Tài liệu Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả các công cụ của chính sách tiền tệ ở việt nam

  • Số trang: 40 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 45 |
  • Lượt tải: 0
nganguyen

Đã đăng 34345 tài liệu

Mô tả:

http://kilobooks.com THÖ VIEÄN ÑIEÄN TÖÛ TRÖÏC TUYEÁN LỜI NÓI ĐẦU Chính sách tiền tệ là một trong những chính sách vĩ mô quan trọng nhất đối với mỗi quốc gia bởi vì nó có tác động sâu đến mọi mặt kinh tế. ở Việt Nam .CO diễn biến giá cả thị trường theo chiều hướng bất lợi cho nền kinh tế: Giảm phát kéo dài trong suốt các năm 1999, 2000 và đầu năm 2001 đã buộc chúng ta phải đặt ra câu hỏi: Mô hình chính sách tiền tệ với hệ thống các công cụ điều tiết mà chúng ta áp dụng từ trước tới nay thực sự có hiệu qủa hay chưa? Nền kinh tế đã có rất nhiều sự chuyển đổi, việc duy trì hệ thống các công cụ thiên về hướng KS điều tiết trực tiếp có còn phù hợp hay không? Và nếu không phù hợp chúng ta nên thay đổi theo hướng nào? Mục tiêu của đề án này chính là góp phần tìm ra hướng đi cho việc giải quyết những vấn đề đó. OO Về phương diện lí luận đề án sẽ cố gắng đưa ra những khái niệm chung nhất về chính sách tiền tệ và hệ thống các công cụ của nó. Về mặt thực tiễn, đề án sẽ xem xét các công cụ của chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương Việt Nam trong những năm gần đây, từ đó đưa ra những giải pháp cơ bản cho những vấn đề này. OB Các phương pháp được sử dụng là: Phương pháp duy vật biện chứng, Phương pháp duy vật lịch sử, phương pháp so sánh và một số phương pháp phân tích của kinh tế học hiện đại. Với những ý tưởng đó, kết cấu đề tài bao gồm: sách tiền tệ. KIL Chương I: Lý luận chung về chính sách tiền tệ, các công cụ của chính Chương II: Thực trạng việc sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ ở Việt Nam. Chương III: Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công cụ chính sách tiền tệ ở Việt Nam. http://kilobooks.com Chương I KIL OB OO KS .CO THÖ VIEÄN ÑIEÄN TÖÛ TRÖÏC TUYEÁN Nội dung Lí luận chung về chính sách tiền tệ, các công cụ của chính sách tiền tệ: I.Chính sách tiền tệ: http://kilobooks.com THÖ VIEÄN ÑIEÄN TÖÛ TRÖÏC TUYEÁN Khái niệm chính sách tiền tệ: Trong thời kì sơ khai của các nền kinh tế, khi các ngân hàng phát hành mới ra đời, nhiệm vụ chủ yếu của chúng là phát hành ra tiền. Các khoản tiền phát .CO hành ra nhằm mục đích chủ yếu nhằm bù đắp cho những khoản chi tiêu vượt quá của chính phủ. Kinh tế suy thoái, ngân sách lâm vào tình trạng bị thâm hụt lớn, ngân hàng buộc phải phát hành ra những khoản tiền khổng lồ để bù đắp cho những khoản thâm hụt này. Điều dó là nguyên nhân trực tiếp gây nên tình trạng lạm phát cao, do vậy không thể duy trì mãi cơ chế này. Hơn nữa tài chính – tiền KS tệ là lĩnh vực hết sức quan trọng của nền kinh tế. Nhà nước với vai trò chỉ đạo, quản lí vĩ mô nền kinh tế không thể không xây dựng một chính sách vĩ mô cụ thể cho lĩnh vực này. Chính sách tiền tệ đã ra đời như vậy và cơ quan thực hiện OO nó chính là ngân hàng trung ương. Chính sách tiền tệ có thể được thể hiện theo nghĩa rộng và nghĩa thông thường. Theo nghĩa rộng chính sách tiền tệ là chính sách điều hành toàn bộ khối lượng tiền trong nền kinh tế quốc dân nhằm tác động đến các mục tiêu lớn của OB nền kinh tế vĩ mô, trên cơ sở đó đạt được mục têu cơ bản là ổn định tiền tệ, giữ vững sức mua của đồng tiền. Theo nghĩa thông thường là chính sách chỉ quan tâm đến khối lượng tiền cung ứng tăng thêm trong thời kì tới ( thường là một năm) phù hợp với mức tăng trưởng kinh tế và chỉ số lạm phát dự kiến nhằm ổn định giá cả và hàng hoá. KIL 1. Các chức năng của tiền tệ trong nền kinh tế thị trường hiện đại đã và đang phát huy mạnh mẽ theo trào lưu hiện đạI, thậm chí có những chức năng của tiền tệ được thực hiện theo những phương thức hoàn toàn khác so với trước đây. Vì vậy so với chính sách tiền tệ quốc gia hiểu theo nghĩa rộng hay nghĩa hẹp không chỉ có ý nghĩa về mặt lí luận mà còn có ý nghĩa thực tiễn trong việc điều hành chính sách cũng như thiết lập hệ hống chính sách công cụ để thực hiện chính sách tiền tệ. Tuy nhiên