Tài liệu Các biện pháp quản lý giáo dục sức khỏe thể chất cho học sinh trung học phổ thông ở trường trung học phổ thông an lão - hải phòng

  • Số trang: 127 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 114 |
  • Lượt tải: 0
tailieuonline

Đã đăng 39841 tài liệu

Mô tả:

®¹i häc quèc gia hµ néi tr-êng ®¹i häc gi¸o dôc ---------- NguyÔn ngäc thÞnh C¸c BiÖn ph¸p qu¶n lý gi¸o dôc søc khoÎ thÓ chÊt cho häc sinh trung häc phæ th«ng ë tr-êng trung häc phæ th«ng an l·o – h¶I phßng Chuyªn ngµnh: Qu¶n lý gi¸o dôc M· sè : 60 14 05 LuËn v¨n th¹c sÜ qu¶n lý gi¸o dôc Ng-êi h-íng dÉn khao häc: pgs.ts. lª ngäc hïng Hµ Néi - 2009 MỤC LỤC Trang MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài 1 2. 3. Mục đích nghiên cứu Nhiệm vụ nghiên cứu 6 6 4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu 6 5. 6. 7. Giả thiết khoa học Giới hạn và phạm vi nghiên cứu Ý nghĩa của vấn đề nghiên cứu 6 7 7 8. Phương pháp nghiên cứu 7 9. Cấu trúc luận văn 8 Chƣơng 1: CƠ SỞ KÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC SỨC KHOẺ THỂ CHẤT TRONG TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1.1. Cơ sở lý luận 9 1.1.1. 1.1.2. Khái niệm về quản lý Bản chất của quản lý 9 11 1.1.3. 1.1.4. 1.2. Chức năng quản lý Các nguyên tắc quản lý Quản lý giáo dục và quản lý nhà trường 11 13 15 1.2.1. Quản lý giáo dục (QLGD) 15 1.2.2. 1.3. 1.3.1. 1.3.2. Quản lý nhà trường Cơ sở lý luận của khoa học quản lý giáo dục thể chất Khái niệm cơ bản về Giáo dục thể chất Chương trình giáo dục thể chất 17 22 23 32 1.4. 34 1.5.1. Khái niệm dạy - học Quản lý đội ngũ giáo viên nói chung và giáo viên thể dục thể thao nói riêng Đặc điểm lao động của đội ngũ giáo viên 1.5.2. Lao động của người giáo viên mang tính chất đặc biệt 35 Vị trí, nhiệm vụ chương trình giáo dục thể chất và phân phối 37 1.5. 1.6. 34 34 chương trình bậc THPT 1.6.1. Vị trí, nhiệm vụ của giáo dục thể chất trong trường THPT ở nước ta 1.6.2. Yếu tố đảm bảo cho GDTC trong các trường THPT 1.6.3. Khái niệm quản lý GDSKTC 1.6.4. Tầm quan trọng của việc quản lý nhằm nâng cao chất lượng GDSKTC Chƣơng 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ GIÁO DỤC SỨC KHOẺ THỂ CHẤT Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG AN LÃO – HẢI PHÒNG 2.1. Vài nét về Trường trung học phổ thông An Lão - Hải Phòng 2.2.1. Thực trạng quản lý GDSKTC cho học sinh ở Trường THPT An Lão - Hải Phòng Về tổ chức bộ máy 2.2.2. Thực trạng các biện pháp quản lý GDSKTC 2.2. 37 39 40 45 48 50 50 52 Chƣơng 3: MỘT SỐ VẤN ĐỀ NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG VÀ HIỆU QUẢ CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ GIÁO DỤC SỨC KHOẺ THỂ CHẤT Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG AN LÃO – HẢI PHÒNG 3.1. Những căn cứ để xây dựng biện pháp Các biện pháp quản lý GDSKTC cho học sinh Trường trung 3.2. học phổ thông An Lão - Hải Phòng 3.2.1. Biện pháp 1: Nâng cao năng lực, nhận thức cho đội ngũ cán bộ, giáo viên, công nhân viên và học sinh về GDSKTC 3.2.2. Biện pháp 2: Tăng cường kiểm tra, đánh giá, giám sát việc GDSKTC 3.2.3. Biện pháp 3: Nâng cao vai trò của tổ chức Đoàn thanh niên thông qua kết hợp giáo dục chính khoá với giáo dục ngoại khoá 3.2.4. Biện pháp 4: Đẩy mạnh xã hội hoá GDSKTC 3.2.5. Biện pháp 5: Thống nhất quản lý giáo dục theo tinh thần giáo dục toàn diện 3.2.6. Biện pháp 6: Thực hiện bồi dưỡng thường xuyên về chuyên 69 70 70 72 74 76 77 79 môn nghiệp vụ cho đội ngũ giáo viên và đổi mới phương pháp dạy học Thể dục ở trường THPT An Lão 3.2.7. Biện pháp 7: Hoàn thiện cơ sở vật chất, kinh phí phục vụ cho công tác GDSKTC 3.2.8. Biện pháp 8: Phối hợp chặt chẽ giữa các bộ phận lãnh đạo, quản lý và các phòng, ban chức năng trong việc thực hiện kế hoạch