Tài liệu Biện pháp quản lý xã hội hóa giáo dục của hiệu trưởng trường trung học cơ sở ở thành phố bắc ninh, tỉnh bắc ninh

  • Số trang: 113 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 72 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 27125 tài liệu

Mô tả:

1 ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM -------------------------------------- CHU VĂN QUÝ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ XÃ HỘI HOÁ GIÁO DỤC CỦA HIỆU TRƢỞNG TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ Ở THÀNH PHỐ BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC Thái Nguyên , năm 2013 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 2 ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM -------------------------------------- CHU VĂN QUÝ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ XÃ HỘI HOÁ GIÁO DỤC CỦA HIỆU TRƢỞNG TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ Ở THÀNH PHỐ BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC Mã số: 60.14.01.14 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: GS.TS NGUYỄN QUANG UẨN Thái Nguyên , năm 2013 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 3 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Do những thay đổi về chức năng và cơ chế phát triển giáo dục gắn liền với trình độ phát triển cao của nền kinh tế, xã hội và của các lĩnh vực khác, giáo dục trên thế giới đang diễn ra những xu hướng mới cần được nhận thức đầy đủ và sâu sắc, đó là: Xu hướng đại chúng hóa, xu hướng đa dạng hóa, các loại hình và phương thức giáo dục đào tạo, phát triển đào tạo từ xa qua mạng; sự thay đổi chức năng và mô hình của các cơ sở giáo dục đào tạo. Xu hướng toàn cầu hóa, khu vực hóa, hội nhập và hợp tác cùng với cạnh tranh của quốc tế về giáo dục đào tạo tăng lên. Xu hướng đẩy mạnh xã hội hóa kết hợp công - tư trong phát triển giáo dục đào tạo được đẩy mạnh. Giáo dục cho người lớn trở thành một nhu cầu ngày càng tăng, hình thành nhu cầu học tập suốt đời, mà nhà trường với phương thức đào tạo truyền thống không đáp ứng có hiệu quả… Những xu hướng trên đang hoặc hầu như tất cả các nước phải đổi mới và hiện đại hóa hệ thống giáo dục. Để thực hiện thành công khâu đột phá chiến lược "phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao" trong giai đoạn mới, Việt Nam không thể nằm ngoài các xu hướng này. Cần làm rõ nội dung xã hội hóa giáo dục trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, góp phần nâng cao nguồn nhân lực hiện nay và nhằm cung cấp căn cứ khoa học cho đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đào tạo đang là vấn đề hết sức cần thiết. Xã hội hoá giáo dục (XHHGD) là một tư tưởng, chiến lược, XHHGD là một bộ phận của đường lối giáo dục và cũng là con đường phát triển giáo dục ở nước ta. Trong đó huy động sự tham gia cúa các tổ chức, cá nhân, cơ sở sản xuất,…làm giáo dục là một cách làm, một biện pháp quan trọng và là con đường Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 4 để XHHGD. Quản lý công tác XHHGD giữ vai trò Chủ đạo, quyết định hiệu quả của công tác XHHGD. XHHGD là thực hiện nghị quyết của Đảng về công tác giáo dục, với quan điểm lấy con người làm “trung tâm của sự phát triển”; giáo dục và đào tạo là: “quốc sách hàng đầu”, “huy động toàn xã hội làm giáo dục”, từ đó động viên các tầng lớp nhân dân góp sức xây dựng nền giáo dục quốc dân dưới sự quản lý của Nhà nước Với quan điểm : "Giáo dục là sự nghiệp của quần chúng”. Công việc giáo dục thế hệ trẻ trở thành những người lao động có tri thức, có năng lực đáp ứng sự phát triển của nền kinh tế - xã hội (KT- XH) không chỉ là trách nhiệm của ngành giáo dục mà là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân. Phải có sự tham gia tích cực và sự phối hợp chặt chẽ của toàn xã hội. Sự tham gia phối hợp ấy phải được tiến hành có tổ chức, khoa học và thường xuyên thì mới có hiệu quả. Thể chế hóa việc thực hiện XHHGD ở địa phương có nhiều cách: Thể chế hóa bằng nghị quyết của các cấp ủy Đảng, nghị quyết Đại hội của cộng đồng; thể chế hóa bằng chỉ thị của chính quyền Nhà nước. Qua đó, xã hội nhận thức đúng đắn vị trí, vai trò và thực trạng của giáo dục địa phương, đồng thời hiểu rõ trách nhiệm của xã hội đối với giáo dục. XHHGD làm cho giáo dục phù hợp với sự phát triển của xã hội, phục vụ sự phát triển KT- XH ở địa phương. XHHGD tạo ra nhiều nguồn, làm cho giáo dục không đơn độc, thực hiện tốt việc kết hợp giáo dục trong nhà trường và ngoài nhà trường, tạo ra môi trường giáo dục tốt, thuận lợi cho việc thực hiện các mục tiêu giáo dục. XHHGD nhằm mục tiêu "giáo dục cho mọi người”. Để thực hiện mục tiêu đó thì mọi người phải làm giáo dục. XHHGD và dân chủ hóa giáo dục có mối liên hệ chặt chẽ và quan hệ biện chứng với nhau. Dân chủ hóa nhà trường, dân chủ hóa quá trình quản lý giáo dục là một trong những nội dung quan trọng của các cơ sở giáo dục, các nhà trường. