Tài liệu Biện pháp quản lý thực hiện chương trình bồi dưỡng lý luận chính trị ở các trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện tỉnh bắc ninh

  • Số trang: 82 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 33 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 27125 tài liệu

Mô tả:

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM -------***------- LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ GIÁO DỤC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ THỰC HIỆN CHƢƠNG TRÌNH BỒI DƢỠNG LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ Ở CÁC TRUNG TÂM BỒI DƢỠNG CHÍNH TRỊ CẤP HUYỆN TỈNH BẮC NINH Giáo viên hướng dẫn: TS. NGUYỄN THỊ TUYẾT MAI Học viên: Đàm Thế Sử Bắc Ninh, năm 2011 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 1- Lý do chọn đề tài Trải qua hơn 80 năm lãnh cách mạng, Đảng cộng sản Việt nam luôn coi trọng công tác giáo dục lý luận chính trị. Bởi công tác giáo dục lý luận chính trị có vai trò hết sức quan trọng trong công tác xây dựng Đảng. Đƣợc biết, trong giai đoạn hiện nay, khi nƣớc ta đang đẩy mạnh quá trình hội nhập kinh tế quốc tế thì vị trí, vai trò của công tác giáo dục lý luận chính trị lại càng quan trọng hơn. Mặt khác, Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch ngày càng ráo riết chống phá cách mạng nƣớc ta bằng nhiều thủ đoạn, âm mƣu thâm độc qua chiến lƣợc “Diễn biến hoà bình” nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng phá hoại công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nƣớc ta thì nhiều vấn đề mới nảy sinh cần phải có sự thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận trong xã hội. Trƣớc thực tế trên, việc quản lý thực hiện chƣơng trình giáo dục lý luận chính trị tại các Trung tâm bồi dƣỡng chính trị (BDCT) cấp huyện nhằm nâng cao bản lĩnh chính trị, nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng, chống lại Chiến lƣợc “Diễn biến hoà bình” cho đội ngũ cán bộ, đảng viên ở cơ sở, đáp ứng nhu cầu trong thời kỳ đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nƣớc là nhiệm vụ rất nặng nề, có ý nghĩa chính trị lớn lao. Ngày 03 tháng 6 năm 1995 của Ban Bí thƣ Trung ƣơng Đảng (khoá VII) ban hành Quyết định 100-QĐ/TW “V/v tổ chức Trung tâm bồi dƣỡng chính trị cấp huyện”. Từ đó, Trung tâm BDCT cấp huyện của các tỉnh trong cả nƣớc đã lần lƣợt đƣợc ra đời, đi vào hoàn thiện mô hình và hoạt động từng bƣớc có hiệu quả, đóng góp không nhỏ vào nhiệm vụ đào tạo, bồi dƣỡng cán bộ cho địa phƣơng, cơ sở. Nhiều chƣơng trình bồi dƣỡng các chỉ thị, nghị quyết, các quan điểm, đƣờng lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nƣớc đƣợc tổ chức thực hiện tại các trung tâm đã góp phần giải quyết kịp thời những vƣớng mắc ở cơ sở trong công tác xây dựng Đảng. Trung tâm BDCT cấp huyện đã trở thành cơ sở đào tạo, bồi dƣỡng cán bộ của cấp uỷ cơ sở. Trong thời kỳ đẩy mạnh quá trình hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay để khẳng định tầm quan trọng của hệ thống các Trung tâm BDCT đối với công tác đào tạo, bồi dƣỡng đội ngũ cán bộ cơ sở. Ngày 3/9/2008, Ban Bí thƣ Trung ƣơng Đảng (khóa X) đã ban hành Thông báo Kết luận số 181-KL/TW “về đổi mới và nâng cao chất lƣợng hoạt động Trƣờng chính trị cấp tỉnh và Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn Trung tâm BDCT cấp huyện” và Quyết định số 185-QĐ/TW “về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của Trung tâm BDCT cấp huyện”. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy trong thời kỳ đất nƣớc đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế đã đặt ra nhiều vấn đề trong công tác quản lý, xây dựng, bồi dƣỡng, quy hoạch cán bộ từ Trung ƣơng đến địa phƣơng, đặc biệt là đôi ngũ cán bộ cơ sở. Mô hình hoạt động của Trung tâm BDCT cấp huyện sau 15 năm hoạt động đã bộc lộ một số tồn tại, hạn chế, chƣa phát huy tốt vai trò của mình; chất lƣợng hoạt động, sức thu hút của Trung tâm với ngƣời học chƣa cao; có chƣơng trình còn lạc hậu so với thực tiễn, chƣa phù hợp với đối tƣợng, chƣa theo kịp trình độ nhân thức chung của xã hội; tính liên thông giữa các chƣơng trình và tính pháp lý chƣa đƣợc coi trọng; chất lƣợng đội ngũ giảng viên và giảng viên kiêm chức chƣa đáp ứng yêu cầu; quá trình chuyển hoá về LLCT cho cán bộ, đảng viên vào hoạt động thực tiễn ở cơ sở chƣa đƣợc nhiều; tính định hƣớng, tính chiến đấu, tính thuyết phục và hiệu quả quản lý thực hiện chƣơng trình giáo dục LLCT chƣa cao; cơ sở vật chất còn thiếu thốn, chắp vá... Những tồn tại, yếu kém trên đòi hỏi phải sớm đƣợc khắc phục để các Trung tâm BDCT cấp huyện có thể đảm nhiệm tốt nhiệm vụ của mình trong giai đoạn cách mạng mới. Cụ thể hoá các Quyết định số 100-QĐ/TW, ngày 03/06/1995 của Ban Bí thƣ trung ƣơng và Quy định số 54-QĐ/TW, ngày 12/05/1999 của Bộ chính trị, ngày 12/05/2004, Tỉnh uỷ Bắc Ninh đã ra kết luận số 70-KL/TU “ về tăng cƣờng lãnh đạo thực hiện chế độ học tập lý luận chính trị trong Đảng, theo Quy định số 54/QĐ/TW ngày 