trong khuôn khổ đề án này, chính sách tiền tệ luôn được http://kilobooks.com THÖ VIEÄN ÑIEÄN TÖÛ TRÖÏC TUYEÁN hiểu theo nghĩa hẹp, nó chỉ bao hàm việc ngân hàng trung ương thông qua các công cụ của mình thực hiên việc kiểm soát và điều tiết lượng tiền cung ứng nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế vĩ mô như đã nêu ở trên. .CO Chính sách tiền tệ trong một quãng thời gian nào đó của một quốc gia có thể được xác định theo hai hướng: Mở rộng hay thắt chặt. Trong từng trường hợp khi nền kinh tế có dấu hiệu của sự suy thoái, ngân hàng trung ương sẽ hoạch định chính sách tiền tệ theo hướng mở rộng nhằm khuyến khích đầu tư, mở rộng sản xuất, tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động. Chính sách tiền tệ thắt KS chặt sẽ được áp dụng khi lạm phát tăng cao, mục tiêu được hướng tới là hạn chế đầu tư, kìm chế sự tăng trưởng quá mức của nền của nền kinh tế. Vai trò, mục tiêu của chính sách tiền tệ: a. Vai trò của của chính sách tiền tệ: OO 2. Cùng với chính sách tài chính, chính sách thu nhập, chính sách đối ngoại,… OB chính sách tiền tệ xuất hiện trong trương trình hành động của chính phủ các quốc gia như một đòi hỏi tất yếu khách quan trước những thăng trầm của nền kinh tế các nước trong những thập kỉ, thế kỉ vừa qua. KIL Trong suốt khoảng thời gian đầy rẫy những thăng trầm đó, nhân loại đã chứng kiến đầy đủ những khuyết tật của thị trừơng, ví dụ như: chạy theo lợi nhuận tối đa đến lừa đảo, tội ác, vi phạm pháp luật; đồng tiền chi phối các quan hệ xã hội, quan hệ chính trị; phân hoá giàu nghèo ngày càng tăng, bất công xã hội phát triển; phá huỷ môi trường sinh thái; cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên,…Thế giới văn minh ngày nay càng thấy rõ hơn bao giờ các khiếm khuyết đó, vì vậy Nhà nước đã không thể đứng ngoài cuộc, nó phải sử dụng “ bàn tay hữu hình”, tức là hệ thống các chính sách kinh tế của mình để tác động vào nền http://kilobooks.com THÖ VIEÄN ÑIEÄN TÖÛ TRÖÏC TUYEÁN kinh tế và chính sách tiền quốc gia là một trong những công cụ quản lý vĩ mô mang tính then chốt đối với mọi nhà nước. Như vậy vai trò của chính sách tiền tệ là rất lớn, như Samuelson đã nói” .CO Chính phủ phải biết cách dùng chính sách tiền tệ và các chính sách kinh tế khác để ngăn chặn bất cứ cuộc suy thoái nào nổ ra, không cho chúng phát triển lên thành những cuộc khủng hoảng mang tính kéo dài” Có thể nói sứ mệnh mà chính sách tiền tệ được giao phó là hết sức cao cả, đó là đưa nền kinh tế thị b. Mục tiêu của chính sách tiền tệ: KS trường phát triển không ngừng phục vụ nhu cầu cuộc sống của con người. Tuỳ theo cách phân chia cũng như đặc điểm kinh tế từng thời kì của mỗi OO quốc gia mà họ xác định cho mình mục tiêu của chính sách tiền tệ sao cho phù hợp, Tuy nhiên mục tiêu chính sách tiền tệ hàu như thống nhất ở các quốc gia, đó là kiểm soát và đIều tiết lượng tiền cung ứng nhằm mục tiêu cuối cùng là ổn định giá trị của đồng tiền, trên cơ sở đó tạo công ăn việc làm, thúc đẩy nền kinh OB tế. b.1. ổn định giá trị đồng tiền: KIL Đây là mục tiêu hàng đầu của chính sách tiền tệ. ổn định giá trị trị tiền tệ chính là việc ổn định sức mua của đồng tiền, nó bao gồm việc ổn định sức mua đối nội và ổn định sức mua đối ngoại của đồng tiền . b.1.1. ổn định sức mua đối nội cuả đồng tiền. Trong đIều kiện lưu thông các dấu hiệu giá trị thì lạm phát luôn là khả năng tiềm tàng,t hậm chí khó tránh khỏi .Vì vậy khi mà chế độ bản vị vàng cũng http://kilobooks.com THÖ VIEÄN ÑIEÄN TÖÛ TRÖÏC TUYEÁN như tiền tín dụng chuyển đổi ra vàng không còn nữa thì ngân hàng trung ương luôn coi việc kiểm soát lạm phát, ổn định tiền tệ là mục tiêu hàng đầu trong chính sách tiền tệ của mình. Kiểm soát lạm phát nhằm ổn định giá cả hàng hoá là tiền đề cho nền kinh tế phát triển bình thường, bảo đảm đời sống cho người .CO dân. Giá trị đối nội của đồng tiền là sức mua của nó đối với hàng hoá và dịch vụ .Sức mua của đồng tiền biến đổi tỷ lệ nghịch với giá cả của hàng hoá và dịch vụ. Sức mua của đồng tiền ổn định sẽ tạo nên môi trường đầu tư ổn định, thúc đẩy nhu cầu đầu tư - nền tảng của sự phát triển kinh tế ổn định. Sức mua của đồng tiền là một đại lượng tương đối, nó biến động xung quanh một biên độ cho phép, KS thường là dưới 10%. OO b.1.2.