Tài liệu Bước đầu nghiên cứu đối chiếu chuyển dịch hệ thuật ngữ du lịch anh - việt

  • Số trang: 132 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 817 |
  • Lượt tải: 0
dangvantuan

Tham gia: 02/08/2015

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ------------------------ NGUYỄN THỊ VIỆT NGA BƯỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU ĐỐI CHIẾU CHUYỂN DỊCH HỆ THUẬT NGỮ DU LỊCH ANH - VIỆT LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC Chuyên ngành : Ngôn ngữ học Mã số : 60 22 01 Người hướng dẫn khoa học: GS.TS. LÊ QUANG THIÊM Hà Nội - 2009 MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU .............................................................................................. 5 1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI ......................................................................... 5 2. ĐỐI TƢỢNG VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU .................................... 7 3. TƢ LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ................................... 8 4. BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN ..................................................................... 9 CHƢƠNG 1: LỊCH SỬ VẤN ĐỀ VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA LUẬN VĂN.................................................................................................................. 10 1.1. KHÁI NIỆM VỀ THUẬT NGỮ .............................................................. 10 1.1.1. Những quan niệm về thuật ngữ trên thế giới ..................................... 10 1.1.2. Quan niệm về thuật ngữ trong tiếng Việt. .......................................... 12 1.1.3. Phân biệt thuật ngữ và danh pháp. ................................................... 14 1.1.4. Đặc điểm chung của thuật ngữ và những yêu cầu khi xây dựng thuật ngữ. ................................................................................................... 15 1.1.5. Quan niệm về thuật ngữ của luận văn. .............................................. 18 1.2. KHÁI NIỆM VỀ THUẬT NGỮ DU LỊCH. ..................................... 21 1.2.1. Vai trò của du lịch ............................................................................ 21 1.2.2. Quan niệm và định nghĩa về du lịch của các nhà khoa học trên thế giới. ............................................................................................................ 22 1.2.3. Quan niệm về du lịch trong tiếng Việt. ...................................... 26 CHƢƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO THUẬT NGỮ DU LỊCH TIẾNG ANH ................................................................................................................. 35 2.1. ĐẶT VẤN ĐỀ ................................................................................. 35 2.2. THÀNH TỐ CẤU TẠO NHỎ NHẤT CỦA THUẬT NGỮ: HÌNH VỊ…………………………………………………………………………...35 2.2.1. Quan niệm theo ngữ pháp truyền thống…………….……………........37 2.2.2. Phân loại hình vị theo bình diện ngữ pháp ........................................ 37 2.2.3. Đặc điểm cấu tạo từ .......................................................................... 38 1 2.3. ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC CỦA THUẬT NGỮ DU LỊCH TIẾNG ANH XÉT TRÊN PHƢƠNG DIỆN CẤU TẠO TỪ……………………………….. 40 2.3.1. Thuật ngữ du lịch có cấu tạo là từ đơn (single terms) ....................... 40 2.3.2 Thuật ngữ xuất hiện dưới dạng từ phái sinh(derivative terms)… 44 2.3.3 Thuật ngữ xuất hiện dưới dạng từ ghép (compoun d terms ).........47 2.3.4 Thuật ngữ xuất hiện dưới dạng cụm từ (collocation terms )…… 51 2.4. ĐẶC ĐIỂM CỦA THUẬT NGỮ DU LỊCH TIẾNG ANH XÉT TRÊN BÌNH DIỆN NỘI DUNG NGỮ NGHĨA ………………………………………57 2.4.1. Các thuật ngữ là tên gọi của các cơ quan tổ chức du lịch ................. 57 2.4.2. Các thuật ngữ chỉ hoạt động nấu ăn trong nhà hàng ........................ 57 2.4.3. Các thuật ngữ chỉ các kiểu bữa ăn trong nhà hàng ........................... 