Tài liệu Các biện pháp tư pháp trong pháp luật hình sự Việt Nam

  • Số trang: 84 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 86 |
  • Lượt tải: 0
tailieuonline

Đã đăng 39799 tài liệu

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT LƢU THỊ THU HƢƠNG CÁC BIỆN PHÁP TƢ PHÁP TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC HÀ NỘI - 2014 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT LƢU THỊ THU HƢƠNG CÁC BIỆN PHÁP TƢ PHÁP TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM Chuyên ngành: Luật hình sự Mã số : 60 38 40 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. Trịnh Quốc Toản HÀ NỘI - 2014 LỜI CẢM ƠN Trong quá trình hoàn thành luận văn thạc sỹ luật học này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ rất nhiều từ người thầy mẫu mực và tận tâm – PGS.TS Trịnh Quốc Toản, các giảng viên của Khoa sau đại học, ĐHQG Hà Nội, cũng như sự động viên khích lệ từ gia đình, bạn bè và các đồng nghiệp. Tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn đến gia đình, các thầy cô cùng các bạn bè, đồng nghiệp đã giúp tôi trong suốt thời gian qua để hoàn thành luận văn thạc sỹ này. LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực. Những kết luận của luận văn chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào khác. Tác giả luận văn Lƣu Thị Thu Hƣơng DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT Từ viết tắt Chú giải BLHS Bộ luật hình sự PLHS Pháp luật hình sự TTHS Tố tụng hình sự MỤC LỤC Nội dung Lời mở đầu Chƣơng 1: Một số vấn đề chung về các biện pháp tƣ pháp trong pháp luật hình sự Việt Nam 1.1. Quan niệm chung về biện pháp tƣ pháp 1.1.1. Khái niệm và các đặc điểm của biện pháp tư pháp hình sự 1.1.2. Vai trò và ý nghĩa của biện pháp tư pháp hình sự 1.2. Phân biệt biện pháp tƣ pháp với hình phạt và các biện pháp cƣỡng chế hành chính 1.2.1. Phân biệt biện pháp tư pháp với hình phạt 1.2.2. Phân biệt biện pháp tư pháp với các biện pháp cưỡng chế hành chính 1.3. Quy định các biện pháp tƣ pháp trong Luật hình sự một số nƣớc Chƣơng 2: Các biện pháp tƣ pháp theo Luật hình sự Việt Nam và thực tiễn áp dụng 2.1 Khái quát lịch sử pháp Luật hình sự Việt Nam quy định về các biện pháp tƣ pháp 2.1.1. Giai đoạn từ Cách mạng tháng 8/1945 cho đến khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 2.1.2. Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật hình sự 1985 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1999 2.2. Các quy định về biện pháp tƣ pháp trong Bộ luật hình sự Trang năm 1999 2.2.1. Biện pháp tư pháp chung 2.2.2. Biện pháp tư pháp riêng 2.3. Thực tiễn áp dụng các biện pháp tƣ pháp; những tồn tại, hạn chế trong thực tiễn áp dụng và nguyên nhân của nó 2.3.1. Thực tiễn áp dụng các biện pháp tư pháp 2.3.2. Những tồn tại, hạn chế trong thực tiễn áp dụng các biện pháp tư pháp 2.3.2. Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế trong thực tiễn áp dụng các biện pháp tư pháp Chƣơng 3: Nhu cầu, quan điểm và các giải pháp hoàn thiện quy định về các biện pháp tƣ pháp trong Luật hình sự Việt Nam và nâng cao hiệu quả áp dụng 3.1. Nhu cầu, quan điểm hoàn thiện quy định về các biện pháp tƣ pháp trong Luật hình sự Việt Nam và nâng cao hiệu quả áp dụng 3.1.1. Nhu cầu hoàn thiện quy định về các biện pháp tư pháp trong Luật hình sự Việt Nam và nâng cao hiệu quả áp dụng 3.1.2.Quan điểm hoàn thiện quy định về các biện pháp tư pháp trong Luật hình sự Việt Nam và nâng cao hiệu quả áp dụng 3.2. Các giải pháp hoàn thiện các quy định về biện pháp tƣ pháp trong Luật hình sự Việt Nam 3.3. Các giải pháp khác nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định về biện pháp tƣ pháp trong Luật hình sự Việt Nam Kết luận Tài liệu tham khảo MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài Xã hội ngày càng phát triển, con người ngày càng có nhiều nhu cầu cấp thiết hơn việc ăn, ở, mặc… mà còn giải trí, giao lưu xã hội. Sự mở rộng một cách đa dạng các mối quan hệ hiện nay không chỉ mang đến những thành tựu về khoa học xã hội, kinh tế - chính trị, đồng thời lại mang đến những mặt tiêu cực, lối sống cực đoan, và kết quả tất yếu là tình hình tội phạm ngày càng phức tạp. Trước tình hình thực tế đó, Nhà nước đã áp dụng rất nhiều các chế tài trong pháp luật hình sự để kiểm soát và hạn chế tội phạm, trong đó không thể không kể đến các biện pháp tư pháp hình sự. Tại Việt Nam, việc áp dụng các biện pháp tư pháp hình sự vào thực tiễn đang đặt ra rất nhiều vấn đề cần được nghiên cứu và giải đáp để có thể hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật hình sự nói riêng. Thực tiễn cho thấy, việc áp dụng các chế tài hình sự còn chưa mang lại những hiệu quả thiết thực đối với phòng chống tội phạm. Việc xem xét hành vi phạm tội và quyết định hình phạt hay biện pháp tư pháp đối với người phạm tội, nhất là người chưa thành niên phạm tội cần được quan tâm đến một cách sát sao hơn. Vì những lý do trên cũng như quan tâm đến xu hướng pháp luật hình sự thế giới mà Đảng và Nhà nước ta có những quyết sách kịp thời trong cải cách hệ thống tư pháp và hiệu quả của việc áp dụng biện pháp tư pháp hình sự là rất cần thiết. Sự ra đời của Nghị quyết số 08-NQ/TW về cải cách tư pháp ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị; Nghị quyết số 48-NQ/TW về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị, Nghị quyết số 49/2005/NQ-QH 11 về chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh năm 2006 1 ngày 19/11/2005 của Quốc hội cũng như việc sửa đổi Bộ luật Hình sự năm 1999 (năm 2009) đã thể hiện rất rõ xu hướng này. Toàn bộ những phân tích và dẫn chứng trong việc áp dụng biện pháp tư pháp hình sự đều trên cơ sở thực tiễn, nhằm tìm ra giải pháp hoàn thiện pháp luật cũng như cải cách tư pháp làm cho việc nghiên cứu đề tài "Các biện pháp tư pháp trong pháp luật hình sự Việt Nam" trong thời điểm hiện nay đạt được hiệu quả cao. 2. Tình hình nghiên cứu đề tài Dưới góc độ pháp lý, trong thời gian qua các biện pháp tư pháp hình sự đã được quan tâm rất nhiều và đề cập đến trong pháp luật hình sự, pháp luật tố tụng hình sự cũng như pháp luật thi hành án hình sự. Nhưng trước đây, chưa có bất cứ công trình khoa học nào nghiên cứu sâu sắc về việc này, các nhà làm luật trước đó, chỉ đặt ra các quy định mang tính chất ước lệ. Những đề tài nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung: - Các biện pháp tư pháp trong Bộ luật Hình sự năm 1999 và vấn đề hoàn thiện Bộ luật Tố tụng hình sự về trình tự, thủ tục áp dụng các biện pháp đó, của TS. Phạm Hồng Hải, Tạp chí luật học, số 5/2000. - Thi hành các biện pháp tư pháp không phải là hình