12/05/1999 của Bộ chính trị đẩy mạnh hoạt động của Trung tâm bồi dƣỡng chính trị cấp Huyện và Ban tuyên giáo xã, Phƣờng, Thị trấn”. Bắc Ninh hiện có 08 Trung tâm BDCT cấp huyện với số lƣợng cán bộ công chức là 40 ngƣời, trong đó cán bộ quản lý là 15 ngƣời; số cán bộ hợp đồng là 06 ngƣời (theo số liệu báo cáo tính đến 30/10/2010). Nhìn chung, đội ngũ cán bộ quản lý tại các Trung tâm BDCT trong Tỉnh đều đƣợc quan tâm đào tạo, bồi dƣỡng về chuyên môn, nghiệp vụ; có phẩm chất đạo đức tốt, phát huy đƣợc năng lực trong công tác, hoàn thành nhiệm vụ đƣợc giao. Chính vì vậy, công tác bồi dƣỡng lý luận Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn chính trị Tỉnh Bắc Ninh đã đạt đƣợc kết quả tích cực góp phần quan trọng và sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của Tỉnh. Mặc dù vậy, công tác quản lý thực hiện chƣơng trình bồi dƣỡng LLCT tại các Trung tâm BDCT cấp huyện trong Tỉnh vẫn còn nhiều bất cập, thiếu đồng bộ và thống nhất; công tác quy hoạch cán bộ làm lãnh đạo, quản lý các trung tâm chƣa đƣợc rõ nét, chƣa thực sự đáp ứng yêu cầu trong giai đoạn cách mạng mới. Để làm tốt hơn nữa công tác giáo dục LLCT cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân ở cơ sở đáp ứng nhu cầu của thời kỳ mới, cần nghiên cứu và đề xuất những biện pháp khả thi để quản lý thực hiện chƣơng trình giáo dục LLCT tại các Trung tâm BDCT cấp huyện trong Tỉnh. 2- Lịch sử nghiên cứu vấn đề Đổi mới, nâng cao chất lƣợng, hiệu quả quản lý thực hiện chƣơng trình giáo dục LLCT tại Trung tâm BDCT cấp huyện là một vấn đề lớn và khó, đƣợc đặt ra trong quá trình hình thành và phát triển của các Trung tâm. Trong quá trình đó, việc nghiên cứu, tổng kết và giải quyết các vấn đề đặt ra của các Trung tâm thƣờng đƣợc thực hiện thông qua báo cáo hàng năm của Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ các địa phƣơng. Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, tổng hợp các vƣớng mắc, tồn tại và kiến nghị từ các địa phƣơng, Ban Tuyên giáo Trung ƣơng phối hợp với các ngành có liên quan đề xuất hƣớng giải quyết với Đảng và Nhà nƣớc. Thời gian qua đã có nhiều bài viết đề cập đến vấn đề trên ở những cấp độ và phạm vi khác nhau. Trong cuốn “Đổi mới công tác giáo dục chính trị tƣ tƣởng cho cán bộ, đảng viên ở cơ sở”, tiến sĩ Vũ Ngọc Am đã đề cập đến yêu cầu khách quan phải tiếp tục đổi mới công tác giáo dục LLCT ở cơ sở trong giai đoạn hiện nay. PGS.TS Đào Duy Quát cũng bàn về công tác giáo dục LLCT ở cấp huyện và vai trò, nhiệm vụ của Trung tâm BDCT cấp huyện trong cuốn “Công tác tƣ tƣởng - văn hoá ở cấp huyện”. Đồng chí Nguyễn Khoa Điềm - nguyên uỷ viên Bộ Chính trị, Trƣởng Ban Tƣ tƣởng - Văn hoá Trung ƣơng đã đề cập đến việc nâng cao chất lƣợng và hiệu quả công tác tuyên truyền giáo dục LLCT, tạo sự thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận trong nhân dân. Tác giả Đặng Công Minh có bài viết “Đổi mới quản lý đào tạo Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn ở Trung tâm BDCT cấp huyện”. Một số bài viết khác nhƣ: “Quảng Ninh nâng cao chất lƣợng hoạt động của các Trung tâm BDCT cấp huyện”; “Vấn đề đặt ra sau 10 năm hoạt động của các Trung tâm BDCT cấp huyện ở Quảng Bình”; “Tỉnh Hải Dƣơng xây dựng Trung tâm BDCT cấp huyện đáp ứng yêu cầu tình hình mới”;... Tuy nhiên, các tài liệu, bài viết trên thƣờng dừng lại ở tầm khái quát hoặc chỉ đề cập đến từng lĩnh vực cụ thể của từng địa phƣơng. Vấn đề đổi mới, nâng cao hiệu quả quản lý, thực hiện chƣơng trình bồi dƣỡng LLCT tại các Trung tâm BDCT cấp huyện đến nay chƣa có một công trình khoa học cụ thể nào nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện. 3- Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và khảo sát thực trạng thực hiện chƣơng trình bồi dƣỡng LLCT tại các Trung tâm BDCT cấp huyện tỉnh Bắc Ninh, đề xuất các biện pháp quản lý thực hiện chƣơng trình bồi dƣỡng LLCT tại Trung tâm BDCT nhằm nâng cao chất lƣợng công tác bồi dƣỡng LLCT cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân ở cơ sở. 4- Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu 4.1- Khách thể nghiên cứu Quản lý thực hiện chƣơng trình bồi dƣỡng LLCT tại Trung tâm BDCT cấp huyện. 4.2- Đối tượng nghiên cứu Các biện pháp quản lý thực hiện chƣơng trình bồi dƣỡng LLCT tại các trung tâm BDCT cấp huyện tỉnh Bắc Ninh. 5- Giả thuyết khoa học Nếu xây dựng đƣợc một hệ thống các biện pháp quản lý thực hiện chƣơng trình bồi dƣỡng LLCT tại Trung tâm BDCT cấp huyện thống nhất, đồng bộ và có tính khả thi thì sẽ góp phần nâng cao chất lƣợng công tác bồi dƣỡng LLCT cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân ở cơ sở. 6 -Nhiệm vụ nghiên cứu Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 6.1- Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận của hoạt động quản lý thực hiện chƣơng trình bồi dƣỡng LLCT tại Trung tâm BDCT cấp huyện. 