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 5 XHHGD là một con đường để thực hiện dân chủ hóa giáo dục. XHHGD tạo điều kiện để mọi người trong xã hội tham gia quản lý, xây dựng nhà trường (NT). XHHGD là một động lực nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Đó là công việc “trồng người” của mỗi gia đình (GĐ), mỗi dòng họ, mỗi làng xã và của toàn xã hội (XH) . Thực tiễn lịch sử nước ta cho thấy lĩnh vực giáo dục được thực hiện theo tinh thần xã hội hóa rất sớm (từ phong trào “Diệt giặc dốt”; thực hiện sắc lệnh về bình dân học vụ đến thực hiện nghị quyết số 05/2005/NQ-CP ngày 18 tháng 4 của chính phủ), công tác XHHGD tiếp tục đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Tuy nhiên, công tác quản lý XHHGD trên phạm vi cả nước cũng bộc lộ một số hạn chế, nhiều tình trạng tự phát trong giáo dục, quản lý thiếu đồng bộ, chất lượng giáo dục toàn diện có biểu hiện xuống cấp. Giáo dục và đào tạo chưa phát huy được 3 lực lượng chủ thể nòng cốt: GĐ - NT- XH. Trên địa bàn thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh công tác quản lý XHHGD đã có nhiều điểm tích cực, nổi bật như: đã xây dựng được cơ chế phối kết hợp trách nhiệm giữa các lực lượng XH, GĐ và NT; thực hiện phổ cập giáo dục THCS, củng cố và phát huy truyền thống học tập của từng địa phương; đã tạo thêm nguồn đầu tư về cơ sở vật chất; huy động được các tổ chức chính trị xã hội tham gia xây dựng giáo dục và thực hiện kế hoạch phát triển giáo dục địa phương…. Bên cạnh đó, công tác quản lý XHHGD cũng bộc lộ nhiều vấn đề hạn chế cần có biện pháp tháo gỡ kịp thời như: tình trạng tự phát trong giáo dục, quản lý thiếu đồng bộ, chất lượng giáo dục toàn diện có biểu hiện xuống cấp; quản lý XHHGD chưa phát huy được tác động tích cực của mối quan hệ biện chứng giữa GĐ - NT- XH; quản lý nguồn tài lực vật lực XHHGD chưa thật sự công khai, dân chủ và tình trạng khoảng cách cách xa về cở sở vật chất giữa trường Trung tâm Thành phố với trường xã của Thành phố dẫn tới chạy trường chạy lớp do hậu quản lý XHHGD mang lại mới chỉ được đề xuất và áp dụng giải Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 6 quyết bằng giải pháp tình thế. Hơn nữa, từ tháng 7 năm 2007 thành phố Bắc Ninh mở rộng địa giới, quản lý giáo dục cũng có sự thay đổi. Công tác XHHGD và quản lý XHHGD của Hiệu trưởng cấp học THCS còn nhiều bất cập và chưa có giải pháp hữu hiệu giúp cho quản lý XHHGD THCS có hiệu quả hơn. Trên cơ sở những quan điểm lý luận và thực tiễn nêu trên, bản thân tôi là một cán bộ quản lý, cũng như nhiều cán bộ quản lý cấp THCS khác công tác trên địa bàn thành phố Bắc Ninh luôn băn khoăn trăn trở làm thế nào để quản lý XHHGD trường THCS được hiệu quả hơn. Vì vậy, tôi chọn nghiên cứu: “Biện pháp quản lý XHHGD của hiệu trưởng trường THCS ở thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh hiện nay” làm Đề tài luận văn cho khóa học cao học quản lý giáo dục. 2. Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu lý luận và thực tiễn hoạt động quản lý XHHGD của hiệu trưởng cấp THCS ở thành phố Bắc Ninh, đề xuất một số biện pháp quản lý XHHGD góp phần nâng cao hiệu quả quản lý XHHGD và tăng cường công tác XHHGD ở địa bàn thành phố Bắc Ninh. 3. Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu 3.1. Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng quá trình thực thi các biện pháp quản lý XHHGD của hiệu trưởng cấp THCS ở Thành Phố Bắc Ninh. 3.2. Khách thể nghiên cứu: Quản lý hoạt động XHHGD ở các trường THCS Thành Phố Bắc Ninh. 3.3. Khách thể điều tra: Cán bộ quản lý, giáo viên, cha mẹ học sinh trường THCS Thành phố Bắc Ninh và Chính quyền, đoàn thể và nhân dân ở Thành phố Bắc Ninh. 4. Nhiệm vụ nghiên cứu 4.1. Xây dựng cơ sở lý luận về XHHGD và quản lý công tác XHHGD ở các trường THCS Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 7 4.2. Khảo sát, đánh giá thực trạng XHHGD và thực trạng quản lý XHHGD của Hiệu trưởng trường THCS ở Thành Phố Bắc Ninh, lý giải nguyên nhân và bài học kinh nghiệm trong quản lý XHHGD cấp THCS ở Thành Phố Bắc Ninh . 