Tài liệu Biện pháp quản lý dạy học tiếng anh tại các trường thpt huyện thủy nguyên hải phòng

  • Số trang: 104 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 38 |
  • Lượt tải: 0
tailieuonline

Đã đăng 39841 tài liệu

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA SƯ PHẠM TRẦN THỊ LAN HƯƠNG BIỆN PHÁP QUẢN LÍ DẠY HỌC MÔN TIẾNG ANH Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HUYỆN THUỶ NGUYÊN HẢI PHÕNG Chuyên ngành: Quản lý giáo dục Mã số : 60 14 05 TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÍ GIÁO DỤC HÀ NỘI - 2008 MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Nhân loại đã bước vào thế kỷ XXI với sự phát triển nhanh chóng của khoa học và công nghệ. Kinh tế tri thức đang ngày càng mở rộng, với quá trình toàn cầu hoá có ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự phát triển của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc, từng cộng đồng, từng gia đình và cá nhân. Giáo dục với tư cách là một hoạt động tái tạo và phát triển xã hội, phát triển nhân cách con người đã, đang và sẽ là mối quan tâm hàng đầu của nhân loại. Việt Nam vốn có truyền thống coi trọng giáo dục. Ngay từ sau Cách mạng Tháng 8 , Đảng và Nhà nước đã đặc biệt quan tâm đến giáo dục cho mọi người, cho toàn dân. Đại hội Đảng IX đã nhấn mạnh: "Tiếp tục quán triệt quan điểm giáo dục là quốc sách hàng đầu và tạo sự chuyển biến cơ bản, toàn diện trong phát triển giáo dục và đào tạo" coi "phát triển giáo dục - đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững" Hơn bao giờ hết thế giới ngày nay đang chứng kiến sự biến đổi vô cùng to lớn của xã hội loài người với đặc trưng là: toàn cầu hóa công nghệ thông tin, xã hội học tập. Có thể nói, sự toàn cầu hóa,sự đổi mới công nghệ, đặc biệt là đổi mới công nghệ thông tin và nhu cầu học tập suốt đời đã thôi thúc và giúp chúng ta tổ chức lại một cách cơ bản đời sống xã hội, đưa loài người đến một nền kinh tế tri thức, nền văn minh trí tuệ. Sự biến đổi này tác động không nhỏ đến sự phát triển giáo dục. Trong bối cảnh này giáo dục vừa phải đảm bảo nhiệm vụ đào tạo người công dân tốt cho đất nước vừa phải đảm bảo đào tạo thành viên tốt cho cộng đồng nhân loại. Đặc biệt các trường THPT là cấp học mà mục tiêu thể hiện qua yêu cầu: học sinh học xong cấp THPT phải đạt được ở các mặt giáo dục: tư tưởng, đạo đức lối sống; học vấn kiến thức phổ thông, hiểu biết kỹ thuật hướng nghiệp; kỹ năng học tập và vận dụng kiến thức; về thể chất và xúc cẩm thẩm mỹ. 1 Để đạt được những mục tiêu cơ bản của phát triển kinh tế xã hội của đất nước, giáo dục THPT đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc đào tạo nguồn nhân lực cho nền kinh tế quốc dân. Chính vì vậy,văn kiện Đại hội Đảng VIII đã nêu rõ: “Phương hướng chung của lĩnh vực GD-ĐT trong những năm tới là phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu CNH-HĐH tạo điều kiện cho nhân dân đặc biệt là thanh niên có việc làm” Đứng trước bối cảnh đó, Đảng và nhà nước ta rất quan tâm đến việc dạy - học ngoại ngữ trong nhà trường. Tiếng Anh là một trong những ngoại ngữ bắt buộc được đưa vào DH ở nhiều bậc học khác nhau trong hệ thống giáo dục quốc dân. Việc học ngoại ngữ không chỉ được khuyến khích mà còn dần dần được tiêu chuẩn hoá. Thực tế hiện nay, Việt nam đã ra nhập khối ASEANđây là khu vực mà Tiếng Anh được sử dụng như một phương tiện giao tiếp và gần như bắt buộc đối với mọi thành viên trong khối, từ các nhà chính trị đến các thương gia, từ lĩnh vực văn hoá, khoa học, kỹ thuật đến lĩnh vực du lịch trong khối ASEAN. Theo đó, Việt Nam không thể thiếu những thành viên sử dụng thông thạo ngôn ngữ đã được thống nhất trong khối. Nhiều nhà lãnh đạo cấp nhà nước của Việt Nam cũng đã từng thể hiện khả năng này của mình trước các diễn đàn hoặc trong các cuộc thảo luận Quốc tế. Khả năng giao tiếp tốt bằng tiếng nói chung đã thực tế góp phần đáng kể vào thành công, cũng như uy tín của Việt nam trên diễn đàn khu vực và trên trường Quốc tế. Một trong những sự kiện nổi bật trong năm qua là Việt nam đã trở thành quốc gia thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), hơn bao giờ hết Tiếng Anh lại cần thiết hơn và cần ở mức cao hơn rất nhiều so với ngôn ngữ giao tiếp thông thường vì những cuộc đàm phán giao dịch trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, khoa học. Ngoại ngữ chính là công cụ đắc lực và hữu hiệu giúp cho con người hòa nhập vào sự phát triển chung của xã hội. Xuất phát từ nhu cầu phát triển nhân lực của xã hội. Theo xu thế hội nhập đã đặt ra cho ngành 2 giáo dục đối với dạy-học ngoại ngữ là đào tạo ra nguồn nhân lực tầm cao, có khả năng sử dụng được ngoại ngữ thành thạo trong công việc chuyên môn của mình. Chính vì vậy quản lý hoạt động dạy – học môn ngoại ngữ có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với việc nâng cao chất lượng đào tạo trong nhà trường. Quản lý tốt hoạt động này sẽ giúp GV và HS có những bước đi đúng đắn trong từng khâu của quá trình dạy – học nhằm đạt được các yêu cầu do mục tiêu giáo dục đề ra. Hiện nay, việc quản lý hoạt động dạy – học ngoại ngữ ở các trường THPT còn nhiều bất cập, chậm đổi mới. Thực trạng dạy – học chay còn phổ biến, PP, phương tiện, hình thức tổ chức dạy – học lạc hậu. Chương trình và giáo trình còn nhiều bất cập, khiến cho việc dạy và học gặp nhiều khó khăn cho cả GV và HS trong các trường THPT. Qua nhiều năm giảng dạy tiếng Anh, tôi nhận thấy chất lượng môn học tuy đã được quan tâm, nhưng chưa thực sự đáp ứng mục tiêu đào tạo của cấp THPT và yêu cầu thực tế trong thời hội nhập. Xuất phát từ mục tiêu DH môn ngoại ngữ là cung cấp cho HS những kiên thức phổ thông cơ bản hệ thống về môn tiếng Anh sao cho HS có thể sử dụng tiếng Anh như một công cụ giao tiếp ở mức độ cơ bản dưới dạng nghe, nói, đọc, viết, có thể hiểu biết khái quát về đất nước con người và nền văn hóa của một số nước nói tiếng Anh từ đó có tình cảm, thái độ tốt đẹp đối với đất nước,con người, nền văn hóa và ngôn ngữ của các nước nói tiếng Anh, biết tự hào,yêu quý và tôn trọng nền văn hóa và ngôn ngữ của dân tộc mình. Căn cứ vào đặc thù cơ bản của việc dạy và học môn tiếng Anh ở trường THPT vào tầm quan trọng của bộ môn này. Xuất phát từ thực trạng của việc quản lý DH môn tiếng Anh ở các trường THPT huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng còn nhiều bất cập. Việc quản lý DH môn tiếng Anh còn tồn tại chưa phù hợp , cách kiểm tra đánh giá chưa có nhiều đổi mới nên chất lượng đạt dược chưa cao. Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn "Biện pháp quản lý dạy học tiếng Anh tại các trường Trung học phổ thông huyện Thủy Nguyên”. Với 3 mong muốn xây dựng được những biện pháp khả thi trên cơ sở lý luận khoa học và tổng kết kinh nghiệm góp phần đắc lực vào việc đào tạo nguồn nhân lực cho đất nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn hoạt động dạy học Tiếng Anh ở các trường trung học phổ thông huyện Thuỷ Nguyên, đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh cho HS trong thời kỳ hội nhập ở các trường trung học phổ thông huyện Thuỷ Nguyên. 2. Mục đích nghiên cứu Đề xuất một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng dạy - học môn tiếng Anh ở các trường THPT huyện Thủy Nguyên Hải Phòng. 3. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu 3.1. Khách thể nghiên cứu Hoạt động dạy học môn Tiếng Anh 3.2. Đối tượng nghiên cứu Biện pháp quản lí hoạt động dạy học Tiếng Anh ở các trường trung học phổ thông huyện Thuỷ Nguyên Hải Phòng. 4. Giả thuyết khoa học Chất lượng dạy học tiếng Anh cho HS ở các trường trung học phổ thông huyện Thuỷ Nguyên Hải Phòng phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, song một trong các yếu tố cơ bản là công tác quản lý hoạt động dạy học . Việc đề xuất các biện pháp quản lý dạy và học môn tiếng Anh cho HS các trường trung học phổ thông huyện Thuỷ Nguyên thành phố Hải Phòng được thực hiện đồng bộ, chất lượng dạy học môn này ở các trường trung học phổ thông huyện Thuỷ Nguyên sẽ được đảm bảo và từng bước dược nâng cao. 5. Nhiệm vụ nghiên cứu - Hệ thống hoá những vấn đề lý luận liên quan đến đề tài như: Khái niệm quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường, những vấn đề lý luận dạy học tiếng Anh ở trung học phổ thông. 4 - Khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý DH Tiếng Anh tại các trường trung học phổ thông huyện Thuỷ Nguyên. - Đề xuất một số biện pháp quản lí HĐDH Tiếng Anh tại các trường trung học phổ thông huyện Thuỷ Nguyên Thành phố Hải phòng và khảo nghiệm tính khả thi và cần thiết của đề tài. 6. Giới hạn phạm vi nghiên cứu - Do thời gian có hạn nên đề tài tập trung nghiên cứu khảo sát ba trường trung học phổ thông của huyện Thuỷ Nguyên. + Trường trung học phổ thông Lý Thường Kiệt + Trường trung học phổ thông Thuỷ Sơn + Trường trung học phổ thông Quang Trung. - Thời gian từ năm 2005 – 2006 đến 2007 – 2008. 