Tài liệu Các biện pháp điều tra trong tố tụng hình sự luận văn ths. luật

  • Số trang: 95 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 4566 |
  • Lượt tải: 11
tailieuonline

Tham gia: 31/07/2015

Mô tả:

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực. Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác. TÁC GIẢ LUẬN VĂN Nguyễn Thị Minh MỤC LỤC Trang Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục 1.1. mở đầu 1 Chương 1: những vấn đề lý luận cơ bản về điều tra trong tố tụng hình sự 5 Khái niệm, nhiệm vụ, nguyên tắc, yêu cầu của hoạt động điều tra trong tố tụng hình sự 5 1.1.1. Khái niệm 5 1.1.2. Nhiệm vụ 6 1.1.3. Nguyên tắc của hoạt động điều tra 8 1.1.4. Yêu cầu của hoạt động điều tra vụ án hình sự 11 1.2. Các biện pháp điều tra 14 1.3. Khái quát các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về biện pháp điều tra trong tố tụng hình sự 16 1.3.1. Giai đoạn từ năm 1945 đến trước năm 1989 16 1.3.2. Từ năm 1989 đến năm 2003 19 1.3.3. Giai đoạn từ năm 2004 đến nay 21 Chương 2: quy định của luật tố tụng hình sự việt nam về các biện pháp 25 điều tra 2.1. Khởi tố bị can và hỏi cung bị can 25 2.1.1. Khởi tố bị can 25 2.1.2. Hỏi cung bị can 26 2.2. Lấy lời khai người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án 31 2.2.1. Lấy lời khai người làm chứng 31 2.2.2. Lấy lời khai của người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân 36 sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án 2.3. Đối chất 36 2.4. Nhận dạng 39 2.5. Khám xét 43 2.5.1. Khám người 46 2.5.2. Khám chỗ ở, chỗ làm việc, địa điểm 47 2.5.3. Khám xét, thu giữ thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm tại bưu điện 48 2.6. 50 Khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, xem xét dấu vết trên thân thể 2.6.1. Khám nghiệm hiện trường 50 2.6.2. Khám nghiệm tử thi 53 2.6.3. Xem xét dấu vết trên thân thể 55 2.7. Thực nghiệm điều tra 56 2.8. Trưng cầu giám định 58 2.8.1. Việc tiến hành giám định 63 2.8.2. Nội dung kết luận giám định 64 2.8.3. Giám định bổ sung hoặc giám định lại 65 Chương 3: giải pháp nâng cao hiệu quả các biện pháp điều tra trong tố 66 tụng hình sự 3.1. Dự báo tình hình tội phạm và những yêu cầu đối với công tác điều tra trong giai đoạn mới 66 3.2. Những giải pháp 70 3.2.1. Hoàn thiện hệ thống pháp luật về tố tụng hình sự, đặc biệt là pháp luật về điều tra trong tố tụng hình sự 70 3.2.2. Các giải pháp nâng cao chất lượng công tác điều tra 73 kết luận 81 danh mục tài liệu tham khảo 84 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Luật tố tụng hình sự được ban hành nhằm đảm bảo việc đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Ý nghĩa đó được thể hiện trong suốt quá trình tố tụng ở giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự. Để đạt được mục đích đó, Bộ luật Tố tụng hình sự quy định quyền hạn, trách nhiệm của cơ quan và người tiến hành tố tụng (gồm các cơ quan chức năng của Nhà nước, các tổ chức xã hội và công dân) nhằm phát hiện và xử lý nghiêm minh mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm và không làm oan người vô tội. Trong quá trình đổi mới đất nước, do tác động của mặt trái nền kinh tế thị trường, của xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, tình hình tội phạm ở nước ta trong thời gian vừa qua và trong những năm tới đang và sẽ diễn biến rất phức tạp, chưa có chiều hướng giảm. Tội phạm ngày càng tinh vi, xảo quyệt về thủ đoạn, phương thức và ngày càng nghiêm trọng về tính chất, mức độ nguy hiểm. Điều tra là một hoạt động trong tố tụng hình sự được tiến hành nhằm xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ. Công tác điều tra rất quan trọng, điều tra đúng là cơ sở để xét xử đúng; điều tra sai là sai ngay từ bước đầu, dễ dẫn tới xét xử sai, vi phạm nghiêm trọng tới quyền, lợi ích của công dân. Ngày 17/3/2003, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ra Nghị quyết số 388/NQ-UBTVQH11 về bồi thường thiệt hại cho người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra, đã nhận được sự hưởng ứng đồng tình từ phía đông đảo nhân dân. Điều này