ổn định sức mua đối ngoại của đồng tiền Giá trị đối ngoại của đồng tiền được đo bằng tỷ giá hối đoái thả nổi .Tỷ giá hối đoái là một đại lượng so sánh giá trị giữa nội tệ và ngoại tệ , vì vậy tỷ giá hối đoái có liên quan đến rất nhiều yếu tố : giá thành xuất nhập khẩu, lạm OB phát, cán cân thanh toán, tâm lý người dân , chính sách sách can thiệp vào tỉ giá của nhà nước,…Tỷ giá hôí đoái là một một tín hiệu hết sức nhạy cảm. Tỷ giá tăng nên hay hạ xuống quá sức mua thực tế của đồng tiền trong nước đều kéo theo những hệ quả tích cực hoặc tiêu cực cho nền kinh tế. Do đó đường nối kinh KIL tế xuyên suốt trong đIều hành chính sách tiền tệ là ổn định tỷ giá hối đoái.Như vậy giá trị đối nội và đối ngoại của đồng tiền có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Muốn ổn định giá cả trong nước thì cũng phải ổn định tỷ giá hối đoái. b.2. Tăng trưởng kinh tế: Chính sách tiền tệ phải đảm bảo sự tăng lên của GDP thực tế, đó là tỷ lệ tăng trưởng có được sau khi trừ đi tỷ lệ lạm phát cùng thời kì.Việc tăng giảm lượng tiền cung ứng có ảnh hưởng rất lớn đến thực trạng nền kinh tế. Khi lượng http://kilobooks.com THÖ VIEÄN ÑIEÄN TÖÛ TRÖÏC TUYEÁN tiền cung ứng tăng nên, lãi suất tín dụng thường giảm xuống. Đồng tiền “rẻ” đi sẽ kích thích đầu tư, tăng tổng sản phẩm quốc nội. Mặt khác tăng khối lượng tiền tệ làm tăng mức cầu tức là tăng tiêu dùng, khuyến khích sản xuất. Ngược lại khi lượng tiền cung ứng giảm, lãi suất sẽ tăng, làm giảm đầu tư và do đó tổng .CO sản phẩm quốc nội giảm. Trong giai đoạn trước đây khi các cơ chế hoạt động của nền kinh tế thị trường chưa nhạy cảm, người ta thường sử dụng phương pháp ấn định và điều chỉnh lượng tiền cung ứng trực tiếp, chủ yếu bằng công cụ hạn mức tín dụng. Ngày nay trong nền kinh tế thị trường ngân hàng trung ương các nước có xu hướng chuyển sang sử dụng chủ yếu các công cụ gián tiếp vì KS những ưu điểm của chúng. b.3. Tạo công ăn việc làm: OO Cùng với ổn định giá trị đồng tiền và tăng trưởng kinh tế, chính sách tiền tệ cũng hướng tới mục tiêu tạo công ăn việc làm cho người lao động, nhất là đổi với các quốc gia đang phát triển, những nơi phải chịu sức ép lớn về dân số. Chính sách tiền tệ tao ra công ăn việc làm thông qua các tác đông nhằm mở rộng định. OB đầu tư, mở rộng hoạt động kinh tế, chống suy thoái, duy trì mức tăng trưởng ổn Ngoài các mục tiêu nêu trên, tuỳ đặc đIểm kinh tế của mình mà các quốc KIL gia còn có thể tập trung vào các mục tiêu cụ thể khác, ví dụ: hệ thống dự trữ liên bang Mỹ còn đặt ra các mục tiêu ổn định thị trường tài chính, ổn định lãi suất, hạn chế những thăng trầm, biến động của chu kì kinh tế. Về ngắn hạn, các mục tiêu của chính sách tiền tệ có thể phù hợp nhưng cũng có thể không phù họp thậm chí đối nghịch nhau. Vấn đề đặt ra là Ngân hàng trung ương phải tìm ra được các biện pháp dung hoà các mục tiêu để vừa kiềm chế được lạm phát vừa tăng trưởng kinh tế và đạt được mức nhân dụng cao. http://kilobooks.com KIL OB OO KS .CO THÖ VIEÄN ÑIEÄN TÖÛ TRÖÏC TUYEÁN http://kilobooks.com THÖ VIEÄN ÑIEÄN TÖÛ TRÖÏC TUYEÁN Hệ thống các công cụ của chính sách tiền tệ Chính sách chiết khấu, tái chiết khấu: .CO Đây là công cụ cổ điển, truyền thống trong hoạt động của Ngân hàng trung ương. Nó là việc Ngân hàng trung ương cấp tín dụng cho các ngân hàng thương mại bằng cách chiết khấu, tái chiết khấu các thương phiếu và các giấy tờ có giá trị ngắn hạn khác. KS Chính sách chiết khấu, tái chiết khấu bao gồm các quy định và các điều kiện cho vay của Ngân hàng trung ương đối với các ngân hàng thương mại. Các ngân hàng thương mại đi vay lại Ngân hàng trung ương nhằm bù đắp hoặc để bổ sung nhu cầu vốn khả dụng đáp ứng cho nền kinh tế, giúp cho hệ thống ngân hàng OO hoạt động một cách bình thường, ngăn chặn nguy cơ bị phá sản. Để vận hành công cụ này Ngân hàng trung ương sử dụng các quy định về lãi suất chiết khấu, tái chiết khấu, hạn mức chiết khấu, tái chiết khấu, các điều kiện được chiết khấu, tái chiết