6.2- Khảo sát và đánh giá thực trạng hoạt động quản lý thực hiện chƣơng trình bồi dƣỡng LLCT tại các Trung tâm BDCT cấp huyện trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh. 6.3- Đề xuất các biện pháp nhằm đổi mới, nâng cao chất lƣợng quản lý thực hiện chƣơng trình bồi dƣỡng LLCT tại Trung tâm BDCT cấp huyện trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh và khảo nghiệm tính khả thi của các biện pháp đề xuất. 7- Giới hạn phạm vi nghiên cứu 7.1- Về khách thể khảo sát Khách thể khảo sát là 15 cán bộ quản lý, 40 giáo viên và 100 học viên của trung tâm bồi dƣỡng LLCT cấp huyện tỉnh Bắc Ninh. 7.2 Về thời gian nghiên cứu Khảo sát thực trạng việc thực hiện chƣơng trình bồi dƣỡng LLCT của trung tâm BDCT năm 2010. 8- Phƣơng pháp nghiên cứu 8.1- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận Sử dụng các phƣơng pháp nhƣ phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá, khái quát hoá lý luận để xác định các khái niệm công cụ và xây dựng khung lý thuyết cho đề tài. 8.2- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn - Phƣơng pháp điều tra: Sử dụng phƣơng pháp này nhằm trƣng cầu ý kiến của các đối tƣợng thông qua phiếu điều tra. Các nội dung cần trƣng cầu ý kiến là các vấn đề có liên quan đến thực trạng cần nghiên cứu. - Phƣơng pháp tổng kết kinh nghiệm: Tổng kết kinh nghiệm của Trung tâm BDCT cấp huyện trên địa bàn toàn tỉnh về hoạt động quản lý thực hiện chƣơng trình bồi dƣỡng LLCT. - Phƣơng pháp chuyên gia: Trƣng cầu ý kiến chuyên gia về các nội dung nhƣ đánh giá thực trạng nghiên cứu, đánh giá về tính khả thi và ý nghĩa của các biện pháp đƣợc đề xuất. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 8.3- Nhóm phương pháp dự báo Sử dụng phƣơng pháp này để dự báo về quy mô phát triển của Trung tâm BDCT cấp huyện trong tỉnh thời gian tới, từ đó đề ra các biện pháp quản lý thực hiện chƣơng trình bồi dƣỡng LLCT tại các Trung tâm BDCT cho phù hợp. 8.4- Nhóm phương pháp thống kê Sử dụng phƣơng pháp này để xử lý các số liệu thu thập đƣợc do các phƣơng pháp khác đem lại, phục vụ cho quá trình nghiên cứu đề tài. 9- Những đóng góp mới của đề tài Trên cơ sở lý luận khoa học, quan điểm, đƣờng lối của Đảng về công tác giáo dục LLCT và thực tiễn quản lý thực hiện chƣơng trình giáo dục LLCT tại các Trung tâm BDCT cấp huyện tỉnh Bắc Ninh, đề xuất một số biện pháp quản lý thực hiện chƣơng trình bồi dƣỡng LLCT mang tính khả thi, phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của địa phƣơng, nhằm góp phần nâng cao hơn nữa chất lƣợng và hiệu quả công tác bồi dƣỡng LLCT cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân ở cơ sở. 10- Cấu trúc luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận, các đề xuất, khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, các phụ lục, luận văn gồm 3 chƣơng: Chương I: Cơ sở lý luận của vấn đề quản lý thực hiện chƣơng trình bồi dƣỡng LLCT tại Trung tâm BDCT cấp huyện. Chương II: Thực trạng quản lý thực hiện chƣơng trình bồi dƣỡng LLCT tại Trung tâm BDCT cấp huyện trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh hiện nay. Chương III: Một số biện pháp nhằm đổi mới, nâng cao chất lƣợng quản lý thực hiện chƣơng trình bồi dƣỡng LLCT tại Trung tâm BDCT cấp huyện tỉnh Bắc Ninh trong thời gian tới. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ QUẢN LÝ THỰC HIỆN CHƢƠNG TRÌNH BỒI DƢỠNG LLCT TẠI TRUNG TÂM BDCT CẤP HUYỆN 1.1- Một số khái niệm cơ bản 1.1.1- Chương trình giáo dục và quản lý chương trình giáo dục "Chƣơng trình giáo dục là sự trình bày có hệ thống kế hoạch tổng thể các hoạt động giáo dục trong một thời gian xác định, trong đó nêu lên các mục tiêu học tập mà ngƣời học cần đạt đƣợc, đồng thời xác định rõ phạm vi, mức độ, nội dung học tập, các phƣơng pháp, phƣơng tiện, cách thức tổ chức học tập, các cách thức đánh giá kết quả học tập... nhằm đạt đƣợc mục tiêu học tập đã đề ra (Nguyễn Hữu Chí, Viện Khoa học giáo dục, 2002)"[20, tr.14]. "Quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý lên đối tƣợng quản lý nhằm chỉ huy, điều hành, hƣớng dẫn các quá trình xã hội và hành vi của cá nhân hƣớng đến mục đích hoạt động chung và phù hợp với quy luật khách quan"[60, tr.40]. Quản lý chƣơng trình giáo dục là quản lý xây dựng chƣơng trình giáo dục, quản lý quá trình thực hiện và đánh giá kết quả thực hiện chƣơng trình giáo dục nhằm đạt đƣợc mục tiêu mong muốn của nhà quản lý. Quản lý chƣơng trình giáo dục bao gồm những công việc cơ bản: Phân cấp quản lý từ mô hình tổ chức, danh mục các ngành đào tạo, khung chƣơng trình giảng dạy, chƣơng trình chi tiết môn học cốt lõi, môn học bắt buộc, môn học tự chọn; điều chỉnh, xây dựng và thông qua chƣơng trình giáo dục; thực hiện chƣơng trình giáo dục; kiểm tra và thanh tra chƣơng trình giáo dục. Trong lịch sử nghiên cứu phát triển giáo dục, có ba cách tiếp cận khác nhau khi xây dựng chƣơng trình giáo dục. Đó là cách tiếp cận nội dung, cách tiếp cận mục tiêu và cách tiếp cận quá trình (hay còn gọi là cách tiếp cận phát triển). Tƣơng ứng với 3 cách tiếp cận này là các phƣơng pháp quản lý chƣơng trình giáo