4.3 Đề xuất các biện pháp quản lý nhằm tăng cường XHHGD của Hiệu trưởng THCS nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo THCS ở Thành Phố Bắc Ninh. 5. Giả thuyết khoa học Việc quản lý XHHGD của Hiệu trưởng THCS ở thành phố Bắc Ninh đã có những kết quả nhất đị nh . Tuy nhiên vẫn còn những tồn tại do nhiều yếu tố chủ quan, khách quan . Nếu xây dựng được các biện pháp quản lý tăng cường XHHGD đáp ứng yêu cầu của phát triển giáo dục THCS ở Thành Phố Bắc Ninh sẽ góp phần huy động tối đa các nguồn lực cho sự phát triển giáo dục THCS trên địa bàn Thành phố Bắc Ninh. 6. Giới hạn phạm vi nghiên cứu Đề tài nghiên cứu vấn đề XHHGD ở cấp trung học cơ sở và quản lý XHHGD THCS của 06 phường (xã) ở Thành phố Bắc Ninh. Thời gian từ 2007 dến 2012 Khách thể điều tra: 168 người gồm 11 lực lượng, trong đó: CBQLGD :12 MTTQ :06 Đoàn TN :06 GVBM :30 Chi ủy :06 Công đoàn :06 PT Đội :06 CMHS :48 Đảng ủy :06 UBND phường(xã) :18 GVCN :24 7. Phƣơng pháp nghiên cứu 7.1. Nhóm Phương pháp nghiên cứu tài liệu lý luận: Phân tích, tổng hợp, khái quát hoá những vấn đề lý luận cơ bản làm đề tài, làm cơ sở cho nghiên cứu thực tiễn các biện pháp nhằm tăng cường công tác XHHGD ở các trường Trung học cơ sở thành phố Bắc Ninh . 7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 8 - Phương pháp điều tra viết bằng phiếu trưng cầu ý kiến - Phương pháp khái quát hóa , trừu tượng hóa , tổng kết kinh nghiệm thực tiễn công tác giáo dục. - Phương pháp khảo sát (phiếu hỏi) - Phương pháp phỏng vấn sâu - Phương pháp giải bài tập tì nh huống (Hệ thống bài tập tình huống) - Phương pháp chuyên gia : lấy ý kiến đóng góp của chuyên gia giáo dục, các nhà quản lý về việc quản lý XHHGD. 7.3. Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học : sử dụng các công thức toán thống kê để xử lý kết quả khảo sát: - Tính tần suất, tỷ lệ % - Tính điểm trung bình X - Thứ bậc, độ lệch chuẩn, phương sai,… - Tính một số hệ số tương quan 8. Kết cấu của đề tài Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, danh mục các tài liệu tham khảo, phụ lục, Luận văn được trình bày trong 3 chương: Chương 1. Cơ sở lý luận về quản lý XHHGD ở trung học cơ sở Chương 2. Thực trạng công tác XHHGD và quản lý XHHGD THCS ở Thành Phố Bắc Ninh từ năm 2007 đến nay Chương 3. Đề xuất Các biện pháp quản lý XHHGD của hiệu trưởng trường THCS ở Thành Phố Bắc Ninh. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 9 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ XÃ HỘI HOÁ GIÁO DỤC Ở TRUNG HỌC CƠ SỞ 1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1.1.1 Nghiên cứu xã hội hóa giáo dục ở nƣớc ngoài Giáo dục(GD) là sản phẩm của xã hội, là một hình thái ý thức xã hội. GD là nhân tố quyết định sự phát triển nhanh và bền vững của mỗi quốc gia. Phát triển Giáo dục & Đào tạo (GD & ĐT) là quốc sách hàng đầu, là nền tảng, động lực thúc đẩy phát triển KT- XH. Sự tồn tại và phát triển của giáo dục chịu sự chi phối của nhiều yếu tố, trong đó quan trọng nhất là sự phát triển KT- XH, và ngược lại với chức năng của mình, GD có vai trò hết sức to lớn trong việc tái sản xuất sức lao động thông qua công tác đào tạo nguồn nhân lực cho xã hội. GD cũng khơi dậy, phát huy khả năng sáng tạo của mỗi con người, tạo ra “mảnh đất tốt” cho sự phát triển KT- XH. Chính vì điều đó mối quan hệ biện chứng giữa giáo dục và cộng đồng xã hội thường xuyên được diễn ra cùng với quá trình phát triển của xã hội loài người. Với tầm quan trọng như vậy, ngày nay trong xu thế toàn cầu hoá, giáo dục luôn được coi là quốc sách hàng đầu của nhiều quốc gia và các quốc gia đều khảng định GD là động lực để thúc đẩy kinh tế sản xuất và ổn định chính trị xã hội. Việc quan tâm, đầu tư, huy động các nguồn lực và mọi điều kiện cho phát triển giáo dục là sách lược lâu dài của nhiều quốc gia trên thế giới. Qua tìm hiểu XHHGD ở một số nước, mặc dù bản chất giáo dục ở các nước có khác nhau nhưng đều cho thấy XHH sự nghiệp GD là cách làm phổ biến, kể cả ở những nước có nền công nghiệp hiện đại, kinh tế phát triển cao. Thế giới đã và đang