phạt, của Hồ Sĩ Sơn, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 04/2004. - Vai trò của gia đình trong việc thi hành các hình phạt không tước tự do và các biện pháp tư pháp, của TS. Trần Quang Tiệp, Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 02/2004. - Tăng cường năng lực hệ thống tư pháp người chưa thành niên tại Việt Nam, Thông tin khoa học chuyên đề, Viện khoa học pháp lý, 2000. - Những vấn đề lý luận và thực tiễn về tư pháp hình sự với người chưa thành niên phạm tội, của Đỗ Thị Phượng, Bùi Đức Lợi, Đề tài nghiên cứu cấp trường, Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2005. 2 - Tư pháp hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội những khía cạnh tội phạm học, của TSKH.PGS Lê Cảm - ThS. Đỗ Thị Phượng, Tạp chí tòa án nhân dân, số 22/2004. Đến Luật Thi hành án hình sự năm 2010, việc thi hành đã được quy định một cách cụ thể, rõ ràng nhưng chưa được áp dụng một cách triệt để và hiệu quả. Vì thế, ở luận văn này, đề tài tập trung nghiên cứu các khía cạnh của pháp luật hình sự, pháp luật tố tụng hình sự và pháp luật thi hành án hình sự đối với các biện pháp tư pháp hình sự; cũng như thực tiễn áp dụng các biện pháp tư pháp này. Thông qua đó, việc nghiên cứu các vấn đề này sẽ giúp chúng ta có cách tiếp cận toàn diện hơn trong việc áp dụng các biện pháp tư pháp, giúp chúng ta hiểu rõ và thực thi chúng một cách có hiệu quả hơn. 3. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài 3.1. Mục đích Trên cơ sở làm rõ các vấn đề lý luận, cùng với việc áp dụng biện pháp tư pháp trong thực tiễn, luận văn đi sâu phân tích từ nhiều khía cạnh khác nhau về biện pháp tư pháp hình sự: quy định pháp luật hình sự, pháp luật tố tụng hình sự, pháp luật thi hành án hình sự, xu hướng, cũng như nguyên nhân và điều kiện áp dụng, việc áp dụng trên thực tiễn. Từ sự phân tích này, tác giả luận văn đã đề xuất một số giải pháp cho việc áp dụng các biện pháp tư pháp phù hợp pháp luật, thực tiễn, cũng như xu hướng quốc tế và thực trạng tại Việt Nam. 3.2. Nhiệm vụ Để đạt được những mục đích nêu trên, luận văn có nhiệm vụ chủ yếu là: - Phân tích làm sáng tỏ các vấn đề lý luận về các biện pháp tư pháp trong pháp luật hình sự như: Khái niệm, đặc điểm, mục đích, bản chất và điều kiện áp dụng của các biện pháp tư pháp. 3 - Phân tích các quy định pháp luật về các biện pháp tư pháp trong pháp luật tố tụng hình sự, pháp luật về thi hành án hình sự cũng như thực tiễn áp dụng chúng. - Rút ra các điểm hạn chế của việc áp dụng, thi hành chúng trong thực tiễn cũng như các nguyên nhân của các hạn chế đó. 4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn là vấn đề về lý luận và thực tiễn của việc áp dụng các biện pháp tư pháp hình sự. Những vấn đề này được nghiên cứu trên cơ sở các quy định pháp luật hình sự, quy định pháp luật về tố tụng hình sự, quy định pháp luật về thi hành án hình sự, cũng như các quan điểm về chính sách của Đảng và Nhà nước, cũng như xu hướng áp dụng tại Việt Nam trong thời gian tới và trên thế giới. 4.1. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của luận văn này là lý luận về các biện pháp tư pháp hình sự trong pháp luật hình sự, pháp luật tố tụng hình sự và pháp luật về thi hành án hình sự. Đồng thời, luận văn còn nghiên cứu trên cơ sở của việc áp dụng thực tiễn các quy định pháp luật hình sự và thi hành biện pháp tư pháp hình sự. 4.2. Phạm vi nghiên cứu Do tính phức tạp và rộng lớn của vấn đề nên luận văn chỉ giới hạn nghiên cứu các vấn đề lý luận, cũng như hoạt động áp dụng và thi hành các biện pháp tư pháp hình sự trong thực tiễn. Các hoạt động khác đều không thuộc phạm vi nghiên cứu của luận văn này. Về thực tiễn, luận văn giới hạn nghiên cứu các nội dung nêu trên trong pháp luật hình sự hiện hành để tìm ra những điểm cơ bản trong thực tiễn đó. Tuy nhiên do nguồn tài liệu còn hạn chế, nên nhiều dữ liệu còn chưa được cập 4 nhật một cách hoàn chỉnh. Những số liệu được thống kê trong luận văn này là từ các bản án từ trong 05 năm trở lại đây. 5. Phƣơng pháp nghiên cứu đề tài Trên cơ sở lý luận của việc nghiên cứu và quán triệt chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về chính sách hình sự, so sánh đối chiếu với pháp luật thực định, luận văn đã sử dụng, kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau. Đó là các phương pháp: tổng hợp, phân tích, so sánh, thống kê về việc áp dụng biện pháp tư pháp hình sự trong thực tiễn trên cả tư tưởng, quy định vật chất, cũng như quy định hình thức và việc áp dụng trên thực tiễn (thi hành án hình sự về biện pháp tư pháp). 6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài nghiên cứu 6.1. Về mặt lý luận Đây là công trình nghiên cứu đầu tiên đi sâu nhằm kiến nghị việc áp dụng và thi hành các biện pháp tư pháp hình sự trong thực tiễn góp phần hoàn thiện các biện pháp tư pháp này trong pháp luật hình sự Việt Nam. Kết quả nghiên cứu đề tài có thể làm rõ thêm các quan điểm lý luận khoa học về định hướng áp dụng biện pháp tư pháp này. Ngoài ra kết quả nghiên cứu đề tài còn có thể dùng làm tài liệu tham khảo, phục vụ cho việc nghiên cứu, học tập khoa học luật hình sự, luật tố tụng hình sự, luật thi hành án hình sự. 6.2. Về mặt thực tiễn Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể là ý kiến hữu ích trong hoạt động lập pháp và hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự, pháp luật tố tụng hình sự, pháp luật thi hành án hình sự trong việc đấu tranh phòng chống tội phạm cũng như giáo dục, cải tạo người phạm tội nói chung và người chưa 5 thành phạm tội chưa thành niên nói riêng ở nước ta. Đồng thời, đây cũng là tài liệu có thể làm căn cứ sửa đổi pháp luật hiện hành và tiến đến hoàn thiện hệ thống tư pháp hình sự trong tương lai. Tóm lại, đây là công trình nghiên cứu về cả lý luận và thực tiễn của biện pháp tư pháp hình sự. Luận văn phân tích một cách cụ thể và toàn diện các quy định của pháp luật hình sự về biện pháp tư pháp hình sự. Phân tích, đánh giá chi tiết từng điều kiện, đặc điểm của các biện pháp tư pháp hình sự đồng thời có sự so sánh, đối chiếu với pháp luật quốc tế, nghiên cứu nhằm đưa ra các giải pháp kiến nghị, hoàn thiện các quy định với việc xử lý người phạm tội bằng biện pháp tư pháp, từ đó nâng cao và tăng cường hiệu quả áp dụng của pháp luật góp phần đẩy mạnh công tác đấu tranh phòng và chống tội phạm. 7. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương: Chương 1: Một số vấn đề chung về các biện pháp tư pháp trong pháp luật hình sự Việt Nam. Chương 2: Các biện pháp tư pháp theo luật hình sự Việt Nam và thực tiễn áp dụng. Chương 3: Nhu cầu, quan điểm và các giải pháp hoàn thiện quy định về các biện pháp tư pháp trong luật hình sự Việt Nam và nâng cao hiệu quả áp dụng. 6 Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÁC BIỆN PHÁP TƢ PHÁP TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1.1. QUAN NIỆM CHUNG VỀ BIỆN PHÁP TƢ PHÁP 1.1.1. Khái niệm và các đặc điểm của biện pháp tƣ pháp Khi nghiên cứu lý luận về các biện pháp tư pháp hình sự, việc xem xét khái niệm của nó là hết sức quan trọng, song nếu chỉ nghiên cứu trên khía cạnh lý luận thì chưa đủ, mà cần phải xem xét trên cả khía cạnh pháp luật hình sự thực định cũng như thực tiễn áp dụng. Chúng ta cùng điểm qua một số khía cạnh để xem xét khái niệm cơ bản của các biện pháp tư pháp: * Pháp luật hình sự thực định: Pháp luật hình sự thực định Việt Nam từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 cho đến năm 1986 (pháp điển hóa lần 1) thì chưa xây dựng định nghĩa pháp lý của khái niệm các biện pháp tư pháp hình sự, cũng như chưa từng được ghi nhận về mặt lập pháp. Pháp điển hóa lần thứ 2 (năm 1999), khái niệm pháp lý của "biện pháp tư pháp" cũng chưa được chính thức ghi nhận trong pháp luật thực định. Như vậy, có thể nói mặc dù các biện pháp tư pháp hình sự là một chế định hết sức quan trọng, song hành cùng hình phạt để hoàn thiện hệ thống chế tài hình sự, nhưng lại chưa được ghi nhận một cách chính thống. Việc chưa đề cập đến nó trên cơ sở pháp luật thực định là một điểm thiếu sót cần được xem xét. * Trong lý luận luật hình sự: Từ trước đến nay trong khoa học luật hình sự của thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, khái niệm về các biện pháp tư pháp có rất nhiều tranh 7 cãi, ý kiến khác nhau; song vẫn chưa có một quan điểm thống nhất nào, cụ thể là: - Khoa học luật hình sự Việt Nam có một số quan điểm coi các biện pháp tư pháp là: Biện pháp tư pháp hình sự không phải là hình phạt, chỉ có tính chất hành chính, dân sự nhưng được quyết định ngay trong vụ án hình sự. Ngoài ra các biện pháp được áp dụng chung đối với bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hình sự. "Biện pháp tư pháp hình sự là các biện pháp hình sự được Bộ luật Hình sự quy định, do các cơ quan tư pháp áp dụng đối với người có hành vi nguy hiểm cho xã hội, có tác dụng hỗ trợ hoặc thay thế hình phạt" [30, tr. 194]. Như vậy, tổng kết các quan điểm khác nhau về khái niệm các biện pháp tư pháp, đồng thời căn cứ vào quá trình lập pháp, xây dựng hệ thống các quy phạm pháp luật về các biện pháp tư pháp trong pháp luật hình sự Việt Nam, chúng ta có thể đưa ra khái niệm khoa học về các biện pháp tư pháp hình sự: Biện pháp tư pháp là biện pháp cưỡng chế về hình sự của Nhà nước ít nghiêm khắc hơn so với hình phạt, do pháp luật hình sự quy định và được cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền căn cứ vào giai đoạn tố tụng hình sự tương ứng cụ thể áp dụng đối với người phạm tội nhằm hạn chế quyền, tự do của người đó, hoặc hỗ trợ hay thay thế cho hình phạt. Từ những quan điểm về khái niệm "Biện pháp tư pháp" và khái niệm khoa học nêu trên, có thể thấy biện pháp tư pháp với tính chất là biện pháp cưỡng chế về hình sự ít nghiêm khắc hơn so với hình phạt, có những đặc điểm cơ bản (dấu hiệu) sau: Đặc điểm thứ nhất: Biện pháp tư pháp là biện pháp cưỡng chế về hình sự ít nghiêm khắc