không chỉ có ý nghĩa lớn đối với những người bị oan sai mà còn ảnh hưởng lớn tới tâm lý của tất cả mọi người, tạo cho người dân yên tâm, tin tưởng hơn nữa vào chính sách pháp luật của Nhà nước ta. Đồng thời, Nghị quyết này còn đặt ra một thách thức, 1 yêu cầu lớn cho những người tiến hành tố tụng. Họ phải thận trọng, tỷ mỷ trong hoạt động của mình để tránh gây ra tổn thất về tinh thần cũng như vật chất cho những người tham gia tố tụng. Muốn như vậy, ngay từ bước điều tra ban đầu cần phải tuân thủ đúng các quy định của pháp luật, yêu cầu trình độ chuyên môn cao, làm việc một cách khách quan và hoàn toàn phục vụ vì công lý. Điều tra trong tố tụng hình sự là giai đoạn đầu tiên có vai trò rất quan trọng trong quá trình giải quyết một vụ án hình sự. Chính vì vậy mà pháp luật tố tụng hình sự quy định rất chặt chẽ về các biện pháp điều tra. Điều này được thể hiện trong Bộ luật Tố tụng hình sự, Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự và các văn bản chuyên ngành khác. Vì vậy việc nghiên cứu cụ thể về các biện pháp điều tra trong tố tụng hình sự và thực tiễn hoạt động điều tra, phân tích làm sáng tỏ các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về các biện pháp điều tra, để từ đó có những giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng về điều tra, nâng cao hiệu quả hoạt động điều tra có ý nghĩa rất quan trọng về lý luận cũng như thực tiễn. Những phân tích đó lý giải cho việc chúng tôi chọn đề tài "Các biện pháp điều tra trong tố tụng hình sự" để làm luận văn Thạc sĩ luật học của mình. 2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Trong những năm gần đây, điều tra trong tố tụng hình sự cũng là một vấn đề đang được quan tâm nghiên cứu của các chuyên gia luật học cả về lý luận lẫn thực tiễn, đáng chú ý là các công trình: "Sổ tay điều tra hình sự" (Nhà xuất bản Công an nhân dân); "Khoa học Điều tra hình sự" (Trường Đại học Luật Hà Nội), "Giáo trình Điều tra hình sự" (Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội) và một số bài báo được công bố trong một số tạp chí... Đây là những công trình nghiên cứu cơ bản các vấn đề thuộc lĩnh vực điều tra hình sự, đã đề cập đến các biện pháp điều tra hình sự. Tuy nhiên các công trình này mới chỉ đề cập tới vấn đề mang tính bình luận các quy định của pháp luật hoặc chiến thuật điều tra mà chưa đi phân tích thực tiễn hoạt động điều tra, 2 phân tích các bất cập, hạn chế, từ đó đưa ra đề xuất về giải pháp hoàn thiện, cũng như những kiến nghị trong việc hoàn thiện pháp luật về các biện pháp điều tra trong tố tụng hình sự. Cho đến nay, trong khoa học pháp lý Việt Nam chưa có một công trình chuyên khảo nghiên cứu sâu, toàn diện, đầy đủ về biện pháp điều tra trong tố tụng hình sự. 3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu * Mục đích Trên cơ sở luận giải cơ sở lý luận, thực tiễn về điều tra hình sự cũng như các biện pháp điều tra hình sự cụ thể, luận văn đề xuất những giải pháp cơ bản về các biện pháp điều tra trong tố tụng hình sự. * Nhiệm vụ nghiên cứu Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra là: + Nghiên cứu một số vấn đề chung về biện pháp điều tra; + Phân tích các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về biện pháp điều tra và thực tiễn áp dụng các biện pháp đó; + Đưa ra giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự và nâng cao hiệu quả áp dụng các biện pháp điều tra trong thực tiễn. * Phạm vi nghiên cứu Luận văn đi sâu vào nghiên cứu các biện pháp điều tra trong tố tụng hình sự cả về phương diện quy phạm pháp luật cũng như về thực tiễn 4. Phƣơng pháp nghiên cứu Cơ sở lý luận của luận văn là những quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; các 3 văn bản pháp luật về vấn đề điều tra trong tố tụng hình sự và các văn bản khác, các công trình nghiên cứu khoa học có liên quan tới đề tài. Phương pháp nghiên cứu: luận văn sử dụng và kết hợp chặt chẽ phương pháp lôgíc với phương pháp lịch sử, phân tích và tổng hợp; phương pháp so sánh, thống kê, khảo sát, điều tra, tổng kết thực tiễn. 5. Ý nghĩa của việc nghiên cứu Luận văn là một công trình nghiên cứu về các biện pháp điều tra trong tố tụng hình sự một cách hệ thống, toàn diện. Kết quả nghiên cứu góp phần làm sáng tỏ vấn đề lý luận cũng như thực tiễn áp dụng các biện pháp điều tra trong tố tụng hình sự; đề xuất những giải pháp cơ bản nâng cao chất lượng điều tra trong tố tụng hình sự hiện nay. 6. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương: Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về điều tra trong tố tụng hình sự. Chương 2: Quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về các biện pháp điều tra. Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả các biện pháp điều tra trong tố tụng hình sự. 4 Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ ĐIỀU TRA TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ 1.1. KHÁI NIỆM, NHIỆM VỤ, NGUYÊN TẮC, YÊU CẦU CỦA HOẠT ĐỘNG ĐIỀU TRA TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ 1.1.1. Khái niệm Điều tra vụ án hình sự là một giai đoạn của tố tụng hình sự trong đó cơ quan Điều tra và các cơ quan khác được giao một số hoạt động điều tra được sử dụng các biện pháp do Luật tố tụng hình sự quy định để thu thập chứng cứ chứng minh tội phạm, người phạm tội và những vấn đề khác có liên quan đến vụ án làm cơ sở cho việc xét xử của Tòa án. Đồng thời, thông qua hoạt động điều tra xác định nguyên nhân điều kiện phạm tội đối với từng vụ án cụ thể và kiến nghị các biện pháp phòng ngừa với các cơ quan và tổ chức hữu quan. Điều tra là hoạt động của cơ quan, người tiến hành tố tụng thu thập chứng cứ, tài liệu, để xác định sự thật khách quan về hành vi phạm tội, người phạm tội và những tình tiết khác liên quan đến tội phạm để làm cơ sở cho việc xử lý tội phạm. Cơ quan điều tra có nhiệm vụ điều tra ban đầu để làm kết luận điều tra và đề nghị truy tố. Viện kiểm sát thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động điều tra vụ án của cơ quan điều tra và khi cần thiết có thể trực tiếp tiến hành các hoạt động điều tra. Tòa án thực hiện nhiệm vụ điều tra thông qua việc xét hỏi, kiểm tra công khai các tài liệu, chứng cứ và những tình tiết của vụ án tại phiên tòa. Điều tra vụ án hình sự là một dạng hoạt động nhận thức đặc biệt, bởi vì hoạt động điều tra có đặc điểm pháp lý, thể hiện ở chỗ đối tượng nhận thức 5 của hoạt động điều tra là tội phạm đã xảy ra. Những phương tiện, biện pháp được áp dụng trong hoạt động điều tra phải phù hợp với pháp luật, không trái với giá trị pháp lý của kết quả điều tra vụ án. 1.1.2. Nhiệm vụ Nhanh chóng khám phá từng vụ án xảy ra: Nhanh chóng khám phá từng vụ án xảy ra còn là một yếu tố đảm bảo hiệu quả của hoạt động điều tra, bởi vì nếu không nhanh chóng thì nhiều dấu vết, tài liệu, đồ vật có liên quan đến vụ án có thể bị thay đổi, bị phá hủy và do đó sẽ gây khó khăn cho việc phát hiện, thu thập, đưa hoạt động điều tra vào chỗ bế tắc, không khám phá được vụ án. Một vụ án hình sự chỉ được thừa nhận là đã được khám phá khi cơ quan điều tra đã làm rõ được những vấn đề cần phải chứng minh được quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự, đó là bốn yếu tố cấu thành tội phạm, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm của bị can, nguyên nhân và điều kiện phạm tội và những tình tiết khác liên quan đến vụ án. Nhiệm vụ thứ hai của giai đoạn điều tra là lập hồ sơ và đề nghị truy tố bị can của vụ án. Để thực hiện tốt nhiệm vụ này, Điều tra viên phải có tác phong thận trọng, khách quan khi đánh giá những tài liệu chứng cứ đã thu thập được về vụ án hình sự và hành vi phạm tội của bị can. Điều tra viên cần phải có thái độ vô tư, không định kiến khi thu thập, đánh giá và sử dụng những tài liệu, chứng cứ xác định vô tội, những tình tiết tăng nặng và những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm của bị can. Giai đoạn này cũng tạo điều kiện thuận lợi để truy tố, xét xử vụ án. Trong quá trình điều tra, Điều tra viên phải mô tả, thu thập, kiểm tra, củng cố và đưa vào hồ sơ vụ án tất cả những tài liệu chứng cứ chứng minh tội phạm và hành vi phạm tội của bị can. Chứng minh sự thật của vụ án là một quá trình liên tục, bắt đầu từ thời