dục. * Với cách tiếp cận nội dung: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn Đây là cách tiếp cận truyền thống trong xây dựng chƣơng trình đào tạo. Cách tiếp cận này đã và đang đƣợc nhiều giáo viên và các nhà làm công tác xây dựng chƣơng trình sử dụng. Nội dung khối lƣợng kiến thức chƣơng trình thƣờng ngắn gọn, chắt lọc, đảm bảo nguyên lý giáo dục và mang tính thời sự; theo khuôn mẫu định sẵn; nhƣng thƣờng là một chiều, mang tính áp đặt, giáo viên không có cơ hội để bổ sung tài liệu hoặc thay đổi hình thức dạy học, ngƣời học thụ động. Quản lý chƣơng trình giáo dục theo cách tiếp cận này chủ yếu là quản lý nội dung, khối lƣợng công việc giáo viên hoàn thành trong một quỹ thời gian đã định trƣớc. Với phƣơng pháp quản lý này, về cơ bản ngƣời quản lý nhìn vào khối lƣợng công việc hoàn thành để đánh giá chất lƣợng công việc; khó có thể kích thích đƣợc sự năng động, sáng tạo của ngƣời học khi thực hiện chƣơng trình nên hiệu quả không cao. Cách tiếp cận này hiện nay đã trở nên lạc hậu, nhiều quốc gia cũng nhƣ các trƣờng học khác nhau trên thế giới không còn sử dụng để xây dựng chƣơng trình giáo dục hoặc đã có những cải tiến đáng kể. * Với cách tiếp cận mục tiêu: Theo cách tiếp cận này thì xuất phát điểm của việc xây dựng chƣơng trình giáo dục phải là mục tiêu giáo dục. Mục tiêu giáo dục tạo đƣợc thể hiện dƣới dạng mục tiêu đầu ra, thể hiện qua những hành vi của ngƣời học (theo một khuôn mẫu nhất định). Quản lý chƣơng trình giáo dục ở đây là quản lý sản phẩm đào tạo, quản lý kết quả cuối cùng của một chƣơng trình đào tạo; ngƣời ta quan tâm đến việc ngƣời học sau khi học xong có khả năng "làm" đƣợc những việc gì hay thực hiện đƣợc những gì về mặt nhận thức, kỹ năng cũng nhƣ tình cảm và thái độ; không quản lý quá trình đạt đến mục đích, mục tiêu. Khi yếu tố mục tiêu đƣợc xác định rõ ràng, cụ thể ở các cấp độ khác nhau (dài hạn và ngắn hạn), ngƣời dạy có thể căn cứ vào đó để lựa chọn nội dung, phƣơng pháp, cách đánh giá và đặc biệt là tài liệu để giảng dạy. Ngƣời học có thể không cần lên lớp nghe giảng, chỉ cần phát tài liệu, hƣớng dẫn đọc tài liệu, sau đó làm bài thu hoạch đạt yêu cầu là đƣợc. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn Cách tiếp cận này vẫn xem ngƣời học là bị động, không thể giúp phát triển các năng lực tiềm ẩn ở mỗi cá nhân ngƣời học, tất cả ngƣời học đều phải chịu sự rèn giũa theo một khuôn mẫu cứng nhắc đã đƣợc xác định trƣớc; khó có thể áp dụng cho các lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn cũng nhƣ trong các lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật. Cách thức tổ chức quản lý chƣơng trình giáo dục dễ dẫn đến bệnh hình thức và máy móc. Đối với quản lý chƣơng trình bồi dƣỡng LLCT, phƣơng pháp quản lý này không phù hợp. Tuy nhiên chúng ta cần nghiên cứu để sử dụng hợp lý, khuyến khích các mặt tích cực của phƣơng pháp quản lý này. * Với cách tiếp cận quá trình (tiếp cận phát triển): Đây là cách tiếp cận đang đƣợc sử dụng ở nhiều nƣớc trên thế giới. Cách tiếp cận này xem chƣơng trình đào tạo là quá trình, còn giáo dục là sự phát triển. Giáo dục là sự phát triển với nghĩa là phát triển con ngƣời, phát triển một cách tối đa mọi tiềm năng tiềm ẩn trong mỗi con ngƣời, làm cho con ngƣời có khả năng làm chủ tình huống, đƣơng đầu đƣợc với những thách thức mà mình sẽ gặp phải trong đời một cách chủ động và sáng tạo. Giáo dục là quá trình diễn ra liên tục, suốt đời, do vậy mục đích cuối cùng không phải là thuộc tính của nó. Cách tiếp cận này mang tính toàn diện, chú trọng nhiều đến khía cạnh nhân văn. Bản chất của quản lý chƣơng trình giáo dục theo cách tiếp cận quá trình là quản lý sự phát triển con ngƣời, sự hình thành và phát triển nhân cách; chủ thể quản lý nắm bắt đƣợc những diễn biến, quá trình phát triển của đối tƣợng quản lý. Khi chƣơng trình bồi dƣỡng đƣợc xây dựng theo kiểu quá trình, ngƣời học đƣợc coi là trung tâm, ngƣời thầy trở thành ngƣời cố vấn cung cấp thông tin, hƣớng dẫn ngƣời học tìm kiếm và thu thập thông tin, gợi mở giải quyết vấn đề. Những nội dung và phƣơng thức giáo dục đào tạo thƣờng xuyên đạt đƣợc nhu cầu và trình độ của ngƣời học. Ngƣời thầy đánh giá ngƣời học qua một quá trình làm việc chứ không phải kết quả cuối cùng. Quản lý theo cách tiếp cận này huy động đƣợc mọi nguồn lực tham gia vào quá trình quản lý, trong đó ngƣời học phải là ngƣời chủ động, tích cực tham gia vào quá trình dạy và học. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 1.1.2- Lý luận và lý luận chính trị. 1.1.2.1- Khái niệm lý luận: Khái niệm lý luận là những khái niệm hình thành gắn liền với những công trình nghiên cứu lý luận của những nhà nghiên cứu lý luận. Các khái niệm lý luận gắn liền với những hệ thống lý luận nhất định. Nếu chúng phản ánh trung thực các mối liên hệ bản chất, các quy luật vốn có củahiện thực khách quan thì những hệ thống lý luận đó chính là các học thuyết khoa học đƣợc kiểm nghiệm bằng thực tiễn (hay thực nghiệm). Nếu trái lại, thì đó chỉ là những lý luận giả khoa học và sớm muộn cũng sẽ bị sự phát triển của khoa học và thực tiễn bác bỏ. Việc nghiên cứu lý luận gắn liền với hoạt động tƣ duy, hoạt động lý luận và thực tiễn của con ngƣời luôn là điều khó khăn. Bởi vì, vấn đề lý luận đòi hỏi tính hệ thống, tính trừu tƣợng, tính thực tiễn và sự sâu sắc rất cao. Bên cạnh đó, trong đời sống xã hội, chúng ta thƣờng thấy tình trạng: cùng một vấn đề, có ngƣời hiểu thế này, lại có ngƣời hiểu thế khác, có ngƣời diễn đạt tốt nhƣng ngƣời khác thì không; có công việc ngƣời này thì hoàn thành nhanh chóng nhƣng ngƣời khác thì lại hoàn thành chậm hoặc rất chậm;… hoặc có ngƣời lúc này thì sáng suốt nhƣng lúc khác thì không, tại sao vậy? Thực tế cuộc sống đòi hỏi cần thiết đi sâu tìm hiểu và làm rõ những vấn đề trên về mặt lý luận và thực tiễn. Chính vì vậy, các câu hỏi nhƣ: Lý luận là gì? Lý luận có vai trò gì? Lý luận sinh ra từ đâu? Lý luận có những hình thái nào? Những vấn đề then chốt của lý luận là gì?... cần đƣợc làm sáng tỏ. Bàn về vấn đề lý luận ra đời sẽ nâng cao nhận thức xã hội về tầm quan trọng của vấn đề lý luận cũng nhƣ việc nghiên cứu lý luận, đề xuất hình thành một môn khoa học nghiên cứu về lý luận và có thể đƣợc gọi là “Lý luận học”. “Lý luận học” nghiên cứu các vấn đề nêu trên cùng với việc bàn về con ngƣời và công nghệ tƣ duy lý luận của con ngƣời. Lý luận học có quan hệ mật thiết với rất nhiều môn khoa học khác. Trong đó, nổi bật nhƣ với triết học, lôgíc học, chính trị học, kinh tế chính trị học, xã hội học, nhân chủng học, kinh tế học, sử học, toán học… Con ngƣời là nhân lõi của tất cả các khoa học gần gũi với lý luận học và giữ vị trí trung tâm của lý luận học. Toán học có Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn đối tƣợng nghiên cứu là các quan hệ số lƣợng và hình dạng trong thế giới khách quan; Triết học có đối tƣợng nghiên cứu là các quy luật chung nhất của thế giới và nhận thức thế giới của con ngƣời; Chính trị học có đối tƣợng nghiên cứu là chính trị và các hình thái của chính trị; Kinh tế học có đối tƣợng nghiên cứu là các quan hệ sản xuất, các quy luật chi phối quá trình sản xuất, phân phối và trao đổi của cải vật chất của con ngƣời; Kinh tế phát triển có đối tƣợng nghiên cứu là yếu tố kinh tế của sự phát triển… Còn đối tƣợng nghiên cứu của Lý luận học nhƣ tôi đã nói ở trên là con ngƣời, tƣ tƣởng của con ngƣời và công nghệ tƣ duy của con ngƣời về lý luận cùng những vấn đề cơ bản của lý luận nhằm cải biến thực tế khách quan vì sự phát triển của con ngƣời và đem lại lợi ích cho con ngƣời. Có thể nói, nghiên cứu lý luận là công việc đòi hỏi có sự công phu, nghiêm túc. Lý luận là phạm trù luôn luôn phát triển không ngừng theo quá trình phát triển của đời sống xã hội. Có nhận định hôm nay đúng nhƣng có thể ngày mai hoặc ngày kia không còn đúng nữa. Vì thế, khi làm sách nghiên cứu lý luận, rất cần các tác giả đặt mình vào tình huống và tự đặt ra câu hỏi để ngẫm suy cho thấu tình đạt lý, để bổ sung tri thức nhằm không ngừng nâng cao cả về tƣ duy và hành động. Lý luận là hệ thống những tri thức đã đƣợc khái quát, tạo ra một quan niệm hoàn chỉnh về các quy luật và về mối liên hệ cơ bản của hiện thực. Lý luận là sự phản ánh và tái hiện hiện thực khách quan. Mọi Lý luận đều quy định bởi hoàn cảnh lịch sử, đƣợc hình thành từ điều kiện cụ thể của lịch sử sản xuất, kỹ thuật và thực nghiệm. Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Lý luận là sự tổng kết những kinh nghiệm của loài ngƣời, là tổng hợp những tri thức về tự nhiên và xã hội tích trữ lại trong quá trình lịch sử”[42, tr.487]. Theo nghĩa rộng, Lý luận là một dạng hoạt động của con ngƣời nhằm thu nhận tri thức về hiện thực tự nhiên, xã hội và cùng với thực tiễn tạo thành hoạt động tổng thể của xã hội. Thuật ngữ Lý luận đồng nghĩa với các hình thức có tổ chức cao và phát triển nhất của ý thức xã hội. Với tƣ cách là sản phẩm cao nhất của tƣ duy có tổ chức, Lý luận biểu hiện quan hệ gián tiếp của nguời đối với hiện thực và là điều kiện cho sự cải biến thực sự có ý thức hiện thực. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn Theo nghĩa hẹp, Lý luận là một dạng tri thức khoa học đáng tin cậy về một tổng thể các khách thể nào đó. Nó là hệ thống các luận điểm gắn bó chặt chẽ với nhau về mặt lô gíc và phản ánh bản chất, các quy luật hoạt động, phát triển của khách thể để nghiên cứu. Lý luận cách mạng tạo nên nền tảng tƣ tƣởng của đảng. Đảng ra đời trên nền tảng tƣ tƣởng đó, tức là có lý luận một cách cơ bản nhất; những ngƣời giác ngộ, tiên tiến cùng nhau xây dựng tổ chức đảng theo lý luận đó. Khi đảng ra đời, cƣơng lĩnh hành động, đƣờng lối chiến lƣợc, sách lƣợc do đảng đề ra cũng dựa trên nền tảng tƣ tƣởng đó. 1.1.2.2- Khái niệm lý luận chính trị: Hiện nay, trên thế giới đã hình thành 4 cách hiểu khác nhau về chính trị: 1) nghệ thuật của phép cai trị 2) những công việc của chung 3) sự thỏa hiệp và đồng thuận 4) quyền lực và cách phân phối tài nguyên