Tính nguyên hợp của văn học dân gian biểu hiện ở sự hòa lẫn những hình thức khác nhau của ý thức xã hội trong các thể loại của nó. Có thể nói rằng, văn học dân gian là bộ bách khoa toàn thư của nhân dân. Tính nguyên hợp về nội dung của văn học dân gian phản ánh tình trạng nguyên hợp về ý thức xã hôi thời nguyên thuỷ, khi mà các lĩnh vực sản xuất tinh thần chưa được chuyên môn hoá. Trong các xã hội thời kỳ sau, mặc dù các lĩnh vực sản xuất tinh thần đã có sự chuyên môn hoá nhưng văn học dân gian vẫn còn mang tính nguyên hợp về nội dung. Bởi vì đại bộ phận nhân dân, tác giả văn học dân gian, không có điều kiện tham gia vào các lĩnh vực sản xuất tinh thần khác nên họ thể hiện những kinh nghiệm, tri thức, tư tưởng tình cảm của mình trong văn học dân gian, 11 một loại nghệ thuật không chuyên. Về loại hình nghệ thuật: Tính nguyên hợp của văn học dân gian biểu hiện ở chỗ: Văn học dân gian không chỉ là nghệ thuật ngôn từ thuần túy mà là sự kết hợp của nhiều phương tiện nghệ thuật khác nhau. Sự kết hợp này là tự nhiên, vốn có ngay từ khi tác phẩm mới hình thành. Một bài dân ca trong đời sống thực của nó, không chỉ có lời mà còn có nhạc, điệu bộ, lề lối hát... Biểu hiện cụ thể của tính nguyên hợp là tính biểu diễn. Văn học dân gian có ba dạng tồn tại: tồn tại ẩn (tồn tại trong trí nhớ của tác giả dân gian), tồn tại cố định (tồn tại bằng văn tự ), tồn tại hiện (tồn tại thông qua diễn xướng). Tồn tại bằng diễn xướng là dạng tồn tại đích thực của văn học dân gian. Tuy nhiên, không thể phủ nhận hai dạng tồn tại kia; bởi vì như vậy sẽ dẫn tới phủ nhận khoa học về văn học dân gian và công việc giảng dạy văn học dân gian trong nhà trường. Trở lại vấn đề chính trong biểu diễn, các phương tiện nghệ thuật của tác phẩm văn học dân gian mới có điều kiện kết hợp với nhau tạo nên hiệu quả thẩm mỹ tổng hợp. Sự kết hợp này một mặt là biểu hiện của tính nguyên hợp, một mặt là lẽ tồn tại của tính nguyên hợp. 1.3.1.2.2. Tính truyền miệng, tập thể, vô danh và dị bản của văn học dân gian Văn học dân gian là sáng tác của nhân dân, nhưng không phải tất cả nhân dân đều là tác giả của văn học dân gian. Cần chú ý vai trò của cá nhân và quan hệ giữa cá nhân với tập thể trong quá trình sáng tác, biểu diễn, thưởng thức tác phẩm văn học dân gian. Tính tập thể thể hiện chủ yếu trong quá trình sử dụng tác phẩm. Vấn đề quan trọng ở chỗ nó được mọi người biểu diễn, thưởng thức hay không, nó đã đạt mức thành tựu hay không. Trong quá trình đó, tập thể nhân dân tham gia vào công việc đồng sáng tạo tác phẩm. Quan hệ giữa truyền thống và sáng tác là hệ quả của mối quan hệ giữa cá nhân và tập thể. Truyền thống văn học dân gian một mặt là cái vốn giúp nghệ nhân dân gian sáng tác (sáng tác một cách chớp nhoáng mà không có sự chuẩn bị trước) dễ dàng, một mặt quy định khuôn khổ cho việc sáng tác. Sáng tác đến lượt nó sẽ cung cấp những đơn vị làm giàu cho truyền thống. Hai đặc trưng cơ bản vừa nêu trên có liên quan chặt chẽ với các đặc trưng khác của văn học dân gian như: tính khả biến (gắn với việc tồn tại các dị bản của tác phẩm), tính truyền miệng, tính vô danh . 12 1.3.2. Truyện dân gian Truyện dân gian thường là văn xuôi nhưng cũng có khi là văn vần được lưu truyền bằng hình thức truyền miệng. Là sáng tác nghệ thuật của người dân, truyện dân gian phản ánh đời sống người dân và thế giới tinh thần, tình cảm của người dân theo quan điểm của người dân. Đó là toàn bộ sinh hoạt người dân, là cuộc sống lao động quan hệ gia đình của họ, là những sự kiện, những vấn đề thiết yếu đối với người dân, là cuộc đấu tranh của người dân chống áp bức, chống ngoại xâm. Sinh hoạt người dân là mảnh đất nảy sinh, là nguồn nuôi dưỡng, là nhân tố kích thích sự sáng tạo. Vốn có tính chất tự phát của truyện dân gian. Nhân vật trung tâm của truyện dân gian chính là bản thân nhân dân bắt nguồn từ những nguyên mẫu có thực trong cuộc sống mà khái quát lên thành nhân vật văn học. Qua việc phản ánh đời sống nhân dân, đề cập đến những vấn đề thân thiết đối với người dân, truyện dân gian biểu đạt những kinh nghiệm đời sống, diễn tả những khát vọng và lý tưởng của người dân, thể hiện những quan niệm của người dân về tự nhiên, xã hội và con người, về đạo đức, về mĩ học. Truyện