Tài liệu Bước đầu khảo sát những đặc điểm ngôn ngữ - văn hóa hai dân tộc hán - việt qua các hình ảnh phong, hoa, tuyết, nguyệt trong những bài thơ đỗ phủ ( trung quốc ) và nguyễn trãi ( việt nam )

  • Số trang: 96 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 869 |
  • Lượt tải: 0
dangvantuan

Tham gia: 02/08/2015

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ----------- TRẦN OANH (CHEN YING) BƢỚC ĐẦU KHẢO SÁT NHỮNG ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ - VĂN HOÁ HAI DÂN TỘC HÁN - VIỆT QUA CÁC HÌNH ẢNH PHONG, HOA, TUYẾT, NGUYỆT TRONG NHỮNG BÀI THƠ ĐỖ PHỦ (TRUNG QUỐC) VÀ NGUYỄN TRÃI (VIỆT NAM) LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC Hà Nội - 2010 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ----------- TRẦN OANH (CHEN YING) BƢỚC ĐẦU KHẢO SÁT NHỮNG ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ - VĂN HOÁ HAI DÂN TỘC HÁN - VIỆT QUA CÁC HÌNH ẢNH PHONG, HOA, TUYẾT, NGUYỆT TRONG NHỮNG BÀI THƠ ĐỖ PHỦ (TRUNG QUỐC) VÀ NGUYỄN TRÃI (VIỆT NAM) Chuyên ngành: Ngôn ngữ học Mã số: 60 22 01 LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:GS. TS. Trần Trí Dõi Hà Nội – 2010 MỤC LỤC MỞ ĐẦU 1. Lý do lựa chọn đề tài …………………………………………......1 2. Đối tƣợng, mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu…………………….....2 3. Phƣơng pháp nghiên cứu…………………………………………......3 4. Kết cấu của khoá luận …………………………………………..........4 CHƢƠNG 1: MỘT CÁI NHÌN ĐỊNH HƢỚNG CHO VIỆC MIÊU TẢ.........…...........6 1.1. Giới thiệu sơ lƣợc về Đỗ Phủ và Nguyễn Trãi……………......…......6 1.1.1. Đỗ Phủ...........................................................................…….…......6 1.1.2.Nguyễn Trãi..............................................................……….……....9 1. 2. Một vài nét chính của tƣ tƣởng nhà Nho..........................................11 1.3. Sự xuất hiện của chữ “Phong” “Hoa” “Tuyết” “Nguyệt” trong thơ của Đỗ Phủ và Nguyễn Trãi.....................................................................13 CHƢƠNG 2: KHẢ NĂNG KẾT HỢP CỦA CÁC TỪ PHONG/ HOA/ TUYẾT/ NGUYỆT TRONG THƠ ĐỖ PHỦ VÀ NGUYỄN TRÃI.......................18 2.1. Khả năng kết hợp của từ Phong, Hoa, Tuyết Nguyệt……………...19 2.1.1. Khả năng kết hợp của từ Phong…………………………………19 2.1.1.1. Kết hợp A+ Phong.....................................................................19 2.1.1.2.Phong + V, Phong kết hợp với động từ......................................23 2.1.1.3.Phong~N, gió kèm theo một hình ảnh khác...............................24 2.1.1.4.Trƣờng hợp Phong V/S, diễn tả thêm một sự vật khác...............26 2.1.1.5. Kết hợp Phong - X.....................................................................27 2.1.2. Khả năng kết hợp của từ hoa .......................................................28 2.1.2.1. Kết hợp A + Hoa.......................................................................28 2.1.2.2. Kết hợp Hoa + V hoặc V + hoa................................................31 2.1.2.3. Kết hợp theo kiểu Hoa ~ N.......................................................32 2.1.2.4. Kết hợp Hoa V/S.......................................................................34 2.1.2.5. Kết hợp Hoa - X........................................................................35 2.1.3. Khả năng kết hợp của từ Tuyết....................................................36 2.1.3.1. Kết hợp A+ Tuyết.....................................................................36 2.1.3.2. Kết hợp Tuyết + V....................................................................37 2.1.3.3. Kết hợp Tuyết ~ N....................................................................38 2.1.3.4. Kết hợp Tuyết V/S....................................................................39 2.1.3.5 Kết hợp Tuyết - X......................................................................39 2.1.4. Khả năng kết hợp của từ Nguyệt .............................................. .41 2.1.4.1. Kết hợp A + Nguyệt ............................................................... .41 2.1.4.2. Kết hợp Nguyệt + V hoặc ( V + nguyệt) ................................ .45 2.1.4.3. Kết hợp Nguyệt ~ N................................................................ .46 2.1.4.4. Kết hợp Nguyệt V/S ................................................................ .47 2.1.4.5. Kết hợp Nguyệt-X................................................................... .47 2.2. Bƣớc đầu nhận xét về kết hợp khác nhau của các từ Phong, Hoa, Tuyết, Nguyệt...................................................................................... .49 Chƣơng 3 : MIÊU TẢ CÁC TỪ PHONG, HOA, TUYẾT, NGUYỆT TRONG THƠ ĐỖPHỦ VÀ NGUYỄN TRÃI THEO GIAI ĐOẠN CUỘC ĐỜI…..….51 3.1. Thơ Đỗ Phủ......................................................................................52 3.1.1. Giai đoạn I - Trước loạn An Lộc Sơn............................................52 3.1.2. Chiến tranh - Thời kỳ ở Trường An...............................................55 3.1.3. Giai đoạn III - Thành Đô..............................................................60 3.2. Thơ Nguyễn Trãi..............................................................................65 3.2.1.Thơ làm trong khi chưa thành công...............................................66 3.2.2. Thơ làm sau khi thành công và làm quan ở triều.........................70 3.2.3. Thơ khi Nguyễn Trãi về ở ẩn.........................................................80 3. 3. Những khác biệt về mặt ngôn ngữ nghệ thuật thể hiện nỗi lòng của Đỗ Phủ và Nguyễn Trãi khi bị cuộc sống và xã hội tác động.................84 KẾT LUẬN………………………………………………………….....86 TÀI LIỆU THAM KHẢO………………………………………….......90 MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài. Trên thế giới, có vạn sự vạn vật giống nhau. Tƣ duy con ngƣời để phản ánh sự vật cũng tƣơng đồng. Chẳng hạn nhìn thấy mặt trời, ai cũng biết là mặt trời, nhƣng khi đi vào ngôn ngữ khác thì nó sẽ khác. Chẳng hạn ngƣời Trung Quốc gọi mặt trời là tài yáng, ngƣời Anh lại gọi là sun. Về mặt ngôn ngữ văn hóa, Việt Nam và Trung Quốc có rất nhiều nét tƣơng đồng và khác biệt mà nếu tìm hiểu kỹ, chúng ta sẽ nhận biết đƣợc nhiều điều bổ ích và thích thú. Chẳng hạn nhƣ trong những bài thơ cổ của tiếng Hán và Hán Việt, thƣờng thấy xuất hiện những khái niệm nhƣ rượu, thơ. Nhƣng cái sự vật liên tƣởng đến nó thì không hoàn toàn giống nhau. Chính