7. Phƣơng pháp nghiên cứu Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận Phương pháp nghiên cứu thực tiễn - Phương pháp điều tra viết: xây dựng các mẫu phiếu điều tra nhằm thu thập thông tin về vấn đề được nghiên cứu. - Phương pháp phỏng vấn: hỏi trực tiếp GV, HS và những người có liên quan đến hoạt động DH Tiếng Anh cho HS ở trường trung học phổ thông huyện Thuỷ Nguyên thành phố Hải phòng - Phương pháp chuyên gia: xin ý kiến chuyên gia về tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp quản lí hoạt động DH tiếng Anh. 7.3 Nhóm phương pháp xử lý số liệu 8. Cấu trúc luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận văn được trình bày trong 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy học Chƣơng 2: Thực trạng dạy học môn tiếng Anh tại trường trung học phổ thông huyện Thuỷ Nguyên thành phố Hải Phòng. Chƣơng 3: Biện pháp quản lý dạy học môn tiếng Anh tại 3 trường trung học phổ thông huyện Thuỷ Nguyên thành phố Hải Phòng. 5 CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC 1.1. Các khái niệm cơ bản của vấn đề nghiên cứu 1.1.1. Khái niệm quản lý Quản lý là một trong những loại hình lao động quan trọng nhất và lâu đời của con người. Nó phát triển không ngừng theo sự phát triển của xã hội. Quản lý là một cần thiết cho tất cả các lĩnh vực của đời sống con người và là một nhân tố của sự phát triển xã hội. Lý luận về quản lý vì vậy được hình thành và phát triển qua các thời kỳ và trong các lý luận về chính trị, kinh tế xã hội. Tuy nhiên, chỉ mới gần đây người ta mới chú ý đến “chất khoa học” của quá trình quản lý và dần hình thành các “lý thuyết quản lý”. Từ khi F.W.Taylor phát biểu các nguyên lý về quản lý thì quản lý nhanh chóng phát triển thành một ngành khoa học. Bất cứ một tổ chức, một lĩnh vực nào, từ sự hoạt động của nền kinh tế quốc dân, hoạt động của một doanh nghiệp, một đơn vị hành chính sự nghiệp, đến một tập thể thu nhỏ như tổ sản xuất, tổ chuyên môn, bao giờ cũng có hai phân hệ: người quản lý và đối tượng bị quản lý. Có nhiều quan điểm khác nhau về quản lý tùy thuộc vào các cách tiếp cận, góc độ nghiên cứu và hoàn cảnh xã hội, kinh tế, chính trị. Có thể điểm qua một số lý thuyết đó như sau: K.Markx: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiệ những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có một nhạc trưởng”[7, tr.480]. Như vậy K.Marx đã lột tả được bản chất quản lý là một hoạt động lao động để điều khiển lao động, một hoạt động tất yếu vô cùng quan trọng trong quá trình 6 phát triển của xã hội loài người. Quản lý đã trở thành một hoạt động phổ biến, mọi nơi, mọi lúc, mọi lĩnh vực, mọi cấp độ và có liên quan đến mọi người. Đó là một loại hoạt động xã hội bắt nguồn từ tính chất cộng đồng dựa trên sự phân công và hợp tác để làm một công việc nhằm đạt một mục tiêu chung. Khái niệm quản lý được giải trình từ nhiều góc độ. Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (nói chung là khách thể quản lý) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến”[10,tr.35]. “Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý ( người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [9 , Tr.1]. Có nhiều định nghĩa khác nhau về quản lý, song tựu chung các định nghĩa trên đều thống nhất: Quản lý luôn luôn tồn tại với tu cách là một hệ thống gồm các yếu tố: chủ thể quản lý (người quản lý, tổ chức quản lý); khách thể quản lý (người bị quản lý, đối tượng quản lý) gồm con người, trang thiết bị kỹ thuật, vật nuôi, cây trồng và mục đích hay mục tiêu chung của công tác quản lý do chủ thể quản lý áp đặt hay go yêu cầu khách quan của xã hội hoặc do có sự cam kết, thỏa thuận giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý, từ đó nảy sinh các mối quan hệ tương tác với nhau giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý. Bản chất của hoạt động quản lý là cách thức tác động (tổ chức, điều khiển, chỉ huy) hợp quy luật của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt hiệu quả mong muốn và đạt được mục tiêu đề ra. 1.1.2. Quản lý giáo dục và quản lý nhà trường 1.1.2.1. Quản lý giáo dục Khoa học quản lý là một khoa học liên ngành sử dụng tri thức của nhiều lĩnh vực: Tâm lý học, Xã hội