Tài liệu Các biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng dạy học ở trường trung học phổ thông hiệp hoà số 2 tỉnh bắc giang

  • Số trang: 161 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 47 |
  • Lượt tải: 0
tailieuonline

Đã đăng 39907 tài liệu

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC ----------------------------------------------------Đồng Duy Hiển Các biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng dạy học ở trường Trung học phổ thông Hiệp Hoà số 2 tỉnh Bắc Giang Luận văn ThS Giáo dục học: 60.14.05 Nghd: PGS.TS. Nguyễn Bá Dương ĐẠI HỌC GIÁO DỤC Hà Nội – 2006 Luận văn thạc sĩ Quản lý giáo dục MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài. Trong thời đại ngày nay, sự phát triển nhanh nhƣ vũ bão của khoa học, kỹ thuật và công nghệ cùng với xu thế toàn cầu hoá, phát triển kinh tế tri thức đã và đang đặt ra yêu cầu mới trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo phải thay đổi mục tiêu, từ mục tiêu trang bị tri thức khoa học là chính sang mục tiêu hình thành và phát triển các kỹ năng, năng lực cho ngƣời học là chính. Ở Việt Nam, trong hệ thống giáo dục quốc gia, giáo dục phổ thông giữ một vai trò quan trọng trong việc tạo mặt bằng dân trí, đáp ứng những yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong sự nghiệp đổi mới. Bƣớc sang thế kỷ XXI, kiến thức của nhân loại, khoa học và công nghệ phát triển không ngừng. Xu thế hội nhập khu vực và thế giới là xu thế tất yếu với bất cứ quốc gia nào. Giáo dục phổ thông đứng trƣớc những đòi hỏi phải có những bƣớc tiến mới mạnh mẽ và nhanh chóng để đáp ứng đƣợc yêu cầu của xã hội. Giáo dục trung học là một phần quan trọng của giáo dục phổ thông có nhiệm vụ hết sức nặng nề trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa theo tinh thần công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập toàn cầu. Khi khẳng định nhiệm vụ của giáo dục và đào tạo, nghị quyết lần thứ 2 của ban chấp hành trung ƣơng Đảng khoá VIII đã chỉ rõ ” giáo dục và đào tạo hiện nay phải có một bƣớc chuyển nhanh chóng về chất lƣợng và hiệu quả đào tạo, về số lƣợng và qui mô đào tạo, nhất là chất lƣợng dạy học trong các nhà trƣờng, nhằm nhanh chóng đƣa giáo dục đào tạo đáp ứng yêu cầu mới của đất nƣớc. Thực hiện nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dƣỡng nhân tài, phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nƣớc ” [16,37]. Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X vừa qua Đảng ta lại tiếp tục khẳng định: “ Phải đổi mới tƣ duy giáo dục một cách nhất quán, từ mục tiêu, chƣơng trình, nội 1 Luận văn thạc sĩ Quản lý giáo dục dung, phƣơng pháp đến cơ cấu và hệ thống tổ chức, cơ chế quản lý để tạo đƣợc chuyển biến cơ bản và toàn diện của nền giáo dục nƣớc nhà, tiếp cận với trình độ giáo dục của khu vực và thế giới ”. [19,206]. Nâng cao chất lƣợng dạy học là nhiệm vụ cơ bản đầu tiên của các nhà trƣờng, đây chính là điều kiện để nhà trƣờng tồn tại và phát triển. Tuy nhiên, thực tiễn giáo dục cho thấy chất lƣợng dạy học trong các nhà trƣờng phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong đó yếu tố quản lý giáo dục, quản lý chất lƣợng dạy học có vị trí then chốt. Thực chất của công tác quản lí nhà trƣờng là quản lý hoạt động dạy và học, công việc này đƣợc tiến hành thƣờng xuyên, liên tục qua từng giờ dạy học, qua từng tuần, tháng, học kì, năm học, đây là điều kiện tất yếu để đƣa nhà trƣờng đáp ứng yêu cầu của mục tiêu đào tạo. Đƣợc sự quan tâm của Đảng và Chính phủ, của các tầng lớp xã hội, chất lƣợng giáo dục - đào tạo ở nƣớc ta trong nhiều năm qua nói chung và chất lƣợng dạy học nói riêng đã có nhiều tiến bộ đƣợc xã hội công nhận. Trong giáo dục đào tạo nhiều nơi đã xuất hiện những nhân tố mới, phong trào học tập sôi nổi, loại hình trƣờng, lớp trong các cấp học đa dạng, dân trí từng bƣớc đƣợc nâng cao. Tuy nhiên, chất lƣợng đào tạo nói chung và chất lƣợng dạy học nói riêng còn nhiều bất cập về qui mô, nhất là chất lƣợng thực, hiệu quả thực. Đội ngũ cán bộ giáo