nhờ sự không hoàn toàn giống nhau áy mà qua sự nghiên cứu ngôn ngữ, chúng ta có thể thấy văn hóa truyền thống của hai nƣớc có nhiều nét khác. Luận văn của chúng tôi, từ điểm xuất phát ấy, sẽ bƣớc đầu tìm hiểu đặc điểm ngôn ngữ - văn hóa hai dân tộc Hán Việt qua hình ảnh phong, hoa, tuyết, nguyệt trong những bài thơ của nhà thơ Đỗ Phủ (Trung Quốc) và Nguyễn Trãi (Việt Nam). Sở dĩ chúng tôi chỉ khuôn lại ở các từ chỉ phong, hoa, tuyết, nguyệt để Bước đầu khảo sát những đặc điểm ngôn ngữ - văn hóa hai dân tộc Hán Việt qua các hình ảnh phong, hoa, tuyết, nguyệt trong những bài thơ Đỗ Phủ (Trung Quốc) và Nguyễn Trãi (Việt Nam) là vì những từ nói trên là 1 một trong những hình ảnh tiêu biểu nhất của những bài thơ cổ của tiếng Hán và Hán Việt. Với khuôn khổ một luận văn Thạc sỹ, dung lƣợng của nó không cho phép nói tới nhiều hình ảnh khác nhau. Đồng thời, với trình độ có hạn chúng tôi cũng hy vọng từ bƣớc đầu khảo sát này sẽ rút ra bài học cho những khảo sát khác nhau khi có điều kiện trong tƣơng lai. 2. Đối tượng, mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2.1. Đối tượng Đối tƣợng khoa học mà luận văn tự xác định cho mình là những từ Hán và Hán Việt chỉ hình ảnh phong, hoa, tuyết, nguyệt trong một số bài thơ của Đỗ Phủ (Trung Quốc) và Nguyễn Trãi (Việt Nam). Một số bài thơ của Đỗ Phủ đƣợc chúng tôi lấy từ cuốn Thơ Đỗ Phủ do ông Nhƣợng Tống dịch, Nhà xuất bản Thông tin ấn hành năm 1995 . Còn thơ của Nguyễn Trãi, chúng tôi thu thập theo cuốn sách Nguyễn Trãi toàn tập tân biên, Nhà xuất bản Văn Học ấn hành năm 1999. 2.2. Mục đích Thông qua việc tìm hiểu từ ngữ diễn tả các hình ảnh phong, hoa, tuyết, nguyệt của hai tác giả, chúng ta sẽ bƣớc đầu nhận ra những đặc điểm ngôn ngữ - văn hoá của tiếng Hán và Hán Việt. Từ đó chúng ta có thể tiến hành so sánh để tìm hiểu sự tƣơng đồng và khác biệt của ngôn ngữ - văn hóa hai nƣớc. 2.3. Nhiệm vụ 2 Thế giới tƣ duy của mỗi ngƣời đều giống nhau nhƣng sau khi qua ngôn ngữ dân tộc riêng của mình diễn tả nó sẽ khác nhau. Trung Quốc và Việt Nam tuy có nét văn hóa tƣơng đồng, thói quen tƣơng cận, nhƣng trong những bài thơ, bài văn mà hai dân tộc này diễn tả, tuy là miêu tả cùng một sự vật nhƣng nó cũng có thể liên tƣởng đến những sự vật khác. Qua tìm hiểu những sự khác biệt trong ngôn ngữ của hai dân tộc, có thể nhận thấy đƣợc ít nhiều sƣ khác nhau về nền văn hóa. Trong luận văn này chúng tôi sẽ thông qua việc tìm hiểu cách dùng những hình ảnh của các từ phong, hoa, tuyết, nguyệt trong thơ Đỗ Phủ, trong thơ Nguyễn Trãi để từ đó so sánh đặc trƣng từ ngữ, đặc điểm văn hóa của hai dân tộc Trung - Việt. 3. Phương pháp nghiên cứu Để thực hiện đề tài này, luận văn sẽ sử dụng kết hợp một số thủ pháp và phƣơng pháp đƣợc coi trọng trong nghiên cứu ngôn ngữ. Đó là các thủ pháp và phƣơng pháp sau đây: - Phƣơng pháp miêu tả. Phƣơng pháp này là để miêu tả tƣ liệu thu thập đƣợc. Trên cơ sở miêu tả ấy, chúng tôi tiến hành phân loại, phân tích để rút ra những nhận xét của mình. - Thủ pháp thống kê với nhiệm vụ thu thập tƣ liệu phục vụ cho việc miêu tả phân tích. 3 - Thủ pháp so sánh để nhận biết sự giống nhau và khác nhau trong việc sử dụng từ ngữ ở tiếng Hán của Đỗ Phủ và tiếng Hán