khấu. OB 1. Sự thay đổi lãi suất chiết khấu, tái chiết khấu trước hết tác động vào lãi suất huy động vốn và cho vay của các ngân hàng thương mại, ảnh hưởng đến nhu càu tín dụng của nền kinh tế. Bên cạnh đó lãi suất chiết khấu, tái chiết khấu thay đổi cũng tác động đến khả năng đi vay của các ngân hàng thương mại tại Ngân hàng KIL I. trung ương và ảnh hưởng đến khả năng cung ứng tín dụng của các ngân hàng thương mại cho nền kinh tế.Cả hai tác động đều có ảnh hưởng đến việc tăng hay giảm lượng tiền cung ứng. Cụ thể: khi Ngân hàng trung ương tăng lãi suất chiết khấu, tái chiết khấu sẽ có tác động làm tăng lãi suất cho vay của ngân hàng thương mại do đó làm giảm nhu cầu tín dụng của nền kinh tế. Mặt khác khả năng đi vay của ngân hàng thương mại tại Ngân hàng trung ương giảm xuống buộc các ngân hàng thương mại phải giảm bớt lượng cho vay của mình, hạn chế lượng tín dụng cung ứng cho nền kinh tế. Tác động kép trên có ảnh hưởng làm http://kilobooks.com THÖ VIEÄN ÑIEÄN TÖÛ TRÖÏC TUYEÁN giảm khả năng tạo tiền của hệ thống ngân hàng thương mại, từ đó làm giảm lượng tiền cung ứng cho lưu thông. Khi Ngân hàng trung ương giảm lãi suấti cung cấp vốn sẽ có tác động ngược lại, làm tăng lượng tiền cung ứng. .CO Sự thay đổi hạn mức chiết khấu, tái chiết khấu sẽ tác động đến khả năng bổ sung vốn khả dụng của ngân hàng thương mại, ảnh hưởng đến lượng vốn tín dụng mà ngân hàng thương mại có thể cung ứng cho nền kinh tế, từ đó ảnh hưởng đến lượng tiền cung ứng. Cụ thể khi ngân hàng thương mại tăng hạn mức chiết khấu, tái chiết khấu thì việc đi vay của ngân hàng thương mạI tại Ngân KS hàng trung ương trở nên dễ dàng hơn với khối lượng nhiều hơn, làm tăng khả năng cung ứng vốn tín dụng của các ngân hàng thương mạI cho nền kinh tế, dẫn đến tăng khả năng tạo tiền qua hệ thống ngân hàng và làm tăng lượng tiền cung OO ứng. Đây là một công cụ có tính chất linh hoạt, tôn trọng sự cạnh tranh giữa các ngân hàng. Thông qua sự hoạt động của thị trường liên ngân hàng, Ngân hàng trung ương có thể tác động và ảnh hưởng một cách thường xuyên mức lãi suất OB của thị trường liên ngân hàng theo ý muốn của mình. Tuy nhiên điều này chỉ có hiệu quả khi lãi suất chiết khấu phù hợp với lãi suất thị trường. Công cụ này còn giúp Ngân hàng trung ương trong việc thực hiện vai trò của người cho vay cuối cùng của mình. Thông qua việc quy định các điều kiện được chiết khấu, tái chiết KIL khấu giúp cho Ngân hàng trung ương kiểm soát được chất lượng tín dụng của các ngân hàng thương mại và điều chỉnh cơ cấu đầu tư đối với nền kinh tế. Tuy nhiên mức độ phát huy hiệu quả của các công cụ này phụ thuộc vào quan hệ vốn của Ngân hàng trung ương với các ngân hàng thương mại. Ngân hàng trung ương có thể tăng giảm lãi suất chiết khấu, tái chiết khấu, nhưng việc có vay hay không là do các ngân hàng thương mại quyết định. Vì vậy đôi khi chính sách chiết khấu tỏ ra kém chủ động. Tác động của nó không phải lúc nào cũng theo chiều hướng mà Ngân hàng trung ương mong muốn. http://kilobooks.com THÖ VIEÄN ÑIEÄN TÖÛ TRÖÏC TUYEÁN Dự trữ bắt buộc Dự trữ bắt buộc là số tiền mà các ngân hàng thương mại phải gửi tại Ngân hàng trung ương, không được hưởng lãi, không được phép sử dụng ( trừ những .CO trường hợp đặc biệt, ví dụ các ngân hàng thương mại đang đứng trước khả năng phá sản). Dự trữ bắt buộc thường được tính bằng tỉ lệ phần trăm giữa số tiền dự trữ bắt buộc và tổng số tiền gửi. Tỷ lệ này được gọi là tỉ lệ dự trữ bắt buộc. Tỷ lệ dự trữ bắt buộc được Ngân hàng trung ương xác định cho từng loại KS tiền gửi, tuỳ theo tính chất và thời hạn mà các ngân hàng thương mại huy động được. Tiền gửi tiết kiệm có tỉ lệ dự trữ bắt buộc thấp nhất, ssu đó là tiền gửi có kì hạn và cuối cùng là tiền gửi không kì hạn. OO Một khoản tiền được gửi vào hệ thống ngân hàng, sau khi được trích ra một khoản nhất định dùng làm dự trữ bắt buộc, toàn bộ số tiền còn lạI sẽ được cho vay vào nền kinh tế. Qua nhiều vóng quay số tiền đó sẽ quay trở lại hệ thống ngân hàng dưới dạng một khoản tiền gửi mới, ngân hàng lạI trích dự trữ bắt OB buộc và cho vay vào nền kinh tế. Quá trình