học, Triết học v.v... 7 Khoa học quản lý giáo dục là một chuyên ngành của khoa học quản lý nói chung đồng thời cũng là bộ phận của khoa học giáo dục, nhưng là một khoa học tương đối độc lập. Quản lý giáo dục là một loại hình của quản lý xã hội bởi lẽ Giáo dục là một hiện tượng xã hội, một chức năng của xã hội loài người được thực hiện một cách tự giác, cũng giống như mọi hoạt động khác của xã hội loài người, giáo dục cũng cần phải quản lý. dưới góc độ coi giáo dục là một hoạt động chuyên biệt thì quản lý giáo dục là quản lý các hoạt động của một cơ sở giáo dục như trường học,các đơn vị phục vụ đào tạo Dưới góc độ xã hội, quản lý giáo dục là quản lý mọi hoạt động giáo dục trong xã hội . Có nhiều định nghĩa về quản lý giáo dục như sau: Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang, khái niệm quản lý giáo dục là khái niệm đa cấp (bao hàm cả quản lý hệ giáo dục quốc gia, quản lý các phân hệ của nó, đặc biệt là quản lý trường học): “Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình DH – giáo dục thế hệ trẻ, đưa giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất”[10, tr.35]. “Quản lý giáo dục là tổ chức các hoạt động DH. Có tổ chức được các hoạt động DH, thực hiện được các tính chất của nhà trường phổ thông Việt Nam xã hội chủ nghĩa, mới quản lý được giáo dục, tức là cụ thể hoa đường lối giáo dục của Đảng và biến đường lối đó thành hiện thực, đáp ứng nhu cầu của nhân dân, của đất nước”[9, tr.9]. Quản lý giáo dục có tính xã hội cao. Bởi vậy, cần tập trung giải quyết tốt các vấn đề xã hội: Kinh tế, Chính trị, Văn hóa, An ninh quốc phòng phục vụ công tác giáo dục. Nhà trường là đối tượng cuối cùng và cơ bản nhất của quản lý giáo dục, trong đó đội ngũ GV và HS là đối tượng quản lý quan trọng nhất. 8 Qua các định nghĩa trên chúng ta có thể rút ra những kết luận: QLGD là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý đến tập thể GV và HS, đến những lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường làm cho quá trình này hoạt động để đạt những mục tiêu dự định, nhằm điều hành phối hợp các lực lượng xã hội thúc đẩy mạnh mẽ công tác giáo dục thế hệ trẻ, theo yêu cầu phát triển xã hội. Trong QLGD, quan hệ cơ bản là quan hệ giữa người quản lý với người dạy và người học, ngoài ra còn các mối quan hệ khác như quan hệ giữa các cấp bậc khác, giữa GV với HS , giữa nhân viên phục vụ với công việc liên quan đến hoạt động giảng dạy và học tập, giữa GV – HS và CHSC phục vụ cho giáo dục. 1.1.2.2. Quản lý nhà trường Vấn đề cơ bản của quản lý giáo dục là quản lý nhà trường vì nhà trường là cơ sở giáo dục, nơi tổ chức thực hiện mục tiêu giáo dục. Khi nghiên cứu về nội dung khái niệm quản lý giáo dục thì khái niệm trường học được hiểu là tổ chức cơ sở mang tính Nhà nước – xã hội, trực tiếp làm công tác giáo dục đào tạo thế hệ trẻ cho tương lai của đất nước. “Quản lý nhà trường là tập hợp những tác động tối ưu của chủ thể quản lý đến tập thể GV, HS và cán bộ khác, nhằm tận dụng các nguồn dự trữ do nhà nước đầu tư, lực lượng xã hội đóng góp và do lao động xây dựng vốn tự cơ. Hướng vào việc đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà trường mà điểm hội tụ là quá trình đào tạo thế hệ trẻ. Thực hiện có chất lượng mục tiêu và kế hoạch đào tạo, đưa nhà trường tiến lên trạng thái mới” [10, tr.43]. “Quản lý trường học là lao động của các cơ quan quản lý nhằm tập hợp và tổ chức lao động của GV, HS và các lực lượng giáo dục khác, cũng như huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao chất lượng GD&ĐTtrong nhà trường” [13, tr.205]. Quản lý nhà trường là một hoạt động được thực hiện trên cơ sở những quy luật chung của quản lý, đồng thời cũng có những nét đặc thù riêng của nó. Quản lý nhà trường khác với các loại quản lý xã hội khác, được quy định 9 bởi bản chất hoạt động sư phạm của người GV, bản chất của quá trình DH, giáo dục trong đó mọi thành viên của nhà trường vừa là đối tượng quản lý vừa là chủ thể hoạt động của bản thân mình. Sản phẩm tạo ra của nhà trường là nhân cách của người học được hình thành trong quá trình học tập, tu dưỡng và rèn luyện theo yêu cầu của xã hội và được xã hội thừa nhận. Mục đích của quản lý nhà trường: là đưa nhà trường từ trạng thái đang phát triền lên một trạng thái phát triển mới bằng phương thức xây dựng và phát triển mạnh mẽ các nguồn lực giáo dục và hướng các nguồn lực đó vào việc phục vụ cho việc nâng cao chất lượng giáo dục. Nội dung công tác quản lý giáo dục trong nhà trường bao gồm: + Quản lý toàn bộ cơ sở vât chất và thiết bị nhà trường nhằm phục vụ tốt nhất cho việc giảng dạy, học tập và giáo dục HS. + Quản lý tốt nguồn tài chính hiện có của nhà trường theo đúng nguyên tắc quản lý tài chính của nhà nước đồng thời thực hiện xã hội hóa giáo dục, động viên, thu hút các nguồn tài chính khác nhằm xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị phục vụ các hoạt động giáo dục và DH. + Quản lý đội ngũ các thầy giáo , cán bộ công nhân viên và tập thể HS thực hiện tốt các nhiệm vụ trong trương chình công tác của nhà trường. + Quản lý tốt các hoạt động chuyên môn theo trương trình giáo dục của Bộ GD và nhà trường Thực hiện nghiêm túc chương trình, đổi mới phương pháp giáo dục, đổi mới phương pháp giảng dạy, nâng cao chất lượng DH. + Quản lý tốt việc học tập của HS . Quản lý HS bao hàm cả quản lý thời gian và chất lượng học tập, quản lý tinh thần và thái độ và phương pháp học tập. + Quản lý việc kiểm tra và đánh giá . + Quản lý việc chăm lo đến đời sống vật chất và tinh thần của tập thể GV, công nhân viên của nhà trường [11, tr.11]. 10 Quản lý nhà trường là phải quản lý toàn diện nhằm hoàn thiện và phát triển nhân cách của thế hệ trẻ một cách hợp lý, khoa học và hiệu quả. Thành công hay thất bại của nhiệm vụ đổi mới nâng cao hiệu quả giáo dục trong nhà trường phụ thuộc rất lớn vào điều kiện cụ thể của nhà trường. Vì vậy muốn thực hiện có hiệu quả công tác giáo dục người quản lý phải xem xét đến những điều kiện đặc thù của nhà trường, phải chú trọng tới việc đổi mới công tác quản lý giáo dục để quản lý có hiệu quả các hoạt động trong nhà trường. 1.1.3. Quản lý hoạt động dạy – học 1.1.3.1. Hoạt động dạy-học * Khái niệm hoạt động dạy - học “Dạy học là một chức năng xã hội, nhằm truyền đạt và lĩnh hội kiến thức, kinh nghiệm xã hội đã tích lũy được, nhằm biến kiến thức, kinh nghiệm xã hội thành phẩm chất và năng lực cá nhân”[4, tr.18]. “Quá trình DH là một hệ toàn vẹn bao gồm hoạt động dạy và hoạt động học. Hai hoạt động này luôn tương tác với nhau, thâm nhập vào nhau sinh thành ra nhau. Sự tương tác này giữa dạy và học mang tính chất cộng tác, trong đó hoạt động dạy giữ vai trò chủ đạo”[12, tr.52]. Có thể khái quát dạy học gồm hai hoạt động, đó là hoạt động dạy của thày và hoạt động học của trò. Hai hoạt động này có mối quan hệ biện chứng với nhau. - Giữa dạy với học. - Giữa truyền đạt với điều khiển trong dạy. - Giữa lĩnh hội và với tự điều khiển trong học. Hoạt động dạy: Dạy là điều khiển quá trình trò chiếm lĩnh khái niệm khoa học, bằng cách đó phát triển, hình thành nhần cách trò. Dạy có hai chức năng: truyền đạt thông tin dạng học và điều khiển hoạt động DH. Hoạt động DH giúp trò lĩnh hội tri thức, hình thành và phát triển nhân cách. Vai trò chủ đạo của hoạt động dạy được biểu hiện với ý nghĩa là tổ chức và điều khiển hoạt động học của trò, giúp trò nắm được kiến thức, hình thanh 11 kĩ năng, thái độ. Hoạt động dạy có chức năng kép là truyền đạt và điều khiển. Nội dung, chương trình DH theo một quy định bắt buộc và được thống nhất trong mỗi cấp học. Để đạt được mục đích, người dạy và người học đều phải phát huy các yếu tố chủ quan của cá nhân (phẩm chất và năng lực của người dạy và người học) để xác định nội dung, lựa chọn phương pháp, tìm kiếm các hình thức, các phương tiện dạy – học phù hợp. Hoạt động học: Học là quá trình trong đó dưới sự định hướng của người dạy, người học tự giác, tích cực, độc lập, tiếp thu tri thức, kinh nghiệm từ môi trường xung quanh bằng các thao tác trí tuệ và chân tay nhằm hình thành cấu trúc tâm lý mới để biến đổi nhân cách của mình theo hướng ngày càng hoàn thiện. Cũng như hoạt động dạy, hoạt động học có hai chức năng kép là lĩnh hội và tự điều khiển. Nội dung của hoạt động học bao gồm toàn bộ hệ thống khái niệm của môn học, bằng phương pháp đặc trưng của môn học, của khoa học đó, vói phương pháp nhận thức độc đáo, phương pháp chiếm lĩnh khoa học để biến tri thức của nhân loại thành học vấn của bản thân. Nhưng để học đạt được hiệu quả và tránh được những sai lầm thì học phải có sự hướng dẫn, tổ chức, chỉ đạo của thày. Như vậy học cần phải diễn ra trong mối quan hệ thống nhất biện chứng với hoạt động dạy của thày, mối quan hệ này có thể