Tài liệu Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng dân sự việt nam

  • Số trang: 202 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 88 |
  • Lượt tải: 1
nhattuvisu

Đã đăng 27125 tài liệu

Mô tả:

1 MỞ ĐẦU 1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI Bảo vệ kịp thời quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự trong tố tụng dân sự (TTDS) luôn là mục tiêu hướng đến trong các hoạt động giải quyết các vụ việc dân sự (VVDS) của tòa án nhân dân (TAND). Để đạt được mục tiêu này, trong những trường hợp cần thiết, TAND có thể áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời (BPKCTT) theo quy định của pháp luật. BPKCTT được pháp luật tố tụng dân sự (PLTTDS) ghi nhận từ khá lâu và hiệu quả nổi bật của nó đã được kiểm chứng qua thực tiễn TTDS của rất nhiều nước trên thế giới. Với BPKCTT, tòa án có thể giải quyết ngay nhu cầu cấp bách chính đáng của đương sự, bảo vệ ngay tức khắc bằng chứng dùng để giải quyết VVDS hay bảo toàn nhanh chóng tài sản nhằm đảm bảo cho khả năng thi hành án dân sự, từ đó bảo vệ kịp thời quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự khi mà VVDS chưa có phán quyết chính thức giải quyết về nội dung. Việt Nam hiện nay đã và đang khẩn trương thực hiện công cuộc cải cách tư pháp và thủ tục tố tụng theo tinh thần của Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 và ngay sau đó là Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị đề ra. Thực tiễn thực hiện cải cách tư pháp, cải cách thủ tục tố tụng cộng với thực tiễn của việc hội nhập kinh tế quốc tế thời gian qua cho thấy TTDS của Việt Nam mà trước hết là PLTTDS Việt Nam cần phải đáp ứng được hai đòi hỏi cơ bản đó là tính nhanh chóng và tính bảo đảm an toàn pháp lý cho các bên đương sự trong việc bảo vệ quyền lợi của họ tại tòa án [80, tr. 86]. Một chế định của PLTTDS có khả năng đáp ứng tương đối tốt hai đòi hỏi cơ bản này chính là chế định BPKCTT. Chế định BPKCTT mà cơ bản là các quy định về BPKCTT trong Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) đã ghi nhận, tạo cơ sở pháp lý hợp pháp để trong những trường hợp quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trong TTDS cần được tòa án can thiệp, bảo vệ ngay tức khắc, TAND có quyền sử dụng một biện pháp tố tụng tương đối đặc biệt là BPKCTT - một biện pháp có ý nghĩa bảo vệ kịp thời quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, “góp phần bảo đảm tính thực tế, thiết thực cho việc giải quyết vụ án” của TAND [21, tr. 116]. 2 Hiện nay, chế định BPKCTT được quy định chủ yếu tại chương VIII BLTTDS gồm 28 điều luật cụ thể với nhiều nội dung khác nhau. Mặc dù so với các văn bản PLTTDS trước đây, khi Việt Nam chưa có BLTTDS thì chế định BPKCTT được quy định trong BLTTDS đã có một bước phát triển tương đối dài, rất đáng ghi nhận, tuy nhiên, qua khoảng thời gian 6 năm (từ năm 2005 khi BLTTDS bắt đầu có hiệu lực cho đến nay) thực tiễn thực hiện các quy định này đã cho thấy nhiều quy định bộc lộ những bất cập, vướng mắc, chưa thực sự phù hợp với đòi hỏi của thực tiễn TTDS. Chính thực trạng pháp luật còn nhiều vướng mắc, bất cập đã là nguyên nhân rất cơ bản làm các tòa án ít áp dụng BPKCTT. Kết quả khảo sát thực tiễn áp dụng BPKCTT trong TTDS 6 năm qua cho thấy tỉ lệ trung bình các VADS được tòa án áp dụng BPKCTT là rất thấp, chỉ là 0,13% trên tổng số các VADS được tòa án thụ lý (xem bảng 1 trang 95 của luận án). Ngay cả đối với phía đương sự, mặc dù họ được pháp luật công nhận quyền yêu cầu tòa án áp dụng BPKCTT nhưng khi có quyền, lợi ích hợp pháp cần được tòa án bảo vệ khẩn cấp, đương sự cũng rất e dè, hoặc không tự tin để đưa ra yêu cầu tòa án áp dụng BPKCTT. Tại nhiều tòa án nước ta, từ khi việc giải quyết vụ án dân sự (VADS) được thực hiện theo quy định của BLTTDS đến nay vẫn chưa hề có VADS nào có áp dụng BPKCTT. Rõ ràng, xét về mặt lý luận, chế định BPKCTT có ý nghĩa rất thiết thực, BPKCTT rất cần được áp dụng để bảo vệ kịp thời quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, nhưng thực tiễn TTDS ở Việt Nam trong thời gian qua lại cho thấy chế định BPKCTT chưa phát huy được hiệu quả như nó vốn có, biện pháp tố tụng này rất ít khi được áp dụng. Nhận biết được nhiều quy định của BLTTDS (trong đó có các quy định về BPKCTT) còn bất cập, hạn chế, cần phải được khắc phục, hoàn thiện, Uỷ ban thường vụ quốc hội đã phân công cho Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC) chủ trì, phối hợp với các cơ quan hữu quan xây dựng Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS. Trong quá trình thực hiện Dự án, đã có nhiều quan điểm, ý kiến có giá trị được đưa ra nhằm sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện BLTTDS trong đó có hoàn thiện chế định BPKCTT. Tuy nhiên, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS mới được thông qua ngày 29 tháng 3 năm 2011 cho thấy phần các quy định về BPKCTT không có nội dung nào được sửa đổi, bổ sung và như vậy Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS vẫn chưa cải thiện được hiệu quả điều chỉnh của 3 PLTTDS về BPKCTT, chưa cải thiện được thực trạng pháp luật hiện nay về BPKCTT. Điều này có nghĩa là tình trạng “ngại” áp dụng BPKCTT tại các tòa án sẽ vẫn tiếp diễn. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS chưa đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn áp dụng BPKCTT trong TTDS. Trong tình hình hiện nay, việc nghiên cứu toàn diện, sâu sắc về các quy định của PLTTDS về BPKCTT, về thực tiễn áp dụng các quy định của PLTTDS về BPKCTT để nhận biết được những thành công về lập pháp dẫn đến những kết quả đã đạt được thực tiễn áp dụng BPKCTT cũng như những bất cập, hạn chế trong công tác lập pháp để từ đó đưa ra các kiến nghị nhằm hoàn thiện hơn nữa chế định BPKCTT, nâng cao hơn nữa hiệu quả của việc áp dụng BPKCTT là vô cùng cần thiết, cần được thực hiện ngay. Việc nghiên cứu đề tài này sẽ góp phần thực hiện một trong những nhiệm vụ quan trọng của công cuộc cải cách tư pháp đã đề ra trong Nghị quyết số 48- NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị: “Cải cách mạnh mẽ các thủ tục tố tụng tư pháp theo hướng dân chủ, bình đẳng, công khai, minh bạch” [17, tr. 5] và tiếp tục được nhấn mạnh trong Nghị quyết số 49- NQ/TW ngày 2/6/2005 của Bộ Chính trị: “hoàn thiện các thủ tục tố tụng tư pháp, đảm bảo tính đồng bộ, dân chủ, công khai, minh bạch, tôn trọng và bảo vệ quyền con người” [18, tr. 3]. 2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI Trong thời gian qua, Việt Nam mới có một số ít công trình nghiên cứu có đề cập đến vấn đề này. Có thể một trong những lý do cơ bản dẫn đến thực trạng này là các văn bản PLTTDS trước đây có quá ít quy định về BPKCTT, chỉ là một, hai điều luật tương đối đơn giản trong các văn bản dưới luật như Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự (PLTTGQCVADS), Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế (PLTTGQCVAKT), Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động (PLTTGQCTCLĐ). Thực tiễn các hoạt động tố tụng giải quyết các VADS, lao động, thương mại trong suốt một thời gian dài trước khi có BLTTDS cũng cho thấy BPKCTT không được các tòa án chú trọng áp dụng nên BPKCTT cũng chưa thể hiện được hiệu quả vốn có của nó trong thực tiễn giải quyết các VADS. Như vậy, với số điều luật ít ỏi và với hiệu quả áp dụng trong thực tiễn TTDS không nổi bật nên BPKCTT trong TTDS chưa thu hút được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu. Trong suốt một thời gian dài trước khi ban hành BLTTDS rất ít công trình nghiên 4 cứu về BPKCTT. Chỉ sau khi Nhà nước ta ban hành BLTTDS, vấn đề BPKCTT trong TTDS mới phần nào thu hút hơn sự quan tâm của một số nhà nghiên cứu và cán bộ làm công tác thực tiễn. Sau đây việc điểm qua một số công trình nghiên cứu trong nước cũng như ngoài nước trong khoảng thời gian hơn một thập kỷ qua sẽ đưa lại một cái nhìn tổng thể hơn về tình hình nghiên cứu về BPKCTT trong TTDS Việt Nam: - Trước khi ban hành BLTTDS gần như không có công trình nghiên cứu riêng, chuyên sâu nào về vấn đề BPKCTT trong TTDS. Có chăng chỉ là một số công trình nghiên cứu về một số nội dung cơ bản của PLTTDS, trong đó có đề cập sơ qua đến BPKCTT. Trong một số công trình nghiên cứu đó, cuốn sách “Luật tố tụng dân sự Việt Nam (lược giải) của tiến sĩ luật khoa, luật sư Nguyễn Mạnh Bách do nhà xuất bản Đồng Nai xuất bản năm 1996 có đề cập sâu hơn về BPKCTT so với những công trình khác. Ví dụ tại điểm B Đoạn 2 Chương II của cuốn sách, tác giả có viết về quyền hạn của Chánh án tòa án cấp sơ thẩm, trong đó có quyền quyết định áp dụng BPKCTT. Trong cuốn sách này tác giả viết tới 5 trang về BPKCTT theo quy định tại Điều 41, Điều 42 PLTTGQCVADS nhưng sự nhìn nhận của tác giả về BPKCTT trong TTDS bị chi phối nhiều bởi PLTTDS cũ trước đó và tác giả chỉ tiếp cận BPKCTT dưới góc độ thuộc quyền ban hành của Chánh án. Tác giả đã phân chia thẩm quyền của Chánh án theo hai loại: quyền ban hành các án lệnh phê đơn và quyền ban hành các án lệnh cấp thẩm để phân tích và chỉ ra điểm khác nhau giữa hai loại quyền hạn này. Nhận xét một cách khách quan, tác giả đã tiếp cận BPKCTT trong TTDS dưới lăng kính của một nhà nghiên cứu rất hiểu biết PLTTDS trước đây, khi mà TTDS Việt Nam chịu ảnh hưởng rất rõ nét của PLTTDS Pháp. Tác giả cũng đã phân tích về yếu tố khẩn cấp, về thủ tục xin án lệnh phê đơn cũng như thủ tục cấp thẩm. Tuy nhiên, PLTTGQCVADS năm 1989 đã không còn phân chia quyền hạn của Chánh án theo hai trường hợp như tác giả nêu. Vì vậy, cuốn sách trên của tác giả Nguyễn Mạnh Bách có thể dùng để tham khảo về PLTTDS trước khi có PLTTGQCVADS. - Luận văn thạc sĩ luật học, chuyên ngành dân sự “Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng dân sự Việt Nam” của tác giả Nguyễn Văn Pha, mã số 50507 năm 1997 nghiên cứu về BPKCTT. Có thể khẳng định, trước khi có BLTTDS, đây là công trình nghiên cứu hiếm hoi, có ý định nghiên cứu chuyên sâu, riêng biệt về BPKCTT. 5 Trong luận văn của mình, tác giả đã chú trọng nghiên cứu về một số vấn đề lý luận của BPKCTT như khái niệm, ý nghĩa của BPKCTT, sơ lược quá trình phát triển của chế định BPKCTT trong PLTTDS, tham khảo một số quy định của PLTTDS một số nước về BPKCTT. Đặc biệt, tác giả đã tìm hiểu và phân tích các quy định của PLTTGQCVADS, chỉ ra những vướng mắc, bất cập của luật hiện hành, trên cơ sở đó mạnh dạn đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của PLTTGQCVADS... Tuy nhiên, tính cho đến nay, công trình nghiên cứu của tác giả này về BPKCTT đã được thực hiện cách đây nhiều năm, nội dung được nghiên cứu dựa trên các quy định của PLTTGQCVADS năm 1989 - một văn bản đã bị thay thế bởi BLTTDS nên mặc dù luận văn này vẫn có giá trị tham khảo về một số vấn đề lý luận nhưng phần tìm hiểu về các quy định của PLTTDS không còn phù hợp, một số kiến nghị không còn tính thời sự, không còn khả năng đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn. - Trong nội dung của cuộc Hội thảo khoa học “Những điểm mới và những vấn đề đặt ra trong thực tiễn thi hành BLTTDS” tổ chức vào tháng 12/2004 của Học viện tư pháp cũng có nội dung đề cập đến BPKCTT trong BLTTDS nhưng chỉ dưới góc độ tìm hiểu những điểm mới của BLTTDS, trong đó có chế định BPKCTT. Những nghiên cứu được công bố trong hội thảo chỉ là những điểm mới trong quy định của BLTTDS so với PLTTGQCVADS về BPKCTT mà không đi sâu tìm hiểu các vấn đề lý luận về BPKCTT như khái niệm, cơ sở hình thành, bản chất, đặc điểm cũng như các yêu cầu đặt ra về mặt lý luận đối với BPKCTT. - Các sách chuyên ngành đã xuất bản như Giáo trình Luật TTDS của