GDSKTC 3.2.9. Biện pháp 9: Thực hiện công tác thi đua khen thưởng kích 3.3. thích động lực dạy học về GDSKTC Tổ chức thực hiện các biện pháp 3.3.1. Khảo sát về mức độ cần thiết của từng biện pháp quản lý GDSKTC 3.3.2. Đánh giá về mức độ quan trọng của các biện pháp quản lý GDSKTC 3.3.3. Đánh giá về tính khả thi của từng biện pháp quản lý GDSKTC KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 1. Kết luận 2. Khuyến nghị DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC 81 82 84 86 87 89 93 99 99 101 104 NHỮNG DANH TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN CNH-HĐH Công nghiệp hoá hoá đất nước GDSKTC Giáo dục sức khoẻ thể chất TDTT Thể dục thể thao THPT Trung học phổ thông QLGDSKTC Quản lý giáo dục sức khoẻ thể chất QLGD Quản lý giáo dục GD&ĐT Giáo dục và đào tạo XHCN Xã hội chủ nghĩa CNV Công nhân viên RLTT Rèn luyện thể thao XHH Xã hội hoá GDTC Giáo dục thể chất MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài "Sức khỏe là vốn quý nhất của mỗi con người, là nhân tố quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc". Để thực hiện thành công công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoá (CNH-HĐH) đất nƣớc Việt Nam thì nguồn nhân lực dồi dào, sung sức, khoẻ mạnh cả về thể chất, tinh thần, và trí tuệ là vô cùng cần thiết. Vấn đề này đã đƣợc Đảng và nhà nƣớc ta khẳng định từ rất sớm trong các Chỉ thị, Nghị quyết trong đó đòi hỏi con ngƣời Việt Nam "Phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, trong sáng về đạo đức, phong phú về tinh thần"[50,04]. Giáo dục sức khoẻ thể chất là một bộ phận hữu cơ trong các hoạt động giáo dục của nhà trƣờng, bởi sự đóng góp tích cực của hoạt động này sẽ giúp cho học sinh nói chung và học sinh trung học phổ thông nói riêng phát triển một cách toàn diện về đức - trí - thể - mỹ - lao. Một trong những nhiệm vụ quan trọng phải đƣợc quan tâm là "Đào tạo thế hệ trẻ nước ta trở thành những con người có đủ bản lĩnh, phẩm chất và năng lực đảm đương sứ mạng lịch sử của mình" [115]. Để có đƣợc nguồn nhân lực hùng hậu trong tƣơng lai, điều tất yếu là phải quan tâm chăm lo sự nghiệp giáo dục, vì "đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho tương lai" [4] và "muốn tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá thắng lợi phải phát triển giáo dục, đào tạo, phát huy nguồn nhân lực con người, yếu tố cơ bản để phát triển nhanh và bền vững ..." [114]. Nghị quyết Trung Ƣơng II khoá VIII của Đảng về Giáo dục, Đào tạo và khoa học công nghệ cũng đã đƣợc khẳng định: "Muốn xây dựng đất nước giàu mạnh, văn minh không chỉ có con người phát triển về trí tuệ, trong sáng về đạo đức, lối sống mà còn phải là con người cường tráng về thể chất. Chăm lo cho con người về thể chất là trách nhiệm của toàn xã hội, của tất cả các -1- cấp, các ngành, các đoàn thể trong đó có Giáo dục - Đào tạo, Y tế và Thể dục thể thao"[116]. Giáo dục thể chất và thể thao học đƣờng - Giáo dục sức khoẻ thể chất (GDSKTC) thực sự có vị trí quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu nói trên nhằm góp phần đào tạo thế hệ trẻ phát triển toàn diện, hoàn thiện về nhân cách, trí tuệ và thể chất để phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nƣớc, giữ vững và tăng cƣờng an ninh quốc phòng. Đứng trƣớc sự phát triển nhƣ vũ bão của khoa học kỹ thuật, sự bùng nổ của công nghệ thông tin, xu thế toàn cầu hoá, việc học tập của học sinh càng ngày càng có những đòi hỏi cao hơn và nặng nề hơn. Song song với việc chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho học sinh, các hoạt động về thể dục thể thao (TDTT) là phƣơng tiện bổ ích để hợp lý hoá chế độ hoạt động và nghỉ ngơi, giữ gìn và nâng cao sức khoẻ cũng nhƣ năng lực hoạt động trong tất