trải qua 3 làn sóng “tư nhân hóa”. Thứ nhất là tư nhân hóa doanh nghiệp, thứ hai là tư nhân hóa telecoms, hàng không, điện, nước, đường sá và thứ ba là tư nhân hóa GD, chăm sóc y tế, quỹ hưu trí v.v; Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 10 Hiểu theo nghĩa rộng: “Tư nhân hóa” là quá trình chuyển đổi các hoạt động, các tài sản, các trách nhiệm từ chính phủ, từ các tổ chức công sang cộng đồng, các tổ chức tư nhân và các cá nhân. Tư nhân hóa cũng còn được hiểu là “tự do hóa”, làm cho các tác nhân được giảm bớt sự điều khiển trực tiếp của chính phủ, tạo thêm một thị trường cung cấp tư các dịch vụ công, bên cạnh thị trường cung cấp dịch vụ công của chính phủ. Trong lĩnh vực GD, nếu nhìn vào những mục tiêu chung thì giữa xu thế tư nhân hóa trên thế giới, cả ở nước đã phát triển cũng như đang phát triển, và XHHGD ở Việt Nam không có sự khác nhau đáng kể. Tuy nhiên, xem xét các mục tiêu cụ thể và các hình thái giải pháp cụ thể thì lại có sự khác biệt tương đối lớn. Tư nhân hóa trong GD trên thực tế hết sức đa dạng, tùy thuộc vào kinh tế sản xuất và chính trị - xã hội của từng nước, tùy thuộc từng thời kỳ phát triển, từng cấp GD khác nhau: Tiểu học, trung học, GD sau THPT… mà có những giải pháp khác nhau. Tuy có một xu thế chung trên thế giới nhưng đề tài tư nhân hóa GD vẫn là một đề tài “nóng”, có rất nhiều tranh luận, có trường phái ủng hộ và cả trường phái chống đối. Việc đánh giá các kết quả của tư nhân hóa GD cũng còn khá hạn chế. Trong GD phổ thông ở nhiều nước, câu chuyện tư nhân hóa chủ yếu không phải là tài chính, mà là tạo ra một môi trường cạnh tranh, có sự tự do lựa chọn trường học của cha mẹ học sinh, linh động trong quản lý, thêm quyền lực và trách nhiệm xã hội cho cộng đồng v.v… Giải pháp của các nước rất đa dạng, một số nước áp dụng “phiếu trợ cấp GD”(Chi Lê, Colombia…), nhà nước cấp trực tiếp phiếu này cho học sinh, họ học ở đâu thì nộp vào đấy, cơ sở GD sẽ được nhà nước cấp kinh phí theo số học sinh nhập học. Nếu không có đủ số học sinh thì thậm chí trường có thể bị đóng cửa, thầy cô giáo có thể bị mất việc. Hoặc ở Hà Lan có khoảng 70% học sinh phổ thông lại học trong các trường được vận hành bởi những “hội đồng trường học tư”, nhưng vẫn nhận ngân sách từ nhà nước v.v….Các trường tư không vì lợi Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 11 nhuận và luôn có “hội đồng trường” gồm đa số những người bên ngoài trường, đại diện cho lợi ích cộng đồng xã hội. Mỹ, Thái lan và một số nước khác coi “Học ở gia đình” là một phương thức GD hợp pháp. Ở Mỹ có khoảng 1,7% trẻ em tuổi học đường ít nhất đã qua 2 năm “Học ở gia đình”. Theo phương thức này, tư nhân hoá GD được hiểu là cung cấp “dịch vụ GD tư”, "tài trợ tư”. Với phương thức này các cơ quan chính phủ giám sát rất nhẹ nhàng, một phần ngân sách nhà nước cho GD được dành thêm cho các mảng GD khác. Một số tác giả Trung Quốc cho rằng XHHGD, trước hết chính là GD phải thích nghi với xã hội, phục vụ nền kinh tế xã hội, đồng thời phục vụ cuộc sống xã hội. Do vậy mà XHHGD ở Trung Quốc bao gồm hai nội dung: Một là phục vụ toàn xã hội do đối tượng của GD giờ đây là toàn xã hội, toàn dân, là đại chúng. Hai là GD phải thực sự trở thành yếu tố thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và thoả mãn yêu cầu được GD của mọi người. Ý kiến trên là rất đáng tham khảo. Đối với GD nói chung, GD THCS nói riêng, quan điểm về GD và XHHGD ở các nước có những ý kiến khác nhau, nhưng về phương thức giải pháp thực hiện nhiệm vụ GD cơ bản giống nhau. Đó là việc huy động mọi thành phần kinh tế, mọi tổ chức xã hội, tổ chức tư nhân và cá nhân cùng với nhà nước thực hiện các quá trình GD, là việc huy động nhiều nguồn vốn, đa dạng hóa nhiều loại hình GD THCS. Có thể nói, xu thế XHHGD THCS đã mang tính toàn cầu 1.1.2.Nghiên cứu xã hội hóa giáo dục ở nƣớc ta Dưới thời phong kiến và pháp thuộc, giai cấp thống trị và thực dân chỉ mở rất ít trường học. Các trường học lúc bấy giờ chỉ dành cho con em quý tộc phong kiến hoặc mở ra để đào tạo quan lại hoặc tay sai. Con em người lao động muốn học phải tự túc học ở trường tự do, “Thầy đồ” mở lớp hoặc do dân tự tổ chức. Chính sách đó của thực dân Pháp làm cho hơn 90% dân số ta mù chữ vì không có điều kiện đến trường học. Cách mạng tháng tám năm 1945 thành công là tiền đề để Đảng ta thực hiện quan điểm “ Giáo dục là sự nghiệp của quần chúng”. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 12 Ngay sau khi giành được độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra “Lời kêu gọi chống nạn thất học”. Trong lời kêu gọi. Bác đã nêu rõ phương châm, nhiệm vụ chống nạn thất học, chống nạn mù chữ. Tư tưởng của người: “ai cũng được học hành” đã đi vào cuộc sống khi phong trào Bình dân học vụ diễn ra sôi nổi trên cả nước. Khi đất nước hoàn toàn thống nhất, cả nước thực hiện một hệ thống giáo dục và đã đạt được những kết quả nhất định. Do ảnh hưởng của cơ chế quan liêu bao cấp nên có một thời gian GD nước ta không khai thác triệt để bài học phát huy sức mạnh của toàn dân tộc để phát triển GD. Tình trạng cơ sở vật chất, trang thiết bị xuống cấp, lạc hậu đã ảnh hưởng đến sự phát triển GD. Trong công cuộc đổi mới đất nước, GD & ĐT cũng phải đổi mới cách nhìn nhận về vị trí, vai trò và cách thức làm GD. Việc “huy động toàn xã hội làm GD, động viên các tầng lớp nhân dân cùng góp sức xây dựng” nền GD dưới sự quản lý của Nhà nước đã trở thành vô cùng cần thiết. Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng năm 2006 chỉ rõ: “ Thực hiện XHHGD. Huy động nguồn lực vật chất và trí tuệ của xã hội tham gia chăm lo cho sự nghiệp GD. Phối hợp chặt chẽ giữa ngành GD với các ban ngành, các tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp…. để mở mang GD, tạo điều kiện học tập cho mọi thành viên trong xã hội” [19] Trong thời kỳ đổi mới, cùng với các Văn kiện, Nghị định, Thông tư, Nghị quyết của Đảng, Nhà nước về công tác GD, các cơ quan liên bộ, các nhà khoa học, nhà quản lý GD đã họp bàn và nghiên cứu về vấn đề XHHGD. Nguyên Bộ trưởng Bộ Giáo dục Phạm Minh Hạc đã khẳng định: “XHH công tác GD là một tư tưởng chiến lược, một bộ phận của đường lối GD, một con đường phát triển GD nước ta” [20]. Vấn đề XHHGD đã được nghiên cứu cả về lý luận và thực tiễn. Có nhiều tác giả đã quan tâm nghiên cứu về XHHGD như nhóm tác giả Bùi Gia Thịnh, Võ Tấn Quang, Nguyễn Thanh Bình trong cuốn “XHHGD nhận thức và hành động” [28]. Các nhà nghiên cứu Nguyễn Mậu Bành, Thài Duy Tuyên, Đào Huy Ngân cũng đã đề cập đến những vấn đề lý luận và thực tiễn hoạt động Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 13 XHHGD. Bên cạnh đó, còn nhiều đề tài, luận văn đã đề cập đến và nêu ra nhiều biện pháp về hoạt động XHHGD như: Luận văn Thạc sỹ của Nguyễn Thị Lan Hương về “Biện pháp quản lý hoạt động XHHGD các Trung tâm học tập cộng đồng Huyện Vĩnh Bảo, Thành phố Hải Phòng”. Luận văn Thạc sỹ khoa học GD của Ngô Thị Hợp về “ Biện pháp quản lý công tác XHHGD mầm non ở thành phố Hải Dương”. Luận văn Thạc sỹ quản lý GD của Bùi Minh Tiến về : “Tăng cường công tác XHHGD nhằm phát triển trường THCS ở Huyện Đông Triều, Tỉnh Quảng Ninh. Và còn nhiều Đề tài, Luận văn khác nữa… Như vậy, có thể thấy hoạt động XHHGD có vị trí hết sức quan trọng đối với tất cả các cấp học, bậc học, ngành học, v.v… Tóm lại: Qua lịch sử nghiên cứu vấn đề, có thể khẳng định rằng XHHGD đã được nhiều nhà khoa học, nhà giáo, cán bộ quản lý GD quan tâm tìm hiểu và đã đề xuất được nhiều biện pháp đảm bảo tính khoa học, toàn diện và khả thi. Tuy vậy, chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, sâu sắc về các biện pháp quản lý hoạt động XHHGD ở cấp THCS. Kế thừa và phát triển các nội dung của các công trình nghiên cứu của những người đi trước, đề tài: “Biện pháp quản lý XHHGD của hiệu trưởng cấp THCS ở thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh hiên nay” được tổ chức triển khai với mục đích sẽ góp phần tìm ra được những biện pháp quản lý XHHGD của hiệu trưởng trường THCS mang tính đổi mới, đúng mục đích, hiệu quả và khả thi. 1.1.3. Kinh nghiệm về XHHGD của một số nƣớc trên thế giới và trong khu vực Đông Nam Á * Kinh nghiệm XHHGD ở Trung Quốc Quan điểm chỉ đạo của Trung Quốc về phát triển giáo dục là “Làm cho đất nước giàu mạnh thông qua khoa học và GD”. Trung Quốc đề ra các chính sách: Đầu tư cho GD phải được xem là chính sách quốc gia hàng đầu, đầu tư cho GD là đầu tư phát triển cho sản xuất. Đảm bảo sự tham gia rộng rãi của cộng đồng vào việc đầu tư cho GD và quản lý GD. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 14 *Kinh nghiệm xã hội hoá giáo dục ở Nhật Bản Trong lĩnh vực GD, với chính sách „Không để một trẻ em nào trong gia đình và không để một gia đình nào trong cộng đồng không được GD”. Nhật Bản với xây dựng hệ thống các chính sách: Tăng cường và đa dạng hoá các nguồn đầu tư cho GD, năm 1985 ngân sách nhà nước chi cho GD của Nhật là 5,7% GDP, ngân sách địa phương và cha mẹ học sinh đóng góp có cấu trúc là 6.3.3. Nhật coi trọng việc phát hiện nhân tài và bồi dưỡng nhân tài cho đất nước, đưa GD Nhật Bản tiến kịp thế giới. * Kinh nghiệm xã hội hoá giáo dục ở Mỹ Giáo dục Mỹ đặc biệt quan tâm xây dựng nền GD dựa trên nền tảng của công nghệ thông tin, xã hội tri thức, để đáp ứng và đón đầu sự phát triển của kinh tế thị trường. GD của Mỹ hướng tới các mục tiêu: Mọi người đều có cơ hội học tập suốt đời. Vận động toàn quốc về tiêu chuẩn GD, thực hiện nền GD đại chúng với chính sách trao quyền cho địa phương quản lý GD nhà trường và đa dạng hoá các loại hình GD: GD chính quy, GD thường xuyên, GD từ xa, giáo dục trực tuyến. * Kinh nghiệm xã hội hoá giáo dục ở Singapore Singapore là một trung tâm thương mại, tài chính và hiện nay là trung tâm GD của các nước trong khu vực, là quốc gia đảm bảo chất lượng GD theo chuẩn quốc tế và khu vực. Singapore là nước thành công trong công việc phát huy nguồn lực từ XH và quốc tế trong việc xây dựng và phát triển hệ thống GD của quốc gia. Khẩu hiệu của toàn quốc gia là: “Nhà trường tư duy, quốc gia học tập”. 1.2. Một số khái niệm cơ bản của luận văn 1.2.1 Xã hội hoá giáo dục 12.1.1. Xã hội hoá Theo Từ điển xã hội học: “xã hội hóa (XHH) là quá trình tương tác giữa cá nhân và xã hội, trong đó cá nhân học hỏi và thực hành những tri thức, kỹ năng và phương pháp cần thiết để hội nhập với xã hội” [31] Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 15 Trong các tài liệu trước đây “XHH” là thuật ngữ được quy ước để chỉ cách làm, cách thực hiện một hoạt động xã hội nào đó bằng con đường nhận thức, tổ chức huy động tổng hợp sức mạnh của toàn dân, làm cho hoạt động này không chỉ được thực hiện ở một ngành, một đoàn thể, một tổ chức xã hội hay một cơ sở sản xuất, mà nó được tất cả các ngành, các giới, các lực lượng xã hội cũng như mọi công dân đều hiểu đó là trách nhiệm của chính mình, tự nguyện và tích cực phối hợp thực hiện. Họ cũng là những người được hưởng thành quả do hoạt động đó đem lại. Về mặt thuật ngữ, phạm trù: “XHH” được dùng chính thức từ Đại hội VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam “Xuất phát từ nhận thức chăm lo cho con người, cho cộng đồng xã hội là trách nhiệm của toàn xã hội, của mỗi đơn vị, mỗi gia đình, chúng ta chủ trương giải quyết các vấn đề xã hội theo tinh thần XHH, trong đó nhà nước giữ vai trò nòng cốt…., đồng thời, khai thác mọi tiềm năng của nhân dân, của địa phương, của các Hội, Đoàn, tranh thủ các nguồn viện trợ từ nước ngoài và sử dụng có hiệu quả để chăm lo cho con người và xã hội”[15]. Thể chế hóa quan điểm trên về XHH, Nghị quyết số 90/NQ-CP của chính phủ ngày 21/8/1997 về “ Phương hướng và chủ trương XHH các hoạt động GD, y tế, văn hóa”. đã được ban hành, thực thi có hiệu quả đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn đặt ra. [16] 1.2.1.2. Xã hội hoá giáo dục Khi quan niệm về XHHGD, có nhiều quan niệm khác nhau: Giáo sư Phạm Minh Hạc với mong muốn góp phần xây dựng sự nghiệp GD thời kỳ đổi mới, trong cuốn GD Việt Nam trước ngưỡng cửa thế kỷ XXI đã khẳng định: Sự nghiệp GD không phải chỉ là của Nhà nước mà của toàn xã hội, mọi người cùng làm GD, Nhà nước và xã hội, Trung ương và địa phương cùng làm GD”[21 ]. Quan điểm của Đảng tại Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII nêu rõ, XHH công tác GD là “huy động toàn xã hội làm GD, Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 16 động viên các tầng lớp nhân dân góp sức xây dựng nền GD quốc dân dưới sự quản lý của nhà nước”. Có thể hiểu XHHGD một cách khái quát như sau: XHHGD là một quá trình mà cả cộng đồng và xã hội cùng tham gia vào GD. Trong đó mọi tổ chức, gia đình và công dân có trách nhiệm chăm lo sự nghiệp GD, phối hợp với nhà trường thực hiện mục tiêu GD, xây dựng môi trường GD lành mạnh, an toàn và thống nhất. Cần tránh hiểu một cách đơn giản và phiến diện rằng XHHGD là huy động sự đóng góp bằng tiền của dân vào sự nghiệp GD , là tăng mức học phí ở các cấp học, bậc học, là đa dạng hoá loại hình trường! Điều này đã dẫn đến nhiều cuộc vận động góp