khoa Luật Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội xuất bản năm 1995, Giáo trình Luật TTDS của Học viện Tư pháp do Nhà xuất bản Công an nhân dân xuất bản năm 2007, Giáo trình Luật TTDS của Trường Đại học Luật Hà Nội do Nhà xuất bản Tư pháp xuất bản năm 2010 đều có phần về BPKCTT. Vì là giáo trình nên các vấn đề như khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của BPKCTT trong TTDS, các quy định của BLTTDS về BPKCTT… chỉ được đề cập ở mức độ đại cương. - Cuốn sách tham khảo Luật TTDS Việt Nam - Nghiên cứu và so sánh của tác giả Tống Quang Cường do Nhà xuất bản Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh xuất bản năm 2007 cũng có viết một phần về BPKCTT trong TTDS. Mặc dù cuốn sách này không viết riêng về BPKCTT trong TTDS nhưng trong cuốn sách này, với 6 phần viết về áp dụng BPKCTT trong TTDS, tác giả đã chỉ ra được một số vấn đề lý luận về BPKCTT trong TTDS như khái niệm, đặc điểm của BPKCTT, làm nổi bật được một số nội dung cơ bản của PLTTDS Việt Nam hiện nay về BPKCTT như các loại BPKCTT, thẩm quyền và thủ tục ra quyết định áp dụng BPKCTT, hiệu lực của quyết định và hậu quả pháp lý của quyết định áp dụng BPKCTT. Tuy nhiên, vì cuốn sách được viết theo tinh thần đề cập tới toàn bộ các vấn đề cơ bản của PLTTDS, phần viết về áp dụng BPKCTT chỉ là một nội dung nhỏ, chiếm rất ít số trang trong cuốn sách đó, mặt khác với mục đích chủ yếu là tìm hiểu các quy định của PLTTDS hiện hành về áp dụng BPKCTT, chỉ ra một vài điểm mới nổi bật trong quy định của BLTTDS với PLTTGQCVADS và đưa ra nhận xét về những điểm mới đó nên tác giả đã không đi sâu giải quyết các vấn đề lý luận về BPKCTT. Vì thế, mặc dù tác giả có đưa ra khái niệm, đặc điểm của BPKCTT nhưng lại chưa lý giải cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của việc xây dựng nên khái niệm và đặc điểm của BPKCTT, cũng như chưa lột tả được bản chất của BPKCTT, của việc áp dụng BPKCTT trong TTDS. Với tiêu đề “áp dụng BPKCTT”, tác giả chỉ tập trung vào việc áp dụng BPKCTT và một vài chỗ tác giả cuốn sách không phân biệt rõ giữa vấn đề áp dụng BPKCTT với vấn đề BPKCTT trong TTDS, vì thế một vài nhận xét của tác giả về đặc điểm của BPKCTT cần được bàn luận thêm. - Cuốn sách tham khảo “Những vấn đề cơ bản của BLTTDS” của Vụ công tác lập pháp do nhà xuất bản Tư pháp xuất bản năm 2004 viết về những nội dung cơ bản của BLTTDS, trong đó có đề cập đến các quy định của BLTTDS về BPKCTT. Với mục đích tìm hiểu những vấn đề cơ bản của BLTTDS, phần viết về BPKCTT chỉ nêu sơ lược, vắn tắt các quy định của BLTTDS về BPKCTT, nêu ra một vài điểm mới trong quy định của BLTTDS về BPKCTT, vì thế chủ yếu là người đọc chỉ tham khảo được sơ lược quy định của BLTTDS về BPKCTT. - Cuốn sách tham khảo “Bình luận khoa học một số vấn đề của PLTTDS và thực tiễn áp dụng” của Tiến sĩ Lê Thu Hà do nhà xuất bản Tư pháp xuất bản bình luận về nhiều vấn đề trong PLTTDS Việt Nam, trong đó có bình luận về BPKCTT. Trong cuốn sách này, ở một mức độ nhất định, tác giả có giải thích về khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của BPKCTT, đặc biệt chú trọng đi sâu phân tích điểm mới của BLTTDS về BPKCTT, chỉ ra hướng áp dụng trong thực tiễn TTDS. Từ phần viết 7 này, người đọc vừa có thể hình dung được thực chất BPKCTT có ý nghĩa gì, các đặc điểm của nó ra sao, PLTTDS đã có sự phát triển như thế nào về chế định BPKCTT, khi áp dụng những điểm mới đó vào thực tiễn tố tụng thì áp dụng như thế nào cho đúng. Tuy nhiên, cũng như những cuốn sách tham khảo khác, cuốn sách này viết về nhiều vấn đề cơ bản của PLTTDS nên tác giả đã không có điều kiện đề cập sâu, đầy đủ toàn bộ các nội dung của chế định BPKCTT cũng như một số vấn đề lý luận khác về BPKCTT. - Một số ít các bài viết được đăng trên một số tạp chí pháp luật chuyên ngành như Tạp chí Luật học của Trường Đại học Luật Hà Nội; Tạp chí Tòa án nhân dân của TANDTC, Tạp chí Nhà nước và pháp luật của Viện nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật; Tạp chí Kiểm sát của VKSNDTC hoặc một vài bài tham luận của một vài tác giả trong các cuộc hội thảo về PLTTDS Việt Nam có đề cập tới BPKCTT trong TTDS... Có thể nêu ra những tác giả điển hình có một số bài viết đề cập đến BPKCTT trong TTDS như tác giả Trần Anh Tuấn với các bài như “Chế định BPKCTT trong BLTTDS Việt Nam”, “Pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế”…; tác giả Chu Xuân Minh với một số bài viết, bài tham luận tại các cuộc hội thảo về PLTTDS như “Cần thống nhất tố tụng kinh doanh, thương mại với tố tụng dân sự”, “Tham luận về biện pháp khẩn cấp tạm thời trước khi khởi kiện”…; Tác giả Nguyễn Thị Hoài Phương với bài viết “Áp dụng BPKCTT trong giải quyết tranh chấp về kinh doanh thương mại tại tòa án: Những vấn đề đặt ra cho việc hoàn thiện BLTTDS” đăng trên Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 3 năm 2010; bài viết của Phó giáo sư, tiến sĩ Phạm Duy Nghĩa “BPKCTT trong tố tụng trọng tài” đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 23 tháng 12 năm 2010.... So với các vấn đề nghiên cứu khác, số bài viết về vấn đề BPKCTT trong TTDS là khá ít ỏi. Vì chỉ dừng lại ở mức độ là một bài viết, một bài tham luận nên các tác giả cũng chỉ tiếp cận BPKCTT dưới một góc độ nhất định, với một khía cạnh, một nội dung cụ thể nhất định. Một điều cũng dễ nhận thấy là các tác giả có bài viết về BPKCTT trong TTDS thường là những người có trình độ khá cao (tiến sĩ, phó giáo sư hoặc là thạc sĩ). Điều này chứng tỏ BPKCTT trong TTDS là một vấn đề nghiên cứu tương đối khó và vấn đề này chưa được xác định là một nội dung cơ bản của TTDS. Có lẽ do cơ sở thực tiễn dựa vào để nghiên cứu là số điều luật quy định 8 về vấn đề này không nhiều, tài liệu để tham khảo nghiên cứu vấn đề này là rất ít nên mặc dù sau khi có BLTTDS, bài