đó cứ tiếp diễn và cuối cùng, hệ thống ngân hàng tạo ra một khoản tiền đúng bằng khoản tiền huy động ban đầu nhân vơí nghịch đảo của tỷ lệ dự trữ bắt buộc (còn gọi là số nhân tiền tệ). Khả năng mở rộng = KIL 2. tối đa tiền gửi ngân hàng 1 Số tiền huy động x ban đầu ----------------------- (*) tỷ lệ dự trữ bắt buộc Ví dụ, Ngân hàng trung ương quy định tỉ lệ dự trữ bắt buộc là 10% trên tổng số tiền gửi, suy ra số nhân tiền tệ = 1/10% = 10 lần. Từ một khoản tiền ban đầu là 1.000.000đ hệ thống ngân hàng sẽ tạo ra một lượng tiền cung ứng gấp 10 lần tức là: 10 x 1.000.000đ=10.000.000đ. http://kilobooks.com THÖ VIEÄN ÑIEÄN TÖÛ TRÖÏC TUYEÁN Công thức (*) cho thấy: nếu Ngân hàng trung ương nâng tỷ lệ dự trữ bắt buộc, khả năng cho vay và khả năng thanh toán của các ngân hàng thương mại sẽ bị thu hẹp, khối lượng tín dụng( lượng tiền cung ứng ) trong nền kinh tế sẽ giảm. Ngược lại nếu Ngân hàng trung ương hạ thấp tỷ lệ dự trữ bắt buộc, tức .CO tăng khả năng tạo tiền thì khả năng cung tiền của các ngân hàng thương mại cũng tăng lên , khối lượng tín dụng và khối lượng thanh toán cũng có xu hướng tăng đồng thời làm tăng lượng cung tiền. Ví dụ: khi Ngân hàng trung ương quy định mức dự trữ bắt buộc là 5% hay 20% thì mức cung tiền từ10.000.000đ sẽ KS thay đổi tưong ứng là: 1.000.000 x 1/5% = 20.000.000đ và: 1.000.000 x 1/20% = 5.000.000đ OO Đây là công cụ có tác động mạnh mẽ đến lượng tiền cung ứng, giúp Ngân hàng trung ương thực hiện việc thắt chặt hay mở rộng tiền tệ một cách nhanh chóng. Chỉ cần những thay đổi rất nhỏ trong tỷ lệ dự trữ bắt buộc cũng sẽ dẫn đến những thay đổi lớn trong lượng tiền cung ứng. Chính vì vậy mà công cụ dự OB trữ bắt buộc tỏ ra kém linh hoạt, không thích hợp cho việc điều chỉnh một khối lưọng tiền cung ứng nhỏ. Mặt khác việc tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc ảnh hưởng ngay đến những vấn đề về khả năng thanh khoản đối với những ngân hàng có tỉ lệ dự trữ vượt mức quá thấp; chi phí thực hiện việc điều chỉnh tỷ lệ dự trữ bắt KIL buộc lại rất tốn kém. Vì những nhược điểm đó mà tỷ lệ dự trữ bắt buộc chỉ có thể coi là biện pháp để kiểm soát cung ứng tiền tệ chứ không phải là phương thức tốt để duy trì sự ổn định của tiền tệ. 3. Nghiệp vụ thị trường mở: Nghiệp vụ thị trường mở là nghiệp vụ bán các giấy tờ có giá ngắn hạn, do Ngân hàng trung ương thực hiện trên thị trường tiền tệ nhằm thực thi chính sách tiền tệ quốc gia. Các giấy tờ có giá ngắn hạn được mua bán ở nghiệp vụ này chủ http://kilobooks.com THÖ VIEÄN ÑIEÄN TÖÛ TRÖÏC TUYEÁN yếu là tín phiếu kho bạc nhà nứoc vì chúng có quy mô lớn, rủi ro thấp, thời hạn ngắn và tính lỏng cao. Ngân hàng trung ương trục tiếp đứng ra mua bán các giấy tờ có giá trị ngắn .CO hạn nhằm trước hết tác động đến khối lượng tiền dự trữ trong khối dự trữ của các ngân hàng thương mại và các tổ chức tàI chính, đến lãi suất cho vay và huy động vốn của chúng, làm hạn chế hay mở rộng tiềm năng tín dụng và thanh toán của các tổ chức này, qua đó điều khiển lượng tiền cung ứng. KS Thông thường trong đIều kiện kinh tế thị trường phát triển, nghiệp vụ thị trường mở được chỉ đạo sát sao từng giờ. Việc mua bán liên tục các loại trái phiếu sẽ ảnh hưởng thường xuyên đến lượng dự trữ của các ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính khác, làm hình thành nên lãi suất vốn trong toàn OO quốc. Lãi suất vốn đó sẽ ảnh hưởng chỉ đạo, quy chiếu cho lãi suất tín dụng và tác động lên các lãi suất thị trường vốn. Môi trường hoạt động tốt nhất cho nghiệp vụ thị trường mở là thị trường chứng khoán. Tuy nhiên nếu chưa có thị trường chứng khoán thì Ngân hàng OB trung ương cũng có thể thực hiện được việc mua bán trên thị trường vốn. Với công cụ này Ngân hàng trung ương có thể thực hiẹn việc đIều tiết ở bất kì mức độ nào. Nghiệp vụ thị trường mở cũng là công cụ có tính linh họat cao KIL thể hiện ở việc Ngân hàng trung ương có thể dễ dàng thay đổi vị trí của mình trên thi trường. Ví dụ khi Ngân hàng trung ương đang là người bán chứng khoán trên thị trường nếu thấy M1 bị sụt giảm quá nhiều, Ngân hàng trung ương có thể từ việc bán lập tức