hơn so với hình phạt mà hậu quả pháp lý của việc áp dụng nó là người phạm tội không bị coi là có án tích nếu như biện pháp tư pháp được áp dụng độc lập đối với người đó mà không kèm hình phạt. 8 Thực chất, hình phạt là biện pháp cưỡng chế về hình sự nghiêm khắc nhất của Nhà nước so với tất cả các biện pháp cưỡng chế khác; mà khi áp dụng hình phạt đối với người phạm tội, thì hậu quả pháp lý là người phạm tội sẽ có án tích. Do đó, với tính chất là biện pháp cưỡng chế của Nhà nước, các biện pháp tư pháp hình sự được áp dụng đồng thời với hình phạt, thì người phạm tội sẽ có hậu quả pháp lý là có án tích; còn nếu như áp dụng độc lập mà không kèm hình phạt (ví dụ như khi người đó được miễn hình phạt, mà chỉ áp dụng biện pháp tư pháp) thì người đó không bị coi là có án tích. Đặc điểm thứ hai: Với tính chất là một dạng của trách nhiệm hình sự và là một hình thức để thực hiện trách nhiệm hình sự trong văn bản của Cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền, biện pháp tư pháp cũng chỉ có thể xuất hiện khi có sự việc phạm tội. Chỉ khi có tội phạm cùng đầy đủ các dấu hiệu của nó, thì mới có thể xác định được trách nhiệm hình sự và mới có thể có biện pháp tư pháp hình sự với tư cách là biện pháp ít nghiêm khắc hơn hình phạt. Khi xảy ra sự kiện phạm tội, theo quy định pháp luật hình sự, Cơ quan nhà nước có thẩm quyền, tùy theo giai đoạn tố tụng nhất định (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án) xác định trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong luật hình sự, có lỗi (vô ý hoặc cố ý), đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Trên cơ sở đó, cơ quan tiến hành tố tụng buộc người phạm tội chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình, đồng thời quyết định hình phạt; kèm theo hoặc áp dụng độc lập các biện pháp tư pháp. Nếu không có hành vi phạm tội xảy ra, thì người bị áp dụng biện pháp cưỡng chế khác không phải là biện pháp tư pháp hình sự mà có thể là các biện pháp tư pháp hành chính, dân sự… Đặc điểm thứ ba: Khác với hình phạt, căn cứ vào giai đoạn tố tụng hình sự tương ứng cụ thể, biện pháp tư pháp hỗ trợ hình phạt (từ điều 41-43 9 Bộ luật Hình sự năm 1999) có thể do cơ quan tư pháp hình sự khác có thẩm quyền như là Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án… áp dụng đối với người phạm tội nói chung (kể cả người bị kết án); còn với các biện pháp tư pháp thay thế hình phạt (Điều 70 Bộ luật Hình sự năm 1999), thì chỉ có thể do Tòa án áp dụng với người bị kết án nói riêng. Việc áp dụng các biện pháp tư pháp hình sự đối với người phạm tội được xác định ở phạm vi rất rộng lớn. Không như hình phạt, chỉ có thể áp dụng sau khi bị kết án, người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội có thể bị áp dụng biện pháp tư pháp hình sự ngay từ giai đoạn điều tra khi có dấu hiệu phạm tội; nhưng thực tế, để quyết định việc áp dụng các biện pháp tư pháp hình sự hay không, để xử lý với tài sản bị xâm phạm, hoặc đối với việc bồi thường, xin lỗi công khai, bắt buộc chữa bệnh, thì chỉ có Tòa án là có thẩm quyền. Còn trước đó, những biện pháp này chỉ được áp dụng tạm thời, có thể bị thay đổi sau khi Hội đồng xét xử đưa ra phán quyết cuối cùng. Đặc điểm thứ tư: Biện pháp tư pháp chỉ nhằm hạn chế, chứ không tước đoạt quyền, tự do của