điểm khởi tố vụ án và kết thúc vào thời điểm Tòa án ra bản án cuối cùng kết luận bị cáo có tội hay không có tội, hình phạt và các 6 biện pháp tư pháp khác. Sự thật của vụ án được làm sáng tỏ trong giai đoạn điều tra khi Điều tra viên đã thu thập, kiểm tra một cách đầy đủ những tài liệu, chứng cứ của vụ án và đưa vào hồ sơ vụ án. Để tạo điều kiện cho quá trình truy tố, xét xử một cách khách quan, toàn diện, trong quá trình điều tra, Điều tra viên cần phải áp dụng mọi biện pháp được pháp luật cho phép để thực hiện quyền và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng, đặc biệt là quyền khiếu nại, tố cáo của người bị hại, của bị can, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự. Nhiệm vụ tiếp theo của giai đoạn điều tra là đảm bảo bồi thường thiệt hại: nhiệm vụ này phải được thực hiện nhanh chóng từ giai đoạn điều tra, nếu thực hiện chậm trễ sẽ gặp nhiều khó khăn, thậm chí không thực hiện được do những đối tượng liên quan đến vụ án đã cất giấu, tẩu tán, tiêu thụ, hợp lý hóa nguồn gốc của những tài sản chiếm đoạt được bằng con đường phạm tội. Nhiệm vụ này được thực hiện khi trong quá trình điều tra, Điều tra viên thu giữ được những tài sản, tiền bạc và những giá trị vật chất khác bị bọn tội phạm chiếm đoạt và trao trả cho cơ quan, tổ chức và công dân có lợi ích bị bọn phạm tội xâm hại. Trong những trường hợp không thực hiện được việc trao trả tài sản, tiền bạc và những giá trị vật chất khác cho cơ quan, tổ chức xã hội và công dân có lợi ích bị bọn phạm tội xâm hại, thì hoạt động điều tra phải làm rõ chính xác mức độ thiệt hại, những bị can nào phải bồi thường và mức độ bồi thường của từng bị can. Trong quá trình điều tra, Điều tra viên cần khẩn trương tiến hành các biện pháp như khám xét, kê biên tài sản, tiền bạc và những giá trị vật chất khác để bảo đảm khả năng thực tế bồi thường thiệt hại. Đặc biệt, Điều tra viên, cán bộ điều tra phải giải thích cặn kẽ cho những người tham gia tố tụng quyền khiếu nại dân sự và thực hiện các biện pháp cần thiết để bảo vệ quyền lợi của nguyên đơn dân sự. 7 Một nhiệm vụ không kém phần quan trọng trong giai đoạn điều tra là làm rõ các nguyên nhân, điều kiện phạm tội để đề xuất những biện pháp khắc phục, ngăn ngừa không để vụ án tương tự xảy ra trong tương lai. Những nguyên nhân, điều kiện phạm tội này có thể là những sơ hở, không đầy đủ, chặt chẽ của những văn bản pháp luật, nguyên tắc quản lý kinh tế, công tác tổ chức cán bộ, công tác kiểm tra của cấp trên đối với cấp dưới, những thiếu sót của công tác quản lý về trật tự, an toàn xã hội, những sơ hở, mất cảnh giác của người bị hại… Những tình tiết này hoàn toàn có thể làm rõ được trong quá trình điều tra. Để phòng ngừa tội phạm, Điều tra viên phải giáo dục mọi người nắm được pháp luật, có ý thức tôn trọng pháp luật, vận động quần chúng nhân dân giúp đỡ cơ quan Điều tra trong quá trình điều tra vụ án; giáo dục, làm cho bị can nhận thức được hành vi phạm tội của mình, ăn năn hối cải một cách thành thực, tự nguyện trở lại con đường làm ăn lương thiện. 1.1.3. Nguyên tắc của hoạt động điều tra Hoạt động điều tra là một trong những hoạt động tố tụng hình sự. Vì vậy, hoạt động điều tra phải tuân thủ toàn bộ các nguyên tắc tố tụng được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Tuy nhiên, cần phải nhấn mạnh một số nguyên tắc sau đây: - Nguyên tắc đầu tiên là tôn trọng sự thật, tiến hành một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ hoạt động điều tra vụ án hình sự. Nguyên tắc này có thể được hiểu là khi kết thúc giai đoạn điều tra vụ án thì những hành vi phạm tội của bị can phải được làm rõ, đúng sự thật như trong thực tế đã xảy ra, không được xuyên tạc, cố ý bóp méo hay làm sai sự thật do nhiều động cơ, mục đích khác nhau. Hoạt động điều tra được tiến hành công khai theo đúng trình tự, thủ tục mà Bộ luật Tố tụng hình sự quy định nhằm chứng minh sự thật của vụ án 8 đúng như trong thực tế đã xảy ra, không suy diễn theo ý muốn chủ quan của Điều tra viên. Điều tra viên phải có trách nhiệm tiếp nhận và giải quyết đúng đắn, kịp thời những kiến nghị, khiếu nại, tố