viết về BPKCTT trong TTDS đã nhiều hơn nhưng nhìn chung các bài viết này chưa đưa đến cho người đọc cái nhìn toàn cảnh về BPKCTT. Nguồn tài liệu nguyên bản bằng tiếng nước ngoài có đề cập đến BPKCTT (trong sách nước ngoài, dịch sang tiếng Anh, BPKCTT là Provisional measures) mà nghiên cứu sinh tham khảo được là cuốn sách “On Civil Procedure” của tác giả J.a.Jolowicz; cuốn “Compliance with Decisions of the I Court of Justice”; cuốn “Fifìty yeas of the international court of justice”. Ngoài ra một số cuốn sách đã được dịch sang tiếng Việt cũng được nghiên cứu sinh tham khảo như Kỷ yếu của Dự án VIE/95/017 về PLTTDS; một số tài liệu của các cuộc hội thảo về PLTTDS do Nhà Pháp luật Việt - Pháp tổ chức tại Hà Nội... Nhìn chung, trong các tài liệu này, BPKCTT cũng chỉ được đề cập dưới góc độ là một nội dung rất nhỏ với lượng thông tin hạn chế. Từ việc điểm qua các công trình nghiên cứu về BPKCTT trong TTDS có thể khẳng định cho đến hiện tại, trong nghiên cứu khoa học pháp luật TTDS chưa có công trình nghiên cứu nào có thể mang đến cho người đọc cái nhìn toàn cảnh, sâu sắc về BPKCTT trong TTDS. Vì thế luận án này được hoàn thành với tham vọng sẽ là một công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện và có tính hệ thống về vấn đề BPKCTT trong TTDS Việt Nam từ lý luận đến thực tiễn. Luận án sẽ là một tài liệu chuyên khảo, đề cập khá đầy đủ các khía cạnh khác nhau cũng như các nội dung khác nhau của BPKCTT trong TTDS. 3. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI * Mục đích nghiên cứu đề tài: - Làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận cơ bản về BPKCTT trong TTDS. - Làm rõ những điểm hạn chế, bất cập trong những quy định của PLTTDS Việt Nam hiện hành về BPKCTT (chủ yếu là các quy định trong BLTTDS) và những vướng mắc trong quá trình áp dụng các quy định đó trong thực tiễn giải quyết các VVDS tại TAND - Đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về BPKCTT. 9 * Nhiệm vụ nghiên cứu: Để đạt được mục đích trên, việc nghiên cứu đề tài phải thực hiện được các nhiệm vụ sau: - Xác định đúng và nghiên cứu làm rõ một số vấn đề lý luận cơ bản về BPKCTT trong TTDS. - Phân tích, so sánh, đánh giá đúng thực trạng các quy định của PLTTDS Việt Nam hiện nay về BPKCTT và việc áp dụng các quy định đó trong thực tiễn giải quyết các vụ việc dân sự của TAND. - Xác định rõ các yêu cầu đặt ra đối với việc hoàn thiện PLTTDS về BPKCTT, trên cơ sở đó đề xuất những kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện PLTTDS về BPKCTT. 4. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI Đối tượng nghiên cứu của luận án tập trung nghiên cứu những vấn đề sau: - Một số vấn đề lý luận về BPKCTT trong TTDS. - Các quy định của PLTTDS Việt Nam (đặc biệt là các quy định của PLTTDS Việt Nam hiện hành) và một số quy định PLTTDS của một số nước trên thế giới về BPKCTT. - Thực tiễn thực hiện các quy định của PLTTDS Việt Nam về BPKCTT tại các tòa án của Việt Nam trong những năm gần đây. BPKCTT trong TTDS là một vấn đề nghiên cứu tương đối lớn, có phạm vi nghiên cứu rộng nên có thể được nghiên cứu dưới nhiều phương diện khác nhau và với nhiều nội dung khác nhau. Trong phạm vi nghiên cứu của luận án, luận án tập trung nghiên cứu vào những nội dung cơ bản như sau: - Luận án tập trung nghiên cứu về BPKCTT trong TTDS mà không có tham vọng nghiên cứu sâu về BPKCTT trong các tố tụng khác như tố tụng trọng tài, tố tụng hành chính. - Trong phần nghiên cứu về khái niệm BPKCTT trong TTDS, mặc dù luận án có nghiên cứu BPKCTT trong TTDS dưới nhiều phương diện cụ thể khác nhau nhưng luận án có tập trung nghiên cứu sâu hơn về BPKCTT trong TTDS dưới phương diện là một chế định pháp luật. Chủ ý này xuất phát từ nhận thức: trong 10 BLTTDS của hầu hết các nước, BPKCTT đều được quy định là một chương tương đối đồ sộ gồm nhiều điều luật quy định về nhiều nội dung khác nhau có liên quan đến BPKCTT. Mặt khác, cho dù BPKCTT có được nhìn nhận dưới góc độ nào thì pháp luật về BPKCTT vẫn được coi là cơ sở cho mọi sự nhìn nhận. Nghiên cứu vấn đề BPKCTT trong TTDS dưới góc độ pháp luật có góc độ nghiên cứu rộng nhất, có khả năng bao quát được các nội dung cơ bản của BPKCTT dưới các góc độ khác. Chính vì vậy, trong suốt quá trình triển khai nghiên cứu các nội dung của luận án, luận án luôn chú trọng nghiên cứu sâu hơn dưới góc độ là một chế định pháp luật. Những góc độ khác, những vấn đề lý luận khác về BPKCTT trong TTDS, nghiên cứu sinh sẽ tiếp tục nghiên cứu ở các công trình sau này. - Mặc dù trong luận án có tham khảo PLTTDS của nhiều nước khác nhau và tham khảo PLTTDS của Việt Nam trước đây về BPKCTT nhưng luận án tập trung nghiên cứu các quy định của PLTTDS Việt Nam hiện hành về BPKCTT mà chủ yếu là các quy định của BLTTDS về BPKCTT và Nghị quyết hướng dẫn thi hành các quy định của BLTTDS về BPKCTT của HĐTPTANDTC. - Vì định hướng nghiên cứu là tập trung nghiên cứu dưới góc độ pháp luật nên các kiến nghị mà nghiên cứu sinh đưa ra trong luận án cũng chỉ tập trung kiến nghị về hoàn thiện PLTTDS nhằm góp phần nâng cao hiệu quả điều chỉnh của các quy định PLTTDS về BPKCTT chứ không đề cập tới tổng thể các giải pháp khác nhau nhằm nâng cao hiệu quả của việc áp dụng BPKCTT. - Thực tiễn của việc thực hiện các quy định của PLTTDS Việt Nam hiện hành về BPKCTT được nghiên cứu sinh nghiên cứu trong thời gian 6 năm, từ khi BLTTDS có hiệu lực (năm 2005) đến năm 2010. 5. PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Trong suốt quá trình thực hiện luận án, các nội dung trong luận án đều được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận đúng đắn, khoa học của chủ nghĩa Mác - Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật. Đặc biệt, nghiên cứu sinh xác định công tác xây dựng và hoàn thiện PLTTDS về BPKCTT phải quán triệt, tuân theo các quan điểm chỉ đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam về cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN, vì thế các kiến nghị hoàn thiện 11 pháp luật đều được xuất phát và thực hiện dựa trên những quan điểm chỉ đạo đó. Bên cạnh đó, việc nghiên cứu đề tài luận án còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học chuyên ngành phù hợp khác như phân tích, chứng minh, so sánh, diễn giải, suy diễn logic và phương pháp xã hội học như khảo sát thực tế tại một số tòa án, sử dụng kết quả thống kê của ngành tòa án và kiểm sát để làm sáng tỏ những vấn đề nghiên cứu trong luận án. 6. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN Luận án là một công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu tương đối toàn diện và có hệ thống về BPKCTT trong TTDS. Những đóng góp mới nổi bật của luận án thể hiện ở những nội dung sau: - Luận án đã làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận rất cơ bản, quan trọng về BPKCTT trong TTDS, đặc biệt là vấn đề khái niệm BPKCTT trong TTDS, các dấu hiệu, đặc điểm đặc trưng của BPKCTT trong TTDS, ý nghĩa của BPKCTT trong TTDS, những vấn đề cơ bản của PLTTDS về BPKCTT và những tiêu chí cần đạt được đối với PLTTDS về BPKCTT. Việc làm sáng tỏ những vấn đề lý luận này sẽ là cơ sở để tiếp cận các quy định của PLTTDS hiện hành về BPKCTT trong TTDS, là định hướng cho việc kiến nghị hoàn thiện PLTTDS về BPKCTT. Những vấn đề lý luận này từ trước đến nay chưa có tác giả nào đề cập một cách hệ thống, chuyên sâu trong những công trình nghiên cứu khoa học về BPKCTT trong TTDS. - Luận án đã phân tích các quy định của PLTTDS Việt Nam hiện nay (chủ yếu là các quy định của BLTTDS) về BPKCTT và thực tiễn thực hiện các quy định đó trong những năm gần đây, từ đó chỉ ra những vướng mắc, bất cập trong các quy định của PLTTDS hiện nay về BPKCTT. Không chỉ dừng lại ở việc chỉ ra những vướng mắc, bất cập đó, luận án còn phân tích để tìm ra nguyên nhân của tình trạng các quy định của PLTTDS về BPKCTT ít có cơ hội được áp dụng vì các tòa án rất ít khi quyết định áp dụng BPKCTT. - Luận án đưa ra một số kiến nghị sửa đổi, bổ sung một số quy định của BLTTDS về BPKCTT nhằm hoàn thiện PLTTDS về BPKCTT, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả của việc áp dụng BPKCTT trong TTDS, tòa án sẽ ngày càng bảo vệ tốt hơn, kịp thời hơn quyền, lợi ích hợp pháp cho các chủ thể trong TTDS. Những kiến 12 nghị cụ thể về các chủ thể có quyền yêu cầu, thời điểm yêu cầu, thủ tục yêu cầu, các BPKCTT được yêu cầu, trách nhiệm của chủ thể đã yêu cầu và áp dụng BPKCTT không đúng... đã đưa ra trong luận án là những kiến nghị mới, chưa được tác giả nào đưa ra và được dựa trên những căn cứ, lập luận tương đối khoa học, phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng về cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN. 7. Ý NGHĨA THỰC TIỄN CỦA LUẬN ÁN Kết quả của việc nghiên cứu của luận án góp phần vào việc hoàn thiện PLTTDS về BPKCTT nói riêng và hoàn thiện PLTTDS Việt Nam nói chung. Luận án còn là tài liệu tham khảo trong công tác nghiên cứu, giảng dạy, học tập Luật TTDS Việt Nam cho các cơ sở chuyên nghiên cứu pháp luật, đào tạo cán bộ pháp luật. Kết quả nghiên cứu của luận án có thể dùng làm tài liệu hướng dẫn trong việc áp dụng PLTTDS về BPKCTT nhằm đảm bảo tính thống nhất và chính xác trong thực tiễn áp dụng BPKCTT trong giải quyết các VADS tại TAND. Các kiến nghị nhằm hoàn thiện PLTTDS được đưa ra trong luận án còn là tài liệu tham khảo trong quá trình hoàn thiện PLTTDS nói riêng, hoàn thiện pháp luật nói chung. 8. KẾT CẤU CỦA LUẬN ÁN Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận án được kết cấu gồm 3 chương: Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về BPKCTT trong TTDS. Chương 2: Các quy định của PLTTDS Việt Nam hiện hành về BPKCTT và thực tiễn áp dụng. Chương 3: Yêu cầu và kiến nghị hoàn thiện PLTTDS về BPKCTT. 13 CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ 1.1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, Ý NGHĨA CỦA BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ 1.1.1. Khái niệm biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng dân sự Vấn đề công nhận các quyền con người là vấn đề nhân quyền đã và đang được đặt ra với mỗi quốc gia trên thế giới. Việc công nhận các quyền này quan trọng đến mức trong cuốn sách “Các quyền con người” do Liên Hiệp Quốc xuất bản để kỷ niệm 30 năm ngày ra đời của bản Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền đã khẳng định “chúng ta không thể sống như con người nếu không có các quyền này” [98, tr. 26]. Công nhận các quyền con người sẽ đồng nghĩa với việc cần thiết phải ghi nhận nó trong hệ thống pháp luật của quốc gia, coi đó là sự đảm bảo cho mỗi chủ thể có thể thụ hưởng và tham gia tích cực vào quá trình thực hiện các quyền đó. Nhưng nếu chỉ dừng lại ở việc ghi nhận quyền cho các chủ thể và các chủ thể tích cực thực hiện quyền của mình thì trong nhiều trường hợp quyền con người vẫn không được đảm bảo thực hiện. Về điều này, nhà nghiên cứu Nguyễn Huy Đẩu đã có nhận xét và nhận xét này đã nhận được rất nhiều sự đồng tình, đó là “Một quyền lợi được luật pháp công nhận nhiều khi không đủ đảm bảo cho người có chủ quyền hưởng dụng: quyền lợi có thể bị phủ nhận, bị xâm phạm” [19, tr. 3]. Vì thế một yếu tố rất quan trọng, thậm chí quan trọng hơn cả là pháp luật phải tạo ra được những thiết chế đặc biệt để thực hiện và bảo vệ các quyền con người đã được pháp luật công nhận trong trường hợp chúng bị phủ nhận hoặc bị xâm phạm. Trong suốt lịch sử phát triển của nhân loại, có một thiết chế đã tỏ rõ tính hiệu quả, đó là chủ thể của những quyền, lợi ích khi bị xâm phạm, bị phủ nhận sẽ tìm đến tòa án - cơ quan tư pháp của nhà nước để nhờ tòa án bảo vệ bằng một hoạt động đặc thù là xét xử. Quyền tìm đến tòa án để nhờ tòa án bảo vệ cũng là một quyền con người được ghi nhận tại Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền của Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc ngày 19/12/1948. 