diễn ra trực tiếp hoặc gián tiếp tùy theo mức độ tự lực của người học, để đạt được mục đích cuối cùng của người học, đó là: - Nắm vững tri thức khoa học - Phát triển tư duy và năng lực hoạt động - Hình thành thái độ, đạo đức và nhân cách, lý tưởng sống * Mối quan hệ giữa hoạt động dạy – học Hoạt động dạy – học mang tính chất hai chiều, gồm hoạt động dạy và hoạt động học, đó là hai mặt của một quá trình luôn tác động qua lại và bổ sung cho nhau, phối hợp chặt chẽ thống nhất với nhau giữa người dạy và người học. Hoạt động dạy – học diễn ra trong những điều kiện xác định, trong 12 đó đóng vai trò chủ động, tích cực, tự giác và sáng tạo, nhằm đạt hiệu quả theo mục tiêu giáo dục đã xác định. Trong quá trình DH, quan hệ giữa thày và trò là vấn đề rất quan trọng và phức tạp. Thày giáo là người điều khiển quá trình DH nhưng trò là chủ thể nhận thức cũng như điều khiển hoạt động nhận thức của mình. Quá trình điều khiển của thày có mang lại hiệu quả hay không lại phụ thuộc rất nhiều vào sự tiếp nhận của trò. Thày giáo phải luôn hướng đến tư tưởng “DH lấy tâm làm trung tâm”. Như vậy, nguyên tác “phát huy tính tự giác, tích cực, độc lập của trò dưới sự chỉ đạo của thày” đang là trung tâm chú ý của các nhà giáo dục hiện nay. Bản chất của quá trình DH: là sự thống nhất biện chứng của dạy và học, được thể hiện trong và bằng sự tương tác có tính chất cộng đồng và hợp tác giữa dạy và học tuân theo logic khách quan của nội dung DH. “Chỉ trong sự tác động qua lại giữa thày và trò thì mới xuất hiện bản thân quá trình dạy – học. Sự phá vỡ mối liên hệ tác động qua lại giữa dạy và học sẽ làm mất đi sự toàn vẹn đó” [12 ,Tr.23]. Sơ đồ 1.1: Quá trình dạy học KHÁI KHÁINIỆM NIỆMDẠY DẠYHỌC HỌC DẠY HỌC Truyền đạt Lĩnh hội Điều khiển Tự điền khiển Hoạt động DH là hoạt động trung tâm chi phối tất cả các hoạt động khác trong nhà trường. Hoạt động DH làm cho HS nắm vững tri thức khoa học một 13 cách có hệ thống cơ bản, có những kỹ năng, kỹ xảo cần thiết trong học tập, lao động và đời sống. Hoạt động này làm phát triển tư duy độc lập sáng tạo, hình thành những năng lực cơ bản về nhận thức và hành động của HS, hình thành ở HS thế giới quan khoa học, lòng yêu tổ quốc, yêu CNXH, đó chính là động cơ học tập trong nhà trường và định hướng hoạt động của HS. Vì vậy, có thể nói hoạt động DH trong nhà trường đã tô đậm chức năng xã hội của nhà trường, đặc trưng nhiệm vụ của nhà trường và là hoạt động giáo dục trung tâm, là cơ sở khoa học của các hoạt động giáo dục khác trong nhà trường. 1.1.3.2. Quản lý hoạt động dạy học DH và giáo dục trong sự thống nhất là hoạt động trung tâm của nhà trường. Mọi hoạt động đa dạng và phức tạp của nhà trường đều hướng vào hoạt động trung tâm đó. Vì vậy trọng tâm của việc quản lý trường học là quản lý hoạt động DH và giáo dục. Đó chính là quản lý hoạt động lao động sư phạm của người thày và hoạt động học tập, rèn luyện của thày trò được diễn ra chủ yếu trong hoạt động DH. Quản lý hoạt động DH là quản lý một quá trình xã hội, một quá trình sư phạm đặc thù, nó tồn tại như là một hệ thống, bao gồm nhiều thành tố cấu trúc như: Mục đích và nhiệm vụ DH, nội dung DH, phương pháp DH và phương tiện DH, thày với hoạt động dạy, trò với hoạt động học tập và kiểm tra - đánh giá kết quả DH để điều chỉnh cho hiệu quả ngày càng tốt hơn. Quản lý hoạt động DH là phải tổ chức thực hiện các nhiệm vụ cơ bản sau đây: - Cụ thể hóa mục tiêu DH qua các nhiệm vụ DH nhằm nâng cao tri thức, kỹ năng, bồi dưỡng thái độ và hình thành phát triển những năng lực, phẩm chất tốt đẹp cho người học. - Quản lý việc xây dựng và thực hiện nội dung DH. Nội dung DH phải đảm bảo bao gồm hệ thống những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo mà người học cần phải nắm vững trong quá trình DH. 14 - Quản lý hoạt động giảng dạy của GV (Biên soạn giáo trình, giáo án, chuẩn bị đồ dùng DH, lên lớp, kiểm tra HS học tập). - Quản lý hoạt động học tập của HS (nề nếp, thái độ, kết quả học tập). - Quản lý cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho hoạt động DH. *Quản lý hoạt động dạy Hoạt động dạy của thày là hoạt động chủ đạo trong quá trình DH, quản lý hoạt động này bao gồm: Quản lý việc thực hiện chương trình DH, quản lý việc soạn bài và chuẩn bị lên lớp, quản lý giờ lên lớp của GV, quản lý việc dự giờ và phân tích bài học sư