cáo có ý nghĩa đối với việc giải quyết đúng đắn vụ án của những người tham gia tố tụng, nhất là người bị hại, bị can. Toàn diện trong hoạt động điều tra có nghĩa là hoạt động điều tra phải làm rõ tất cả những tình tiết của vụ án bằng cách xây dựng tất cả những giả thuyết điều tra nhằm giải thích các tình tiết chưa rõ của vụ án và kiểm tra những giả thuyết đó. Toàn diện của hoạt động điều tra đòi hỏi Điều tra viên phải điều tra làm rõ sự thật của vụ án ở mọi phương diện. Đầy đủ trong hoạt động điều tra có nghĩa là hoạt động điều tra phải làm rõ tất cả những vấn đề cần chứng minh theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự đủ để giải quyết đúng đắn vụ án. Điều tra viên không những phải xác định chính xác những vấn đề cần chứng minh mà còn phải lập luận chứng minh từng vấn đề đó bằng những chứng cứ cần thiết để có đủ cơ sở chắc chắn, tin cậy đi đến kết luận cuối cùng về sự thật của vụ án. Khi lập hồ sơ vụ án và đề nghị truy tố, Điều tra viên cần đưa vào hồ sơ những tài liệu, chứng cứ cần thiết để tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình xét xử vụ án. - Nguyên tắc thứ hai: Mọi hoạt động điều tra phải tuân theo pháp luật, chấp hành các nguyên tắc của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, Điều tra viên không chỉ đơn thuần chấp hành những yêu cầu của pháp luật, nhất là Bộ luật Tố tụng hình sự mà còn áp dụng hiệu quả những thủ thuật, chiến thuật, những phương tiện kỹ thuật trong hoạt động điều tra. Nguyên tắc này không cho phép áp dụng trong hoạt động điều tra những biện pháp, phương tiện trái pháp luật, chống lại pháp luật. Tất cả những biện pháp được áp dụng trong hoạt động điều tra phải theo đúng thủ tục, trình tự, kết quả tiến hành phải được phản ánh chính xác, khách quan trong các văn bản tố tụng. 9 Điều 124 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định không được tiết lộ bí mật của hoạt động điều tra. Những tài liệu về vụ án chỉ được thông báo công khai khi có quyết định của Thủ trưởng Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong phạm vi cho phép. Quy định này giúp cho Điều tra viên tránh được âm mưu, thủ đoạn đối phó với hoạt động điều tra của bị can và những người có lợi ích đối với vụ án. Bản chất của bọn tội phạm là tìm mọi cách che giấu tội phạm để tránh bị trừng phạt và những người có lợi ích trong vụ án thường tìm cách nắm được những tài liệu, chứng cứ đã thu thập được trong quá trình điều tra để đối phó với cơ quan điều tra và Điều tra viên. Mặt khác, trong quá trình điều tra, Điều tra viên có thể sử dụng bí mật của hoạt động điều tra như là một vũ khí chiến thuật, nhất là trong quá trình hỏi cung bị can để thu thập tài liệu, chứng cứ của vụ án. Ngoài ra, giữ bí mật của hoạt động điều tra còn nhằm bảo vệ lợi ích hợp pháp của bị can, quyền, lợi ích hợp pháp của người bị hại, người làm chứng và người tham gia tố tụng khác. Nguyên tắc thứ ba: Hoạt động điều tra được thực hiện trên cơ sở tôn trọng danh dự, nhân phẩm, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân nói chung, người tham gia tố tụng nói riêng. Hoạt động điều tra trong tố tụng hình sự đụng chạm nhiều đến quyền, lợi ích hợp pháp của công dân. Các biện pháp điều tra được áp dụng, nhất là các biện pháp cưỡng chế tố tụng phải được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật cho phép, không được xúc phạm, hạ thấp danh dự, nhân phẩm, tài sản, sức khỏe của công dân. Đặc biệt, người tiến hành tố tụng không được có hành vi bức cung, dùng nhục hình… đối với bị can, bị cáo. Bộ luật Hình sự nước ta quy định hành vi bức cung, dùng nhục hình trong tố tụng hình sự là tội phạm. Đó là một trong những bảo đảm pháp lý quan trọng để thực hiện nguyên tắc này. 10 Nguyên tắc thứ tư: Cơ quan điều tra cấp dưới chịu sự chỉ đạo nghiệp vụ của cơ quan điều tra cấp trên. Cơ quan điều tra cấp dưới chịu trách nhiệm báo cáo với cơ quan điều tra cấp trên về phương hướng công tác điều tra khám phá tội phạm trong từng thời kỳ để xin ý kiến chỉ đạo của cơ quan điều tra cấp trên. Cơ quan điều tra cấp trên có trách nhiệm hướng dẫn chỉ đạo cơ quan điều