58 2.4.4. Các thuật ngữ gọi tên các đồ ăn........................................................ 58 2.4.5. Các thuật ngữ gọi tên các đồ uống .................................................... 58 2.4.6. Thuật ngữ chỉ các loại dịch vụ của nhà hàng .................................... 58 2.4.7. Các thuật ngữ gọi tên các bộ phận phòng ban trong khách sạn ........ 58 2.4.8. Các thuật ngữ chỉ các loại hình khách sạn ........................................ 58 2.4.9. Thuật ngữ chỉ các loại phòng trong khách sạn .................................. 59 2.4.10. Thuật ngữ chỉ các tiện nghi trong khách sạn ................................... 59 2.4.11. Các thuật ngữ chỉ chủ thể hoạt động trong ngành du lịch khách sạn .............................................................................................................. 59 2.4.12. Các thuật ngữ chỉ các loại khách đến khách sạn ............................. 60 2.4.13. Các thuật ngữ chỉ các loại hình du lịch ........................................... 60 2.4.14. Các thuật ngữ chỉ các loại hình kỳ nghỉ .......................................... 61 2.4.15. Nhóm thuật ngữ chỉ những điểm thu hút khách du lịch ................... 61 2.4.16. Các thuật ngữ chỉ các hoạt động đi lại ............................................ 61 2.5. ĐỐI CHIẾU CẤU TẠO THUẬT NGỮ DU LỊCH GIỮA TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT ................................................................................... 62 2.5.1. Thuật ngữ là từ đơn .......................................................................... 62 2 2.5.2. Thuật ngữ du lịch tiếng Việt có cấu tạo là từ ghép ............................ 63 2.5.3. Thuật ngữ du lịch có cấu tạo là ngữ .................................................. 64 2.6. NHỮNG TƢƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA THUẬT NGỮ DU LỊCH TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT .................................................... 64 2.6.1. Tương đồng....................................................................................... 64 2.6.2. Sự khác biệt ...................................................................................... 65 TIỂU KẾT .............................................................................................. 65 CHƢƠNG 3: CÁCH CHUYỂN DỊCH THUẬT NGỮ DU LỊCH TIẾNG ANH SANG TIẾNG VIỆT.............................................................................. 68 3.1. ĐẶT VẤN ĐỀ................................................................................... 64 3.2. KHÁI LƢỢC VỀ DỊCH ................................................................... 68 3.2.1. Khái niệm về dịch thuật ................................................................... 68 3.2.2. Tương đương dịch thuật .................................................................... 69 3.2.3. Dịch không có tương đương .............................................................. 73 3.3. CHIẾN LƢỢC VÀ QUY TRÌNH CHUYỂN DỊCH .......................... 76 3.3.1. Dịch nguyên văn ............................................................................... 76 3.3.2. Dịch vay mượn nguyên dạng ............................................................. 76 3.3.3. Phiên âm, chuyển tự.......................................................................... 77 3.3.4. Tương đương miêu tả- chức năng ..................................................... 78 3.3.5. Sao lại nguyên văn ............................................................................ 78 3.3.6. Dịch chuyển đổi ................................................................................ 79 3.3.7. Dịch tương đương văn hoá ............................................................... 80 3.4. CÁC PHƢƠNG THỨC CHUYỂN DỊCH THUẬT NGỮ DU LỊCH TỪ TIẾNG ANH SANG TIẾNG VIỆT ......................................................... 81 3.4.1. Dịch các thuật ngữ du lịch là từ đơn, từ phái sinh và những từ được thuật ngữ hoá. .................................................................................... 81 3.4.2. Thuật ngữ là những đơn vị đo lường của Anh ................................... 