Việt của Nguyễn Trãi. 4. Kết cấu của khoá luận Luận văn ngoài phần Mở đầu, Kết luận, tài liệu tham khảo, sẽ bao gồm ba chƣơng nhƣ sau: Chương 1: Một cái nhìn định hướng cho việc miêu tả. Trong chƣơng này luận văn sẽ trình bày một số nội dung lý thuyết liên quan đến luận văn. Cụ thể: - Giới thiệu về hai nhà thơ Đỗ Phủ và Nguyễn Trãi và ý thức cũng nhƣ ảnh hƣởng của Nho giáo trong hai ông. Trên cơ sở đó tiến hành tìm ra sự giống nhau và khác nhau có thể có giữa hai nhà thơ. Việc giới thiệu này là nhằm giúp chúng ta tìm nguyên nhân xã hội của sự giống nhau và khác nhau trong việc sử dụng ngôn ngữ của hai nhà thơ. Chương 2: Miêu tả tình hình sử dụng các từ Phong, Hoa, Tuyết, Nguyệt trong thơ Đỗ Phủ và Nguyễn Trãi. Trong chƣơng này luận văn sẽ thu thập những câu thơ có các hình ảnh phong, hoa, tuyết, nguyệt trong thơ Đỗ Phủ và Nguyễn Trãi rồi so sánh về các hình ảnh phong, hoa, tuyết, nguyệt đó. Qua việc kết hợp với các từ hoặc nhóm từ với 5 loại hình thức khác nhau của phong, hoa, tuyết, nguyệt trong đó có một số là trƣờng hợp thƣờng gặp, chúng ta có thể nhìn nhận đƣợc phong cách 4 sáng tác và nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ của hai tác giả. Chương 3: Miêu tả các từ Phong, Hoa, Tuyết, Nguyệt trong thơ Đỗ Phủ và Nguyễn Trãi theo giai đoạn cuộc đời. Về mặt ngữ nghĩa học, mỗi một hình ảnh trong thơ có thể coi là một “ý tƣợng”. “Ý tƣợng” này gồm hai mặt, một mặt là “ý”, tức là tƣ tƣởng thẩm mỹ và tình cảm thẩm mỹ chủ quan của tác giả. Một mặc là “tƣợng”, tức là cái chỉ sự vật bản thân của nó (có thể là cảnh quan, sự vật, tiếng giọng, màu sắc, những sự vật do tƣởng tƣợng do con ngƣời sáng tạo ra) Trong việc sáng tác thơ, theo thói quen thông thƣờng, tác giả thƣờng thông qua miêu tả những hình ảnh để biểu đạt tình cảm của mình. Chƣơng này phân ra từng giai đoạn trong cuộc đời, từng vấn đề cụ thể của hai tác giả để khảo sát và phân tích các hình ảnh phong, hoa, tuyết, nguyệt trong các bài thơ. Từ đó để so sánh và đối chiếu sự tƣơng đồng cũng nhƣ khác biệt về mặt ngôn ngữ nghệ thuật cũng nhƣ nỗi lòng của tác giả bị cuộc sống và xã hội tác động. 5 Chƣơng 1 MỘT CÁI NHÌN ĐỊNH HƢỚNG CHO VIỆC MIÊU TẢ Trong chƣơng này, chúng tôi sẽ tìm hiểu về xã hội, hoàn cảnh cuộc sống của hai ông để giúp cho việc miêu tả và nhận xét tiếp theo. 1.1. Giới thiệu sơ lược về Đỗ Phủ và Nguyễn Trãi 1.1.1 Đỗ Phủ Trong lich ̣ sƣ̉ văn ho ̣c Trung Quố c , mọi ngƣời thƣờng nói đến “Lý Đỗ” là đại diện cao nhất về thành tựu của thơ ca đời Đƣờng (618-907). Trong đó “Lý” là “Thi Tiên” (nhà thơ tiên, ở đây chỉ Lý Bạch). Ông Lý Bạch nổ i tiế ng thế giới. Còn “Đỗ” là “Thi Thánh” (nhà thơ thánh, ở đây chỉ Đỗ Phủ). Đỗ Phủ cũng nổ i tiế ng thế giới nhƣ ông Lý Bạch. Đỗ Phủ sinh vào n ăm 712 sau công nguyên , là cháu của nhà thơ r ất nổ i tiế ng Đỗ Thẩm Ngôn. Tƣ̀ thuở nhỏ Đỗ Phủ đã rất thông minh và chịu khó học tâ ̣p. Sinh ra trong gia đình có truyền thống văn hóa văn học, từ 7 tuổ i, Đỗ Phủ đã biết làm thơ . Sau khi trƣởng thành ông thông tha ̣o thƣ pháp , hô ̣i ho ̣a, âm nhạc, cƣỡi ngƣ̣a và chơi gƣơm. Thật là một ngƣời đƣợc dạy dỗ trong nhà danh gia vọng tộc. Thời thanh niên, Đỗ Phủ cho r ằng mình có tài ba lỗi la ̣c và chí hƣớng