tra cấp dưới về tất cả những vấn đề liên quan đến công tác điều tra nói chung và hoạt động điều tra từng vụ án cụ thể nói riêng. Pháp luật còn quy định cụ thể mối quan hệ giữa Thủ trưởng cơ quan Điều tra với Điều tra viên nhằm gạt bỏ sự chuyên quyền, độc đoán, tự tiện trong hoạt động điều tra. Để thực hiện tốt nguyên tắc này nhằm đảm bảo hiệu quả của hoạt động điều tra, đòi hỏi cơ quan điều tra các cấp thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình và mối quan hệ lãnh đạo, chỉ đạo giữa cơ quan điều tra cấp trên và cơ quan điều tra cấp dưới do pháp luật quy định. Mặt khác, công tác lãnh đạo, chỉ đạo hoạt động điều tra phải mang tính trực tiếp để đảm bảo sự nhanh chóng của hoạt động điều tra, phát huy tinh thần chủ động, sáng tạo của cơ quan điều tra các cấp, Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ quan điều tra và Điều tra viên trong quá trình điều tra v.v… 1.1.4. Yêu cầu của hoạt động điều tra vụ án hình sự Để hoạt động điều tra vụ án hình sự được tiến hành bảo đảm chặt chẽ và đúng quy định của pháp luật, đạt hiệu quả cao, khi điều tra vụ án hình sự cần phải chú ý tới những yêu cầu sau: - Thứ nhất: Hoạt động điều tra phải được tiến hành có kế hoạch Khi làm bất cứ công việc gì, việc lập kế hoạch cũng mang lại hiệu quả lớn. Trước tiên, nó giúp hoạt động điều tra thực hiện một cách có khoa học hơn, 11 có trình tự hơn và đầy đủ hơn. Hoạt động điều tra là một hoạt động phức tạp nhằm xác minh sự thật của một vụ án. Sự thành công, tính hiệu quả của hoạt động điều tra phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nhưng trước hết là việc lập kế hoạch điều tra vụ án có hợp lý, có khoa học hay không. Để lập kế hoạch điều tra vụ án có hiệu quả, đạt kết quả tốt, thủ trưởng cơ quan điều tra, Điều tra viên và các cán bộ tham gia điều tra chẳng những phải có tri thức về điều tra vụ án hình sự mà còn phải có sự hiểu biết về khoa học và kiến thức xã hội sâu rộng. Hoạt động điều tra được tiến hành theo kế hoạch sẽ được tiến hành một cách khoa học, có trình tự hợp lý, hạn chế đến mức thấp nhất những chi phí cho quá trình điều tra. Đồng thời, hoạt động điều tra được tiến hành theo kế hoạch sẽ đáp ứng được yêu cầu nghiệp vụ, yêu cầu chính trị trong quá trình điều tra vụ án. - Thứ hai: tiến hành nhanh chóng và linh hoạt Hoạt động điều tra vụ án hình sự là hoạt động có tính chất phức tạp nhằm làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án. Mỗi một vụ án hình sự diễn ra đều có tính chất và mức độ khác nhau, không vụ nào giống vụ nào. Đồng thời, mỗi một tình tiết của vụ án xảy ra đều lưu giữ lại thế giới vật chất một dấu hiệu nào đó rất đáng quan tâm. Tuy nhiên, những dấu hiệu này chỉ tồn tại trong một thời gian nhất định rồi sẽ mất đi. Chính vì vậy, hoạt động điều tra phải được tiến hành nhanh chóng và linh hoạt để có thể khai thác được tối đa các dấu hiệu được lưu lại. Điều đó giúp cho các Điều tra viên có thể tìm tới sự thật khách quan của vụ án được thuận lợi hơn. Sự nhanh chóng, linh hoạt của hoạt động điều tra còn được thể hiện ở chỗ Điều tra viên có thể sử dụng nhiều biện pháp điều tra cùng một lúc để tìm hiểu sự thật khách quan ở nhiều phương diện hơn. Trong Bộ luật Tố tụng hình sự có quy định nhiều biện pháp điều tra, mỗi biện pháp được sử dụng trong một điều kiện, hoàn cảnh khác nhau. Đối với một vụ án hình sự, có thể chỉ cần sử dụng một biện pháp điều 12 tra cũng có thể làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án, nhưng cũng có những vụ án hình sự cần phải áp dụng đồng thời nhiều biện pháp. Điều này không được quy định quy chuẩn trong văn bản pháp luật hay một hướng dẫn nghiệp vụ nào mà đều phụ thuộc vào khả năng, kinh nghiệm của Điều tra viên. - Thứ ba: sử dụng có hiệu quả những biện pháp trinh sát, những phương tiện kỹ thuật trong quá trình điều tra Biện pháp trinh sát là một biện pháp được sử dụng để khám phá tội phạm, nhưng khác với biện pháp điều tra là nhằm chứng minh sự thật khách quan của vụ án, biện pháp trinh sát lại có nhiệm vụ tìm kiếm, xác định và phát hiện những chứng cứ có liên quan đến vụ án, có thể nói, biện