14 Trong các quyền con người, các quyền về dân sự được xem là có tính chất nền tảng, cơ bản, thiết yếu nhất. Cũng như các quyền con người khác, các quyền về dân sự của các chủ thể được ghi nhận trong hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia và được bảo hộ chặt chẽ. Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị của Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc ngày 16/12/1966 đã đảm bảo rằng: bất cứ người nào bị xâm phạm các quyền và tự do được công nhận trong công ước này thì đều được bảo hộ pháp lý một cách có hiệu quả [98, tr. 223]. Sự bảo hộ pháp lý được nói đến ở đây cũng chính là việc công nhận các chủ thể có quyền và lợi ích dân sự muốn thực hiện hoặc muốn bảo vệ các quyền và lợi ích của mình có quyền tìm đến tòa án có thẩm quyền để yêu cầu tòa án bảo vệ. Để bảo vệ các quyền và lợi ích dân sự cho các bên tranh chấp một cách khách quan, công bằng và đúng pháp luật, việc giải quyết các tranh chấp đó thường phải tuân theo một quy trình TTDS chặt chẽ do pháp luật quy định. Quy trình TTDS này bao gồm nhiều giai đoạn tố tụng, các giai đoạn này được thực hiện tuần tự, tiếp nối nhau, giai đoạn này được thực hiện mới có cơ sở cho giai đoạn sau được thực hiện. Vì thế, nhìn chung thời gian cần thiết để có kết quả giải quyết nội dung các VVDS đã phát sinh tại tòa là không ngắn, không thể nhanh chóng như mong muốn của đương sự và mặc dù có muốn thì tòa án cũng không thể bảo vệ quyền, lợi ích cho đương sự một cách nóng vội. Ngoài yêu cầu phải tuân thủ nghiêm ngặt quy trình tố tụng do luật định, việc giải quyết các VVDS tại tòa án còn phải đảm bảo một yêu cầu khác cũng quan trọng không kém, yêu cầu này được tất cả các nước theo hệ thống pháp luật dân sự và các nước theo hệ thống pháp luật án lệ coi như một nguyên tắc tố tụng: đó là nguyên tắc xét xử kịp thời. Nguyên tắc xét xử kịp thời được công nhận và đề cao ngay từ giai đoạn đầu tiên trong lịch sử phát triển của TTDS. Được hình thành từ án lệ của tòa án Châu Âu về quyền con người, nguyên tắc này ngày càng được chú trọng thực hiện bởi hiệu quả của nó đối với việc bảo vệ quyền, lợi ích của đương sự tại tòa án [43, tr. 26]. Nguyên tắc xét xử kịp thời nhấn mạnh vai trò của tòa án trong việc giải quyết kịp thời các yêu cầu của đương sự trong VVDS, nhấn mạnh vai trò của tòa án trong việc bảo vệ kịp thời quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự trong quá trình đương sự tìm đến tòa án. Để có thể làm được điều này, trước hết 15 tòa án cần phải tiến hành nhanh chóng quy trình tố tụng theo luật định để có được phán quyết về việc giải quyết về nội dung VVDS một cách sớm nhất, tránh lãng phí thời gian, tiền của, công sức của tòa án cũng như các bên đương sự. Tuy nhiên, vì quy trình tố tụng đó thường phải tốn nhiều thời gian nên trong nhiều trường hợp đến khi có phán quyết giải quyết giải quyết về nội dung VVDS thì đương sự đã bị thiệt hại, tài sản để thi hành án đã bị tẩu tán, chứng cứ dùng để giải quyết VVDS đã bị hủy hoại… và như vậy tòa án không còn bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự. Vì thế, ngoài yêu cầu phải có được phán quyết về việc giải quyết nội dung VVDS một cách sớm nhất, nguyên tắc xét xử kịp thời còn đặt ra một yêu cầu nữa đối với tòa án, đó là: ngay cả trong thời gian tòa án đang tiến hành quy trình tố tụng để giải quyết VVDS, khi cần thiết, tòa án cần phải nhanh chóng có quyết định thích hợp, kịp thời để trước mắt tránh cho đương sự khỏi bị thiệt hại, bảo vệ ngay được bằng chứng, bảo toàn ngay được tài sản. Chính yêu cầu phải đảm bảo nguyên tắc xét xử kịp thời được xuất phát từ nhu cầu cần được tòa án bảo vệ kịp thời trên thực tế của đương sự đã là một trong những lý do đòi hỏi tòa án cần phải có sự linh hoạt, mềm dẻo, đa dạng hóa cách thức, biện pháp giải quyết các VVDS. Các VVDS thì rất đa dạng, phức tạp. Chánh án Tòa sơ thẩm thẩm quyền rộng Paris Jean-Marie COULON đã chỉ ra rằng: tùy theo tính chất, đặc điểm của từng VVDS, mỗi vụ việc phải được giải quyết theo một tiến trình riêng, phụ thuộc vào yêu cầu cụ thể của nó [43, tr. 11]. Trong ấn phẩm Chương trình thông tin quốc tế của Bộ ngoại giao Hoa Kỳ cũng đưa ra một khẳng định gần tương tự: “một số vụ tranh chấp được giải quyết bằng những phương pháp giải quyết tranh chấp khác nhau” [103, tr. 80]. Xuất phát từ thực tế các VVDS là rất đa dạng, rất khác nhau nên tùy theo đặc điểm của mỗi VVDS mà tòa án cần phải quyết định áp dụng những biện pháp giải quyết khác nhau, phải có cách thức giải quyết khác nhau cho phù hợp nhằm đạt được hiệu quả cao nhất. Sẽ có những VVDS chỉ cần được tòa án giải quyết bằng biện pháp giải quyết thông thường, cứ tuần tự thực hiện các giai đoạn tố tụng theo luật định, xem xét, nghiên cứu, đánh giá kỹ lưỡng về chứng cứ cũng như yêu cầu của các bên đương sự rồi ra phán quyết chính thức giải quyết nội dung. Nhưng đối với một số VVDS có sự khẩn cấp như đương sự có nhu cầu rất cấp bách, chứng cứ dùng để giải quyết 16 VVDS có nguy cơ bị hủy hoại, tài sản tranh chấp có nguy cơ bị tẩu tán..., nếu tòa án vẫn giải quyết theo biện pháp tố tụng thông thường như đối với những VVDS không có sự khẩn cấp mà không can thiệp ngay bằng một phán quyết tạm thời nhằm đáp ứng tình trạng khẩn cấp thì chắc chắn tính mạng, sức khỏe, cuộc sống bình thường của đương sự bị ảnh hưởng, chứng cứ, tài sản trong VVDS sẽ bị tẩu tán, hủy hoại và như vậy sẽ không thể giải quyết được VVDS hoặc có giải quyết được thì cũng khó có khả năng thi hành