phạm, quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả học tập của HS. Trong quá trình GD & ĐT, GV vừa là đối tượng quản lý, vừa là chủ thể quản lý của hoạt động giảng dạy. Quản lý hoạt động giảng dạy bao gồm một số nội dung quản lý cơ bản: - Quản lý việc thực hiện chương trình giảng dạy (nọi dung, tiến trình). - Quản lý giờ lên lớp và vận dụng PP, sử dụng phương tiện dạy học. Hình thức dạy và học trên lớp hiện nay vẫn được coi là một trong các hình thức cơ bản và chủ yeus của quá trình dạy học. Vì vậy chất lượng của hoạt động dạy học phụ thuộc rất lớn vào chất lượng của các giờ lên lớp của thày. - Quản lý việc thực hiện quy chế kiểm tra, đánh giá chất lượng. Kiểm tra đánh giá là khâu quan trọng và không thể thiếu trong hoạt động dạy học. Kiểm tra đánh giá kết quả học tập của trò là quá trình thu thập và xử lý thông tin về trình độ và khả năng thực hiện nhiệm vụ học tập của người học, trên cơ sở đó đề ra những biện pháp phù hợp giúp họ học tập tiến bộ. - Quản lý hồ sơ chuyên môn của các GV: là phương tiện giúp người quản lý nắm chắc được tình hình thực hiện nhiệm chuyên môn của các GV là một trong những cơ sở pháp lý đánh giá việc thực hiện nề nếp chuyên môn của họ. Những hồ sơ cơ bản cần phải có của mỗi GV gồm: - Chương trình những phân môn được phân công giảng dạy - Kế hoạch năm học: kế hoạch hoạt động chuyên môn chung của GV. 15 - Kế hoạch giảng dạy môn học - Tập bài soạn - Sổ dự giờ - Sổ theo dõi chuyên cần và điểm của người học - Hồ sơ nghiên cứu khoa học (bao gồm: Đăng ký đè tài, đề cương nghiên cứu, tư liệu và kết quả nghiên cứu) - Hồ sơ tự học, tự bồi dưỡng (kế hoạch, nội dung và tài liệu học tập) [6 ,Tr.19] Tóm lại: Quản lý hoạt động dạy của thầy là quản lý một quá trình chủ đạo của người thầy trong quá trình DH, đòi hỏi người quản lý nhà trường phải hiểu nội dung, yêu cầu cần quản lý để đưa ra những quyết định quản lý vừa mang tính nghiêm chỉnh, chính xác, nhưng lại vừa là mềm dẻo linh hoạt để đưa hoạt động dạy của thầy vào nề nếp kỷ cương nhưng vẫn phát huy được khả năng sáng tạo khoa học của GV trong việc thực hiện nhiệm vụ của mình. Tuy nhiên hoạt động dạy của thầy sẽ hoàn thành trọn vẹn khi mà người thầy tổ chức tốt hoạt động học tập của trò. Đó là sự liên tục của hoạt động DH, là trách nhiệm của người thầy đối với “Sản phẩm đào tạo” của mình. * Quản lý hoạt động học của trò Hoạt động học tập của HS là một hoạt động song song tồn tại cùng với hoạt động dạy của thày giáo. Quản lý hoạt động học tập của người học là quản lý việc thực hiện các nhiệm vụ học tập, nghiên cứu, rèn luyện của người học trong suốt quá trình học tập. Người học vừa là đối tượng quản lý, vừa là chủ thể quản lý. Trong quản lý hoạt động học tập cần lưu ý tính phức tạp và tính trừu tượng về sự chuyển biến trong nhân cách, do tác động đồng thời của nhiều yếu tố chủ thể và khách thể, làm cho kết quả học tập của họ bị hạn chế. Quản lý hoạt động học tập có nội dung, yêu cầu cụ thể, vì vậy cần phải tăng cường việc KT-ĐG các hoạt động học tập của người học và hoạt động giảng dạy của người thày. 16 Quản lý hoạt động học tập bao gồm: Quản lý học trên lớp, hoạt động tự học và các hoạt động ngoai khóa. * Quản lý cơ sở vật chất - kỹ thuật phục vụ dạy và học Cơ sở vật chất là điều kiện tiên quyết cho nhà trường hình thành và đi vào hoạt động, là điều kiện không thể thiếu được trong việc nâng cao chất lượng đào tạo. Cơ sở vật chất - kỹ thuật dạy và học của nhà trường. Quản lý cơ sở vật chất - kỹ thuật phục vụ cho dạy và học đảm bảo được 3 yêu cầu liên quan mật thiết với nhau đó là: - Đảm bảo đầy đủ cơ sở vật chất - kỹ thuật phục vụ dạy và học. - Sử dụng có hiệu quả cơ sở vật chất - kỹ thuật trong việc dạy và học. - Tổ chức quản lý tốt cơ sở vật chất - kỹ thuật trong nhà trường. Nội dung quản lý cơ sở vật chất - kỹ thuật phục vụ dạy và học trong nhà trường bao gồm: - Quản lý trường lớp, phòng học, bàn ghế, bảng. - Quản lý các trang thiết bị phục vụ DH, hoạt động của các phòng bộ môn, phòng chức năng. - Quản lý thư viện trường học với các sách báo, tài liệu. - Quản lý nguồn kinh phí, xây dựng nội quy và kế hoạch sử dụng trang thiết bị, ph]ơng tiện - kỹ thuật phục vụ HĐD-H. 1.2. Đặc điểm của hoạt động dạy- học ngoại ngữ, dạy- học tiếng Anh 1.2.1. Bản chất của ngôn ngữ và dạy học ngoại ngữ Các nhà ngôn ngữ học thừa nhận rằng ngôn ngữ là một trong những phương tiện hay