viên tuyệt đại đa số nhiệt tình, có tâm huyết với sự nghiệp giáo dục, xong còn thiếu về số lƣợng, yếu về chất lƣợng, có nơi, có lúc chƣa thực sự đáp ứng đƣợc yêu cầu của công cuộc đổi mới kinh tế xã hội, xây dựng và bảo vệ tổ quốc, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nƣớc theo định hƣớng xã hội chủ nghĩa. Trong những lý do dẫn đến những tồn tại, hạn chế trên, trƣớc tiên phải kể đến sự hạn chế và hiệu quả quản lý giáo dục nói chung và quản lý chất lƣợng dạy học nói riêng của các nhà trƣờng trong đó có các nhà trƣờng trung học phổ thông. Trong những năm qua, ở tỉnh Bắc Giang nói chung và ở trƣờng Trung học phổ thông Hiệp Hoà số 2 nói riêng, 2 Luận văn thạc sĩ Quản lý giáo dục việc nâng cao chất lƣợng dạy học đã đạt đƣợc nhiều kết quả tốt đẹp đáp ứng đƣợc sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội ở địa phƣơng và đất nƣớc. Tuy nhiên vấn đề chất lƣợng dạy học vẫn còn là vấn đề khó khăn, phức tạp và có nhiều bất cập. Công tác quản lý dạy và học đƣợc đặt ra với những tƣ tƣởng và yêu cầu mới. Ngƣời quản lý cần phải đúc rút kinh nghiệm, tổng kết đánh giá nghiêm túc, tìm ra biện pháp hữu hiệu nhằm nâng cao chất lƣợng dạy học, nhanh chóng đáp ứng yêu cầu mới của đất nƣớc. Thực tiễn quản lý giáo dục trong các nhà trƣờng trung học phổ thông của tỉnh Bắc Giang đang đặt ra nhiều vấn đề cả về mặt lý luận và thực tiễn cần sớm quan tâm giải quyết. Xuất phát từ những lý do trên chúng tôi đã mạnh dạn chọn đề tài: “Các biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng dạy học ở trường Trung học phổ thông Hiệp Hoà số 2, tỉnh Bắc Giang” . Qua đề tài luận văn chúng tôi hy vọng góp một phần nhỏ bé vào việc xây dựng các biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lƣợng giáo dục ở các nhà trƣờng trung học phổ thông, phù hợp với yêu cầu đổi mới, thực hiện tốt nhiệm vụ của nhà trƣờng mà Đảng, nhà nƣớc và nhân dân giao phó. 2. Mục đích nghiên cứu. Đề xuất một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lƣợng dạy học ở trƣờng trung học phổ thông Hiệp Hoà số 2 tỉnh Bắc Giang. 3. Nhiệm vụ nghiên cứu. - Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc quản lý giáo dục nhằm nâng cao chất lƣợng dạy ở trƣờng trung học phổ thông. - Khảo sát và đánh giá thực trạng chất lƣợng dạy học và việc quản lý chất lƣợng dạy học ở trƣờng trung học phổ thông Hiệp Hoà số 2 tỉnh Bắc Giang. - Đề xuất một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lƣợng dạy học ở trƣờng trung học phổ thông Hiệp Hoà số 2 tỉnh Bắc Giang. 3 Luận văn thạc sĩ Quản lý giáo dục 4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu. 4.1. Khách thể nghiên cứu. Công tác quản lý ở trƣờng trung học phổ thông. 4.2. Đối tượng nghiên cứu. Biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lƣợng dạy học ở trƣờng trung học phổ thông Hiệp Hoà số 2 tỉnh Bắc Giang. 5. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu. Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu, đề xuất một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lƣợng dạy học ở trƣờng trung học phổ thông Hiệp Hoà số 2 tỉnh Bắc Giang. 6. Giả thuyết khoa học ( vấn đề nghiên cứu ). Chất lƣợng dạy học ở trƣờng trung học phổ thông Hiệp Hoà 2 tỉnh Bắc Giang còn có nhiều hạn chế vì chƣa có biện pháp quản lý đồng bộ và hiệu quả. Nếu xây dựng đƣợc những biện pháp quản lý đảm bảo tính khoa học, tính hệ thống, tính hiệu quả và khả thi thì chẳng những góp phần nâng cao chất lƣợng dạy học ở nhà trƣờng mà còn có thể áp dụng cho các nhà trƣờng trung học phổ khác có điều kiện tƣơng tự. 7. Phương pháp nghiên cứu. 7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết. Nghiên cứu và khái quát các văn bản, Nghị quyết của Đảng và Nhà nƣớc về giáo dục, quản lý Nhà nƣớc về giáo dục và những tài liệu lý luận khác có liên quan đến đối tƣợng nghiên cứu của đề tài. 7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn. + Phƣơng pháp quan sát việc dạy và học của giáo viên và học sinh. + Phƣơng pháp điều tra: Nghiên cứu chƣơng trình, hồ sơ chuyên môn của nhà trƣờng. 