Tài liệu Bắt bị can để tạm giam từ thực tiễn áp dụng tại cơ quan cảnh sát điều tra, viện kiểm sát nhân dân tỉnh vĩnh phúc

  • Số trang: 100 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 4 |
  • Lượt tải: 0
quocphongnguyen

Tham gia: 21/04/2015

Mô tả:

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƢ PHÁP TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI DIỆP THỊ THANH TÂM ĐỀ TÀI BẮT BỊ CAN ĐỂ TẠM GIAM TỪ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI CƠ QUAN CẢNH SÁT ĐIỀU TRA, VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC Chuyên ngành: LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ Mã số: 60 38 01 04 Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Bùi Kiên Điện HÀ NỘI - 2017 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi. Các kết quả nêu trong Luận văn chƣa đƣợc công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, đƣợc trích dẫn đúng theo quy định. Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn này. Tác giả luận văn Diệp Thị Thanh Tâm DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT BLHS : Bộ luật hình sự BLTTHS : Bộ luật tố tụng hình sự CQĐT : Cơ quan điều tra CSĐT : Cảnh sát điều tra CHXNCH : Cộng hòa xã hội chủ nghĩa CQTHTT : Cơ quan tiến hành tố tụng ĐTV : Điều tra viên TTHS : Tố tụng hình sự VKS : Viện kiểm sát VKSND : Viện kiểm sát nhân dân VKSNDTC : Viện kiểm sát nhân dân tối cao DANH MỤC CÁC ẢNG IỂU Bảng 2.1: Tình hình tạm giam bị can trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc trong 05 năm từ 2012- 2016 ………………………………………………………………………..42 Bảng 2.2: Tình hình bắt bị can để tạm giam tại cơ quan Cảnh sát điều tra, Viện kiểm sát tỉnh Vĩnh Phúc ………………………………………………………………………44 Bảng 2.3. Số bị can bị tạm giam đã giải quyết ……..………………………………....45 MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài …………………………………………….......1 2. Tình hình nghiên cứu đề tài……………………………………………..2 3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn………………………….3 4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu của luận văn…………………………..4 5. Phƣơng pháp nghiên cứu………………………………………………..4 6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn……………………………4 7. Kết cấu của luận văn.,…………………………………………………...5 CHƢƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN BẮT BỊ CAN ĐỂ TẠM GIAM TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM …………………………………………………………….....6 1.1. Khái niệm, Mục đích, ý nghĩa về biện pháp ngăn chặn bắt bị can để tạm giam trong tố tụng hình sự Việt Nam…………………………………6 1.2. Quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về biện pháp ngăn chặn bắt bị can để tạm giam………………………………………………13 Kết luận chương 1……………………………………………………..…37 CHƢƠNG 2. THỰC TIỄN ÁP DỤNG BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN BẮT BỊ CAN ĐỂ TẠM GIAM TẠI CƠ QUAN CẢNH SÁT ĐIỀU TRA VÀ VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC ……...38 2.1. Những kết quả đạt đƣợc trong việc áp dụng biện pháp bắt bị can để tạm giam của Cơ quan CSĐT và VKSND tỉnh Vĩnh Phúc ……………...39 2.2. Những hạn chế và khó khăn, vƣớng mắc trong việc áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt bị can để tạm giam Cơ quan CSĐT và VKSND tỉnh Vĩnh Phúc ………………………………………………………………………45 2.3. Nguyên nhân của những hạn chế và khó khăn, vƣớng mắc trong việc áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt bị can để tạm giam của Cơ quan CSĐT và VKSND tỉnh Vĩnh Phúc ………………………………………………52 Kết luận chương 2 …………………………………………………….…62 CHƢƠNG 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN BẮT BỊ CAN ĐỂ TẠM GIAM TẠI CƠ QUAN CẢNH SÁT ĐIỀU TRA VÀ VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC ………………………………………………63 3.1. Giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật Tố tụng hình sự ….