dân gian mang tính dân tộc, tính quốc tế của văn học dân gian nói chung, càng tiếp xúc rộng rãi với kho tàng truyện dân gian các dân tộc ở khắp thế giới, ta càng thấy rõ những đặc sắc trong nội dung và nghệ thuật của truyện dân gian dân tộc mình không hề biệt lập mà chỉ biểu hiện trong tương quan với những cái tương đồng nhân loại. Nghiên cứu so sánh các thể loại truyện dân gian, ta có thể bắt gặp những hình tượng trùng lặp tương tự nhau về đề tài, về cốt truyện, hình tượng nhân vật, các mô típ nghệ thuật, các yếu tố thi pháp. Trong giai đoạn đầu tiên của sự nảy sinh và phát triển, truyện dân gian là hình thức sơ khai của nghệ thuật, đồng thời cũng là hình thức nguyên hợp của sự sản xuất tinh thần nói chung, về sau đã chuyển thành hình thức tổng hợp tự nhiên của sáng tạo văn hóa và sáng tác nghệ thuật của nhân dân lao động. Kho tàng truyện dân gian Việt Nam rất phong phú với nhiều thể loại: truyện truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện ngụ ngôn, truyện cười. Mỗi thể loại của truyện dân gian với những đặc sắc về nội dung và nghệ thuật làm nên những giá trị to lớn cho truyện dân gian để truyện dân gian vượt qua cuộc chọn lọc tự nhiên của thời gian, khẳng định được sức sống ngay cả trong thời đại mới. Đi sâu vào từng thể loại truyện dân gian để tìm hiểu những đặc điểm của mỗi thể loại, chúng ta sẽ hiểu hơn khả năng trường tồn của truyện dân gian bất chấp quy luật đào thải khắc nghiệt của thời gian. 13 1.4. Truyện dân gian ở chương trình Ngữ văn THCS Văn học được đưa vào giảng dạy trong chương trình Ngữ văn THCS căn cứ vào các lý do sau: Thứ nhất, là căn cứ vào mục tiêu chung là đào tạo thế hệ trẻ ở lứa tuổi THCS. Đây là bậc học dựa trên nề tảng đã được đào tạo ở bậc Tiểu học và tiếp tục đào tạo ở bậc THCS nhằm giúp học sinh phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ, hướng nghiệp và các kỹ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học các bậc học sau. Thứ hai, căn cứ vào mục tiêu dạy học môn Ngữ văn. Các tác phẩm văn học là cơ sở rất quan trọng để dạy tốt phân môn Ngữ văn. Về kiến thức: cung cấp cho học sinh các kiến thức và hiểu biết về xã hội, tự nhiên và con người, truyện trong và ngoài nước; Rèn luyện các kỹ năng: nghe, nói, đọc, viết, tư duy và suy nghĩ của bản thân; Có thái độ: tình yêu mến đối với các tác phẩm truyện dân gian nói riêng và tác phẩm truyện nói chung, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Ngoài ra, còn giáo dục thẩm mỹ cho học sinh biết phân biệt đẹp- xấu, thiện- ác, đúng- sai, yêu- ghét, đồng cảm,... Vì vậy, các tác phẩm văn học đưa vào chương trình Ngữ văn THCS có tính giáo dục và tự giáo dục cao. Trong chương trình Ngữ văn THCS, cung cấp hai dòng văn học là văn học viết và văn học dân gian với số lượng lớn có hơn 139 tác phẩm văn học. Trong đó, tác phẩm văn xuôi chiếm số lượng lớn 79 bài phân bố đều cho cả chương trình Ngữ văn THCS. Tác phẩm truyện dân gian cũng chiếm số lượng tương đối lớn gồm 16 tác phẩm. Tập trung ở các thể loại: truyện truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện ngụ ngôn và truyện cười. Được bố trí giảng dạy toàn bộ ở chương trình Ngữ văn lớp 6, tập 1 ngay đầu cấp học. Để giúp cho các em nhận thức được hiện thực cuộc sống xưa kia của nhân dân lao động thấy được những quan niệm cùng với sự giải thích về tự nhiên, vũ trụ đầy ngây thơ nhưng cũng đầy sáng tạo của nhân dân, thấy được số phận khổ đau của những em bé mồ côi, những người nông dân cần cù chất phát bị bóc lột, thấy được lịch sử oai hùng, con người, dân tộc Việt Nam kiên cường, bất khuất trong đấu tranh chống ngoại xâm, hay đó là sự răn dạy về lối sống, đạo đức cho mọi người trong đời thường… Truyện dân gian không chỉ có ý nghĩa nhận thức mà còn có ý nghĩa giáo dục và hình thành, phát triển nhân cách cho các em rất lớn. đối với học sinh lứa tuổi lớp 6 có thể coi ý nghĩa giáo dục và hình thành, phát triển nhân cách là quan trọng nhất. Truyện dân gian chủ yếu giáo dục các em lòng yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống con người, biết ơn những anh hùng dân tộc, yêu cái thiện, ghét cái ác, đoàn kết giúp đỡ những người bị hoạn nạn, biết giữ gìn và bảo vệ những công trình, di tích lịch sử, bảo 14
- Xem thêm -