cả các thời kỳ học tập. Việc GDSKTC còn có tác dụng quan trọng trong quá trình rèn luyện đạo đức, ý chí và thẩm mĩ cho học sinh. Vì vậy, làm tốt việc GDSKTC là đóng góp một phần đáng kể vào việc đào tạo những lớp học sinh có kiến thức, năng động, đƣợc phát triển toàn diện về thể chất và tinh thần. Cấp trung học phổ thông (THPT) là một trong những cấp học cuối cùng trong hệ thống giáo dục phổ thông. Trong cấp học này tập trung những học sinh tuổi từ 16 đến 18 tuổi, đây là lứa tuổi đang phát triển sung mãn nhất về thể lực và là lứa tuổi tiền đề để các em chuẩn bị bƣớc vào đời, tham gia đầy đủ các hoạt động của xã hội, đây là lứa tuổi theo Luật quy định, đƣợc gọi là tuổi vị thành niên. Vì vậy, GDSKTC cho học sinh ở giai đoạn này là nhằm củng cố kiến thức và tạo những tiền đề vững chắc cho việc rèn luyện sức khoẻ thể chất của các em sau này. Thực hiện tốt chủ trƣơng, đƣờng lối của Đảng trong nhiều năm qua, nhiều cán bộ, giáo viên giảng dạy môn giáo dục thể chất đã tận tuỵ phấn đấu cho mục tiêu cao quý của giáo dục thể chất trong nhà trƣờng. Những đóng -2- góp tích cực và hiệu quả của họ trong việc thực hiện nhiệm vụ đã xây dựng đƣợc phong trào TDTT trong thanh thiếu niên cũng nhƣ trong toàn xã hội. Tuy nhiên, việc tổ chức giảng dạy môn giáo dục thể chất nội khoá cũng nhƣ các hoạt động ngoại khoá trong các trƣờng còn gặp nhiều khó khăn. Sự thành công trong công tác giáo dục sức khoẻ thể chất cho học sinh không chỉ phụ thuộc vào chủ trƣơng, đƣờng lối, chính sách, mục tiêu, nội dung, phƣơng pháp, điều kiện cơ sở vật chất, kỹ thuật mà còn phụ thuộc vào chất lƣợng đội ngũ giáo viên TDTT và việc quản lý hoạt động GDSKTC của nhà trƣờng. Trƣờng THPT An Lão là trƣờng loại một và là trƣờng chuẩn quốc gia. Trong những năm qua cũng đã có nhiều những thay đổi lớn về công tác quản lý, cơ sở vật chất, chất lƣợng đội ngũ giáo viên v.v... nên đã từng bƣớc nâng cao chất lƣợng giáo dục và đào tạo. Riêng về hoạt động GDSKTC bên cạnh những ƣu điểm đã đạt đƣợc cũng còn có những tồn tại cần phải đƣợc quan tâm đó là: - Hiệu quả hoạt động GDSKTC chƣa cao. - Đội ngũ giáo viên giảng dạy môn giáo dục thể chất còn nhiều hạn chế, chƣa theo kịp tốc độ phát triển cũng nhƣ yêu cầu của xã hội. - Cơ sở vật chất còn thiếu, chƣa đồng bộ, khuôn viên tập luyện chƣa đáp ứng đủ với yêu cầu của chƣơng trình. - Công tác quản lý bộ môn giáo dục thể chất còn kém hiệu quả, chậm đổi mới về tƣ duy cũng nhƣ phƣơng thức quản lý. - Các hình thức cũng nhƣ thời gian dành cho hoạt động ngoại khoá môn giáo dục thể chất còn nghèo nàn và chắp vá. Hiện nay, xã hội đã và đang đặt ra những yêu cầu mới cho các tổ chức trong nhà trƣờng mà đặc biệt là tổ chức Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh. Bởi vì: tổ chức, tập hợp, giáo dục cho đoàn viên thanh niên là một trong những nhiệm vụ đã đƣợc quy định trong tại Điều 16 - Điều lệ Đoàn thanh niên: -3- "1. Đại diện, chăm lo và bảo vệ lợi ích hợp pháp, chính đáng của cán bộ, đoàn viên, thanh thiếu nhi. 2. Tổ chức các hoạt động, tạo môi trƣờng giáo dục, rèn luyện đoàn viên, thanh thiếu nhi nhằm góp phần thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hoá - xã hội, quốc phòng, an ninh của địa phƣơng, đơn vị. 3. Phối hợp với chính quyền, các đoàn thể và các tổ chức kinh tế - xã hội làm tốt công tác thanh niên, chăm lo xây dựng Đoàn, tích cực xây dựng cơ sở Đoàn, Hội, Đội ở địa bàn dân cƣ, tham gia xây dựng, bảo vệ Đảng và chính quyền." [41]. Hoạt động của Đoàn thanh niên trong nhà trƣờng là một bộ phận hữu cơ của quá trình sƣ phạm. Phƣơng hƣớng và nhiệm vụ công tác của Đoàn thanh niên là động viên giúp đỡ, tạo điều kiện cho các đoàn viên thanh niên học sinh thực hiện tốt nhiệm vụ học tập, tu dƣỡng, rèn luyện đạo