4 Luận văn thạc sĩ Quản lý giáo dục + Phƣơng pháp đàm thoại, phỏng vấn: Lấy ý kiến của giáo viên, học sinh thông qua trao đổi trực tiếp. + Phƣơng pháp thống kê: Căn cứ vào số liệu thống kê hàng năm của nhà trƣờng. + Phƣơng pháp tổng kết kinh nghiệm: Tổng kết kinh nghiệm quản lý dạy học ở trƣờng trung học phổ thông Hiệp Hoà số 2 tỉnh Bắc Giang. 8. Cấu trúc nội dung luận văn. Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm có 3 chƣơng. Chƣơng 1: Những cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài. Chƣơng 2: Thực trạng dạy học và quản lý chất lƣợng dạy học ở trƣờng trung học phổ thông Hiệp Hoà số 2. Chƣơng 3: Các biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lƣợng dạy học ở trƣờng trung học phổ thông Hiệp Hoà số 2, tỉnh Bắc Giang. 5 Luận văn thạc sĩ Quản lý giáo dục Chương 1 NHỮNG CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1. Một số khái niệm cơ bản. Trƣớc khi nghiên cứu sâu hơn một số khái niệm cơ bản, chúng tôi xin đƣa ra một số khái niệm chung có liên quan đến nội dung của luận văn. Theo Từ điển tiếng Việt, Viện ngôn ngữ học ( Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2001): - “Biện pháp” là cách làm, cách giải quyết một vấn đề cụ thể. - “Giải pháp” là phƣơng pháp giải quyết một vấn đề cụ thể nào đó. - “Giải quyết” là làm cho không còn thành vấn đề nữa. Phƣơng pháp là cách thức nhận thức, nghiên cứu hiện tƣợng của tự nhiên và đời sống xã hội. Hệ thống các cách sử dụng để tiến hành một hoạt động nào đó. - “Quản lý” là trông coi giữ gìn theo những yêu cầu nhất định, tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định. - “Nâng” là đƣa lên cao, làm cho cao hơn trƣớc, lên mức độ cao hơn. - “Nâng” cấp là cải tạo, sửa chữa để nâng chất lƣợng lên một mức. - “Nâng cao” là làm tăng thêm, ví dụ làm tăng thêm chất lƣợng. - “Chất lƣợng” là cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một con ngƣời, một sự vật, sự việc, dạy để nâng cao trình độ văn văn hoá và phẩm chất đạo đức, theo chƣơng trình nhất định. 1.1.1 Quản lý, chức năng và nguyên tắc quản lý. 1.1.1.1. Quản lý. 6 Luận văn thạc sĩ Quản lý giáo dục Khái niệm về quản lý: Quản lý vừa là một khoa học, vừa là một nghệ thuật, tác động đến một hệ thống hoạt động xã hội từ tầm vĩ mô cho đến tầm vi mô. Có nhiều cách tiếp cận, do vậy rất có thể có nhiều cách quan niệm khác nhau về quản lý. Theo các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: Quản lý là tác động có định hƣớng, có chủ đích của chủ thể quản lý ( ngƣời quản lý ) đến khách thể quản lý ( ngƣời bị quản lý ) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt đƣợc mục đích của tổ chức. Tác giả Nguyễn Ngọc Quang lại định nghĩa “ Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những ngƣời lao động nói chung là khách thể quản lý nhằm thực hiện mục tiêu dự kiến ” [34,14]. Quản lý là một hiện tƣợng xã hội xuất hiện từ rất sớm - Hoạt động quản lý đã ra đời nhƣ một yếu tố khách quan, mang tính tất yếu trong quá trình vận động và phát triển của lao động và các hoạt động xã hội. Các quan điểm về quản lý: Có nhiều quan điểm khác nhau về quản lý. * Quan điểm của các tác giả nước ngoài F.W Taylo ( 1856 - 1915 ), ngƣời đề xuất thuyết “Quản lý khoa học” cho rằng: Quản lý là biết đƣợc điều bạn muốn ngƣời khác làm, và sau đó thấy đƣợc rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất . Theo V.G Afanaxev: Quản lý con ngƣời có nghĩa là tác động đến anh ta, sao cho hành vi, công việc và hoạt động của anh ta đáp ứng đƣợc những yêu cầu của xã hội, tập thể, để những cái đó có lợi cho cả tập thể lẫn cá nhân. Theo các nhà khoa học Harold Koontz - Cyril Odonnell và Heinz Weihrich trong cuốn: “Những vấn đề cốt yếu của quản lý” cho rằng: Quản lý đƣợc hoàn thành thông qua con ngƣời. Với tƣ cách thực hành thì quản lý là một nghệ thuật, còn kiến thức có tổ chức về quản lý là một khoa học.Theo Paul Hersey và Ken Blanc Hard: Quản lý nhƣ một quá trình làm việc cùng và 7 Luận văn thạc sĩ Quản lý giáo dục thông qua các cá nhân, các nhóm cũng