người phạm tội; hoặc để hỗ trợ hay thay thế cho hình phạt. Với những trường hợp buộc áp dụng biện pháp tư pháp, thì dù mang tính cưỡng chế, nhưng chỉ hạn chế phần nào quyền lợi của người bị kết án mà không nhằm tước đi quyền, tự do của người phạm tội. Điều đó được thể hiện rõ ràng nhất ở quy định của từng biện pháp tư pháp hình sự. Ví như biện pháp tư pháp "Giáo dục tại xã, phường thị trấn" người bị áp dụng mặc dù bị hạn chế về quyền lợi (không được ra khỏi nơi cư trú nếu không được sự cho phép của cơ quan có thẩm quyền) nhưng cũng không hoàn toàn mất đi sự tự do của mình, họ vẫn có quyền đi lại, tham gia các phong trào, hoạt động của tổ chức, xã hội tại nơi cư trú; thậm chí làm ăn, sinh hoạt không khác nhiều so với những người bình thường. 10 Hoặc việc bắt buộc chữa bệnh đối với những người có bệnh lý bị hạn chế về nhận thức hoặc điều khiển hành vi, khiến việc phạm tội của họ không phải là cố ý; mà do bệnh lý khiến họ hành động trái quy định pháp luật. Do đó, việc bắt buộc chữa bệnh, tuy là một trong số những biện pháp tư pháp nhưng lại mang tính chất giúp đỡ người phạm tội có bệnh hơn là trừng phạt; bản thân người bị áp dụng biện pháp này vẫn được sinh hoạt như những người bệnh không phạm tội khác, vẫn có những quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Việc có áp dụng hình phạt hay biện pháp tư pháp hình sự khác sau khi hoàn tất việc chữa bệnh, sẽ do Hội đồng xét xử xem xét tùy tình huống cụ thể. Đặc điểm thứ năm: Cũng như các biện pháp cưỡng chế khác về hình sự, các biện pháp tư pháp cũng được quy định trong pháp luật hình sự và phải do cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền áp dụng theo một trình tự đặc biệt do luật tố tụng hình sự quy định. Không phải bất cứ Cơ quan nhà nước nào cũng được phép áp dụng các biện pháp tư pháp hình sự; mặc dù một số biện pháp tư pháp hình sự có vẻ giống như biện pháp cưỡng chế hành chính, dân sự (tịch thu tiền, vật trực tiếp liên quan đến tội phạm và tịch thu sung công quỹ; hoặc phạt tiền) nhưng xét về bản chất thì hoàn toàn khác nhau; do đó chỉ có cơ quan tư pháp hình sự mới có quyền xem xét và áp dụng. Đặc biệt, việc xử lý đối với người bị kết án cũng như áp dụng hình phạt và các biện pháp tư pháp hình sự phải do Tòa án xác định trên cơ sở áp dụng pháp luật hình sự; còn các cơ quan tố tụng khác cũng phải tuân thủ đúng trình tự và thủ tục do pháp luật tố tụng hình sự, pháp luật thi hành án hình sự quy định. Đặc điểm thứ sáu: Biện pháp tư pháp chỉ mang tính chất cá nhân vì theo pháp luật hình sự Việt Nam chỉ được áp dụng riêng với bản thân người phạm tội hoặc người bị kết án. Việc áp dụng chế tài đối với người phạm tội chỉ được thực hiện khi có việc thực hiện phạm tội xảy ra, và chỉ đối với người đó; những người thân của họ không có nghĩa vụ phải chịu trách nhiệm về những hành động đó trước 11 pháp luật hình sự. Gia đình hoặc người giám hộ (với người chưa thành niên) chỉ có nghĩa vụ tài chính với người phạm tội. Các biện pháp tư pháp áp dụng với đối tượng phạm tội là tổ chức còn chưa được xác định, việc áp dụng các biện pháp tư pháp hình sự này, chỉ có thể áp dụng với từng người phạm tội, và liên đới chịu trách nhiệm về tài chính. 