công cụ giao tiếp quan trọng nhất của con người và bản chất của ngôn ngữ là thực hiện chức năng giao tiếp. Hiện nay trên thế giới có nhiều ngôn ngữ khác nhau đang cùng tồn tại. Mặc dù mỗi ngôn ngữ có những đặc điểm riêng về âm thanh, chữ viết, hình thức bên ngoài hay cấu trúc bên trong song tất cả các ngôn ngữ đều có chung một bản chất là làm công cụ giao tiếp cho dù ngôn ngữ đó có ít hay nhiều người sử dụng. 17 Dạy và học ngoại ngữ thực chất là DH cách sử dụng một ngôn ngữ mới ngoài tiếng mẹ đẻ làm công cụ giao tiếp. Bản chất của công cụ giao tiếp được thể hiện trong dạy và học ngoại ngữ qua: mục đích dạy và học ngoại ngữ là hình thành và phát triển một ngôn ngữ mới như một công cụ giao tiếp, nội dung là dạy và học một công cụ giao tiếp bằng tiếng nước ngoài, phương pháp dạy và học là giúp HS chiếm lĩnh một công cụ giao tiếp mới và kiểm tra, đánh giá kết quả học tập là xem xét, đánh giá khả năng sử dụng ngoại ngữ như một công cụ giao tiếp. Quan hệ giữa ngôn ngữ và lời nói Ngôn ngữ, với tư cách là phương tiện giao tiếp của con người, là sự thống nhất chặt chẽ giữa ngôn ngữ (language) và lời nói (speech). Ngôn ngữ và lời nói là hai mặt của một hiện tượng, trong đó ngôn ngữ chỉ một hiện thực khách quan và có tính chung toàn xã hội; còn lời nói là sự vận dụng ngôn ngữ chung của mỗi cá nhân vào các tình huống giao tiếp cụ thể do đó nó mang tính chất cá thể. Ngôn ngữ và lời nói hợp thành một thể thống nhất biện chứng giữa cái chung và cái riêng. Ngôn ngữ là một hệ thống gồm ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp và luôn mang tính chất tĩnh và ổn định; lời nói là sự kết hợp các nội dung ngôn ngữ trong hoạt động giao tiếp như nghe, nói, đọc, viết và mang tính chất động và biến đổi thường xuyên tùy theo từng tình huống giao tiếp cụ thể. Dạy và học ngoại ngữ là nhằm chiếm lĩnh và sử dụng hệ thống ngôn ngữ (ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp) trong giao tiếp lời nói: nghe, nói, đọc và viết. Ngôn ngữ và nền văn hóa của cộng đồng nói ngôn ngữ đó luôn có mối quan hệ biện chứng với nhau. Ngôn ngữ vừa là phương tiện biểu đạt vừa là phương tiện tàng trữ những giá trị văn hóa của dân tộc sản sinh ra ngôn ngữ ấy. Điều này có nghĩa là dạy và học ngoại ngữ phải nhằm đạt hai mục đích: trang bị cho HS một công cụ giao tiếp mới đồng thời thông qua việc sử dụng công cụ giao tiếp đó HS tiếp thu những giá trị văn hóa của các dân tộc sử dụng ngôn ngữ đang học bao gồm những hiểu biết về đất nước, con người, phong tục, tập quán, khoa học, kĩ thuật,.. 18 Nói cách khác, dạy và học ngoại ngữ phải mang mục đích kép là vừa hình thành và phát triển một công cụ giao tiếp mới vừa thông qua đó để tiếp thu những giá trị văn hóa của dân tộc có ngôn ngữ đang học. Trong hai mục đích đó thì mục đích thứ nhất vừa là mục đích dạy và học ngoại ngữ vừa là cách thức hay con đường nhằm đạt được mục đích lâu dài hơn là mục đích thứ hai. Điều này giúp cho quá trình dạy và HS động hơn, hấp dẫn hơn, dễ dàng hơn và do vậy kết quả dạy và học sẽ nhanh hơn và bền vững hơn. Mục tiêu D-H ngoại ngữ là người học có thể phát triển khả năng hiểu và sử dụng ngôn ngữ được học. Kỹ năng sử dụng ngôn ngữ được chia làm 2 loại: kỹ năng thu nhận gồm kỹ nghe,đọc và kỹ năng tái tạo bao gồm kỹ năng nói viết. người dạy cần phải phân biệt yêu cầu của từng kỹ năng để có PP DH thích hợp và người học có PP học tương ứng. Đối với môn học ngoại ngữ, ngoài các kỹ năng ngôn ngữ người học phải đạt được để sử dụng nó làm phương tiện giao tiếp, người học còn được trang bị thêm kiến thức, văn hóa của thứ tiếng đó. Xuất phát từ mục đích, yêu cầu và dựa trên cơ sở lý luận DH, bộ môn ngoại ngữ trong chương trình giáo dục nói chung qui định những nội dung thiết yếu nhất trên các mặt: giáo dục tư tưởng đạo đức, bồi dưỡng tri thức văn hóa và rèn luyện kỹ năng giao tiếp bằng ngoại ngữ. Các nội dung này liên quan chặt chẽ với nhau, hợp thành một thể thống nhất với hạt nhân trung tâm là kỹ năng giao tiếp để thông qua hoạt dộng DH tạo nên ở mỗi HS khả năng giao tiếp bằng ngoại ngữ. Nội dung DH ngoại ngữ Nội dung DH ngoại ngữ bao gồm 4 kỹ năng: nói, nghe, đọc, viết trong đó kỹ năng đọc hiểu giữ vai trò vị trí trung tâm. cả 4 kỹ năng đều hình thành trên cơ sở hiểu nội dung thông điệp và giữa chúng có mối quan hệ chặt chẽ, hỗ trợ nhau. Nội dung kỹ năng giao tiếp 19
- Xem thêm -