pháp trinh sát được thực hiện nhằm hỗ trợ cho hoạt động điều tra một cách có hiệu quả. Ngoài ra, hoạt động điều tra còn được hỗ trợ bởi các phương tiện kỹ thuật hiện đại. Yếu tố con người trong hoạt động điều tra là yếu tố chủ yếu, song không phải là tất cả. Tội phạm càng tinh vi thì cán bộ điều tra cần phải sử dụng nhiều phương tiện kỹ thuật để giúp tìm kiếm ra những chứng cứ quan trọng mà con người, bằng mắt thường có thể không phát hiện ra. Phương tiện kỹ thuật không chỉ quan trọng trong quá trình tìm ra chứng cứ, mà có nhiều phương tiện còn có tác dụng lưu giữ chứng cứ lâu dài, điều đó phục vụ tốt cho các giai đoạn sau của quá trình giải quyết một vụ án hình sự. - Thứ tư: vận động quần chúng tham gia vào hoạt động điều tra Quần chúng nhân dân luôn đóng một vai trò quan trọng trong mọi hoạt động. "Đẩy thuyền là dân mà lật thuyền cũng là dân", hay "lấy dân làm gốc" là đạo lý bao đời nay của các nhà lãnh đạo kiệt xuất. Thế mới hay vai trò của quần chúng nhân dân là rất quan trọng nếu ta biết tận dụng khôn khéo. Trong hoạt động điều tra vụ án hình sự, mặc dù pháp luật có quy định: Tổ chức, công dân có quyền, nghĩa vụ phát hiện, tố giác hành vi phạm tội; có trách nhiệm thực hiện yêu cầu và tạo điều kiện để cơ quan điều tra và các cơ 13 quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ quan điều tra, Điều tra viên được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra thực hiện nhiệm vụ điều tra [14, Điều 7]. Nhưng không phải lúc nào cũng có thể khai thác được yêu cầu này một cách đơn giản, có những tổ chức, cá nhân không hoàn toàn tự nguyện cung cấp cho cơ quan điều tra, cán bộ điều tra những thông tin hữu ích cho hoạt động điều tra. Điều này sẽ gây cản trở cho quá trình điều tra tìm ra sự thật của vụ án. Quần chúng nhân dân có thể là những người trực tiếp biết được nội dung tình tiết của vụ án, đồng thời cũng giúp cho cơ quan điều tra, Điều tra viên thực hiện các biện pháp ngăn chặn cần thiết để đảm bảo cho hoạt động điều tra được tiến hành tốt. 1.2. CÁC BIỆN PHÁP ĐIỀU TRA Nhiệm vụ chính của hoạt động điều tra là xác định sự thật khách quan của vụ án một cách đầy đủ, toàn diện, làm cơ sở cho việc giải quyết vụ án. Hay nói cách khác, nhiệm vụ chính đó là chứng minh tội phạm và người phạm tội. Để thực hiện tốt nhiệm vụ đó và các nhiệm vụ khác, Bộ luật Tố tụng hình sự quy định các biện pháp cụ thể nhằm thu thập chứng cứ phục vụ cho quá trình chứng minh. Đó chính là các biện pháp điều tra trong tố tụng hình sự. Như vậy, biện pháp điều tra là những biện pháp do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định mà cơ quan tiến hành tố tụng sử dụng để thu thập tài liệu, chứng cứ nhằm xác định sự thật khách quan của vụ án. Là hoạt động thu thập chứng cứ, các biện pháp điều tra được xác định trên cơ sở các loại chứng cứ và biện pháp thu thập chứng cứ được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự nước ta. Theo khoản 2 Điều 64 Bộ luật Tố tụng hình sự thì chứng cứ bao gồm: - Vật chứng; 14 - Lời khai của người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người bị bắt, người bị tạm giam, tạm giữ, bị can, bị cáo; - Kết luận giám định; - Biên bản hoạt động điều tra, xét xử và các tài liệu, đồ vật khác. Để thu thập được những chứng cứ đó, Điều 65 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có quyền triệu tập những người biết về vụ án để hỏi và nghe họ trình bày về những vấn đề có liên quan đến vụ án; trưng cầu giám định; tiến hành khám xét; khám nghiệm và các hoạt động điều tra khác…; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, đồ vật, trình bày những tình tiết làm sáng tỏ vụ án. Xuất phát từ các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, theo chúng tôi các biện pháp điều tra trong tố tụng hình sự bao gồm: - Khởi tố bị can và hỏi cung bị can; - Lấy lời khai; - Thu giữ vật chứng; - Đối chất; - Nhận dạng; - Khám xét, thu giữ tài liệu, vật chứng; - Khám nghiệm hiện trường, tử thi, xem xét dấu vết; - Thực nghiệm điều tra; - Trưng cầu giám định. Trong quá trình điều tra, tùy từng vụ án cụ thể mà các biện pháp điều tra được