1.1.2. Vai trò và mục đích của của biện pháp tƣ pháp hình sự Các biện pháp tư pháp hình sự xét về bản chất là những biện pháp cưỡng chế của Nhà nước do cơ quan tiến hành tố tụng hình sự có thẩm quyền (Viện kiểm sát và Tòa án) áp dụng đối với người phạm tội và những người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự do bị bệnh tâm thần hoặc bị một bệnh lý khác đã mất đi khả năng nhận thức hoặc điều khiển hành vi của mình. Với hệ thống hình phạt và các biện pháp tư pháp hình sự đa dạng, có tính chất nghiêm khắc khác nhau, công dụng khác nhau thì việc xử lý hình sự càng chính xác các chi tiết, hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội và nạn nhân càng được xem xét một cách kỹ càng trước khi quyết định hình phạt và do đó, hiệu quả của việc áp dụng biện pháp tư pháp sẽ phần nào được nâng cao. Có thể nói, việc tồn tại hệ thống các biện pháp tư pháp song hành với hệ thống hình phạt (chính và bổ sung) làm cho hệ thống chế tài cân đối hơn, hoàn thiện và hiệu quả hơn, đáp ứng được yêu cầu đấu tranh và phòng chống tội phạm phù hợp xu hướng phát triển của đất nước cũng như hội nhập quốc tế. Thêm vào đó, các biện pháp tư pháp hình sự được áp dụng với người bị kết án sẽ củng cố, hỗ trợ và tăng cường hiệu quả việc áp dụng hình phạt; khiến cho việc tái hòa nhập cộng đồng của người bị kết án trở nên dễ dàng hơn, tránh được nguy cơ tái phạm, tái phạm nguy hiểm và góp phần giúp hoạt động tư pháp trơn tru hiện quả hơn. 12 Mặt khác, với những trường hợp chưa đủ tính chất nghiêm trọng để có thể áp dụng hệ thống hình phạt, thì các biện pháp tư pháp hình sự chính là cứu cánh để giải quyết tình hình tội phạm, không bỏ sót người phạm tội, vẫn có chế tài áp dụng với họ, nhưng tương xứng về cả nội dung và tính chất nghiêm khắc đối với hành vi phạm tội mà họ đã gây ra. Như vậy, có thể thấy rằng các biện pháp tư pháp hình sự đã góp phần làm phong phú hệ thống chế tài hình sự, thúc đẩy chức năng bảo vệ, phòng ngừa và giáo dục của pháp luật hình sự, tạo cơ sở pháp lý để đấu tranh và phòng chống tội phạm một cách hiệu quả. Chính vì vậy, vai trò của các biện pháp tư pháp hình sự trong luật hình sự nói riêng và trong pháp luật nói chung là hết sức quan trọng và cần thiết. Từ trước đến nay khi nghiên cứu những vấn đề lý luận về trách nhiệm hình sự, hình phạt và các biện pháp tư pháp; có rất nhiều quan điểm, tranh luận về mục đích của hình phạt mà chưa có nghiên cứu nào cụ thể về các Biện pháp tư pháp. Tuy nhiên, vì các biện pháp tư pháp cũng là một biện pháp cưỡng chế hình sự nhằm thực hiện trách nhiệm hình sự của người phạm tội nên có những điểm tương đồng với hình phạt. Đi sâu vào phân tích mục đích của biện pháp tư pháp có thể thấy trên các khía cạnh: Về mặt hình thức, biện pháp tư pháp chỉ ra mục đích mà thông qua việc áp dụng với người phạm tội Nhà nước mong muốn đạt được. Như vậy, có thể hiểu mục đích của biện pháp tư pháp là kết quả cuối cùng mà Nhà nước mong muốn đạt được bằng cách áp dụng các biện pháp tư pháp do nhà làm luật quy định trong pháp luật hình sự theo đúng trình tự, thủ tục được quy định 5 hạn chế tội phạm mới, thúc đẩy việc tái hòa nhập cộng đồng; thể hiện được tính nhân đạo trong pháp luật cũng như chính sách của Đảng và Nhà nước. Về mặt nội dung, cốt lõi của kết quả cuối cùng mà Nhà nước mong muốn đạt được bằng việc áp dụng biện pháp tư pháp đối với người phạm tội. 13
- Xem thêm -