83 3 3.4.3. Phương thức chuyển dịch các từ viết tắt từ tiếng Anh sang tiếng Việt ............................................................................................................. 84 3.4.4. Phương thức dịch thuật ngữ du lịch ở cấp độ trên từ giữa tiếng Anh và tiếng Việt. ............................................................................................... 85 TIỂU KẾT…………………………………… ............................................. 91 KẾT LUẬN ...................................................................................................... 94 TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................................... 98 4 PHẦN MỞ ĐẦU 1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Từ xƣa, du lịch đƣợc coi là một sở thích, một hoạt động nghỉ ngơi tích cực của con ngƣời. Ngày nay trong xu thế toàn cầu hoá, du lịch đã trở thành nhu cầu không thể thiếu đƣợc trong đời sống nhân loại. Ngành Du lịch đƣợc xem nhƣ ngành công nghiệp sau ngành công nghiệp Dầu khí và Ô tô. Đây là ngành công nghiệp không khói có tác động mạnh mẽ tới quá trình chuyển đổi nhu cầu sản xuất và cả cơ cấu kinh tế xã hội ở các nƣớc đang phát triển trong đó có Việt Nam. Nhƣ ta đã biết, Việt Nam là một nƣớc có vị trí lãnh thổ, lãnh hải rất thuận lợi. Bộ phận lãnh hải với 200 hải lý, bộ phận lãnh thổ có đƣờng biên giới Việt – Trung dài 1400 km, biên giới Việt- Lào dài 2067km, biên giới Cam- pu- chia 1080, có khí hậu nhiệt đới nóng, ẩm, mƣa nhiều tạo cho hệ động thực vật phát triển, tài nguyên đa dạng. Việt Nam nằm ở vị trí trung tâm của khu vực Đông Nam Á, trên đƣờng giao thông quốc tế từ địa lục Á- Âu đến địa lục Úc, từ Ấn Độ Dƣơng sang Thái Bình Dƣơng. Việt Nam chịu ảnh hƣởng của hai nền văn minh cổ đại nhất của loài ngƣời là Ấn Độ và Trung Quốc, nằm ở khu vực có sự giao thoa văn hoá giữa các nƣớc trong khu vực và các nƣớc phƣơng Tây. Việt Nam có hơn bốn nghìn năm lịch sử dựng nƣớc và giữa nƣớc. Tất cả những yếu tố đó đã tạo nên nguồn tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên nhân văn phong phú. Chính vì vậy, ngày nay trong trong thời kỳ hội nhập quốc tế, Việt Nam trở thành điểm du lịch hấp dẫn nhất của nhiều nƣớc trên thế giới, trong đó có các nƣớc nói tiếng Anh. Quan hệ giao lƣu du lịch giữa Việt Nam và các nƣớc trên thế giới ngày càng phát triển. Hiện nay, các nƣớc trên thế giới đang có xu hƣớng dùng tiếng 5 Anh nhƣ một ngôn ngữ phổ quát có tính quốc tế. Điều này khiến cho việc giảng dạy tiếng Anh chuyên ngành Du lịch trong các trƣờng đại học và cao đẳng nói chung, đặc biệt là việc nghiên cứu đối chiếu chuyển dịch thuật ngữ Du lịch Khách sạn Anh- Việt nói riêng là hết sức cần thiết bởi vì ngôn ngữ là phƣơng tiện giao tiếp hữu hiệu nhất trong hoạt động du lịch. Hoạt động du lịch sẽ cho phép các nƣớc có điều kiện tiếp xúc với cá nền kinh tế thế giới với tri thức nhân loại nhƣ công nghệ mới, các thành tựu khoa học mới cũng nhƣ kinh nghiệm quản lí, góp phần thu hút đầu tƣ, chuyển giao công nghệ, hợp tác kinh doanh phát triển kinh tế, từng bƣớc thu hẹp khoảng cách giàu nghèo giữa các quốc gia. Việt Nam là một nƣớc đang phát triển chắc chắn phải tập trung vào hoạt động du lịch. Tuy nhiên, ngành Du lịch Việt Nam vẫn còn mới mẻ cho nên hệ thuật ngữ Du lịch- Khách sạn trong tiếng Việt vẫn chƣa đƣợc chuẩn hoá, chƣa đảm bảo đƣợc tính chính xác, tính hệ thống, tính quốc tế. Có rất nhiều trƣờng hợp các khái niệm đƣợc diễn đạt bằng những cụm từ còn mang sắc thái miêu tả, lời định nghĩa, chứ chƣa phải là thuật ngữ, hoặc khi đối chiếu với thuật ngữ Du lịch- Khách sạn trong tiếng Anh cho thấy nhiều thuật ngữ du lịch- khách sạn có trong tiếng Anh nhƣng không có trong tiếng Việt. Điều đó đã gây không ít khó khăn khi đàm phán, trao đổi, ký kết hợp đồng trong quan hệ du lịch giữa hai nƣớc. Hiện nay ở Việt Nam chƣa có công trình khoa học nào chuyên nghiên cứu về sự đối chiếu chuyển dịch hệ thuật ngữ Du lịch một cách đầy đủ.. Vì vậy việc nghiên cứu đối chiếu chuyển dịch hệ thuật ngữ Du lịch Anh- Việt là điều cần thiết. Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần thiết thực vào quá trình truyền bá kiến thức và sự phát triển du lịch ở Việt Nam. 6 2. ĐỐI TƢỢNG VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU a/ Đối tƣợng nghiên cứu Đối tƣợng nghiên cứu của luận văn là các thuật ngữ Du lịch trong tiếng Anh và tiếng Việt. Đó là những thuật ngữ biểu đạt các khái niệm đƣợc sử dụng trong lĩnh vực du lịch. b/ Mục đích nghiên cứu Mục đích nghiên cứu của luận văn là đối chiếu thuật ngữ Du lịch trong tiếng Anh và tiếng Việt để làm sáng tỏ những đặc trƣng của hệ thuật ngữ trong mỗi ngôn ngữ. Từ đó đề xuất các phƣơng thức chuyển dịch, chuẩn hoá hệ thuật ngữ Du lịch trong tiếng Việt. c/ Nhiệm vụ nghiên cứu Hệ thống hoá những quan điểm lý luận trong việc nghiên cứu thuật ngữ và thuật ngữ Du lịch của các nhà nghiên cứu thế giới và các nhà nghiên cứu Việt Nam. Qua đó xác định cơ sở lý luận cho luận văn. Khảo sát đặc điểm cấu tạo của thuật ngữ Du lịch tiếng Anh về mặt cấu tạo. Xác định các loại mô hình kết hợp giữa các thành tố để tạo thành thuật ngữ Du lịch ở từng thứ tiếng. Trên cơ sở đó tìm ra sự khác biệt và tƣơng đồng giữa các thành tố cấu tạo nên hệ thuật ngữ giữa hai ngôn ngữ. Tìm hiểu đặc điểm định danh của thuật ngữ Du lịch trong tiếng Anh theo các con đƣờng hình thành, kiểu ngữ nghĩa và đặc điểm cách thức biểu thị của thuật ngữ du lịch. Khảo sát các kiểu dịch tƣơng đƣơng và một số thủ pháp đƣợc sử dụng trong chuyển dịch tƣơng đƣơng và không tƣơng đƣơng thuật ngữ du lịch Anh - Việt. 7 3. TƢ LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU a/ Tƣ liệu nghiên cứu Tƣ liệu nghiên cứu của luận văn gồm 570 thuật ngữ du lịch Anh đƣợc lựa chọn từ những tƣ liệu sau: 1) Trần Văn Chánh. Từ điển kinh doanh du lịch – khách sạn – và dịch vụ ăn uống. Nxb Thanh Niên, 2004 2) Hoàng Văn Châu. Từ điển quản trị khách sạn và du lịch Anh- Việt, Nxb Thanh niên. 2003 3) Nguyễn Thanh Chƣơng. English for the hotel and tourism industry. Nxb Khoa học xã hội,1997 4) Vũ Anh Dân. Quản trị buồng khách sạn. Khoa du lịch Viện đại học Mở, 2004 5) D.Adamson. International hotel English. Prentice Hall Erope, 1997 6) Iwonna Dubicka Margaret O' Keeffe. English for International Tourism. Nxb Longman, 2003 7) Hồ Tấn Mẫn. Từ điển du lịch Anh- Việt thông dụng. Nxb Lao động xã hội, Hà Nội, 2004 8) Tuyết Sơn- Thu Hà. Tiếng Anh trong giao tiếp khách sạn- nhà hàng- thương mại. Nxb Giao thông vận tải Hà Nội, 2002 9) Nguyễn Thị Bích Thuỷ. English for the hotel and tourism. Nxb Thống kê, 2008 10) Trịnh Thanh Thuỷ. Giáo trình Quản trị lễ tân văn phòng. Viện đại học Mở, 2004 11) www.vietnamtourism.com 12) www.worldtourism.org 8 b/ Phƣơng pháp nghiên cứu Trong luận văn chúng tôi sử dụng phƣơng pháp phân tích ngôn ngữ học thống kê, phân tích cấu trúc và phân tích ngữ nghĩa các thuật ngữ khảo sát. Từ đó xác định các đặc điểm của thuật ngữ du lịch Anh- Việt. Bên cạnh đó chúng tôi sử phƣơng pháp so sánh đối chiếu để so sánh đối chiếu các thuật ngữ du lịch tiếng Anh với thuật ngữ du lịch tiếng Việt. 4. BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn đƣợc trình bày ở 3 chƣơng sau: Chƣơng 1: Lịch sử vấn đề và cơ sở lý luận của luận văn. Chƣơng 2: Đặc điểm cấu tạo thuật ngữ du lịch tiếng Anh Chƣơng 3: Cách chuyển dịch thuật ngữ tiếng Anh sang tiếng Việt 9 CHƢƠNG 1 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA LUẬN VĂN 1.1. KHÁI NIỆM VỀ THUẬT NGỮ Giao tiếp giữa cá nhân với cá nhân, giữa dân tộc này với dân tộc khác, giữa quốc gia nọ với quốc gia kia đều phải cần dùng đến ngôn ngữ. Ngôn ngữ là phƣơng tiện giao tiếp hữu hiệu nhất. Trong mọi lĩnh vực hoạt động nói chung, trong hoạt động du lịch nói riêng, con ngƣời đều phải dùng đến từ ngữ để biểu đạt các khái niệm ngành, nghề nghiệp, chuyên môn…. Những từ ngữ đó ngƣời ta quen gọi là thuật ngữ. Vậy để hiểu một cách đầy đủ về thuật ngữ, ta hãy đến với những quan niệm về thuật ngữ của các nhà nghiên cứu thuật ngữ trên thế giới và ở Việt Nam. 1.1.1. Những quan niệm về thuật ngữ trên thế giới Thuật ngữ ra đời vốn rất sớm ở Châu Âu và châu Mỹ, bởi ở đó có nền khoa học kỹ thuật phát triển rất sớm trên thế giới. Đó