đức, tƣ cách, tác phong của ngƣời công dân tƣơng lai. Ngoài ra, Đoàn thanh niên còn có một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng là tổ chức các hoạt động giáo dục ngoại khoá để góp phần củng cố, mở rộng, khắc sâu tri thức, giao lƣu học tập, tích luỹ kinh nghiệm, mở rộng quan hệ xã hội, hình thành kĩ năng giao tiếp, phát triển các kỹ năng sống và năng lực hoạt động xã hội. Sản phẩm của nhà trƣờng THPT chính là những thanh niên học sinh có sức khoẻ tốt, đạo đức tốt và kiến thức phổ thông để các em sẵn sàng học lên các bậc học (đại học, cao đẳng, ...) hoặc ra xã hội tham gia vào lao động sản xuất. Đó là những tố chất giúp các em trở thành những công dân tốt: có hiểu biết và tôn trọng pháp luật, biết gìn giữ và phát huy truyền thống tốt đẹp của gia đình, dòng họ, dân tộc và là lực lƣợng trụ cột của gia đình, xã hội. Trong đó có một bộ phận là những thanh niên ƣu tú có khả năng nắm giữ những vị trí then chốt, dẫn đạo trong xã hội. Sức khoẻ không là tất cả, nhƣng nó là yếu tố đầu tiên cho phép con ngƣời có những ƣớc mơ táo bạo, và thực hiện đƣợc những dự định lớn lao. Để các em học sinh trung học có một sức khoẻ tốt (sức -4- khoẻ thể chất và sức khoẻ tâm thần), đòi hỏi cả xã hội phải vào cuộc và lo cho các em, nhƣng vai trò của nhà trƣờng THPT, đặc biệt là Đoàn thanh niên là rất quyết định. Chỉ ở nơi nào Đoàn thanh niên giữ vai trò nòng cốt công tác GDSKTC cho học sinh thì ở nơi đó các em học sinh mới có sức khoẻ tốt. Hằng ngày các em học tập, rèn luyện trong môi trƣờng tốt: có các thầy cô dạy bảo, tổ chức, hƣớng dẫn; có các bạn cùng trang lứa đánh giá, tán đồng... . Trong môi trƣờng đó các em đƣợc học tập, đƣợc thể hiện, đƣợc bộc lộ những khả năng, những ƣu thế (có khi đó còn là những năng khiếu bẩm sinh) do đó sức khoẻ, nhân cách của các em có điều kiện phát triển tự nhiên, phù hợp với những quy chuẩn đạo đức xã hội. Tuy nhiên, hiện nay vẫn chƣa có nhiều nghiên cứu về vấn đề QLGDTC trong nhà trƣờng nói chung và trong trƣờng THPT nói riêng. Sức khoẻ là vốn quý nhất của con ngƣời và xã hội, nhƣng trên thực tế vẫn có quan niệm coi nhẹ vấn đề này từ phía cán bộ quản lý, giáo viên, học sinh và cả phụ huynh học sinh. Vì mục tiêu văn hoá, các em học sinh cấp THPT nhiều lúc và ở nhiều nơi phải chịu nhiều áp lực về học tập (chƣơng trình chính khoá và chƣơng trình học thêm). Điều này đặt ra sự cần thiết phải tập trung nghiên cứu và đánh giá một cách khách quan về QLGDTC để có thể gợi ra những suy nghĩ về biện pháp nâng cao chất lƣợng và hiệu quả công tác này trong nhà trƣờng. Là một cán bộ Đoàn nhiều năm trong trƣờng THPT, tôi đã giành nhiều thời gian trực tiếp làm công tác GDSKTC thông qua chỉ đạo, tổ chức thực hiện các hoạt động của tổ chức Đoàn thanh niên. Do đó, khi nghiên cứu vấn đề này tôi sẽ có điều kiện áp dụng kiến thức quản lý giáo dục đã học đƣợc vào đánh giá, tổng kết kinh nghiệm và kiểm chứng một số luận điểm khoa học. Từ đó gợi ra suy nghĩ cần thiết để không ngừng cải tiến nhằm nâng cao chất lƣợng GDSKTC cho học sinh. Với những lý do nêu trên, tôi đã chọn đề tài: "Các biện pháp quản lý giáo dục sức khoẻ thể chất cho học sinh trung học phổ thông ở Trường trung học phổ thông An Lão - Hải Phòng" -5- 2. Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và khảo sát thực trạng biện pháp quản lý GDSKTC cho học sinh trung học phổ thông ở Trƣờng THPT An Lão - Hải Phòng giai đoạn hiện nay, đề xuất một số biện pháp nâng cao chất lƣợng và hiệu quả quản lý GDSKTC, góp phần vào việc nâng cao chất lƣợng giáo dục toàn diện của nhà trƣờng trƣớc những yêu cầu trong tình hình mới của xã hội về giáo dục con ngƣời toàn diện. 3. Nhiệm vụ nghiên cứu - Nghiên cứu các vấn đề lý luận liên quan đến quản lý GDSKTC cho học sinh trung học phổ thông. - Khảo sát thực trạng GDSKTC và thực trạng quản lý GDSKTC cho học sinh ở Trƣờng THPT An Lão - Hải Phòng, lý giải nguyên nhân của thực trạng. - Đề xuất những biện pháp khả thi trong quản lý GDSKTC cho học sinh ở Trƣờng THPT An Lão - Hải Phòng. 