chuyển sang mua chứng khoán để bơm tiền vào nền kinh tế. Việc thực hiện nghiệp vụ thị trường mở cũng khá đơn giản nhanh chóng, ít tốn kém về mặt chi phí. Tuy nhiên viêc mua bán các chứng khoán còn phụ thuộc vào các ngân hàng và các tổ chức tàI chính khác. Chính họ là người quyết định có mua, bán các chứng khoán không và mua bán với khối lượng bao nhiêu, mức giá thế nào. Nghiệp vụ thị trường mở chỉ được sử dụng có hiệu quả khi thị http://kilobooks.com THÖ VIEÄN ÑIEÄN TÖÛ TRÖÏC TUYEÁN trường tiền tệ đã phát triển đến một mức độ nhất định và Ngân hàng trung ương dự đoán được chính xác sự biến động của lượng vốn khả dụng trong hệ thống ngân hàng. Hạn mức tín dụng đối với các ngân hàng thương mại : .CO 4. Hạn mức tín dụng đối với các ngân hàng thương mại là khối lượng tín dụng tối đa mà các Ngân hàng trung ương có thể cung ứng cho hệ thống các ngân hàng thương mại trong một thời kì nhất định ( năm, quý ) phù hợp với mức tăng KS trưởng kinh tế của thời kì đó. Đây là một chỉ tiêu có quan hệ trực tiếp đến lượng tiền được cung ứng thêm ( hay giảm bớt ) đối với các ngân hàng thương mại . Khi ấn định hạn mức tín dụng cho các ngân hàng thương mại mỗi thời kì, Ngân hàng trung ương thường căn cứ vào kế hoạch tăng trưởng kinh tế cộng với chỉ số OO lạm phát cho phép trong thời kì đó. Hạn mức này không phảI là chỉ tiêu khống chế hạn mức tín dụng cho nền kinh tế mà các ngân hàng thương mại ấn định đối với các doanh nghiệp. Các ngân hàng thương mại có thể thực hiện mức tín dụng của mình lớn hơn hạn mức mà Ngân hàng trung ương ấn định cho ngân hàng OB mình, nếu nó có khả năng huy động được lượng vốn lớn hơn. Sở dĩ như vậy là vì vốn do các ngân hàng thương mại huy động và cho vay cho dù lớn gấp nhiều lần hạn mức tín dụng mà Ngân hàng trung ương cung ứng cũng không ảnh KIL hưởng đến lượng tiền đưa thêm hay rút khỏi lưu thông. Tuy nhiên việc đIều hành công cụ này chỉ có hiệu quả khi hệ thống ngân hàng thương mại quốc doanh có thể chiếm lĩnh phần lớn thị trường tiền tệ, đồng thời có sự phối hợp chặt chẽ giữa các công cụ cùng các biện pháp hành chính khác. Khi các thị trường tiền tệ, vốn phát triển và khi hệ thống các ngân hàng thương mại, các tổ chức tài chính phát triển đa dạng, phong phú thì việc điều hành bằng công cụ này không còn thích hợp. 5. Hạn mức tín dụng đối với nền kinh tế: http://kilobooks.com THÖ VIEÄN ÑIEÄN TÖÛ TRÖÏC TUYEÁN Hạn mức tín dụng đối với nền kinh tế được căn cứ vào các chỉ tiêu: tốc độ tăng trưỏng nền kinh tế, biến động của chỉ số giá cả ( lạm phát ), biến động của tỷ giá, tỉ lệ thất nghiệp và bội chi ngân sách. Ví dụ : lạm phát 10%, GDP dự tính .CO tăng 10%, suy ra M1 phảI tăng 20%, hạn mức cho vay có thể tăng 20%. Sau khi xác định hạn mức chung, Ngân hàng trung ương sẽ tiến hành phân bổ cho các ngân hàng thương mại tuỳ theo khả năng của từng ngân hàng. Đây là công cụ tác động trực tiếp vào khối lượng tiền trong lưu thông. Việc KS Ngân hàng trung ương quy định hạn mức tín dụng sẽ tác động đến việc cung ứng vốn tín dụng của các ngân hàng thương mại và từ đó ảnh hưởng đến lượng tiền cung ứng. Cụ thể: khi Ngân hàng trung ương tăng hạn mức tín dụng sẽ dẫn đến khả năng tăng vốn tín dụng của các ngân hàng thương mại cho nền kinh tế, OO tăng khả năng tạo tiền, từ đó làm tăng lượng tiền cung ứng. Ngược lại khi Ngân hàng trung ương giảm hạn mức tín dụng sẽ khống chế khả năng cung ứng tín dụng của hệ thống ngân hàng cho nền kinh tế, giảm khả năng tạo tiền qua hệ thống này, do đó làm giảm lượng tiền cung ứng.Công cụ này giúp cho Ngân OB hàng trung ương quản lý đIều chỉnh được lượng tiền cung ứng khi các công cụ khác tỏ ra kém hiệu quả, đặc biệt trong trường hợp lạm phát cao. Tuy nhiên công cụ này có rất nhiều nhược điểm nên trong thực tế ít được sử KIL dụng. Bởi vì nó triệt tiêu động lực cạnh tranh giữa các ngân hàng thương mại, đánh đồng các ngân hàng hoạt động hiệu quả và không hiệu quả. Khi hạn mức quá thấp mà nhu cầu vốn quá cao sẽ dẫn tới lãi suất tăng, ảnh hưởng tới đầu tư, việc làm, đồng thời làm phát sinh các hình thức tín dụng nằm ngoài khả năng kiểm soát của Ngân hàng