to lớn hơn ngƣ ời nên năm 19 tuổ i, ông bắt đầu ngao du kh ắp thiên ha ,̣ 6 số ng cuô ̣c số ng lañ g ma ̣n, ăn chơi lông bông. Quãng thời gian đó chính là thời kỳ phồn vinh hƣng th ịnh nhấ t của đời Đƣờng. Đỗ Phủ đã th ăm nhiề u danh lam thắng cảnh, nhờ đó kiế n thƣ́c c ủa ông ngày càng rô ̣ng lớn . Cũng nhờ đó ông viế t ra nh ững câu thơ nổ i tiế ng cho t ới hàng nghiǹ n ăm nhƣ là “ Hội đương lăng tuyê ̣t đỉnh, nhấ t lãm chúng sơn tiểu”. Giố ng nhƣ nhiề u nhà thơ c ổ văn khác ở Trung Quốc, Đỗ Phủ cũng mong đi lên theo con đƣờng làm quan . Ông không ngƣ̀ng làm thơ và tham gia hoa ̣t động giao lƣu với gi ới quyề n quý , tham gia khoa cƣ̉ , nhƣng bi ̣thấ t ba ̣i nhiề u lầ n. Khi về trung niên, Đỗ Phủ sống cuộc sống nghèo khó ở Trƣờng An , thủ đô nhà Đƣờng lúc bấy giờ. Ông tâ ̣n mắt nhìn thấ y tình hình kẻ quyề n quý ăn chơi xa xỉ và cảnh thê thảm ngƣời nghèo chiụ rét , chế t đói trên đƣờng phố Trƣờng An. Ông viế t ra lời r ăn “Chu môn tửu nhục xú , Lộ hữu đống tử cốt”. Trải qua sự ngã lòng trầm luân trên con đƣờng mong m ỏi làm quan và cuô ̣c số ng đói rét khổ cực, Đỗ Phủ nhận thức đƣợc sƣ̣ hủ bại của kẻ thống trị và nỗi đau khổ của nhân dân lao động. Điều đó khiế n ông dầ n dầ n trở thành mô ̣t nhà thơ lo viê ̣c nƣớc lo viê ̣c dân. Năm 755 sau công nguyên, Đỗ Phủ 43 tuổ i và cũng đƣợc nhậm một chức quan nhƣng chỉ mô ̣t tháng sau, đời Đƣờng xảy ra phiế n loa ̣n chiế n tranh . Sau đó, phiế n loa ̣n chiế n tranh x ảy ra không ngƣ̀ng . Trong thời kỳ này , Đỗ Phủ 7 trôi da ̣t đó đây, trải qua nhiều gian nan, có nhận thức tỉnh táo hơn đối với hiện thƣ̣c xã h ội. Ông đã viế t các bài thơ nổ i tiế ng nhƣ “ Thạch Hào lại ”, “Đồng Quan lại ”, “Tân An lại ”, “Tân Hôn biê ̣t ”, “Thùy Lão biệt ” và “ Vô Gia biê ̣t ”, bày tỏ lòng đồng tình sâu sắc đối với nhân dân lao đ ộng và bày tỏ sự phẫn nô ̣ của nhà thơ đối với chiế n tranh. Năm 759 sau công nguyên, Đỗ Phủ thất vọng sâu s ắc đối với chính trị nên tƣ̀ quan về vƣờn. Lúc bấy giờ, Trƣờng An đang bi ̣ha ̣n hán, Đỗ Phủ nghèo đến nỗi không thể sống nổi , bèn dẫn ngƣời nhà lƣu vong đến Thà nh Đô ở miề n tây nam Trung Quố c bây gi ờ. Đƣợc sự cứu tế của bạn bè , Đỗ Phủ sống cuô ̣c số ng ở ẩ n trong bốn năm. Trong tình hình nghèo khó , Đỗ Phủ viết ra bài thơ “Lề u tranh bi ̣ cơn gió mùa thu phá hoại”, miêu tả hoàn cảnh khốn khổ của cả gia đình và từ sự tƣ̀ng trải thiế t thân của mình nghi ̃ đến cảnh ngộ của ngƣời khác, khát khao có hàng chục triệu c ăn nhà để giúp mọi ngƣời nghèo chịu rét chịu đói trong thiên hạ đƣợc thoát khỏi nỗi đau khổ . Thâ ̣m chí ông muố n hy sinh cá nhân để đổi lấy nụ cƣời của mọi ngƣời nghèo trong thiên hạ . Những bài thơ ông vi ết vào giai đoạn này có tình cảm sâu th ẳm, thể hiê ̣n tinh thầ n cao cả của nhà thơ đối với nhân dân. Năm 770 sau công nguyên, Đỗ Phủ 59 tuổ i và mấ t trên đƣờng lƣu vong phiêu bạt bởi bầ n cùng và bê ̣nh tâ ̣t . Đỗ Phủ để lại hơn 1400 bài thơ, phản ánh 8 sâu sắc, toàn diện diện mạo xã hội nhà Đƣờng trong hơn 20 năm phiế n loa ̣n chiế n tranh , tƣ̀ thời kỳ phồn vinh đến thời kỳ suy sụp . Các áng v ăn hoành tráng nhƣ sử thi . Thơ của Đỗ Phủ có kết cấu đa da ̣ng. Ông ho ̣c tâ ̣p ƣu điể m của ngƣời khác , dung hơ ̣p hiǹ h thƣ́c kể chuyê ̣n , ký sự, trƣ̃ tiǹ h và biǹ h luâ ̣n . Thơ ông có nô ̣i dun g sâu rô ̣ng , tình cảm chân thành nồng nàn . Về mặt nghê ̣ thuâ ̣t, ông không nhƣ̃ng thu góp la ̣i cái hay của thơ ca cổ điể n, mà còn sáng tạo và phát triển , đã mở rộng lĩnh vực thơ ca về m ặt nô ̣i dung và hiǹ h thƣ́c , ảnh hƣởng sâu rô ̣ng tới nhiều đời sau. 1.1.2 Nguyễn Trãi. Nguyễn Trãi (1380-19.9.1442), hiệu Ức Trai, quê ở xã Chi Ngại, lộ Lạng Giang (nay thuộc huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dƣơng); sau dời đến làng Ngọc Ôỉ, xứ Sơn Nam Thƣợng, huyện Thƣợng Phúc (nay thuộc xã Nhị Khê, huyện Thƣờng Tín, tỉnh Hà Tây cũ). Ông cũng xuất thân trong một gia đình Nho học: cha là Nguyễn Ứng Long, tức Nguyễn Phi Khanh (1356-1429); ông ngoại của ông là ông Trần Nguyên Đán (1325-1390) là tiến sĩ, nhà thơ và Tể tƣớng cuối triều Trần. Hơn nữa, ông vốn là ngƣời tài trí, thi đậu Thái học sinh (Tiến sĩ) vào năm Canh Thìn (1400) và đƣợc triều Hồ trao giữ chức Ngự sử đài chánh chưởng khi mới tròn 20 tuổi. Nguyễn Trãi hội đủ điều kiện để có thể dấn thân gánh vác những trọng trách 9 lớn lao và góp phần giải quyết những thách thức đang đặt ra đối với toàn dân tộc Việt Nam. Trải qua nhiều năm tháng tìm đƣờng cứu nƣớc, bƣớc chân trải khắp dặm dài xứ sở, đặc biệt là quãng đời mƣời năm gian khổ “nếm mật năm gai” gắn bó với cuộc khởi nghĩa Lam Sơn cho đến ngày toàn thắng, Nguyễn Trãi đã tỏ rõ bản lĩnh, khí phách và tinh thần Đại Việt, trở thành nguồn sáng phẩm chất và tinh hoa của dân tộc Việt Nam. Nguyễn Trãi là nhà văn hóa xuất sắc của Việt Nam trên các tƣ cách khác nhau: anh hùng dân tộc, nhà văn, nhà tƣ tƣởng, nhà chính trị - quan chức, nhà ngoại giao, nhà sử học và địa lý học. Về hoạt động xã hội, ông là bậc khai quốc công thần một lòng đắp xây vƣơng triều Lê trong buổi ban đầu. Sau đại thắng Mậu Thân, Nguyễn Trãi đã viết một số tác phẩm trong đó có “Bình Ngô đại cáo”, “Phú núi Chí Linh”, “Lam Sơn Vĩnh Lăng Thần đạo bi” và “Băng Hồ di sự lục” v.v rất nổi tiếng. Thơ ca của ông có lẽ đƣợc sáng tác chủ yếu vào thời gian sau chiến tranh. Tập thơ chữ Hán Ức Trai thi tập gồm 105 bài nằm trong dòng chảy thơ Đƣờng truyền thống và trong hệ quy chiếu chung của mỹ học thời đại phong kiến Nho giáo. Riêng ông còn có tập thơ Quốc âm thi tập bằng chữ Nôm gồm 254 bài nữa. Quốc âm thi tập còn có ý nghĩa là sự phá cách, cách tân, khắc phục khuynh hƣớng quy phạm, mở rộng cảm quan sáng tạo thi ca, đặc biệt trong cách diễn tả thế giới thiên nhiên và nội tâm con ngƣời bằng ngôn ngữ và âm điệu tâm hồn dân tộc. 10 Cũng vào thời kỳ hậu chiến, Nguyễn Trãi đã đƣợc ban họ vua, đƣợc phong tƣớc Quan Phục hầu và giữ chức Nhập nội Hành khiển kiêm Lại bộ Thƣợng thƣ. Ông tiếp tục soạn thảo nhiều chế, chiếu ban bố trong nƣớc và các thƣ, biểu bang giao với nhà Minh. Ngoài ra, ông còn biên soạn bộ sách Dư địa chí và Luật thư, nêu một số ý kiến tranh luận về luật hình, âm nhạc và quan niệm về nền văn hiến dân tộc. Theo nhiều nguồn tƣ liệu khác nhau, ngƣời ta còn nói rằng Nguyễn Trãi còn là tác giả của Lam Sơn thực lục, Ngọc đường di cảo, Gia huấn ca v.v. Đáng tiếc rằng vụ án Lệ Chi Viên oan khiên với hình thức tru di tam tộc mà Nguyễn Trãi phải gánh chịu đã làm mất đi những tác phẩm này. Vụ án chính là hệ quả tất yếu của những cuộc tranh giành ngôi thứ, bè phái nảy sinh vào thời hậu chiến trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể lúc bấy giờ. Đó cũng chính là hậu quả, là nghịch lý khôn lƣờng của tấm lòng ngay thẳng, của tinh thần dấn thân cho đất nƣớc, dám nói thẳng nói thật, thể hiện một nhân cách lịch sử sáng soi kim cổ ngàn đời của ông. 1. 