nhƣ các nguồn lực khác để hình thành các mục đích tổ chức. Theo Kax Mac: Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên qui mô tƣơng đối lớn thì ít nhiều cùng đến một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động những khí quan độc lập của nó. Nhƣ vậy Max đã lột tả đƣợc bản chất quản lý là một hoạt động lao động, một hoạt động tất yếu vô cùng quan trọng trong quá trình phát triển của loài ngƣời. * Quan điểm của các tác giả trong nước Theo từ điển tiếng Việt năm 1992 - Trung tâm từ điển ngôn ngữ Hà Nội - Việt Nam: Quản lý là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định. Tác giả Mai Hữu Khuê cho rằng: Quản lý là sự tác động có mục đích của cán bộ quản lý đối với tập thể những con ngƣời, nhằm làm cho hệ thống hoạt động bình thƣờng, giải quyết đƣợc nhiệm vụ đề ra. Tác giả Đỗ Hoàng Toàn lại quan niệm: Quản lý là sự tác động có tổ chức của chủ thể quản lý lên đối tƣợng bị quản lý nhằm đạt đƣợc mục tiêu đề ra trong điều kiện biến động của môi trƣờng. Theo giáo sƣ Đặng Vũ Hoạt và giáo sƣ Hà Thế Ngữ cho rằng: Quản lý là một quá trình định hƣớng, quá trình có mục tiêu, quản lý một hệ thống nhằm đạt đƣợc những mục tiêu nhất định. Theo Giáo sƣ Nguyễn Văn Lê: Quản lý là một hệ thống xã hội, là khoa học và nghệ thuật tác động vào từng thành tố của hệ thống bằng những phƣơng pháp thích hợp, nhằm đạt đƣợc những mục tiêu đề ra cho hệ và từng thành tố của hệ. Những quan niệm về quản lý của các tác giả tuy có khác nhau về cách tiếp cận nhƣng đều toát nên một số quan điểm chung nhất về quản lý nhƣ sau: 8 Luận văn thạc sĩ Quản lý giáo dục - Là một quá trình tác động có tổ chức, có hƣớng đích của chủ thể quản lý lên đối tƣợng quản lý nhằm đạt đƣợc mục đích nhất định. - Là công cụ hoạt động thiết yếu đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt đƣợc những mục đích của nhóm. - Là phƣơng thức hoạt động tốt nhất để đạt đƣợc mục tiêu chung của một nhóm, một tổ chức. Nhƣ vậy, có thể khái quát về khái niệm quản lý là một quá trình tác động gây ảnh hƣởng của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý nhằm đạt đƣợc mục tiêu chung. Bản chất của quản lý là một loại lao động để điều khiển lao động. Bản chất của hoạt động quản lý chính là sự tác động hợp qui luật của chủ thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành có hiệu quả mong muốn. Xã hội càng phát triển, các loại hình lao động càng phong phú, phức tạp thì hoạt động quản lý càng có vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lƣợng, hiệu suất lao động. Hoạt động quản lý có thể mô tả theo sơ đồ sau: Sơ đồ 1 : Mô hình về quản lý Công cụ Chủ thể QL Khách thể QL Mục tiêu Phƣơng pháp Nhƣ vậy, hiệu quả quản lý phụ thuộc vào các yếu tố: Chủ thể, khách thể, mục tiêu, phƣơng pháp, công cụ quản lý. 9 Luận văn thạc sĩ Quản lý giáo dục - Chủ thể quản lý có thể là một cá nhân, một nhóm hay một tổ chức. - Công cụ quản lý là phƣơng tiện tác động của chủ thể quản lý lên khách thể. Công cụ quản lý có thể là mệnh lệnh ( ngôn ngữ hoặc phi ngôn ngữ ), quyết định ( văn bản hoặc không văn bản ), các chính sách, chƣơng trình, mục tiêu ... - Phƣơng pháp có thể hiểu là cách thức tác động của chủ thể lên khách thể. Trong quản lý hiện nay, phƣơng pháp quản lý đƣợc đúc kết từ nhiều lĩnh vực khác nhau, phụ thuộc vào hình thức, lĩnh vực hoạt động và phong cách quản lý trong tổ chức. 1.1.1.2. Chức năng quản lý. Chức năng quản lý là một hoạt động quản lý chuyên biệt, cơ bản mà thông qua đó chủ thể quản lý tác động vào khách thể quản lý nhằm thực hiện mục tiêu xác định. Chức năng quản lý chiếm giữ một vị trí then chốt, nó gắn liền với nội dung của hoạt động điều hành ở mọi cấp. Các công trình nghiên cứu khoa học quản lý tuy có nhiều ý kiến chƣa thật đồng nhất trong thuật ngữ để chỉ ra các chức năng quản lý, song về cơ bản đã thống nhất có 4 chức năng cơ bản: Kế hoạch - Tổ chức - Chỉ đạo - Kiểm tra. Kế hoạch : Là chức năng trung tâm, đƣợc hiểu khái quát là một chƣơng trình hành động cụ thể của chủ thể quản lý căn cứ vào hiện trạng ban