là mảnh đất tốt để những thuật ngữ khoa học ra đời. Thuật ngữ có từ rất lâu nhƣng mãi đến thế kỷ XX ngƣời ta mới chính thức nghiên cứu về nó nhƣ một ngành khoa học. Nghiên cứu đầu tiên về thuật ngữ phải nói đến các nhà ngôn ngữ Anh, Đức, Mỹ đặc biệt là những nhà nghiên cứu ngôn ngữ học Xô Viết. Khi nghiên cứu về thuật ngữ, họ đã đi sâu vào phân tích bản chất, chức năng khái niệm và tìm định nghĩa cho thuật ngữ khoa học. Vinocua chỉ ra rằng: “Thuật ngữ- đó không phải là một từ đặc biệt mà chỉ là từ có chức năng đặc biệt” [70, tr6] Cu- dơ- kin lại chỉ ra rằng:“Cả hình thức và nội dung không tìm thấy ranh giới thực nào giữa từ thông thường, từ phi chuyên môn với từ của vốn kỹ thuật. Đường ranh giới hiện thực khách quan giữa hai loại từ này về thực chất là một đường ranh giới ngoài ngôn ngữ. Nếu như từ thông thường, từ phi chuyên môn ứng với đối tượng thông dụng thì từ của vốn kỹ thuật lại tương 10 ứng với đối tượng chuyên môn mà chỉ có một số lượng hạn hẹp các chuyên gia biết đến ”. [72, tr45] A. X. Gerd, nhà ngôn ngữ học Xô Viết đã nêu tƣơng đối đầy đủ về khái niệm thuật ngữ: “Thuật ngữ là một đơn vị từ vựng ngữ nghĩa có chức năng định nghĩa và được khu biệt một cách nghiêm ngặt bởi các đặc trưng như tính hệ thống, tính đơn nghĩa. Thuật ngữ không có tính đồng nghĩa hay đồng âm trong phạm vi của một khoa học hoặc lĩnh vực tri thức cụ thể”. [71, tr 3]. Trong định nghĩa này, tác giả nhấn mạnh vào đặc điểm cơ bản của thuật ngữ. Thuật ngữ là đơn vị từ vựng ngữ nghĩa của một hệ thống ngôn ngữ đƣợc đặc trƣng bởi tính hệ thống, tính đơn nghĩa. Nhƣ vậy chức năng của thuật ngữ là định nghĩa. Các nhà nghiên cứu thuật ngữ nhƣ: E Wuster(Đức), WE.Flood, R.W.Brown (Mỹ) ngoài việc định nghĩa về thuật ngữ, nêu bản chất, khái niệm của chúng các tác giả còn nêu tiêu chuẩn cụ thể của thuật ngữ. J.C.Sager (Mỹ) viết: “Thuật ngữ phải được hình thành một cách hệ thống, chú trọng tới đặc tính về mặt hình thái, cú pháp, ngữ nghĩa, ngữ dụng của ngôn ngữ tạo thành chúng. Thuật ngữ phải tuân theo các quy ước chung về hình vị, chữ viết và phát âm của ngôn ngữ tạo thành chúng. Một khi thuật ngữ được chấp nhận sử dụng rộng rãi thì nó không thể bị thay đổi nếu như không có lí do bắt buộc và sự khẳng định chắc chắn rằng thuật ngữ mới thay thế nó sẽ đảm đương hoàn toàn vị trí của nó và sẽ được nhanh chóng chấp nhận. Nếu thuật ngữ mới chỉ truyền đạt được phần nào đó của thuật ngữ đang dùng thì sẽ gây ra nhầm lẫn và trong những trường hợp đó, cần sử dụng đến khái niệm đồng nghĩa. Như vậy mới có thể giới thiệu thuật ngữ mới”. [64, tr 89]. Cuốn từ điển thuật ngữ ngôn ngữ học của tác giả O. X. Ac- khma- nôva cũng đã định nghĩ về thuật ngữ nhƣ sau:“Thuật ngữ là từ hoặc cụm từ của 11 ngôn ngữ chuyên môn đựơc sáng tạo ra để biểu thị chính xác các khái niệm chuyên môn và biểu thị các đối tượng chuyên môn”. [69, tr 57]. Nhƣ vậy có khá nhiều định nghĩa về thuật ngữ. Qua các định nghĩa đó, ta thấy đƣợc bức tranh toàn cảnh về thuật ngữ. Nó giúp ta có cái nhìn xác đáng hơn về thuật ngữ. 1.1.2. Quan niệm về thuật ngữ trong tiếng Việt. Ở Việt Nam nghiên cứu về thuật ngữ chỉ mới bắt đầu vào giữa thế kỷ XX. Đầu tiên phải kể đến cuốn “Danh từ khoa học” của Hoàng Xuân Hãn, xuất bản 1942. Hoàng Xuân Hãn đã định nghĩa thuật ngữ nhƣ sau: “Thuật ngữ hay danh từ khoa học là những từ ngữ biểu thị một khái niệm xác định thuộc hệ thống những khái niệm của một ngành khoa học nhất định”. Nhƣng vấn đề nghiên cứu thuật ngữ nhƣ một ngành khoa học thực sự thì phải là sau Cách mạng Tháng 8 năm 1945. Năm 1965, hội nghị trƣng cầu ý kiến về vấn đề xây dựng thuật ngữ khoa học do Nguyễn Khánh Toàn làm chủ tịch đã ra đời. Tháng 6 năm 1966 Viện Khoa học Xã hội Việt Nam đã công bố áp dụng tạm thời bản: “Quy tắc thuật ngữ khoa học nƣớc ngoài gốc Ấn- Âu”. Nhƣ vậy, vấn đề thuật ngữ đã trở thành đề tài lớn cho các nhà ngôn ngữ nghiên cứu. Từ đó có rất nhiều nhà khoa học Việt Nam nhƣ Nguyễn Văn Tu, Đỗ Hữu Châu, Lê Khả Kế, Lƣu Văn Lăng, Nhƣ Ý, Nguyễn Thiện Giáp, Nguyễn Văn Khang… đã đi sâu nghiên cứu thuật ngữ ở Việt Nam. Có thể nói, những ý kiến của các