hay lợi ích Nếu quan niệm rằng chính trị chỉ là những hoạt động xoay quanh vấn đề giành, giữ và sử dụng quyền lực nhà nƣớc thì, theo lý luận của chủ nghĩa Marx, trong xã hội cộng sản tƣơng lai sẽ không có chính trị bởi vì lúc đó nhà nƣớc đã tiêu vong. Nói cách khác, chính trị sẽ dần dần trở nên thừa thãi và mất hẳn trong xã hội lý tƣởng của nhân loại - xã hội cộng sản. Chính trị theo nghĩa rộng hơn là hoạt động của con ngƣời nhằm làm ra, gìn giữ và điều chỉnh những luật lệ chung mà những luật lệ này tác động trực tiếp lên cuộc sống của những ngƣời góp phần làm ra, gìn giữ và điều chỉnh những luật lệ chung đó. Với cách hiểu nhƣ thế này thì dù trong xã hội cộng sản, chính trị vẫn còn tồn tại và vẫn giữ vai trò hết sức quan trọng đối với từng con ngƣời cũng nhƣ toàn xã hội. Trong bất kỳ xã hội nào thì cũng cần những luật lệ chung để hoạt động nhịp nhàng và khoa học, tránh tình trạng vô tình hay cố ý xâm phạm quyền lợi, lợi ích, tài sản, sức khỏe hay thậm chí tính mạng của ngƣời khác hay của cộng đồng. Một ví dụ đơn giản, xã hội dù có phát triển đến đâu thì cũng cần có luật giao thông để con ngƣời có thể lƣu thông một cách trật tự và hiệu quả. Hay, con ngƣời không thể sống trong một xã hội mà Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn tình trạng an ninh không đảm bảo (cƣớp bóc, khủng bố chẳng hạn) do thiếu luật lệ. Mặc dù phần lớn xã hội hiện nay trên thế giới không tránh khỏi các hiện tƣợng cƣớp bóc và khủng bố nhƣng phải thừa nhận rằng pháp luật đã góp phần ngăn chặn đáng kể những hành vi bất lƣơng đó. Các lĩnh vực của khoa học chính trị bao gồm: lý thuyết chính trị, triết học chính trị (tìm kiếm các nhân tố cơ bản cho chính trị), giáo dục công dân, các hệ thống chính trị của các quốc gia, phân tích chính trị, phát triển chính trị, quan hệ quốc tế, chính sách ngoại giao, quân sự và pháp luật. Mặt khác, chính trị: là một quá trình theo đó một nhóm ngƣời có lợi ích và quan điểm ban đầu khác nhau, đi đến những quyết định chung mà về cơ bản đƣợc chấp nhận nhƣ là sự ràng buộc lên toàn nhóm và đƣợc đảm bảo thực hiện nhƣ chính sách chung. Tóm lại, chính trị theo nghĩa chung nhất là quan hệ giai cấp và đấu tranh giai cấp. Là một khái niệm của thƣợng tầng kiến trúc. Chính trị là một lĩnh vực đặc biệt rất phức tạp, nó liên quan đến lợi ích trực tiếp của các giai cấp và các lực lƣợng xã hội nên có nhiều cách tiếp cận và nhìn nhận khác nhau. Trong Từ điển Triết học giản yếu của Việt Nam, nhà xuất bản Đại học và Trung học chuyên nghiệp, xuất bản năm 1987, cho rằng: Chính trị là lĩnh vực hoạt động gắn liền với mối quan hệ giữa các giai cấp, các dân tộc và các tập đoàn xã hội khác nhau, mà hạt nhân là vấn đề giành, giữ và sử dụng chính quyền nhà nƣớc. Từ điển tiếng Việt của Trung tâm Từ điển học Việt Nam, Nhà xuất bản khoa học xã hội xuất bản năm 1994, cho rằng: Chính trị là những vấn đề thuộc về tổ chức điều khiển bộ máy nhà nƣớc trong nội bộ một nƣớc và quan hệ quốc tế về mặt nhà nƣớc giữa các nƣớc với nhau... Những quan điểm nêu trên đã nêu lên bản chất của Chính trị là tính giai cấp, mối quan hệ và mục tiêu của các giai cấp, các lực lƣợng chính trị trong việc giành quyền điều khiển nhà nƣớc. Để đánh giá sự tiến bộ của xã hội thông qua việc thực Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn hiện dân chủ mà dân chủ cao nhất, đầy đủ nhất, triệt để nhất là quyền làm chủ của nhân dân đối với nhà nƣớc, V.I. Lênin cho rằng: Chính trị là sự tham gia của nhân dân vào công việc của nhà nƣớc; “... chính trị phải là việc của nhân dân, việc của giai cấp vô sản”[59, tr.482]. Khi xem xét nguồn gốc, bản chất chính trị về mặt lợi ích, V.I. Lênin lại cho rằng: Chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế. Khi tiếp cận Chính trị với tƣ cách hình thức hoạt động nhằm duy trì quyền lực chính trị có thể thấy: Chính trị là những hoạt động tổ chức, điều hành, quan hệ của bộ máy đảng, nhà nƣớc. Vì vậy, Chính trị có thể hiểu là những hoạt động của một số cá nhân, một giai cấp, một chính đảng, một tập đoàn xã hội nhằm giành hoặc duy trì quyền điều hành bộ máy nhà nƣớc, giành quyền lực chính trị. Nhƣ vậy, có thể thấy Chính trị là vấn đề đa dạng, phức tạp, nhiều mối quan hệ, nhiều lĩnh vực nghiên cứu xem xét và sử dụng theo mục đích, yêu cầu riêng của từng môn khoa học. Song, điều quan trọng của tất cả các vấn đề liên quan đến Chính trị, thực hiện đƣợc mục đích của chính trị, tức là giành đƣợc quyền lực chính trị của giai cấp này hoặc giai cấp khác đối với toàn xã hội. Từ đó, có thể hiểu Chính trị là mối quan hệ giữa các giai cấp, các cộng đồng xã hội trong vấn đề chính quyền nhà nƣớc; là sự tham gia của nhân dân vào các công việc của nhà nƣớc; là tổng hợp những phƣơng thức, phƣơng pháp, những hoạt động thực tiễn của các giai cấp, các đảng phái để giành, giữ và điều khiển hoạt động của nhà nƣớc nhằm bảo vệ lợi ích của giai cấp mình. Qua thực tiễn của cách mạng Việt Nam, trong phạm vi đề tài này, chúng ta tiếp cận đến