án, không bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự. Vì thế, trong những trường hợp khẩn cấp, tòa án cần phải nhanh chóng có một quyết định tạm thời để có thể kịp thời đáp ứng nhu cầu cấp bách của đương sự, kịp thời bảo vệ bằng chứng, kịp thời bảo toàn tài sản của đương sự. Sau khi tình trạng khẩn cấp đã được giải quyết, tòa án sẽ xem xét kỹ về chứng cứ, về yêu cầu của đương sự và dựa trên chứng cứ đã thu thập được, tòa án sẽ có phán quyết chính thức giải quyết nội dung VVDS. Điều này cũng có nghĩa là chính những VVDS có sự khẩn cấp đòi hỏi tòa án phải áp dụng biện pháp tố tụng giải quyết phù hợp tương đối đặc biệt: tòa án ra phán quyết tạm thời nhằm đáp ứng tình trạng khẩn cấp trước, sau đó mới ra phán quyết chính thức giải quyết nội dung VVDS. Cũng từ thực tế tố tụng này mà Chánh án tòa sơ thẩm thẩm quyền rộng Paris Jean-Marie COULON đã từng nhận xét: “có những vụ việc phải đi theo một tiến trình chậm để bảo vệ quyền lợi của những người khiếu kiện và đảm bảo tốt công tác tư pháp, giảm bớt gánh nặng cho tòa án. Có những vụ việc đòi hỏi phải giải quyết nhanh chóng, nếu không thẩm phán sẽ bị coi là từ chối xét xử” [43, tr. 34]. Như vậy, xuất phát từ yêu cầu phải bảo đảm nguyên tắc xét xử kịp thời (còn được hiểu là nguyên tắc giải quyết kịp thời) trong công tác giải quyết các VVDS của tòa án nhằm bảo vệ kịp thời quyền, lợi ích của các bên đương sự, xuất phát từ thực tế đa dạng, phức tạp của các VVDS, từ đó nảy sinh nhu cầu tòa án cần phải linh hoạt, đa dạng hóa và kết hợp các biện pháp tố tụng nhằm giải quyết hiệu quả VVDS cũng như xuất phát từ nhu cầu cần được bảo vệ kịp thời trên thực tế quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trong VVDS, biện pháp giải quyết tạm thời tình trạng khẩn cấp của VVDS mà ngày nay hay gọi là BPKCTT trong TTDS ra đời, được thừa nhận trong pháp luật và ngày càng được tòa án sử dụng có hiệu quả. 17 Cho đến nay, chưa có tài liệu nào xác định rõ BPKCTT chính thức xuất hiện vào thời điểm nào trong lịch sử phát triển của TTDS, chỉ biết rằng BPKCTT đã có bóng dáng từ rất lâu trong lịch sử TTDS. Theo kết quả nghiên cứu của nhà nghiên cứu Lê Tài Triển, việc tòa án nhanh chóng ra quyết định tạm thời, trước mắt để giải quyết tình thế cấp bách, sau đó mới ra bản án, quyết định chính thức giải quyết nội dung VVDS có nguồn gốc hình thành từ một thủ tục rất đặc biệt trước đây trong TTDS, đó là thủ tục cấp thẩm ( 1 ). Cũng chưa ai biết chính xác thủ tục cấp thẩm có từ khi nào và bắt đầu xuất hiện ở đâu. Có người cho rằng thủ tục cấp thẩm do đạo luật “thập nhị bảng” của thời La Mã truyền lại, có người cho rằng thủ tục này do một tục lệ riêng của xứ Normandie lưu truyền về sau [75, tr. 104]. Một giả thiết khác sau này cũng được đặt ra trong lịch sử phát triển của TTDS, một lý do góp phần hình thành nên BPKCTT trong TTDS hiện nay còn do việc hình thành các tòa thương mại bao gồm các thẩm phán do thương nhân bầu lên chuyên tư vấn về thương mại tại các nền cộng hòa có kinh tế hành hóa phát triển của Bắc Ý. Đến khoảng thế kỷ thứ XIV, thiết chế kiểu Ý này hình thành tại các hội chợ ở miền Bắc và vùng Champagne của Pháp với nhiệm vụ giải quyết nhanh chóng, tại chỗ nhiều tranh chấp nảy sinh trong hội chợ [47, tr. 4]. Ngày nay, trong PLTTDS của hầu hết các quốc gia đều có những quy định về BPKCTT. Có thể trong PLTTDS về BPKCTT của mỗi quốc gia có những quy định cụ thể khác nhau nhưng tất cả đều ý thức được sự cần thiết và hiệu quả của nó trong việc giải quyết các VVDS nhằm bảo vệ hiệu quả, kịp thời quyền, lợi ích hợp pháp cho đương sự tại tòa án. Ở Việt Nam, qua nghiên cứu các tài liệu cho thấy các quy định của PLTTDS Việt Nam về BPKCTT hiện nay có nguồn gốc hình thành từ thủ tục cấp thẩm, một thủ tục xét xử được cho rằng không những có ích lợi đặc biệt mà còn cần thiết cho sự bảo vệ quyền lợi của tư nhân [75, tr. 103]. Sở dĩ BPKCTT trong TTDS Việt Nam được bắt nguồn từ thủ tục cấp thẩm bởi cùng với sự đô hộ của thực dân Pháp tại Việt Nam thì các quy định của Luật TTDS của Pháp cũng được áp dụng tại Việt Nam, trong đó có thủ tục cấp thẩm. Trong thời kỳ Pháp thuộc đó, nhà nghiên cứu Lê Tài (1) . Một thủ tục có mục đích xét xử tạm thời và mau chóng về những sự khó khăn trong các vụ cấp bách hay khó khăn về những động tác thi hành [75, tr. 281]. 18 Triển đã nhận xét: Pháp đình cấp thẩm và thủ tục cấp thẩm ở Việt nam được tổ chức và quy định theo khuôn mẫu điển chế của Pháp [75, tr. 104]. Sau khi Việt Nam tuyên bố độc lập, do yêu cầu phải xây dựng một hệ thống các quy phạm PLTTDS mới cho phù hợp với một chế độ mới, một nhà nước mới, PLTTDS của Việt Nam đã có những thay đổi đáng kể. Thủ tục cấp thẩm không còn tồn tại mà thay vào đó là các quy định về BPKCTT được tòa án áp dụng trong quá trình giải quyết VADS khi chưa có bản án, quyết định chính thức giải quyết nội dung nhưng cần phải có ngay quyết định tạm thời để giải quyết nhu cầu cấp bách của đương sự, bảo toàn chứng cứ, tài sản, đảm bảo cho việc giải quyết vụ án và thi hành án dân sự. BPKCTT được tòa án quyết định áp dụng rất nhanh chóng nhưng thực chất nó chỉ là quyết định của tòa án về giải pháp tạm thời nhằm giải quyết tình trạng khẩn cấp của VADS. BPKCTT không còn là một thủ tục xét xử độc lập, do một tòa độc lập xử như thủ tục cấp thẩm trước kia mà nó được PLTTDS quy định như một trong những biện pháp tố tụng được tòa án sử dụng nhằm giải quyết VADS, từ đó bảo vệ kịp thời trên thực tế các quyền, lợi ích của đương sự trong VADS. Về khái niệm BPKCTT, dưới góc độ ngôn ngữ học, BPKCTT là một cụm từ được ghép bởi ba từ: “biện pháp”, “khẩn cấp” và “tạm thời”. Nếu giải nghĩa một cách cụ thể thì hầu như trong các Từ điển tiếng Việt đều chung một giải thích giống nhau: “biện pháp” là một danh từ, chỉ cách làm, cách thức