trung ương như: hụi, hội, vay nóng,…Nếu hạn mức quá cao thì sẽ có ngân hàng không thể sử dụng hạn mức của mình, đặc biệt trong trường hợp hệ thống liên ngân hàng hoạt động chưa hiệu quả, từ đó dẫn đến làm giảm hoặc vô hiệu hoá vai trò quản lí của Ngân hàng trung ương. Hạn mức tín dụng cũng có thể làm sai cơ cấu đầu tư, bởi vì với hạn mức đã được xác định, http://kilobooks.com THÖ VIEÄN ÑIEÄN TÖÛ TRÖÏC TUYEÁN các ngân hàng thương mại bao giờ cũng tìm đến những dự án đầu tư lớn, lĩnh vực đầu tư dễ sinh lời, bỏ mặc các lĩnh vực khác, gây khó khăn cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ. .CO 6.Quản lý lãi suất: Khi đã sử dụng mọi công cụ mà không thể điều khiển và chi phối lãi suất tín dụng trong nền kinh tế, Ngân hàng trung ương sẽ sử dụng công cụ quản lí lãI suất. ở công cụ này, Ngân hàng trung ương trực tiếp qui định mức lãi suất của KS các ngân hàng thương mại, có thể cả đầu vào lẫn đầu ra. Thứ nhất, Ngân hàng trung ương có thể đưa ra khung lãi suất và các ngân hàng thương mại chỉ được phép điều chỉnh lãi suất của mình trong khuôn khổ OO đó. Tuỳ theo mục đích mà các khung lãi suất của các Ngân hàng trung ương có thể là lãi suất tiền gửi tối đa - lãi suất cho vay tối thiểu ( bảo đảm lợi ích của các ngân hàng ) hoặc lãi suất tiền gửi tối thiểu - lãi suất cho vay tối đa ( bảo đảm lợi OB ích cho khách hàng của ngân hàng ). Thứ hai, Ngân hàng trung ương có thể đưa ra trần lãI suất hoặc sàn lãi suất, tức là mức lãi suất tối đa, hoặc tối thiểu mà các Ngân hàng trung ương được KIL phép cho vay hoặc huy động vốn. Công cụ này chỉ thực sự có hiệu quả nếu nó được kết hợp chặt chẽ với công cụ tỷ giá. Việc lạm dụng quản lý lãi suất cũng sẽ làm triệt tiêu động lực cạnh tranh giữa các ngân hàng trong việc hạ lãi suất thu hút khách hàng và các ngân hàng thương mại cũng sẽ rất bị động trong việc huy động vốn và cho vay. 7.Can thiệp vào tỷ giá hối đoái: http://kilobooks.com THÖ VIEÄN ÑIEÄN TÖÛ TRÖÏC TUYEÁN Tỷ giá hối đoái là quan hệ so sánh giữa hai đồng tiền hay giá cả một đơn vị tiền nước này bằng bao nhiêu đơn vị tiền nước khác. Theo Luật Ngân hàng nhà nước Việt Nam thì tỷ giá hối đoái là tỷ lệ giũa giá trị đồng tiền Việt Nam so với .CO giá trị đồng tiền của nước ngoài. Giả Sử: Giá tính theo Việt Nam đồng là P1. Giá tính theo Đô la Mỹ là P2. Nếu một mặt hàng có giá trị là P2 = 100USD, tỷ giá e = 14000 thì quy ra KS VND mặt hàng đó có giá P1 = 14600 x 100 = 1.460.000VND. Tỷ giá thay đổi ảnh hưởng đến giá trị đồng tiền. Khi tỷ giá tăng đồng tiền nội tệ mất giá, khi tỉ giá giảm đồng tiền nội tệ tăng giá.Về mặt dài hạn tỷ giá do OO thực trạng nền kinh tế mỗi nước quyết định. Về mặt ngắn hạn tỷ giá chịu sự ảnh hưởng bởi lượng tiền cung ứng của Ngân hàng trung ương. Quan hệ cung cầu hàng hoá xuất nhập khẩu cân bằng góp phần làm cân OB bằng cung cầu ngoại tệ và có liên quan đến lượng tiền cung ứng trong nước, đến tăng trưởng kinh tế.Việc Ngân hàng trung ương mua ngoại tệ trên thị trường ngoại hối làm tăng lượng tiền cung ứng và dẫn đến tỷ giá tăng. Ngược lại khi Ngân hàng trung ương bán ngoại tệ trên thị trường ngoại hối, thu nội tệ về thì KIL trên thị trường, lượng tiền cung ứng sẽ giảm xuống làm cho tỷ giá giảm. Tỷ giá là một công cụ rất quan trọng, nó góp phần phát triển sản xuất hàng hoá nhập khẩu, mở rộng thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Bằng việc tác động vào tỷ giá, Ngân hàng trung ương thực hiện chính sách khuyến khích xuất khẩu hay nhập khẩu tuỳ theo mục tiêu từng thời kì. Tuy nhiên việc sử dụng công cụ này đòi hỏi Ngân hàng trung ương phải cân nhắc một cách kĩ lưỡng vì nó ảnh hưởng đến quan hệ kinh tế quốc tế, đến hệ thống kinh doanh ngoại hối của hệ thống ngân hàng thương mại. Muốn chính sách can thiệp tỷ giá thực sự trở thành công http://kilobooks.com THÖ VIEÄN ÑIEÄN TÖÛ TRÖÏC TUYEÁN cụ trung gian, hỗ trợ đắc lực cho các công cụ khác của chính sách tiền tệ, Ngân hàng trung ương phải có những đIều kiện nhất định. đó là khối lượng dự trữ quốc gia và ngoại tệ dành cho quĩ bình ổn phải đủ lớn, các biện pháp hành chính và hệ thống pháp luật phải thật đồng