sức cho sự nghiệp GD bị hiểu lầm, ít hiệu quả. Vì vậy việc trình bày lại một cách có hệ thống và toàn diện nội dung của thuật ngữ XHHGD là cần thiết. Nghị quyết số 90/CP do Thủ tướng Chính phủ ký ngày 21-8-1997 đã xác định khái niệm XHHGD: - là vận động và tổ chức sự tham gia rộng rãi của nhân dân, của toàn xã hội vào sự phát triển sự nghiệp GD; - là xây dựng cộng đồng trách nhiệm của các tầng lớp nhân dân và Đảng bộ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, các cơ quan nhà nước, các đoàn thể quần chúng, các tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp đóng tại địa phương và của từng người dân đối với việc tạo lập và cải thiện môi trường KT -XH lành mạnh thuận lợi cho hoạt động GD; - là mở rộng các nguồn đầu tư, khai thác các tiềm năng về nhân lực, vật lực và tài lực trong xã hội (kể cả từ nước ngoài); phát huy và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực này. Nghị quyết số 05/CP năm 2005, đã nêu lên hai mục tiêu lớn của XHH trong đó có XHHGD: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 17 1) “Phát huy tiềm năng trí tuệ và vật chất trong nhân dân, huy động toàn xã hội chăm lo sự nghiệp GD, y tế…”. 2) “Tạo điều kiện để toàn xã hội, đặc biệt là các đối tượng chính sách, người nghèo được hưởng thành quả GD, y tế… ở mức độ ngày càng cao.” Như vậy, XHHGD được hiểu là XHH hoạt động GD, XHH sự nghiệp giáo dục, coi sự nghiệp GD là của toàn xã hội, huy động mọi tổ chức xã hội và cá nhân cùng tham gia phát triển giáo dục, đồng thời XHHGD cũng tạo ra cơ hội để tất cả mọi người đều được thừa hưởng một nền giáo dục. Nói cách khác XHHGD ở đây có thể được hiểu, một mặt là việc huy động các nguồn lực khác nhau của xã hội và cả sự tham gia công sức, trí tuệ của cộng đồng để phát triển sự nghiệp GD. Mặt khác, phải có chính sách để công bằng xã hội tốt hơn cùng với việc nâng cao khả năng “tiếp cận dịch vụ GD” của toàn xã hội. Công tác XHHGD là một trong các mục tiêu trong xây dựng trường chuẩn quốc gia bậc THCS của Bộ GD & ĐT 1.2.1.3 Xã hội hoá giáo dục Trung học cơ sở Trong hệ thống GD quốc dân Việt Nam, trường THCS là cấp học nối tiếp cấp Tiểu học. GDTHCS thu nhận học sinh từ 11 đến 15 tuổi, mục tiêu GD của cấp học THCS là củng cố những kết quả GD đã đạt được ở cấp Tiểu học, trang bị cho học sinh một vốn học vấn ở cấp THCS, cung cấp cho học sinh kiến thức về kỹ thuật tổng hợp, hướng nghiệp và dạy nghề nhằm phân luồng học sinh sau khi tốt nghiệp, thực hiện đạt phổ cập THCS vững chắc và phấn đấu đạt phổ cập GD THPT. Khái niệm XHHGD THCS không nằm ngoài khái niệm XHHGD tuy nhiên nó có những nét đặc thù riêng là xác định rõ XHHGD của cấp học THCS : - là vận động và tổ chức sự tham gia rộng rãi của nhân dân, của toàn xã hội vào sự phát triển GD THCS; - là xây dựng cộng đồng trách nhiệm của các tầng lớp nhân dân và Đảng bộ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, các cơ quan nhà nước, các đoàn thể Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 18 quần chúng, các tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp đóng tại địa phương và của từng người dân đối với việc tạo lập và cải thiện môi trường KT, XH lành mạnh thuận lợi cho hoạt động GD THCS; - là mở rộng các nguồn đầu tư, khai thác các tiềm năng về nhân lực, vật lực và tài lực trong xã hội (kể cả từ nước ngoài); phát huy và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực này cho hoạt động GD THCS. Như vậy, XHHGD THCS là quá trình huy động các lực lượng xã hội tham gia công tác giáo dục THCS của hiệu trưởng cấp THCS và chính quyền địa phương quản lý, điều hành nhằm đạt mục tiêu giáo dục đề ra. Sự nghiệp GD THCS là nhiệm vụ và trách nhiệm của các trường THCS, của gia đình, cộng đồng và xã hội. Các tổ chức xã hội, cá nhân cùng tham gia xây dựng GD. GD trẻ em không chỉ thực hiện ở nhà trường mà còn được thực hiện ở GĐ, XH, môi trường GD lành mạnh, thống nhất, có định hướng. XHHGD THCS nhằm xây dựng môi trường GD thống nhất, phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng GD giúp trẻ em phát triển ở mọi nơi mọi chỗ là một giải pháp có ý nghĩa vô cùng quan trọng góp phần nâng cao chất lượng giáo GD đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. XHHGD THCS là huy động các lực lượng xã hội tham gia phát triển giáo dục THCS, coi sự nghiệp phát triển giáo dục THCS là sự nghiệp của