Chính trị với tƣ cách là những hoạt động của Đảng Cộng sản Việt Nam - đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam nhằm giác ngộ, nâng cao nhận thức cho quần chúng nhân dân. Trong đó, cán bộ, đảng viên cơ sở là lực lƣợng nòng cốt để lãnh đạo, tổ chức quần chúng nhân dân thực hiện mục đích của Đảng là xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn Đảng Cộng sản đặc biệt quan tâm tới vấn đề LLCT. Chỉ dựa trên nền tảng lý luận Mác - Lênin, Đảng mới có thể nhận thức sâu sắc đƣợc những quy luật khách quan của sự phát triển xã hội và vận dụng chúng vào sự nghiệp cách mạng cao cả. LLCT của chủ nghĩa cộng sản khoa học không chỉ giải thích thế giới một cách khoa học, bóc trần sự bất công tồn tại trong các xã hội có giai cấp đối kháng mà còn chỉ rõ căn nguyên của những áp bức, bất công đó, đồng thời vạch ra con đƣờng, phƣơng thức đấu tranh nhằm xoá bỏ chế độ bất bình đẳng, xây dựng xã hội mới văn minh, tiến bộ. LLCT của chủ nghĩa cộng sản khoa học hƣớng dẫn các đảng Cộng sản xác định đƣợc nhiệm vụ chủ yếu. Lênin đã viết; “Lý luận đó đã chỉ rõ nhiệm vụ thật sự của một đảng xã hội chủ nghĩa cách mạng không phải là đặt ra những kế hoạch cải tạo xã hội, không phải là khuyên nhủ bọn tƣ bản và tôi tớ của chúng cải thiện đời sống cho công nhân, không phải là sắp đặt những cuộc âm mƣu, mà là tổ chức cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản và lãnh đạo cuộc đấu tranh đó mà mục đích cuối cùng là giai cấp vô sản giành lấy chính quyền và tổ chức xã hội xã hội chủ nghĩa”[57, tr.231]. Vì vậy, LLCT luôn là nền tảng tƣ tƣởng, kim chỉ nam cho hành động của một đảng. 1.3- Quản lý thực hiện chƣơng trình bồi dƣỡng LLCT tại các Trung tâm BDCT chính trị cấp huyện Bồi dƣỡng LLCT là một bộ phận cơ bản trong công tác tƣ tƣởng của Đảng; là quá trình phổ biến, truyền bá có hệ thống chủ nghĩa Mác - Lênin, Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh, Cƣơng lĩnh, đƣờng lối, quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nƣớc cho cán bộ, đảng viên và nhân dân. Giáo dục LLCT đƣợc thực hiện theo các chƣơng trình quy định, nhằm xây dựng thế giới quan, phƣơng pháp luận khoa học, nhân sinh quan cộng sản, tạo nên bản lĩnh chính trị, niềm tin có cơ sở khoa học, vững chắc vào mục tiêu, lý tƣởng xã hội chủ nghĩa; nâng cao năng lực hoạt động thực tiễn, giáo dục đạo đức, lối sống, tinh thần tự giác và tính cực trong các hoạt động xã hội cho mọi tầng lớp nhân dân đáp ứng yêu cầu của từng thời kỳ phát triển đất nƣớc. Để đạt đƣợc mục đích và yêu cầu đó, đòi hỏi việc quản lý thực hiện chƣơng trình giáo dục LLCT cần có một thiết chế tổ chức với những hình thức và phƣơng pháp tiên tiến, phù hợp với những đặc trƣng riêng của nó. Nghĩa là khi tiến hành Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn thực hiện chƣơng trình giáo dục LLCT đòi hỏi phải tuân theo những nguyên tắc cơ bản của lý luận dạy học và phƣơng pháp dạy học tiên tiến nhƣ: Hệ thống chƣơng trình, hệ thống tổ chức chỉ đạo và thực hiện, giáo trình, sách giáo khoa, đội ngũ cán bộ giảng dạy (giảng viên), cơ sở vật chất (trƣờng, lớp, phấn, bảng,... và các phƣơng tiện kỹ thuật khác để phục vụ cho quá trình dạy và học). Trong hệ thống đào tạo, bồi dƣỡng cán bộ, đảng viên của Đảng Cộng sản Việt Nam, chƣơng trình giáo dục LLCT có nhiều cấp độ khác nhau nhƣ: Cử nhân, cao cấp, trung cấp, sơ cấp, bồi dƣỡng ngắn hạn,... Ngoài ra còn có các chƣơng trình giáo dục lý luận chuyên đề; chƣơng trình học tập, quán triệt các nghị quyết Đại hội Đảng, nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ƣơng và Bộ Chính trị, Ban Bí thƣ; kế hoạch tự học theo hƣớng dẫn của cơ quan phụ trách;… Quản lý thực hiện chƣơng trình giáo dục LLCT bao gồm các khâu: Từ phân cấp lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện; xây dựng lịch trình thực hiện; lựa chọn phƣơng pháp thực hiện đến tổ chức thực hiện, kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học viên. Trong phạm vi Luận văn này, tác giả xin phép đƣợc tập trung nghiên cứu về quản lý thực hiện chƣơng trình giáo dục LLCT tại các TTBDCT cấp huyện tỉnh Bắc Ninh. 1.3.1- Chức năng, nhiệm vụ của Trung tâm BDCT chính trị cấp huyện: Vào cuối những năm 80, đầu những năm 90 của thế kỷ XX, chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nƣớc Đông Âu đi từ khủng hoảng đến sụp đổ, phong trào cách mạng thế giới lâm vào thoái trào đã ảnh hƣởng rất lớn đến Việt Nam. Từ đó gây nên những khó khăn không nhỏ trong công tác giáo dục LLCT, trƣớc hết là những vấn đề cơ bản nhƣ: Khẳng định giá trị bền vững của Học thuyết Mác - Lênin, định hƣớng xây dựng chủ nghĩa xã hội, vai trò lãnh đạo của Đảng,... Trong khi đó, tình hình kinh tế - xã hội nƣớc ta chƣa ra khỏi khủng hoảng. Cán bộ, đảng viên có biểu hiện ngại học LLCT, hệ thống trƣờng Đảng huyện không duy trì đƣợc. Trƣớc tình hình đó, Đảng ta đã thực hiện đƣờng lối đổi mới phát triển đất nƣớc. Sau hơn 20 năm thực hiện, chúng ta đã đạt đƣợc những thành tựu đáng kể. Lòng tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn vào chủ nghĩa Mác - Lênin, vào con đƣờng mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn, vào sự lãnh đạo của Đảng đƣợc nâng lên. Trong thời gian này, nhu cầu về giáo dục LLCT trong Đảng và trong xã hội đƣợc nâng dần lên. Các cấp ủy coi trọng và tạo điều kiện thuận lợi cho việc học tập LLCT. Điều đó tạo điều kiện thuận lợi để khôi phục công tác giáo dục LLCT trên địa bàn huyện. Mặt khác, thực tiễn đòi hỏi cần phải có một tổ chức phù hợp, có chức năng đào tạo, bồi dƣỡng cán bộ đáp ứng yêu cầu của thời kỳ cách mạng mới ở địa phƣơng, cơ sở, đặc biệt là cố gắng đáp ứng nhu cầu học tập, phổ biến quan điểm, chủ trƣơng, chính sách của Đảng, Nhà nƣớc cho các đối tƣợng cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân. Trƣớc tình hình đó, ngày 03 tháng 6 năm 1995 Ban Bí thƣ Trung ƣơng Đảng (khóa VII) đã ban hành Quyết định 100-QĐ/TW về việc thành lập Trung tâm BDCT cấp huyện trong cả nƣớc. Ngày 3/9/2008, Ban Bí thƣ Trung ƣơng Đảng (khoá X) đã ban hành Quyết định số 185-QĐ/TW nêu rõ chức năng, nhiệm vụ của Trung tâm BDCT cấp huyện là: - Đào tạo sơ cấp LLCT – hành chính; bồi dƣỡng các chƣơng trình LLCT cho các đối tƣợng theo qui định; các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nƣớc cho cán bộ, đảng viên trên địa bàn cấp huyện. - Bồi dƣỡng, cập nhật kiến thức mới về chuyên môn, nghiệp vụ công tác xây dựng Đảng, quản lý Nhà nƣớc, mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội và một số linh xvực khác cho cán bộ đảng (là cấp uỷ viên cơ sở), cán bộ chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể cơ sở. - Bồi dƣỡng chính trị cho đối tƣợng phát triển đảng, LLCT cho đảng viên mới; nghiệp vụ công tác đảng cho cấp uỷ viên cơ sở. - Tổ chức thông tin về thời sự, chính sách…cho đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên ở cơ sở. - Thực hiện một số nhiệm vụ bồi dƣỡng khác theo yêu cầu và tình hình thực tế của cấp uỷ, chính quyền địa phƣơng. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn Đây là công cụ sắc bén, quan trọng của cấp ủy để bồi dƣỡng LLCT thƣờng xuyên cho nhiều đối tƣợng đảng viên, quần chúng ở cơ sở, đáp ứng yêu cầu xây dựng hệ thống chính trị từ cơ sở; nâng cao giác ngộ LLCT cho đảng viên và quần chúng; thúc đẩy việc thực hiện nhiệm vụ chính trị ở cơ sở, góp phần đẩy mạnh công cuộc đổi mới của đất nƣớc. Việc ra đời Trung tâm BDCT cấp huyện ở thời điểm đó là kết quả sau nhiều năm tìm tòi, bổ sung và kế thừa các loại hình đã có từ trƣớc, đồng thời có tính đến đặc điểm của đất nƣớc trong giai đoạn mới. Quyết định 100-QĐ/TW, ngày 03 tháng 6 năm 1995 của Ban Bí thƣ Trung ƣơng Đảng (khoá VII) và Quyết định số 185-QĐ/TW của… ngày… ra đời đã đáp ứng đƣợc yêu cầu thực tế ở cơ sở, đƣợc các địa phƣơng rất hoan nghênh và tích cực thực hiện. Thực tiễn cũng cho thấy các Quyết định này của Ban Bí thƣ vừa đúng, vừa trúng và đã đi nhanh vào cuộc sống, đóng góp to lớn vào sự phát triển của từng địa phƣơng, cơ sở cũng nhƣ sự phát triển chung của đất nƣớc trong suốt thời gian qua. 1.3.2- Nội dung chƣơng trình và việc quản lý thực hiện chƣơng trình bồi dƣỡng LLCT tại Trung tâm BDCT cấp huyện Chƣơng trình bồi dƣỡng LLCT tại các Trung tâm BDCT do Ban Tuyên giáo Trung ƣơng (trƣớc đây là Ban Tƣ tƣởng - Văn hóa Trung ƣơng) biên soạn, ban hành và hƣớng dẫn thực hiện. Các trung tâm triển khai thực hiện dƣới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Ban Tuyên giáo huyện ủy, cấp ủy cấp huyện. Có thể hiểu tóm tắt hệ thống quản lý thực hiện nội dung chƣơng trình bồi dƣỡng LLCT tại Trung tâm BDCT cấp huyện theo sơ đồ sau: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn Hiện nay, Trung tâm BDCT cấp huyện đang thực hiện các chƣơng trình bồi dƣỡng LLCT cụ thể do Ban Tuyên giáo Trung ƣơng ban hành nhƣ - Chƣơng trình học tập các nghị quyết, chỉ thị của Đảng; thời sự, chính sách. - Chƣơng trình học tập chính trị cho học viên lớp bồi dƣỡng kết nạp Đảng. - Chƣơng trình bồi dƣỡng LLCT dành cho đảng viên mới. - Chƣơng trình bồi dƣỡng nghiệp vụ công tác Đảng cho bí thƣ chi bộ và cấp uỷ viên cơ sở. - Chƣơng trình sơ cấp LLCT. - Chƣơng trình bồi dƣỡng nghiệp vụ công tác tuyên giáo ở cơ sở. - Các chƣơng trình chuyên đề: Giáo dục đạo đức cách mạng; Chủ nghĩa yêu nƣớc truyền thống Việt Nam; Dân tộc và chính sách dân tộc của Đảng Cộng sản Việt Nam; Tôn giáo và công tác tôn giáo ở cơ sở; Việt Nam chủ động hội nhập kinh tế quốc tế; Chuyên đề “Việt Nam chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế; Chuyên đề “Học tập và làm theo tâm gƣơng đạo đức Hồ Chí Minh”;… - Các chƣơng trình ban hành có sự phối hợp giữa Ban Tuyên giáo Trung ƣơng và các đoàn thể nhƣ: Chƣơng trình bồi dƣỡng 6 bài LLCT cho thanh niên; chƣơng trình bồi dƣỡng LLCT cho cán bộ hội cựu chiến binh cơ sở; chƣơng trình bồi dƣỡng tổ trƣởng dân phố, trƣởng thôn, trƣởng bản; chƣơng trình bồi dƣỡng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
- Xem thêm -