nhà nghiên cứu đƣa ra về thuật ngữ là khá toàn diện, cụ thể. Trong cuốn “Khái luận ngôn ngữ học” Nguyễn Văn Tu đã định nghĩa: “Thuật ngữ là từ hoặc nhóm từ dùng trong ngành khoa học, kỹ thuật, chính trị, ngoại giao, nghệ thuật… và có một ý nghĩa đặc biệt biểu thị chính xác các khái niệm và tên các sự vật thuộc ngành nói trên” [35, tr 176]. Và ông cũng đƣa ra nhận định tiếp theo: “Thuật ngữ là những từ hoặc cụm từ cố định để chỉ những khái niệm của một ngành khoa học nào đó, ngành sản xuất 12 và ngành văn hoá nào đó…. Đặc điểm của thuật ngữ là những từ chỉ có một nghĩa, không có từ đồng nghĩa, không có sắc thái tình cảm, có thể có tính chất quốc tế tuỳ từng ngành” [36, tr 114]. Năm 1962 trong cuốn “Giáo trình Việt ngữ, tập 2” Đỗ Hữu Châu đã nhấn mạnh đặc điểm của thuật ngữ không chỉ biểu thị khoa học mà còn chỉ tên sự vật, một hiện tƣợng khoa học nhất định: “Thuật ngữ là những từ chuyên môn được sử dụng trong phạm vi một ngành khoa học, một nghề nghiệp hoặc một ngành kỹ thuật nào đấy. Có thuật ngữ của ngành vật lý, ngành hoá học, toán học, thương mại, ngoại giao… Đặc tính của những từ này là phải cố gắng chỉ có một nghĩa, biểu thị một khái niệm hay chỉ tên một sự vât, một hiện tượng khoa học nhất định” [4, tr 167]. Cũng tƣơng tự nhƣ nhận xét trên, nhà nghiên cứu Lƣu Văn Lăng, Nguyễn Nhƣ Ý cũng đã định nghĩa về thuật ngữ nhƣ sau: “Thuật ngữ là bộ phận ngôn ngữ (từ vựng) biểu đạt các khái niệm khoa học, kỹ thuật, chính trị, tức là ngững lĩnh vực xã hội đã được tổ chức một cách có trí tuệ” [20, tr 144]. Có thể nói quan niệm về thuật ngữ của các nhà khoa học Việt Nam cơ bản thống nhất với quan niệm về thuật ngữ của các nhà khoa học trên thế giới. Đặc biệt trong ý kiến của Nguyễn Văn Tu, ông còn phát hiện ra tính quốc tế của thuật ngữ. Điều đó thể hiện rất đúng trong thời đại hiện nay- thời đại toàn cầu hoá, tính quốc tế trong ngôn ngữ không thể thiếu đƣợc. Tính quốc tế trong ngôn ngữ giúp cho quan hệ ngoại giao, du lịch, thƣơng mại giữa các nƣớc trở nên thuận tiện. Sau này các nhà nghiên cứu nhƣ Đái Xuân Ninh, Nguyễn Đức Dân, Nguyễn Quang và Vƣơng Toàn đã nhấn mạnh tính chính xác của thuật ngữ: “Thuật ngữ là một từ hoặc cụm từ biểu đạt chính xác khái niệm của một chuyên môn nào đó. Thuật ngữ nằm trong hệ thống từ vựng chung của một ngôn ngữ nhưng chỉ tồn tại trong một hệ thống thuật ngữ cụ thể, nghĩa là nó chỉ được dùng trong ngôn ngữ chuyên môn. Toàn bộ các thuật ngữ của một 13 lĩnh vực sản xuất, hoạt động, tri thức tạo nên một lớp từ đặc biệt tạo thành một hệ thống thuật ngữ” [23, tr 64]. Năm 1983, Hoàng Văn Hành còn nêu thêm một đặc điểm của thuật ngữ: “Thuật ngữ là những từ dùng để biểu thị một khái niệm xác định thuộc hệ thống thuật ngữ của các ngành khoa học hợp thành vốn thuật ngữ của ngôn ngữ” [15, tr 26]. Ý kiến của Nguyễn Thiện Giáp cũng tƣơng tự nhƣ trên: “Thuật ngữ là những bộ phận từ ngữ đặc biệt của ngôn ngữ.. Nó bao gồm những từ và cụm từ cố định, là tên gọi chính xác của các loại khái niệm và các đối tượng thuộc lĩnh vực chuyên môn của con người” [ 12, tr 270]. Nhƣ vậy, quan niệm về thuật ngữ của các nhà nghiên cứu ngôn ngữ Việt Nam cơ bản thống nhất với quan niệm thuật ngữ của các nhà nghiên cứu thuật ngữ trên thế giới. Một vấn đề nữa mà các nhà nghiên cứu ngôn ngữ nói đến có liên quan đến thuật ngữ là danh pháp. 1.1.3. Phân biệt thuật ngữ và danh pháp. Để phân biệt thuật ngữ và danh pháp, Vinocua, một nhà khoa học Xô Viết đã chỉ ra rằng:“Khác với thuật ngữ, danh pháp mang tính trừu tuợng, ước lệ, võ đoán, và công dụng duy nhất của nó là tạo ra những phương tiện thuận lợi nhất về mặt thực tiễn để biểu đạt những sự vật không có quan hệ trực tiếp với những nhu cầu của tư duy lí luận lấy sự vật làm căn cứ” [ 39, tr 8]. Một nhà khoa học nữa của Liên Xô, ông A.A.Rerformatxki cũng có một quan niệm tƣơng tự:“Hệ thuật ngữ trước hết gắn với một hệ thống khái niệm của một khoa học cụ thể, còn danh pháp chỉ dán nhãn cho đối tượng của nó và pháp danh không có quan hệ trực tiếp với khái niệm khoa học” [73, tr 47]. Nhƣ vậy thuật ngữ khác với danh pháp ở chỗ nó đƣợc xây dựng trên