2. Một vài nét chính của tư tưởng nhà Nho Để hiểu về thơ Đỗ Phủ và Nguyễn Trãi, xin nhắc lại một vài nét chính về tƣ tƣởng nhà Nho. Trong tƣ tƣởng nhà Nho, đƣợc ngƣời ta coi trọng là làm ngƣời quân tử, làm ngƣời chính danh nên ngƣời ta kiên trì nhân chính tu thân. Quân tử muốn tu thân thì phải hiếu học. Ham học hỏi nghiên cứu thì sẽ 11 khôn ngoan hiểu biết. Hễ học thì phải thực hành. Cái việc học tập của ngƣời quân tử cũng giống nhƣ công việc của ngƣời thợ làm ngọc, luôn luôn mài dũa trau chuốt mới có ngọc quí. Làm ngƣời quân tử là phải đem ra giúp dân giúp nƣớc, kinh bang tế thế. Cho nên khi ngƣời quân tử cầm quyền thì tôn chỉ phải là sửa đổi con ngƣời và sửa đổi xã hội. Sửa đổi con ngƣời để xã hội hoàn thiện hơn, đồng thời sửa đổi xã hội để con nguời đƣợc hạnh phúc hơn. Đó là hai công việc song hành và phải đƣợc tôn trọng nhƣ nhau, không đƣợc xem nhẹ bên nào. Cho nên bậc cai trị phải luôn tu thân mới đủ tƣ cách dẫn đạo dân chúng. Nhờ tu thân mà tâm hồn trong sạch, tác phong hợp lễ giáo, đạo đức tràn đầy. Nhà cai trị lẫn nhân dân đều phải xem việc tu thân làm gốc. Bậc cai trị phải có lòng nhân, tức là phải yêu thƣơng dân, vui cái vui của dân và lo cái lo của dân. Thực ra là phải lo trƣớc cái lo của dân và vui sau cái vui của dân. Bậc cai trị phải lấy dân làm gốc và phải tâm niệm rằng: quý nhất là dân, sau đó là quốc gia, và thấp nhất là nguời cai trị (民為貴社稷次之君 為輕 Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh). Cho nên ngƣời cai trị trƣớc hết phải mƣu cầu hạnh phúc cho nhân dân. Muốn vậy, phải biết trọng hiền tài, vời họ ra giúp dân giúp nƣớc. Nếu không tin vào bậc hiền tài thì nƣớc trống không, nếu không có lễ nghĩa thì nƣớc sẽ loạn. Nhờ chính sách chiêu hiền đãi sĩ, kẻ sĩ trong nƣớc không bỏ nƣớc mà đi, kẻ hiền tài ở xa xôi hâm mộ mà quy 12 phục. Nhƣ vậy quốc gia mới mau phú cƣờng, nhân dân mới chóng hạnh phúc. Một chính quyền tốt phải áp dụng nhân trị (仁治, dùng nhân đức để thu phục ngƣời dân), nếu dùng bạo lực cƣờng quyền thì dân bất đắc dĩ phải tuân theo nhƣng lòng dân chẳng phục. Nhƣ vậy, Nho giáo quan niệm rất rõ ràng về con ngƣời xã hội. Mỗi cá nhân chính là phần tử bất khả phân của xã hội. Cho nên mỗi cá nhân phải có trách nhiệm với xã hội. Rõ ràng cuộc sống con ngƣời đâu phải là rỗng tuếch vô vị. Một mặt, con ngƣời phải tự sửa đổi mình (tu thân). Chính sự tự sửa đổi đó đƣa con ngƣời đến một giá trị tôn quí siêu việt hơn giống cầm thú. Và chính sự sửa đổi đó là nguồn gốc của văn minh của tiến bộ. Nhƣng mặt khác, con ngƣời phải sửa đổi xã hội, bằng cách sửa đổi lẫn nhau, sao cho những con ngƣời chỉ biết sống bằng bản năng (tiểu nhân) tiến hóa lên con ngƣời văn minh (quân tử). Nếu đƣợc vậy thì thiên hạ mới thái bình. Cả Đỗ Phủ và Nguyễn Trãi đều là nhà Nho. Cho nên hai ông đều lấy đạo quân tử làm gốc. Nhƣng đạo quân tử của ông Đỗ Phủ là đạo quân tử Trung Hoa đời Đƣờng, một triều đại vừa có thịnh vừa có suy. Còn đạo quân tử của Nguyễn Trãi là đạo quân tử của ngƣời Đại Việt, đạo quân tử của một ngƣời muốn xây dựng vƣơng triều vững mạnh sau một cuộc chiến tranh. 