bộ và phải thực sự có hiệu lực. Mặt khác KIL OB OO KS .CO bản thân đồng tiền phải tương đối ổn định, không còn lạm phát ở mức độ cao. http://kilobooks.com THÖ VIEÄN ÑIEÄN TÖÛ TRÖÏC TUYEÁN Chương II .CO Thực trạng việc sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ ở Việt Nam Như đã trình bày ở trên, chính sách tiền tệ có thể được đIều hành thông qua một hệ thống khá phong phú các công cụ. Các công cụ này có phương thức KS đối tượng, quy mô, tác động khác nhau.Tuỳ theo đặc điểm kinh tế từng quốc gia ở từng thời kì mà Ngân hàng trung ương các nước có thể quyết định sử dụng công cụ nào, điều đó cũng có nghĩa là có những quốc gia thiên hẳn về phía chỉ sử dụng một số công cụ nào đó. Ví dụ ở Nhật Bản, Ngân hàng trung ương không OO hề quy định dự trữ bắt buộc mà để cho các ngân hàng thương mại tự quyết định lấy mức dự trữ của mình, trái lại nghiệp vụ thị trường mở lại được sử dụng khá thường xuyên. ở những nước phát triển, nơi mà thị trường tiền tệ đã phát triển đến trình độ cao, các quan hệ trên thị trường tiền tệ đã đủ khả năng định hướng OB cho hoạt động ủa các tổ chức tín dụng đi vào hiệu qủa, thì nhà nước có xu hướng giảm bớt sự điều tiết của mình và mở rộng quyền tự do kinh doanh cho các tổ chức tín dụng. Khi đó Ngân hàng trung ương sẽ chuyển sang sử dụng các công cụ diều tiết gián tiếp, bao gồm: nghiệp vụ thị trường mở, chính sách chiết khấu KIL và dự trữ bắt buộc. Còn ở những nước kém phát triển như nước ta, nơi mà hoạt động liên ngân hàng còn chưa hiệu quả, Ngân hàng trung ương bắt buộc phải sử dụng các công cụ điều tiết trực tiếp, bao gồm hạn mức tín dụng và khung lãi suất. Tuy nhiên theo xu hướng của thời đại, ngân hàng Nhầ Nước Việt Nam đang cố gắng hạn chế việc sử dụng các công cụ đIềutiết trực tiếp và chuyển sang cơ chế điều tiết gián tiếp. I.Điều hành chính sách tiền tệ ở Việt Nam giai đoạn từ 1996 đến nay. http://kilobooks.com THÖ VIEÄN ÑIEÄN TÖÛ TRÖÏC TUYEÁN Nét nổi bật trong thời kì này là nước ta đã dành được những thắng lợi hết sức to lớn trên mặt trận kinh tế, kết thúc quá trình tạo tiền đề vật chất cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá, bước sang giai đoạn mới: giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tiếp tục đi lên Chủ Nghĩa Xã Hội. Mục tiêu cơ bản của .CO chính sách tiền tệ nước ta giai đoạn này là: ổn định sức mua trong nước của đồng bản tệ, duy trì giá trị hợp lí đối với ngoại tệ trong các giao dịch đối ngoại, tạo môi trường thuận lợi cho các hoạt động tài chính trong nền kinh tế, kiềm chế lạm phát ở mức hợp lí, góp phần tạo ra mức tăng trưởng cao và vững chắc.Các KS công cụ chính sách tiền tệ trong thời kì này được diều hành cụ thể như sau: Hạn mức tín dụng: Công cụ này được Ngân hàng nhà nước áp dung điều hành chính sách tiền từ năm 1994, đã có tác động hiệu quả đến việc hạn chế tốc độ tăng tổng phương tiện thanh toán trong những năm 1995-1997 và qua đó OO kiềm chế lạm phát. Tuy nhiên từ cuối năm 1997 và đầu năm 1998 công cụ hạn mức tín dụng đã dần mất vai trò của nó trong việc hạn chế việc gia tăng của tổng phương tiện thanh toán. Hơn nữa việc mở rộng phương tiện thanh toán trong giai doạn này là cần thiết để thúc đẩy tăng trưởngkinh tế, nếu tiếp tục thực hiện OB hạn mức tín dụng sẽ tạo ra khó khăn cho các ngân hàng thương mại trong việc mở rộng tín dụng. Do vậy từ quý II năm 1998, Ngân hàng nhà nước đã không áp dụng công cụ hạn mức tín dụng như là một công cụ thường xuyên trong điều hành chính sách tiền tệ . Mặc dù vậy mức tăng trưởng tín dụng vẫn được tiếp tục KIL theo dõi để có những giải pháp kịp thời nhằm hạn chế sự gia tăng khi nó có xu hướng tăng cao. Dự trữ bắt buộc: Dự trữ bắt buộc được thực hiện theo qui chế dự trữ bắt buộc được ban hành theo quyết định số 396/1997/QĐ-NHNN ngày 1/12/1997 của thống đốc Ngân hàng nhà nước và có hiệu lực kể từ tháng 1.1998 dến nay. Qui chế dự trữ bắt buộc lần này được qui định cụ thể hơn thể hiện ở việc quy định tiền gửi dự trữ bắt buộc tai Ngân hàng nhà nước được tính bình quân trong cả kì duy trì. Năm 1998 tỉ lệ dự trữ bắt buộc được áp dụng cho các tổ chức tín
- Xem thêm -