4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu 4.1. Khách thể nghiên cứu - Quản lý GDSKTC cho học sinh trung học phổ thông ở Trƣờng THPT An Lão - Hải Phòng - Khách thể khảo sát thực tế: + 360 học sinh thuộc các khối lớp 10, 11, 12. + 50 cán bộ quản lý, giáo viên chủ nhiệm, giáo viên trực tiếp tham gia vào GDSKTC. 4.2. Đối tượng nghiên cứu Các biện pháp quản lý giáo dục sức khoẻ thể chất cho học sinh trung học phổ thông ở Trƣờng trung học phổ thông An Lão - Hải Phòng. 5. Giả thiết khoa học Hiện tại, việc quản lý hoạt động GDSKTC cho học sinh trung học phổ ở Thành phố Hải Phòng nói chung và ở Trƣờng THPT An Lão - Hải Phòng -6- nói riêng: bên cạnh những thành tựu đã đạt đƣợc vẫn còn những hạn chế và bất cập nhất định. Trong điều kiện môi trƣờng kinh tế xã hội ở An Lão - Hải Phòng hiện nay, hoạt động GDSKTC cho học sinh ở Trƣờng trung học phổ thông An Lão - Hải Phòng sẽ đạt hiệu quả cao và góp phần tích cực vào việc giáo dục con ngƣời toàn diện có đầy đủ đức, trí, thể, mỹ nếu thực hiện đồng bộ, triệt để và có hệ thống các biện pháp quản lý phù hợp. 6. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu Phạm vi nghiên cứu này đƣợc giới hạn trong Trƣờng THPT An Lão Thành phố Hải Phòng. Nghiên cứu này đƣợc thực hiện trong thời gian: năm học 2008 - 2009. 7. Ý nghĩa của vấn đề nghiên cứu - Ý nghĩa khoa học: phát hiện những vấn đề và xây dựng mô hình GDSKTC linh hoạt, mềm dẻo, có tính khả thi đối với nhà trƣờng. - Góp phần xây dựng môi trƣờng giáo dục toàn diện, tạo ra lớp học sinh có sức khoẻ thể chất tốt, năng động, sáng tạo. - Nâng cao đƣợc vị thế và vai trò của tổ chức Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh trong nhà trƣờng bằng việc thu hút, tập hợp và giáo dục cho đoàn viên thanh niên là học sinh. 8. Phương pháp nghiên cứu Đề tài sử dụng các phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu của khoa học quản lý giáo dục, cụ thể là đề tài kết hợp các nhóm phƣơng pháp nghiên cứu: 8.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận Phƣơng pháp thu thập, phƣơng pháp phân tích, phƣơng pháp tổng hợp, hệ thống hoá. 8.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn - Phƣơng pháp quan sát - Phƣơng pháp điều tra, khảo nghiệm -7- - Phƣơng pháp tổng kết kinh nghiệm - Phƣơng pháp phân tích sản phẩm hoạt động. 9. Cấu trúc luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị và tài liệu tham khảo luận văn đƣợc trình bày trong 3 chƣơng Chương 1: Cơ sở lý luận của quản lý hoạt động giáo dục sức khoẻ thể chất trong trƣờng trung học phổ thông Chương 2: Thực trạng quản lý giáo dục sức khoẻ thể chất ở Trƣờng trung học phổ thông An Lão - Hải Phòng Chương 3: Một số vấn đề nâng cao chất lƣợng và hiệu quả các biện pháp quản lý giáo dục sức khoẻ thể chất ở Trƣờng trung học phổ thông An Lão - Hải Phòng -8- Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC SỨC KHOẺ THỂ CHẤT TRONG TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1.1. Cơ sở lý luận 1.1.1. Khái niệm về quản lý Karl Marx đã nói "Tất cả các lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng đều cần đến một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ chế sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm thì tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng". Quản lý là một hiện tƣợng xã hội, nó xuất hiện nhƣ một yếu tố cần thiết để nhằm phối hợp những nỗ lực cá nhân hƣớng tới mục tiêu chung. Hoạt động quản lý ra đời từ rất sớm