mối quan hệ với các hệ thống khoa học, đƣợc biểu đạt hợp lí bằng các đơn vị từ 14 ngữ của một ngôn ngữ, còn danh pháp mang nặng kí hiệu, gọi tên sự vật và hiện tƣợng không có quan hệ trực tiếp logic với bản chất của sự vật mà nó gọi tên. Ví dụ những từ: quản trị du lịch, khách sạn, bồi bàn, du lịch trọn gói, sông núi,…là thuật ngữ, còn tên của khách sạn, sông, núi là gì thì đó là danh pháp nhƣ khách sạn Đồ Sơn, khách sạn Sông Hồng thì từ khách sạn là thuật ngữ, Đồ Sơn, Sông Hồng là danh pháp. Theo Nguyễn Thiện Giáp, cần phân biệt thuật ngữ và danh pháp khoa học. Hệ thuật ngữ trƣớc hết gắn với hệ thống các khái niệm của một khoa học nhất định. Còn danh pháp là toàn bộ những tên gọi đƣợc dùng trong một chuyên môn nào đó, nó không gắn trực tiếp với khái niệm của khoa học mà chỉ gọi tên các sự vật trong khoa học đó mà thôi. Về bản chất danh pháp là tên riêng của các đối tƣợng. Về mặt cấu tạo, thuật ngữ có thể đƣợc cấu tạo trên cơ sở các từ, hoặc các hình vị có ý nghĩa sự vật cụ thể. Nội dung của thuật ngữ ít nhiều tƣơng ứng với ý nghĩa của các từ tạo ra chúng. Còn pháp danh có thể đƣợc quan niệm là một chuỗi kế tiếp nhau của các chữ cái, là một chuỗi các con số hay bất kỳ cách gọi tên võ đoán nào. Tuy vậy, sự tồn tại của danh pháp ít nhiều có liên quan nhất định với hệ thuật ngữ mà nó phục vụ. Và muốn hay không muốn, danh pháp còn cho ngƣời đọc, ngƣời nghe liên tƣởng tới những khái niệm về các sự vật, hiện tƣợng đƣợc biểu đạt qua hệ thuật ngữ. 1.1.4. Đặc điểm chung của thuật ngữ và những yêu cầu khi xây dựng thuật ngữ. a)Tính khoa học + Tính chính xác Nói đến tính khoa học của thuật ngữ là phải nói đến tính chính xác. Thuật ngữ phải phản ánh đƣợc bản chất của các khái niệm. Điều này, 15 AA.Refomatski đã nói rõ trong nhận định của ông:“Các khái niệm biểu thị trong các từ ngữ thông thường chỉ là khái niệm thông thường, còn các khái niệm biểu thị trong thuật ngữ là khái niệm chính xác của một chuyên ngành khoa học nào đó” [73, tr 49- 51]. Cũng vì lẽ đó mà thuật ngữ trong các từ điển đƣợc định nghĩa chứ không giải thích nhƣ từ ngữ thông thƣờng khác. Trong thời đại ngày nay có nhiều ngành nghề khoa học phát triển, vì thế ta phải hiểu đƣợc đặc tính cơ bản của thuật ngữ. Để giúp ngƣời đọc, ngƣời nghe có đƣợc khái niệm chính xác về bất kỳ đối tƣợng khoa học nào, thuật ngữ phải có nhiệm vụ gọi tên, định nghĩa chính xác về khái niệm đó. Có nhƣ vậy mới tránh khỏi cách hiểu sai lệch và sự nhầm lẫn. Quan điểm của Lƣu Văn Lăng về tính chính xác của thuật ngữ nhƣ sau:“Mức chính xác khoa học của thuật ngữ phải thể hiện đúng nội dung khái niệm khoa học một cách rõ ràng, rành mạch. Một thuật ngữ chính xác tuyệt đối không làm cho người nghe hiểu sai, hoặc nhầm lẫn từ khái niệm này qua khái niệm khác” [ 19, tr 40]. Nhƣ vậy tính chính xác của thuật ngữ còn đƣợc thể hiện là từ chỉ có một nghĩa, không có từ đồng nghĩa, không có sắc thái biểu cảm. + Tính hệ thống Thuật ngữ là một bộ phận của ngôn ngữ. Mà ngôn ngữ của bất kỳ một quốc gia nào cũng mang tính hệ thống. Bởi vì thuật ngữ là từ, cụm từ biểu đạt chính xác một khái niệm của một chuyên ngành nào đó. Thuật ngữ phải nằm trong hệ thống từ vựng chung của một ngôn ngữ. Tính hệ thống của thuật ngữ đƣợc thể hiện ở hai phƣơng diện. Đó là trƣờng từ vựng và trƣờng khái niệm. Trƣờng từ vựng chỉ ra mối liên hệ của thuật ngữ với các từ ngữ khác trong vốn từ vựng chung của một ngôn ngữ. Trƣờng khái niệm chỉ ra mối liên hệ giữa một thuật ngữ với các thuật ngữ khác trong cùng một chuyên ngành khoa học. Bởi không có chuyên ngành khoa học nào chỉ tồn tại một khái niệm duy 16 nhất. Vì vậy mỗi thuật ngữ phải thuộc về một hệ thống thuật ngữ của một chuyên ngành khoa học nhất định. Và cũng không thể tách rời từng khái niệm ra để đặt thuật ngữ mà phải hình dung, xác định vị trí của nó trong toàn bộ hệ thống khái niệm. Nhƣ vậy, khi xây dựng hoặc chuyển dịch một thuật ngữ nƣớc ngoài sang tiếng Việt hoặc ngƣợc lại, chúng ta cần chú ý đến tính hệ thống của thuật ngữ. Chúng ta khó có thể tạo ra một cuốn sách hay một từ điển nào mà có thể chứa tất cả các thuật ngữ. Quan