đầu của tổ chức trong từng thời ký, từng giai đoạn, đƣợc hoạch định, lập ra trƣớc khi tiến hành thực hiện một nội dung nào đó để đạt đƣợc mục tiêu đã đề ra. Tổ chức: Tổ chức là sắp xếp, sắp đặt một cách khoa học những yếu tố, những con ngƣời, những dạng hoạt động thành một hệ toàn vẹn nhằm đảm bảo cho chúng tƣơng tác với nhau một cách tối ƣu. V.I. Lê Nin nói: Tổ chức là một nhân tố sinh thành ra hệ toàn vẹn, biến tập hợp các thành tố rời rạc thành một thể thống nhất, ngƣời ta gọi là hiệu ứng tổ chức. 10 Luận văn thạc sĩ Quản lý giáo dục Chỉ đạo: Là phƣơng thức hoạt động của chủ thể quản lý nhằm điều hành bộ máy của tổ chức hoạt động thực hiện mục tiêu kế hoạch. Về thực chất, chỉ đạo là những hoạt động xác lập quyền chỉ huy và sự can thiệp của ngƣời lãnh đạo trong toàn bộ quá trình quản lý, huy động mọi lực lƣợng vào việc thực hiện kế hoạch nhằm đảm bảo các hoạt động của tổ chức diễn ra trong kỷ cƣơng trật tự. Kiểm tra đánh giá: Là biện pháp tác động của chủ thể lên khách thể nhằm xác lập trạng thái vận hành của tổ chức, đánh giá kết quả vận hành của tổ chức, xem mục tiêu và toàn bộ kế hoạch đã đạt đến mức độ nào. Thông qua kiểm tra chủ thể quản lý thấy đƣợc những bất cập, những ƣu điểm trong quá trình hoạt động, tìm ra nguyên nhân, có biện pháp điều chỉnh, xử lý uốn nắn, phát huy kịp thời. Giúp chủ thể rút ra những bài học kinh nghiệm quản lý trong quá trình vận hành. Theo lý thuyết hệ thống: Kiểm tra, đánh giá giữ vai trò liên hệ nghịch, là huyết mạch của hoạt động quản lý, kiểm tra không có đánh giá thì coi nhƣ không có kiểm tra, không kiểm tra coi nhƣ không có hoạt động quản lý. Trong hoạt động quản lý, các chức năng quản lý thực hiện hiệu quả hay không phụ thuộc hoàn toàn vào thông tin. Thông tin vừa là phƣơng tiện, vừa là công cụ tiến hành hiệu quả, liên kết chặt chẽ các chức năng quản lý trong hoạt động quản lý. Có thể biểu diễn sự liên kết các chức năng đó bằng sơ đồ sau: Sơ đồ 2 : Chu trình quản lý. 11 Luận văn thạc sĩ Quản lý giáo dục Kế hoạch hoá Kiểm tra Thông tin Tổ chức Chỉ đạo 1.1.1.3. Các nguyên tắc quản lý Quản lý các tổ chức ( Kinh tế, chính trị, văn hoá, giáo dục ...) thực chất là quản lý con ngƣời hoạt động trong tổ chức đó - đối tƣợng đích của quản lý. Khi tiến hành quản lý, các nhà quản lý đều phải đƣa ra những nguyên tắc quản lý nhất định, thƣờng tập chung vào các nguyên tắc cơ bản sau: Đảm bảo tính pháp lý: Đây là nguyên tắc quản lý đƣợc xây dựng trên cơ sở những qui định, luật pháp và các chế tài của pháp luật. Chẳng hạn: Quản lý giáo dục, tính pháp lý dựa trên luật giáo dục, điều lệ nhà trƣờng, các văn bản dƣới luật, các chế tài có liên quan đến giáo dục, các chỉ thị, nghị định của chính phủ, của Bộ giáo dục về giáo dục, các văn bản chỉ đạo thực hiện chƣơng trình ... Đây là hành lang pháp lý để các nhà quản lý thực hiện các chức năng quản lý, đảm bảo tính hiệu lực của cơ chế quản lý nhà nƣớc, dựa trên các chủ trƣơng, đƣờng lối, chính sách của nhà nƣớc, các văn bản chỉ đạo của ngành để thực hiện vai trò quản lý của nhà quản lý trong quá trình quản lý. Hoạt động quản lý không dựa trên nguyên tắc pháp lý ví nhƣ “cƣỡi ngựa không cƣơng”, dễ dẫn đến quyết định tuỳ tiện, thiếu cơ sở pháp lý, sai phạm chủ trƣơng, pháp luật. Đảm bảo tính tập trung dân chủ: Đây là nguyên tắc quan trọng tạo khả năng quản lý một cách khoa học, có sự kết hợp chặt chẽ quyền lực của chủ thể 12 Luận văn thạc sĩ Quản lý giáo dục quản lý với sức mạnh sáng tạo của mọi đối tƣợng quản lý trong việc thực hiện mục tiêu quản lý. Tập trung trong quản lý đƣợc hiểu là toàn bộ các hoạt động của hệ thống đƣợc tập trung vào cơ quan quyền lực cao nhất, cấp này có nhiệm vụ vạch đƣờng lối, chủ trƣơng, phƣơng hƣớng, mục tiêu tổng quát, đề xuất các giải pháp cơ bản để thực hiện các chủ trƣơng, đƣờng lối đó. Nguyên tắc tập trung thể hiện bởi chế độ một thủ trƣởng. Dân chủ trong quản lý đƣợc hiểu là phát huy quyền làm chủ của mọi thành viên trong tổ chức, huy động trí lực của họ trong việc thực hiện hoàn thành kế hoạch, mục