nhƣ là một yếu tố khách quan mang tính tất yếu trong quá trình vận động và phát triển của lao động và các hoạt động xã hội. Có nhiều góc độ tiếp cận khác nhau nên đã dẫn đến sự phong phú trong các quan niệm về "quản lý". Sau đây là một số những qua niệm của các học giả trong và ngoài nƣớc về "quản lý": - Theo Karl Marx: Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tƣơng đối lớn thì ít nhiều cùng đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động những khí quan độc lập của nó. Qua quan niệm này chúng ta thấy Marx đã lột tả đƣợc bản chất quản lý là một hoạt động lao động, một hoạt động tất yếu vô cùng quan trọng trong quá trình phát triển của loài ngƣời. -9- - Theo F. W.Taylor (1856-1915) - ngƣời đề xuất thuyết "Quản lý khoa học" cho rằng: quản lý là biết đƣợc điều bạn muốn ngƣời khác làm và sau đó thấy đƣợc rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất. - Theo các nhà khoa học Harold Koontz - Cyril Odonnell và Heinz Weihrich trong cuốn "Những vấn đề cốt yếu của quản lý" cho rằng: "Quản lý đƣợc hoàn thành thông qua con ngƣời. Với tƣ cách thực hành thì quản lý là một nghệ thuật, còn kiến thức có tổ chức về quản lý là một khoa học". - Theo V.G. Afanaxev: "Quản lý con ngƣời có nghĩa là tác động đến anh ta sao cho hành vi, công việc và hoạt động của anh ta đáp ứng đƣợc những yêu cầu của xã hội, tập thể, để những cái đó có lợi cho cả tập thể và cá nhân" Quan điểm của một số tác giả trong nước Quản lý vừa là một khoa học, vừa là một nghệ thuật tác động đến một hệ thống hoạt động xã hội từ tầm vĩ mô đến tầm vi mô. Có nhiều cách tiếp cận, vậy có thể là có nhiều cách quan niệm khác nhau về quản lý. - Tác giả Mai Hữu Khuê cho rằng: "Quản lý là sự tác động có mục đích của cán bộ quản lý đối với tập thể những con ngƣời, nhằm làm cho hệ thống hoạt động bình thƣờng, giải quyết đƣợc nhiệm vụ đề ra". - Tác giả Nguyễn Quang Học lại định nghĩa: "Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những ngƣời lao động nói chung là khách thể quản lý nhằm thực hiện mục tiêu dự kiến"[34]. - Theo hai tác giả Đặng Vũ Hoạt và Hà Thế Ngữ: "Quản lý là một quá trình định hƣớng, quá trình có mục tiêu, quản lý một hệ thống nhằm đạt đƣợc những mục tiêu nhất định". - Tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc định nghĩa: "Quản lý là tác động có định hƣớng, có chủ đích của chủ thể quản lý (ngƣời quản lý) đến khách thể quản lý (ngƣời bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt đƣợc mục đích của tổ chức". - 10 - Qua những quan niệm về quản lý nêu trên chúng ta nhận thấy các tác giả tuy có khác nhau về cách tiếp cận nhƣng tất cả đều toát lên những điểm chung nhất về quản lý nhƣ sau: Quản lý: - Là một quá trình tác động có tổ chức, có hƣớng đích của chủ thể quản lý lên đối tƣợng quản lý nhằm đạt đƣợc mục đích nhất định. - Là công cụ hoạt động thiết yếu đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt đƣợc những mục đích của nhóm. - Là phƣơng thức hoạt động tốt nhất để một nhóm, một tổ chức đạt đƣợc mục tiêu chung. 1.1.2. Bản chất của quản lý Bản chất của hoạt động quản lý chính là sự tác động hợp quy luật của chủ thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành đến một hiệu quả mong muốn. Khi xã hội càng phát triển, các loại hình lao động càng phong phú, đa dạng, phức tạp thì hoạt động quản lý càng có vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lƣợng, hiệu suất lao động. 1.1.3. Chức năng quản lý Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức thông qua những tác động của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý. Chức năng quản lý chiếm giữ một vị trí then chốt, nó gắn liền với nội dung của hoạt động điều hành ở mọi cấp. Qua các công trình nghiên cứu