tiến hành, cách giải quyết một vấn đề cụ thể [101, tr.161; 96, tr. 62]. “Khẩn cấp” là một tính từ chỉ sự gấp gáp, cần kíp, phải giải quyết ngay, không thể trì hoãn được [96, tr. 447; 101. tr. 892] hay trong Từ điển Hán Việt còn giải thích khác: “cấp” có nghĩa là sự cần kíp [12, tr. 559] và “khẩn” có nghĩa là khẩn cầu, cầu người khác một cách cần thiết [1, tr. 451]. Về thuật ngữ “tạm thời”, thuật ngữ này là một tính từ, có nghĩa là tạm trong một thời gian ngắn trước mắt, không có tính chất lâu dài, ổn định [101, tr. 1489; 96, tr. 855]. Như vậy, nếu ghép nghĩa của các cụm từ trên với nhau, chúng ta có thể hiểu: BPKCTT là cách giải quyết tạm một vấn đề nào đó, là cách thức giải quyết gấp gáp, tạm thời trong thời gian ngắn trước mắt. Trong nghiên cứu khoa học pháp lý, khái niệm BPKCTT trong TTDS đã được các nhà nghiên cứu nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau và đều được dựa trên 19 những lý giải cơ bản, khái quát về thuật ngữ “tố tụng dân sự”. Có dựa trên những lý giải cơ bản, khái quát về thuật ngữ “trong tố tụng dân sự” thì trên cơ sở đó mới có thể đưa ra được khái niệm khoa học về BPKCTT trong TTDS. Theo nhà ngiên cứu Nguyễn Huy Đẩu: “tố tụng” là một thuật ngữ có nguồn gốc từ tiếng La tinh (procudure), được hiểu là một đường lối phải tuân theo để đi đến chỗ thắng kiện. Trong thuật ngữ khoa học pháp lý còn có một thuật ngữ khác tương đương với thuật ngữ “tố tụng”, hay được sử dụng lẫn với thuật ngữ “tố tụng” đó là thuật ngữ “thủ tục”, có nguồn gốc từ tiếng Nhật Bản, được hiểu là một thể thức phải làm để đạt được một kết quả nhất định [19, tr3,4]. Thuật ngữ “tố tụng” cũng gần giống như thuật ngữ “thủ tục”, chỉ về việc kiện tụng do cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết. Thông thường, nói đến tố tụng là hay nói đến vai trò nổi bật của TAND, nói đến việc tòa án xem xét, giải quyết và ra quyết định giải quyết các VVDS. Có lẽ cũng vì điểm này mà có ý kiến cho rằng “tố tụng chỉ xuất hiện trong các trình tự tại cơ quan tư pháp” [58, tr. 10]. Ngoài ra, nói đến “tố tụng” còn nói đến một quy trình các việc có tính bắt buộc do pháp luật quy định mà các chủ thể liên quan đến việc kiện tụng và giải quyết việc kiện tụng phải làm theo. Mục đích của việc các chủ thể phải thực hiện quy trình các việc đó là để đạt được một thứ quyền lợi nào đó. Dựa vào việc xác định bản chất của thứ quyền lợi được mang đến tòa để nhờ tòa án bảo vệ thì tố tụng lại được phân loại thành những loại tố tụng khác nhau như tố tụng hình sự, TTDS, tố tụng hành chính. “Tố tụng dân sự” được hiểu là những việc kiện cáo nhau về các quan hệ dân sự ra trước tòa án và yêu cầu tòa án giải quyết [15, tr. 5]. Theo một cách giải thích khác thì “tố tụng dân sự” không chỉ là việc kiện cáo nhau về các quan hệ dân sự ra tòa án mà còn là một quy trình giải quyết vụ việc dân sự gồm nhiều giai đoạn khác nhau như khởi kiện, lập hồ sơ, hòa giải, xét xử VVDS, xét lại bản án, quyết định của tòa án, thi hành bản án, quyết định của TAND [26, tr. 21; 78, tr. 10]. Quy trình đó được thể hiện qua hai phương diện: PLTTDS và hoạt động TTDS bởi: “PLTTDS và hoạt động TTDS là hai mặt không thể tách rời của một hệ thống thống nhất đó là quy trình TTDS” [66, tr. 78]. Từ những lý giải trên về “tố tụng dân sự”, khái niệm BPKCTT trong TTDS cần 20 phải được nhìn nhận dưới phương diện PLTTDS và hoạt động TTDS. Trong nghiên cứu khoa học pháp lý, khái niệm BPKCTT trong TTDS cũng đã được các nhà nghiên cứu tiếp cận dưới một trong các phương diện trên. Cụ thể là khái niệm BPKCTT trong TTDS đã được nhìn nhận dưới các phương diện là các biện pháp cụ thể, là một thủ tục TTDS hay là một chế định pháp luật trong hệ thống PLTTDS. Dưới góc độ là các biện pháp cụ thể, BPKCTT trong TTDS được nhìn nhận xuất phát từ yêu cầu việc giải quyết VVDS của tòa án phải bảo đảm nguyên tắc giải quyết kịp thời để từ đó bảo vệ kịp thời quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự. Muốn vậy, một trong những biện pháp cần phải thực hiện là trong những trường hợp khẩn cấp như một bên đương sự cần được đáp ứng ngay nhu cầu cấp bách, chứng cứ dùng để giải quyết VVDS cần được bảo vệ ngay để khỏi bị hủy hoại, tài sản cần được bảo toàn ngay để bảo đảm khả năng thi hành án…, tòa án phải có ngay biện pháp can thiệp thích hợp, có tính bắt buộc phải thực hiện để bảo vệ tạm thời quyền, lợi ích của đương sự trong VVDS. Điều này có nghĩa ngay cả khi tòa án chưa ra được bản án, quyết định giải quyết nội dung VVDS nhưng do tình thế khẩn cấp, tòa án vẫn có quyền ra một quyết định tạm thời để giải quyết tình trạng khẩn cấp trước, sau đó mới ra quyết định chính thức giải quyết toàn bộ nội dung VVDS. Chính biện pháp thích hợp được tòa án quyết định áp dụng để giải quyết trước mắt tình thế khẩn cấp đó được gọi là BPKCTT trong TTDS. Với cách tiếp cận này, BPKCTT trong TTDS được nhìn nhận một cách rất cụ thể, trực diện và dưới phạm trù hình thức. Ví dụ, trong tình thế cấp bách là một bên đương sự cần có ngay một khoản tiền để duy trì cuộc sống tối thiểu, nếu không tính mạng, sức khỏe của đương sự sẽ bị ảnh hưởng thì BPKCTT cụ thể, thích hợp giải quyết tình thế khẩn cấp này là buộc bên đương sự đối lập phải tạm ứng ngay một số tiền nhất định cho bên đương sự đang có nhu cầu cấp thiết duy trì cuộc sống. Trong những trường hợp này, BPKCTT buộc bên đương sự còn lại phải tạm ứng ngay một khoản tiền nhất định còn thể hiện một ý nghĩa cao hơn đó là bảo vệ quyền con người, bảo vệ quyền được sống của đương sự. Hay trong một tình thế khẩn cấp khác như chứng cứ, tài sản trong VVDS có nguy cơ bị hủy hoại, tẩu tán thì BPKCTT cụ thể để giải quyết tình thế khẩn cấp này sẽ là kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản, cấm hoặc buộc bên đương sự có hành vi tẩu tán, hủy
- Xem thêm -