tiêu đề ra. Biểu hiện của dân chủ là các chỉ tiêu, kế hoạch hành động đều đƣợc tập thể tham gia bàn bạc, đóng góp xây dựng, kiến nghị các biện pháp trƣớc khi thực hiện. Sử dụng nguyên tắc tập trung dân chủ trong nhà trƣờng là một vấn đề hết sức không đơn giản, nếu thiên về tập trung quá sẽ dẫn đến quan liêu, độc đoán của quyền, không phát huy đƣợc sự sáng tạo và sức mạnh của quần chúng; ngƣợc lại quá thiên về dân chủ dễ dẫn đến tự do quá trớn, lỏng lẻo kỷ cƣơng. Trong thực tiễn quản lý cần phải kết hợp hài hoà giữa tập trung và dân chủ, sử dụng quyền tập trung và quyền dân chủ đúng lúc, đúng chỗ với tinh thần dám quyết, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Đảm bảo tính khoa học và thực tiễn: Nguyên tắc này đồi hỏi ngƣời quản lý phải nắm đƣợc qui luật phát triển của bộ máy, nắm vững đƣợc qui luật tâm lý của quá trình quản lý, hiểu rõ thực tế địa phƣơng, thực tiễn của ngành, đảm bảo kết hợp hài hoà giữa lợi ích tập thể và lợi ích cá nhân và các yêu cầu đòi hỏi trƣớc mắt và lâu dài của nhiệm vụ, mục tiêu giáo dục và đào tạo đề ra, biết dựa trên các vấn đề thực tiễn để phân tích, tổng hợp các dữ kiện một cách khoa học, biện chứng, trên cơ sở đó đƣa ra đƣợc những biện pháp hữu hiệu trong hoạt động quản lý. 13 Luận văn thạc sĩ Quản lý giáo dục Đảm bảo tính Đảng: Ở Việt Nam, Đảng là biểu hiện sức mạnh, ý chí của nhân dân và là Đảng cầm quyền duy nhất, vì thế trong quản lý hơn bao giờ hết phải luôn bám sát, thể hiện rõ và tuân thủ chủ trƣơng, đƣờng lối, chính sách của Đảng trong hoạt động quản lý. Từ những quan niệm trên có thể rút ra nhận xét sau: - Mặc dù cách diễn đạt khác nhau nhƣng những định nghĩa trên đều thể hiện đƣợc bản chất của hoạt động quản lý, đó là: hoạt động quản lý nhằm làm cho hệ thống vận động theo mục tiêu đã đặt ra, tiến đến trạng thái có chất lƣợng mới. - Trong quản lý có hai bộ phận khăng khít với nhau, đó là chủ thể và khách thể quản lý. Chủ thể quản lý có thể là một cá nhân hay một nhóm ngƣời có chức năng quản lý hay điều khiển tổ chức, làm cho tổ chức vận hành và đạt tới mục tiêu. Khách thể quản lý bao gồm những ngƣời thừa hành nhiệm vụ trong tổ chức, chịu sự tác động, chỉ đạo của chủ thể quản lý nhằm đạt mục tiêu chung. Chủ thể quản lý nhằm làm nẩy sinh các tác động quản lý, còn khách thể quản lý sản sinh ra vật chất và tinh thần có giá trị sử dụng, trực tiếp đáp ứng nhu cầu của con ngƣời, đáp ứng mục đích của chủ thể quản lý. - Quản lý có bốn chức năng cơ bản quan hệ khăng khít, tác động qua lại lẫn nhau và tạo thành chu trình quản lý, đó là các chức năng: kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra cùng các yếu tố khác là thông tin và quyết định. Mỗi chức năng có vai trò, vị trí riêng trong chu trình quản lý - Thông tin là mạch máu của quản lý. 1.1.2 Quản lý giáo dục và quản lý nhà trường. 1.1.2.1. Quản lý giáo dục. Trƣớc tiên chúng tôi đề cập đến một số quan niệm về quản lý giáo dục của các tác giả trong và ngoài nƣớc: 14 Luận văn thạc sĩ Quản lý giáo dục Quản lý giáo dục là một khái niệm quản lý chuyên ngành, ngƣời ta nghiên cứu nó trên nền tảng của khoa học quản lý nói chung. Khái niệm quản lý cũng có nhiều cách tiếp cận khác nhau. Ở đây chúng ta chỉ đề cập đến khái niệm quản lý giáo dục trong phạm vi quản lý một hệ thống giáo dục chung mà hạt nhân là hệ thống các trƣờng học. * Quan niệm của tác giả nước ngoài Theo M.I Kônđacốp: Quản lý giáo dục là tập hợp những biện pháp kế hoạch hoá nhằm đảm bảo sự vận hành bình thƣờng của cơ quan trong hệ thống giáo dục để tiếp tục phát triển, mở rộng hệ thống cả về số lƣợng và chất lƣợng. Khuđônminsky trong cuốn: “Quản lý giáo dục quốc dân ở địa bàn quận huyện” có viết: Quản lý khoa học hệ thống giáo dục có thể xác định nhƣ là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và hƣớng đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của hệ thống ( từ bộ đến trƣờng, đến các cơ sở giáo dục ) nhằm mục đích đảm bảo việc giáo dục xã hội chủ nghĩa cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những qui luật chung của chủ nghĩa xã hội cũng nhƣ vận dụng những qui luật chung của quá trình xã hội, của sự phát triển thể lực và tâm lý trẻ em, thiếu niên và thanh niên. * Quan niệm của tác giả trong nước Theo giáo sƣ Nguyễn Ngọc Quang: Quản lý giáo dục thực chất là tác động đến nhà trƣờng, làm cho nó tổ chức tối ƣu đƣợc quá trình dạy học, giáo dục thể chất theo đƣờng lối nguyên lý giáo dục của Đảng, Quán triệt đƣợc những tính chất nhà trƣờng xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bằng cách đó tiến tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái chất lƣợng mới. Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành phối hợp các lực lƣợng xã hội nhằm thúc đẩy công tác 15 Luận văn thạc sĩ Quản lý giáo dục đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển của xã hội. Quản lý giáo dục là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đƣa hoạt động giáo dục đạt kết quả mong muốn. Theo giáo tác giả Phạm Minh Hạc: Quản lý giáo dục là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp qui luật của chủ thể quản lý (hệ thống giáo dục) nhằm làm cho hệ vận hành theo đƣờng lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện đƣợc các tính chất của nhà trƣờng xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học - giáo dục thế hệ trẻ, đƣa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến tiến lên trạng thái mới về chất. Các quan điểm trên tuy có những cách diễn đạt khác nhau, nhƣng đều toát lên bản chất của quản lý giáo dục: Đó là sự tác động có tổ chức, có định hƣớng, phù hợp với qui luật khách quan của chủ thể quản lý ở các cấp lên đối tƣợng quản lý, nhằm đƣa hoạt động giáo dục ở cơ sở và của toàn bộ hệ thống giáo dục đạt tới mục tiêu đã định. Trong nghị quyết Đại hội Đảng các khoá VI đến khoá IX, trong các văn bản hƣớng dẫn nhiệm vụ năm học của Sở giáo dục và đào tạo Bắc Giang về mục tiêu phát triển giáo dục, về đổi mới công tác quản lý giáo dục trong các nhà trƣờng đều định hƣớng: Không ngừng nâng cao chất lƣợng đội ngũ, chất lƣợng giáo dục; tăng cƣờng đổi mới công tác quản lý giáo dục. Quản lý giáo dục với tƣ cách là một bộ phận của quản lý xã hội, đã xuất hiện từ lâu. Quản lý là một thuộc tính tất yếu, bất biến và nội tại của mọi hoạt động trong quá trình lao động xã hội, nó có tầm quan trong đối với bất cứ hoạt động nào của con ngƣời. Quản lý giáo dục có thể đƣợc hiểu ở nhiều cấp độ khác nhau, tuỳ ta xác định đối tƣợng quản lý. Ở đây chúng ta chỉ đơn giản là quản lý giáo dục là quản lý quá trình giáo dục đào tạo, trong đó có quá trình dạy học diễn ra ở các cơ sở khác nhau của giáo dục. 16 Luận văn thạc sĩ Quản lý giáo dục Quản lý giáo dục còn đƣợc hiểu nhƣ là một tập hợp những biện pháp về tổ chức, phƣơng pháp, nội dung giáo dục, kế hoạch hoá, tài chính,..., nhằm bảo vệ sự vận hành bình thƣờng của các cơ quan trong hệ thống giáo dục, bảo đảm sự phát triển và mở rộng hệ thống cả về số lƣợng và chất lƣợng. Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quan là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lƣợng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển của xã hội. Một quan điểm nữa về quản lý giáo dục có thể đƣa ra ở đây là: quản lý giáo dục là những tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và có mục đích của các chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các khâu của hệ thống nhằm đảm bảo sự giáo dục cộng sản chủ nghĩa cho thế hệ trẻ, đảm bảo sự phát triển toàn diện và hài hoà của họ. Trên cơ sở nhận thức và sử dụng các qui luật chung vốn có của chủ nghĩa xã hội cũng nhƣ những qui luật khách quan của quá trình giáo dục, của sự phát triển về thể chất và tâm lý của thế hệ trẻ. Khi nói đến giáo dục phải nhận thức hệ thống giáo dục là một bộ phận đặc biệt quan trọng trong hệ thống xã hội. Các quá trình giáo dục thƣờng đƣợc trải ra theo thời gian dài, những phẩm chất, nhân cách của học sinh mà giáo dục đang đào tạo ngày nay phải đáp ứng đƣợc những yêu cầu của hiện tại và của ngày mai khi học sinh đi vào cuộc sống. Các hiện tƣợng giáo dục bao giờ cũng là các hiện tƣợng đặc biệt phức tạp, chính vì vậy quản lý giáo dục đòi hỏi vừa phải có tính cụ thể, vừa phải có tính toàn vẹn sâu sắc. Quản lý giáo dục trên cơ sở quản lý nhà trƣờng là một phƣơng hƣớng cải tiến nhằm mục đích tăng cƣờng phân cấp quản lý bên trong nhà trƣờng với những trách nhiệm và quyền hạn rộng rãi hơn để thực hiện nguyên tắc giải quyết vấn đề tại chỗ. 1.1.2.2. Quản lý nhà trường. * Về khái niệm quản lý nhà trường. 