trọng là chúng ta phải biết sắp xếp các thuật ngữ vào một hệ thống. Ví dụ trong chuyên ngành du lịch chúng tôi sắp xếp các loại hình du lịch thành một nhóm: cultural tourism du lịch văn hóa (văn hoá) ( du lịch ) ecotourism du lịch sinh thái sea du lịch biển (biển) village tourism ( du lịch) tourism du lịch nông thôn (nông thôn)( du lịch) b) Tính dân tộc Nói về tính dân tộc của thuật ngữ, Lƣu Văn Lăng nêu: “Thuật ngữ dù thuộc lĩnh vực khoa học, chuyên môn nào cũng nhất thiết phải là một bộ phận của từ ngữ dân tộc. Do đó, thuật ngữ phải có tính dân tộc và phải mang màu sắc dân tộc” [ 19, tr 58]. Hơn nữa, ngôn ngữ của một dân tộc là sản phẩm giao tiếp của dân tộc ấy. Cho nên mỗi dân tộc đều có ngôn ngữ riêng của mình và phải biết vận dụng vốn từ ngữ của dân tộc để biểu thị khái niệm khoa học… 17 c) Tính quốc tế Khoa học là tài sản trí tuệ chung của loài ngƣời. Cho nên những khái niệm về các ngành khoa học kỹ thuật và nhiều ngành khác trong lĩnh vực hoạt động chung của con ngƣời là của chung nhân loại. Ví dụ khái niệm trong các ngành khoa học tự nhiên nhƣ Toán, Vật lý, Hoá học… đều thống nhất giữa các quốc gia trên thế giới, không thể có khái niệm toán học ở Nga khác với khái niệm toán học ở Anh. Điều này Nguyễn Thiện Giáp viết:“Thuật ngữ là bộ phận từ vựng đặc biệt biểu hiện những khái niệm khoa học chung cho những người nói thứ tiếng khác nhau. Vì vậy sự thống nhất thuật ngữ giữa các ngôn ngữ là cần thiết và bổ ích. Chính điều này đã tạo nên tính thống nhất của thuật ngữ”[12, tr 247]. Nói đến tính quốc tế của thuật ngữ là ta nghĩ đến đến sự biểu hiện ở hình thức cấu tạo của nó. Đó là các ngôn ngữ dùng các thuật ngữ giống hoặc tƣơng tự nhau, cùng xuất phát một gốc chung. Ví dụ nhƣ từ điện thoại trong tiếng Pháp: telephon, trong tiếng Anh: telephone, tiếng Đức: telephone. Tính quốc tế của thuật ngữ còn biểu hiện cả ở nội dung. Bởi vì thuật ngữ biểu thị những khái niệm khoa học chung cho nên những khái niệm về khoa học khoa học, các ngành nghề khác đều giống nhau ở các quốc gia nhƣ đã nêu trên. Trong thời kỳ hội nhập quốc tế, tính quốc tế trong thuật ngữ đƣợc xem là yếu tố quan trọng nhất trong quan hệ ngoại giao và du lịch. 1.1.5. Quan niệm về thuật ngữ của luận văn. Từ những nghiên cứu về thuật ngữ của các nhà khoa học ngôn ngữ thế giới và Việt Nam, tôi thấy đƣợc những đặc điểm của thuật ngữ nhƣ sau: Thuật ngữ là từ hoặc cụm từ của ngôn ngữ chuyên môn để biểu thị chính xác các khái niệm chuyên môn và các đối tƣợng chuyên môn. Nó là đơn 18 vị từ vựng ngữ nghĩa có chức năng định nghĩa và đƣợc khu biệt một cách nghiêm ngặt bởi các đặc trung nhƣ tính chính xác, tính đơn nghĩa và tính hệ thống, không có hiện tƣợng đồng âm, đa nghĩa trong phạm vi một khoa học hay lĩnh vực tri thức cụ thể. Nó có chức năng đặc biệt là gọi tên và định nghĩa. Thuật ngữ sẽ không còn chính xác nếu nhƣ nó là một từ hay cụm từ đa nghĩa. Ví dụ “Du lịch biển” thì ta phải hiểu là du lịch ở vùng biển mà không thể hiểu khác đƣợc. + Thuật ngữ mang tính dân tộc Ngôn ngữ của dân tộc là sản phẩm giao tiếp của dân tộc đó. Bởi vậy thuật ngữ đƣợc vận dụng vốn từ quí báu, phong phú của dân tộc trong việc đặt và dịch thuật ngữ. Vì thế mỗi dân tộc phải biết sử dụng vốn từ ngữ của dân tộc mình để diễn tả các khái niệm khoa học, kỹ thuật và một số ngành nghề khác trong xã hội. + Thuật ngữ mang tính hệ thống Thuật ngữ là một bộ phận không thể thiếu đƣợc trong vốn từ vựng của mỗi ngôn ngữ. Thuật ngữ phải đƣợc hình thành một cách hệ thống, chú trọng tới đặc tính về hình thái, cú pháp, ngữ nghĩa, ngữ dụng của ngôn ngữ tạo thành nó. + Phân biệt thuật ngữ và các từ thông thường. Thuật ngữ đƣợc cấu tạo nhờ các phƣơng thức cấu tạo ngôn ngữ và đƣợc cấu tạo từ các chất liệu ngôn ngữ cấu tạo nên từ vựng của ngôn ngữ đó. Thuật ngữ không tách biệt hẳn với từ ngữ thông thƣờng. Chúng chỉ tồn tại nhƣ một thuật ngữ trong hệ thống ngôn ngữ của các ngành khoa học, tách ra khỏi hệ thống đó sẽ trở thành từ vựng thông thƣờng. Một khi ngành khoa học trở nên gần gũi đi sâu vào đời sống con ngƣời thì những từ thuật ngữ khoa học cũng 19
- Xem thêm -