NT,GĐ và XH, đồng thời tạo tính công bằng, dân chủ trong thừa hưởng nền GD THCS, tạo môi trường giáo dục trẻ em lành mạnh, thống nhất. XHHGD THCS nhằm: huy động mọi nguồn lực tham gia phát triển GD; kiên cố hoá trường lớp; mở rộng quy mô GD; nâng cao chất lượng GD; khắc phục khó khăn trong phát triển GD; thực hiện công bằng, dân chủ trong thừa hưởng GD; thực hiện trách nhiệm của xã hội, tổ chức, cá nhân trong phát triển giáo dục THCS vv...Tạo cơ hội học tập ở trình độ THCS cho mọi người, tạo môi trường GD cho trẻ em ở lứa tuổi THCS một cách an toàn thống nhất. 1.2.2. Quản lý XHHGD Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 19 1.2.2.1. Quản lý Quản lý là hoạt động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý(người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức 1.2.2.2. Quản lý XHHGD Điều 12 Luật Giáo dục 2005 ghi rõ “ Mọi tổ chức, gia đình và công dân đều có trách nhiệm chăm lo cho sự nghiệp giáo dục, xây dựng phong trào học tập môi trường GD lành mạnh,…Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong phát triển sự nghiệp GD, thực hiện da dạng hóa các loại hình nhà trường và các hình thức GD, khuyến khích, huy động và tạo điều kiện đẻ tổ chức, cá nhân tham gia phát triển sự nghiệp GD”[27] Như vậy, nội dung quản lý nhà nước (QLNN) trong việc thực hiện XHHGD là: - Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chủ trương, kế hoạch XHHGD - Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm về XHHGD; về tổ chức Đại hội GD các cấp, về sự phối hợp giữa các ngành, các cấp; về huy động và sử dụng các nguôn lực; về tổ chức nhân sự,… - Quy định nghĩa vụ, trách nhiệm, quyền hạn của các ngành, các cấp, các tổ chức KT - XH, các cá nhân tham gia vào quá trình GD. - Đưa vào chủ trương của cấp trên và nghị quyết của Hội đồng GD các cấp về XHHGD, Ủy ban nhân dân các cấp chỉ đạo, phối hợp, huy động, kiểm tra, giám sát các LLXH làm giáo dục; dựa vào tham mưu của ngành GD, của các nhà trường, của Hội đồng GD cấp cơ sở. 1.3. Lý luận về XHHGD và quản lý XHHGD cấp THCS 1.3.1. Lý luận về XHHGD cấp THCS 1.3.1.1. Bản chất của hoạt động XHHGD cấp THCS XHHGD bậc THCS là một bộ phận của XHHGD, mạng bản chất của XHHGD. XHHGD các trường THCS bị chi phối bởi các yếu tố như: KT, XH, Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 20 VH (văn hóa); nhận thức của nhân dân và các nhà trường THCS, về XHHGD; điều kiện thực hiện XHHGD,…, những yếu tố này có mối liên hệ, tác động lẫn nhau, chế ước lẫn nhau trong quá trình thực hiện XHHGD cấp THCS. Bản chất xã hội của XHHGD là tổ chức thực hiện xây dựng một nền GD của dân, do dân, vì dân. Giảm bớt được gánh nặng về đầu tư ngân sách cho GD. XHHGD cấp THCS là huy động mọi lực lượng xã hội vào sự nghiệp phát triển THCS, thực hiện một môi trường học tập thuận lợi cho mọi người có điều kiện được học tập. XHHGD chính là “GD cho tất cả mọi người; tất cả mọi người cho sự nghiệp GD”, đó là đưa GD gắn với xã hội, với cộng đồng, GD phục vụ mục tiêu xã hội, mọi người đều được hưởng thành quả của GD. GD là bộ phận không thể tách rời của hệ thống xã hội, GD là nhân tố thúc đẩy phát triển KT - XH. XHHGD cấp THCS là huy động mọi lực lượng xã hội tham gia vào sự phát triển các trường THCS, dưới sự quản lý thống nhất của Nhà nước. Tạo điều kiện để cộng đồng tham gia vào các hoạt động của NT, đảm bảo mọi đối tượng trong độ tuổi được học tập, được hưởng thụ các dịch vụ GD và được tham gia vào quá trình quản lý GD tại địa phương. Quá trình này thể hiện tính dân chủ và bình đẳng của nền GD nước ta. Sự gắn kết giữa 3 môi trường trong giáo dục: NT - GĐ - XH, làm cho mọi người, các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp trong xã hội nhận thức và tổ chức thực hiện trách nhiệm của mình trong sự nghiệp phát triển GD THCS và QLGD, xây dựng môi trường GD lành mạnh, đổi mới QLGD, thực hiện “Hai không” với 4 nội dung do ngành GD phát động. XHHGD được Đảng, Nhà nước đề cập rất phong phú, Tư tưởng đó được phát triển, mở rộng cả về hình thức và nội dung qua mỗi giai đoạn. Quản lý hoạt động XHHGD cấp THCS phải đảm bảo định hướng XHCN trong XHHGD và đào tạo. Nhà nước giữ vai trò chủ đạo và chịu trách nhiệm trước nhân dân về sự phát triển GD & ĐT, trong đó có GD THCS. XHHGD cấp THCS phải được thể Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
- Xem thêm -