1.3. Sự xuất hiện của chữ “Phong”, “Hoa”, “Tuyết”, “Nguyệt” trong thơ của Đỗ Phủ và Nguyễn Trãi. 13 Phong, hoa, tuyết, nguyệt là bốn chữ hay bốn từ chỉ bốn hình ảnh thƣờng gặp nhất trong tự nhiên. Chính vì thế chúng đƣợc các nhà thơ dù là nhà thơ cổ hay nhà thơ hiện nay ƣa thích sử dụng trong sáng tác. Trong quá trình sáng tác, những nhà thơ nhất là nhà thơ quân tử thƣờng gắn hình ảnh này với tình cảm riêng của mình. Hơn thế nữa, khi phong, hoa, tuyết, nguyệt gắn liền với từ khác thành một từ thì ý nghĩa của nó lại khác. Xuất xứ ban đầu của phong, hoa, tuyết, nguyệt là nhƣ sau. Trong cuốn sách "Doãn xuyên kích nương tập" của Thiệu Ung nhà Tống có câu đại thể: dù sống chết vinh nhục, chuyển chiến dƣ tiền, từng chƣa đi vào lòng, mà chẳng khác gì nháy qua một mắt về phong hoa tuyết. Giải thích: Trƣớc đây chuyên chỉ cảnh vật tự nhiên. Sau đó hình dung bài thơ thiếu nội dung, đơn giản lập lại các từ. Cũng chỉ chuyện tình yêu hoặc cuộc sống hoang dâm với sắc rƣợu hàng ngày. Nhƣ vậy, ý nghĩa của phong, hoa, tuyết, nguyệt thực chất rất đa dạng. Chính vì thế, trong luận văn này, chúng ta chọn chúng để thử phân tích và nghiên cứu những đặc trƣng hay đặc điểm nổi bật trong tác phẩm thơ của Đỗ Phủ và Nguyễn Trãi - hai nhà thơ vĩ đại lại mang đậm tƣ tƣởng nhà Nho của Trung Quốc và Việt Nam. Thông qua tác phẩm của hai ông, chúng ta có thể thấy sự đa dạng của những từ này nhƣ thế nào. Trong cuộc đời của ông Đỗ Phủ, ông đã sáng tác đƣợc hơn 1000 bài thơ. 14 Nội dung và hình thức thơ của ông phong phú và đa dạng, rất đƣợc ngƣời dân đời sau ca ngợi và bắt chƣớc. Ở đây, chúng tôi chỉ chọn cuốn “Thơ Đỗ Phủ toàn tập” do ông Phƣơng Chu Tử biên soạn gồm 463 bài thơ thƣờng gặp của Đỗ Phủ để nghiên cứu miêu tả. Cuốn sách này tính theo niên đại để biên soạn, gồm 20 tập. Theo thông kê, trong 436 bài thơ ở đây, chữ Phong có xuất hiện 210 lƣợt, chữ Hoa xuất hiện 115 lƣợt, chữ Tuyết xuất hiện 59 lƣợt, còn chữ Nguyệt xuất hiện 101 lƣợt. Về thơ Nguyễn Trãi, “Quốc âm thi tập” của Nguyễn Trãi hiện còn 254 bài thơ, đƣợc chia nhiều loại, nhiều thể tài khác nhau: Ngôn chí (21 bài), Thuật hứng (25 bài), Tự thán (41 bài), Báo kính cảnh giới (61 bài) .v.v… . Các bài thơ trong “Bảo kính cảnh giới” hàm chứa nội dung giáo huấn trực tiếp, nhƣng rất đậm chất trữ tình, cho ta nhiều thú vị. Phần lớn các bài thơ trong “Quốc âm thi tập” không có nhan đề. Ở đây chúng tôi chỉ nghiên cứu 105 bài thơ chữ Hán trong cuốn sách “Nguyễn Trãi toàn tập tân biên” gồm hai phần Ức trai thi tập và phần Tồn nghi. Trong 105 bài này, chữ Phong xuất hiện 35 lƣợt, chữ Hoa xuất hiện 25 lƣợt, chữ Tuyết xuất hiện 10 lƣợt, và chữ Nguyệt xuất hiện 35 lƣợt. Về từ Phong. Trong các bài thơ Đỗ Phủ phong nghĩa là gió của tự nhiên đồng thời cũng đƣợc hình dung chỉ phong tục, phong nhã, có khi đƣợc nâng lên thành một phẩm chất. Khi là gió, nó có hƣớng đi, có lúc ào ạt, lúc hiu hiu, 15
- Xem thêm -