khoa học quản lý mặc dù còn có những ý kiến chƣa thật đồng nhất trong thuật ngữ để chỉ ra các chức năng quản lý, song cơ bản đã nêu ra đƣợc 4 chức năng cơ bản đó là: Kế hoạch - Tổ chức Chỉ đạo - Kiểm tra. - Kế hoạch: là chức năng trung tâm, đƣợc hiểu khái quát là một chƣơng trình hành động cụ thể của chủ thể quản lý đƣợc xây dựng căn cứ vào hiện trạng ban đầu của tổ chức trong từng thời kỳ, từng giai đoạn cụ thể và - 11 - đƣợc hoạch định, lập ra trƣớc khi tiến hành thực hiện một nội dung nào đó nhằm đạt đƣợc mục tiêu đề ra. - Tổ chức: là sự sắp xếp, sắp đặt một cách khoa học nhất những yếu tố, những con ngƣời, những dạng hoạt động thành một hệ toàn vẹn, biến tập hợp các thành tố rời rạc thành một thể toàn vẹn nhằm đảm bảo cho chúng tƣơng tác với nhau một cách tối ƣu. - Chỉ đạo: là phƣơng thức hoạt động của chủ thể quản lý nhằm điều hành bộ máy của tổ chức hoạt động thực hiện mục tiêu kế hoạch. Thực chất, chỉ đạo là những hoạt động xác lập quyền chỉ huy và sự can thiệp của ngƣời lãnh đạo trong toàn bộ quá trình quản lý, huy động tối ƣu mọi lực lƣợng vào việc thực hiện kế hoạch nhằm đảm bảo các hoạt động của tổ chức diễn ra trong kỷ cƣơng trật tự. - Kiểm tra đánh giá: là biện pháp tác động của chủ thể lên khách nhằm xác lập trạng thái vận hành của tổ chức, đánh giá kết quả vận hành của tổ chức, so sánh mục tiêu và toàn bộ kế hoạch xem đạt đến mức độ nào. Thông qua kiểm tra, chủ thể quản lý thấy đƣợc những ƣu điểm cũng nhƣ nhƣợc điểm trong quá trình hoạt động, tìm ra nguyên nhân, có các biện pháp điều chỉnh, xử lý, uốn nắn, phát huy kịp thời và rút ra những bài học kinh nghiệm quản lý trong quá trình vận hành. Theo lý thuyết hệ thống: Kiểm tra, đánh giá giữ vai trò liên hệ nghịch, là huyết mạch của hoạt động quản lý, kiểm tra không có đánh giá thì coi nhƣ không có kiểm tra, không kiểm tra coi nhƣ không có hoạt động quản lý. Trong hoạt động quản lý, thông tin giữ một vai trò huyết mạch trong việc thực hiện có hiệu quả các chức năng quản lý. Thông tin vừa đƣợc xem là phƣơng tiện, vừa là công cụ tiến hành hiệu quả, liên kết chặt chẽ các chức năng quản lý trong hoạt động quản lý. Thông tin là huyết mạch của quản lý. 4 chức năng cơ bản trong quản lý có quan hệ khăng khít, tác động qua lại lẫn nhau và tạo thành chu trình quản lý, đó là các chức năng: kế hoạch hoá, - 12 - tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra cùng các yếu tố là thông tin và quyết định. Có thể biểu diễn sự liên kết các chức năng đó bằng sơ đồ sau: Kế hoạch hoá Kiểm tra Thông tin Tổ chức Chỉ đạo Sơ đồ 1.1: Chu trình quản lý 1.1.4. Các nguyên tắc quản lý Quản lý tổ chức (kinh tế, chính trị, văn hoá, giáo dục ...) thực chất là quản lý con ngƣời hoạt động trong tổ chức đó. Khi tiến hành quản lý, các nhà quản lý đều phải dựa vào những nguyên tắc quản lý nhất định, thƣờng tập trung vào các nguyên tắc cơ bản sau: - Đảm bảo tính pháp lý: Đây là nguyên tắc quản lý đƣợc xây dựng trên cơ sở những quy định, luật pháp và các chế tài của pháp luật. Chẳng hạn, các văn bản dƣới luật, các chế tài có liên quan đến giáo dục, các chỉ thị, nghị định của Chính phủ, của Bộ Giáo dục và Đào tạo về giáo dục, các văn bản chỉ đạo việc thực hiện chƣơng trình. Đây là những hành lang pháp lý để các nhà quản lý thực hiện các chức năng quản lý, đảm bảo tính hiệu lực của cơ chế quản lý nhà nƣớc, dựa trên các chủ trƣơng, đƣờng lối, chính sách của nhà nƣớc, các văn bản chỉ đạo của ngành để thực hiện vai trò quản lý của nhà quản lý trong quá trình quản lý. - Đảm bảo tính tập trung dân chủ: Đây là nguyên tắc quan trọng tạo khả năng quản lý một cách hiệu quả, khoa học bởi nó thể hiện đƣợc sự kết - 13 - hợp chặt chẽ quyền lực của chủ thể quản lý với sức mạnh sáng tạo của mọi