thực hiện toàn bộ hay một phần. Có những biện pháp luôn luôn bắt buộc phải thực hiện (như khởi tố bị can, hỏi cung bị can, lấy lời khai người 15 tham gia tố tụng), có những biện pháp có thể không bắt buộc phải thực hiện tùy theo nhu cầu điều tra. Trong nhiều trường hợp, Bộ luật Tố tụng hình sự quy định biện pháp điều tra này hay biện pháp điều tra khác là bắt buộc. Ví dụ: Trong các vụ án có hậu quả chết người, gây thương tích cho người khác, vụ án mà đối tượng phạm tội là chất độc, chất phóng xạ… thì bắt buộc cơ quan điều tra phải trưng cầu giám định về nguyên nhân cái chết, mức độ thương tật, xác định chất độc, chất phóng xạ… Cũng đều là biện pháp điều tra nhưng mỗi biện pháp có đối tượng, cách thức và phương pháp khác nhau nên Bộ luật Tố tụng hình sự cũng quy định các điều kiện, trình tự, thủ tục tiến hành khác nhau nhằm thu thập đầy đủ, chính xác, khách quan các chứng cứ của vụ án thông qua biện pháp được tiến hành. Việc xác định phạm vi, giới hạn các biện pháp điều tra có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc xác định sự thật khách quan của vụ án. Việc điều tra phiến diện, không đầy đủ là một trong những căn cứ để Viện kiểm sát, Tòa án trả hồ sơ điều tra bổ sung (Điều 168, 179 Bộ luật Tố tụng hình sự) hoặc kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm (Điều 273 Bộ luật Tố tụng hình sự) v.v… 1.3. KHÁI QUÁT CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VỀ BIỆN PHÁP ĐIỀU TRA TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ 1.3.1. Giai đoạn từ năm 1945 đến trƣớc năm 1989 Ngày 02/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập, tuyên bố với nhân dân toàn thế giới về sự độc lập, tự chủ của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Trong chế độ mới, mọi công dân không phân biệt nam nữ, dân tộc, tín ngưỡng, giàu nghèo đều bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ. Nông dân nghèo chiếm đại đa số trong xã hội, được giảm tô, giảm tức. Lần đầu tiên, người lao động được làm chủ vận mệnh của mình. Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi nhân tài tích cực góp 16 phần xây dựng đất nước. Tệ tham ô, lạm nhũng của những "quan cách mạng" chớm nhú đã bị lên án, đấu tranh. Chính sách tăng gia sản xuất đã chấm dứt nạn đói khủng khiếp. Quân đội quốc gia và dân quân, tự vệ là chỗ dựa và niềm tin của chế độ mới, nhanh chóng phát triển đã chứng tỏ tinh thần và sức mạnh của mình trên chiến trường. Trong thời kỳ mới thành lập nước, chính quyền non trẻ có rất nhiều việc phải làm, trong đó có nhiệm vụ quan trọng là kiện toàn hệ thống pháp luật. Tuy nhiên, trong một thời gian ngắn, không thể gấp rút hoàn thành một hệ thống pháp luật đầy đủ. Vì lẽ đó, ngày 10/10/1945, Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam dân chủ cộng hòa đã ban hành Sắc lệnh số 47 về việc cho đến khi ban hành những bộ luật pháp duy nhất cho toàn cõi nước Việt Nam, các luật lệ hiện hành ở Bắc, Trung và Nam Bộ vẫn tạm thời giữ nguyên như cũ, nếu những luật lệ ấy không trái với những điều thay đổi ấn định trong Sắc lệnh này. Đồng thời xóa bỏ toàn bộ những văn bản quy định đặc quyền đặc lợi của thực dân, tay sai, phong kiến trên đất nước ta. Liên quan đến hoạt động điều tra, ngày 21/2/1946, Chủ tịch Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã ban hành Sắc lệnh số 23/NV, thành lập Việt Nam công vụ thuộc Bộ Nội vụ trên cơ sở hợp nhất Sở Cảnh sát với Sở Liêm phóng trên toàn quốc. Việt Nam công vụ có nhiệm vụ tìm kiếm và tập trung các tin tức và tài liệu liên can đến sự an toàn của quốc gia hoặc bề trong hoặc bề ngoài; đề nghị và thi hành các phương pháp đề phòng những hành động có thể làm rối việc trị an và trật tự trong nước, bất cứ sự hoạt động đó là do người Việt Nam hay người nước ngoài; điều tra về những hành động trái phép nói trên và truy tìm người can phạm để giúp tòa án trong sự trừng trị. Ngày 20/7/2946, Chủ tịch Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã ban hành Sắc lệnh số 131 về tổ chức công an tư pháp, trong đó quy định Tư pháp công an có nhiệm vụ truy tầm tất cả các sự phạm pháp (đại 17
- Xem thêm -