17 Luận văn thạc sĩ Quản lý giáo dục Nhà trƣờng nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân và hệ thống xã hội. Vì vậy nó luôn luôn có mối quan hệ qua lại và tác động với môi trƣờng xã hội. Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Nhà trƣờng là một thiết chế đặc biệt của xã hội, thực hiện chức năng tạo nguồn cho các yêu cầu của xã hội, đào tạo các công dân cho tƣơng lai. Với tƣ cách là một tổ chức giáo dục cơ sở vừa mang tính giáo dục, vừa mang tính xã hội, trực tiếp đào tạo thế hệ trẻ, nó là tế bào chủ chốt của bất kỳ hệ thống giáo dục nào từ trung ƣơng đến địa phƣơng”. Tác giả còn cho rằng: “ Nhà trƣờng của thế kỷ XXI là nhà trƣờng của nền kinh tế tri thức, của xã hội tri thức, vì vậy việc tổ chức và quản lý nhà trƣờng phải dựa trên một cơ sở “ động ” , biết học hỏi để phát triển [7,37]. Quản lý nhà trƣờng chính là bộ phận của quản lý giáo dục. Theo tác giả Phạm Minh Hạc: Việc quản lý nhà trƣờng phổ thông là quản lý hoạt động dạy và học, tức là làm sao đƣa hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng thía khác dần dần tiến tới mục tiêu giáo dục. Ông cũng cho rằng: Quản lý nhà trƣờng, quản lý giáo dục là tổ chức hoạt động dạy học. Có tổ chức đƣợc hoạt động dạy học, thực hiện đƣợc các tính chất của nhà trƣờng phổ thông Việt Nam xã hội chủ nghĩa mới quản lý đƣợc giáo dục, tức là cụ thể hoá đƣờng lối giáo dục của Đảng và biến đƣờng lối đó thành hiện thực, đáp ứng yêu cầu của nhân dân, của đất nƣớc. Hoạt động quản lý của nhà quản lý là phải làm thế nào để các thành tố con ngƣời, tinh thần, vật chất vận hành, liên kết chặt chẽ với nhau đạt đến kết quả mong muốn. Hiệu trƣởng là ngƣời quản lý cao nhất của nhà trƣờng. Quản lý nhà trƣờng theo nghĩa hẹp có thể hiểu là quản lý tất cả các hoạt động diễn ra trong nhà trƣờng, đảm bảo đƣa chất lƣợng giáo dục và đào tạo của nhà trƣờng từ trạng thái này sang trạng thái khác nhằm đạt đƣợc mục tiêu phát triển giáo dục đào tạo của cấp học trung học phổ thông đã định của nhà trƣờng. Theo điều 53 Luật giáo dục bao gồm: 18 Luận văn thạc sĩ Quản lý giáo dục - Quản lý công tác tuyển sinh - Quản lý chƣơng trình giáo dục và đào tạo do Bộ qui định - Quản lý hoạt động dạy và học - Quản lý con ngƣời tham gia hoạt động dạy và học - Quản lý cơ sở vật chất, điều kiện thiết yếu phục vụ hoạt động dạy học. - Quản lý chất lƣợng đầu ra. * Về quản lý hoạt động dạy học trong nhà trường: + Chức năng quản lý hoạt động dạy và học trong nhà trường. Chức năng quản lý hoạt động dạy và học trong nhà trƣờng là những nhóm nhiệm vụ quản lý khác nhau của tập hợp các nhiệm vụ cụ thể về quản lý hoạt động dạy và học trong nhà trƣờng. Chức năng quản lý hoạt động dạy và học bao gồm 4 nội dung: - Xây dựng kế hoạch quản lý dạy học - Chỉ đạo thực hiện - Tổ chức thực hiện - Kiểm tra đánh giá chất lƣợng dạy học + Nội dung cơ bản quản lý hoạt động dạy và học trong nhà trường. Trên cơ sở nhiệm vụ quản lý trƣờng học, quản lý hoạt động dạy và học trong trƣờng trung học phổ thông tập trung chủ yếu vào các nội dung sau: - Xây dựng kế hoạch và quản lý kế hoạch dạy học. Kế hoạch dạy học là một bộ phận của kế hoạch năm học, trong đó bao hàm các mục tiêu, chỉ tiêu phấn đấu, nhiệm vụ trọng tâm, nhiệm vụ cụ thể, biện pháp tổ chức thực hiện, chƣơng trình thực hiện, thời gian, tiến độ và phân công thực hiện, đƣợc cụ thể hoá trong từng tháng, từng tuần. Kế hoạch dạy học của nhà trƣờng đƣợc triển khai thành kế hoạch của các tổ, nhóm chuyên môn và cá nhân. Hiệu trƣởng, phó hiệu trƣởng, tổ, nhóm trƣởng 19
- Xem thêm -