đối tƣợng quản lý trong việc thực hiện mục tiêu quản lý. Tập trung trong quản lý đƣợc hiểu là toàn bộ các hoạt động của hệ thống đƣợc tập trung vào cơ quan quyền lực cao nhất, cấp này có nhiệm vụ vạch đƣờng lối, chủ trƣơng, phƣơng hƣớng, mục tiêu tổng quát, đề xuất các giải pháp cơ bản để thực hiện các chủ trƣơng, đƣờng lối đó. Nguyên tắc tập trung thể hiện bởi chế độ một thủ trƣởng. Dân chủ trong quản lý đƣợc hiểu là: phát huy quyền làm chủ của mọi thành viên trong tổ chức, huy động trí lực, tâm lực của họ trong việc hoàn thành tốt nhất kế hoạch, mục tiêu đề ra. Dân chủ đƣợc thể hiện qua việc tập thể đƣợc tham gia bàn bạc, đóng góp xây dựng về các chỉ tiêu, kế hoạch hành động cũng nhƣ có những đề xuất kiến nghị các biện pháp trƣớc thi đƣa ra thực hiện. Trong thực tiễn quản lý cần phải kết hợp hài hoà giữa tập trung và dân chủ, nếu thiên về tập trung quá sẽ dẫn đến quan liêu, độc đoán, cửa quyền, không phát huy đƣợc sự sáng tạo và sức mạnh của quần chúng; ngƣợc lại quá thiên về dân chủ dễ dẫn đến tự do quá mức, lỏng lẻo kỷ cƣơng, chạy theo quần chúng. Nghệ thuật của ngƣời quản lý tốt là biết sử dụng quyền tập trung và quyền dân chủ đúng lúc, đúng chỗ với một tinh thần dám quyết, dám làm, dám chịu trách nhiệm. - Đảm bảo tính khoa học và thực tiễn: Nguyên tắc này đòi hỏi ngƣời quản lý phải nắm đƣợc quy luật phát triển của bộ máy, nắm vững đƣợc quy luật của quá trình quản lý, hiểu rõ thực tế địa phƣơng, thực tiễn của ngành, đảm bảo tính kết hợp hài hoà giữa lợi ích tập thể và lợi ích cá nhân cũng nhƣ các yêu cầu đòi hỏi trƣớc mắt và lâu dài của nhiệm vụ, mục tiêu giáo dục và đào tạo đề ra, biết dựa trên các vấn đề thực tiễn để phân tích, tổng hợp các dữ kiện một cách khoa học, biện chứng, trên cơ sở đó đƣa ra những biện pháp hữu hiệu trong hoạt động quản lý. - 14 - - Đảm bảo tính Đảng: Đảng Cộng Sản Việt Nam là biểu hiện sức mạnh, ý chí của nhân dân và là Đảng cầm quyền duy nhất, vì thế trong hoạt động quản lý, và đặc biệt là quản lý giáo dục, hơn bao giờ hết phải luôn bám sát, thể hiện rõ và tuân thủ tuyệt đối chủ trƣơng, đƣờng lối, chính sách của Đảng. 1.2. Quản lý giáo dục và quản lý nhà trường 1.2.1. Quản lý giáo dục (QLGD) QLGD là quản lý mọi hoạt động giáo dục trong xã hội và nhƣ vậy giáo dục sẽ đƣợc hiểu theo nghĩa (rộng nhất). Tuy nhiên các nhà nghiên cứu về giáo dục và QLGD đã đƣa ra nhiều định nghĩa về QLGD nhƣ sau: * Quan niệm của tác giả nước ngoài Theo Khuđônminsky trong cuốn "QLGD quốc dân ở địa bàn quận huyện" có viết: Quản lý khoa học hệ thống giáo dục có thể xác định nhƣ là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và hƣớng đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của hệ thống nhằm mục đích đảm bảo việc giáo dục xã hội chủ nghĩa cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật chung của chủ nghĩa xã hội cũng nhƣ vận dụng những quy luật chung của quá trình xã hội, của sự phát triển thể lực và tâm lực trẻ em, thiếu niên và thanh niên. * Quan niệm của các tác giả trong nước - Theo tác giả Phạm Minh Hạc: QLGD là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý (hệ thống giáo dục) nhằm làm cho hệ vận hành theo đƣờng lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện đƣợc các tính chất của nhà trƣờng xã hội Việt Nam mà tiêu điểm là hội tụ, là quá trình dạy học - giáo dục thế hệ trẻ, đƣa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến tiến lên trạng thái mới về chất [32]. - Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: QLGD theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành phối hợp các lực lƣợng xã hội nhằm thúc đẩy công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển của xã hội. QLGD là sự tác động có ý thức - 15 -
- Xem thêm -