…63 3.2. Một số giải pháp khác …………………………………………….…71 Kết luận chương 3 ……………………………………………………….78 KẾT LUẬN ……………………………………………………………...79 1 LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong hệ thống các biện pháp cƣỡng chế tố tụng hình sự, biện pháp ngăn chặn chiếm vị trí đặc biệt quan trọng. Trong nhiều trƣờng hợp, nó là điều kiện không thể thiếu giúp cơ quan tiến hành tố tụng thuận lợi trong việc giải quyết vụ án hình sự. Một trong những biện pháp ngăn chặn có tính cƣỡng chế nghiêm khắc nhất trong tố tụng hình sự là bắt bị can để tạm giam. Tuy nhiên, đây là biện pháp cƣỡng chế có tính phức tạp và hệ trọng cao, chỉ cần một sơ suất nhỏ cũng có thể dẫn đến hậu quả nghiêm trọng, xâm phạm quyền tự do thân thể của công dân - một trong những quyền cơ bản của công dân đƣợc Hiến pháp và pháp luật bảo hộ. Theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự, trong số những chủ thể có thẩm quyền quyết định việc áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt bị can để tạm giam là Cơ quan cảnh sát điều tra, Viện kiểm sát nhân dân. Trong những năm qua, việc áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt bị can để tạm giam trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc đã đạt đƣợc những kết quả nhất định. Tình trạng bắt ngƣời tràn lan, sai đối tƣợng đã giảm đáng kể, đáp ứng phần nào Chỉ thị của Bộ chính trị về công cuộc cải cách tƣ pháp hiện nay. Tuy nhiên, qua thực tiễn áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt bị can để tạm giam cho thấy, quy định của pháp luật về biện pháp ngăn chặn này còn nhiều hạn chế, thiếu sót, hiện tƣợng bắt bị can để tạm giam không có căn cứ vẫn còn xảy ra. Những tồn tại, thiếu sót đó là một trong những nguyên nhân làm giảm chất lƣợng hoạt động của cơ quan Cảnh sát điều tra, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm. Từ lý luận và thực tiễn trên đây đã đặt ra yêu cầu cần thiết nghiên cứu và nhận thức đúng đắn về việc áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt bị can để tạm giam của Cơ quan cảnh sát điều tra, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc 2 đồng thời tìm ra cơ sở khoa học để sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện các quy định của BLTTHS về biện pháp ngăn chặn này. Là một cán bộ hiện đang công tác trong ngành Kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc, tác giả lựa chọn đề tài “Bắt bị can để tạm giam từ thực tiễn áp dụng tại Cơ quan cảnh sát điều tra, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc” làm luận văn thạc sỹ luật học của mình. 2. Tình hình nghiên cứu đề tài Biện pháp ngăn chặn bắt ngƣời trong tố tụng hình sự nói chung, bắt bị can để tạm giam nói riêng là một biện pháp ngăn chặn đã có khá nhiều công trình nghiên cứu cũng nhƣ sách báo đề cập đến nhƣ: “100 lời giải đáp về bắt giữ khám xét” của Phạm Thanh Bình (1992); “Về tự do cá nhân và biện pháp cưỡng chế tố tụng hình sự” của tác giả Trần Quang Tiệp (2005); Luận văn thạc sỹ: “Bắt người trong Tố tụng hình sự Việt Nam” (2000) của tác giả Vũ Gia Lâm; Luận án tiễn sỹ: “Các biện pháp ngăn chặn bắt, tạm giữ, tạm giam trong Tố tụng hình sự Việt Nam - Thực trạng, nguyên nhân và giải pháp” (2005) của tác giả Nguyễn Văn Điệp; Luận văn thạc sỹ: “Biện pháp ngăn chặn bắt người và thực tiễn áp dụng của cơ quan Cảnh sát điều tra, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng” (2010) của tác giải Nguyễn Hồng Ly; Luận văn thạc sỹ: “Bắt bị can, bị cáo để tạm giam trong Tố tụng hình sự Việt Nam” (2014) của tác giả Dƣơng Thị Hồng Lĩnh. Ngoài ra, còn có nhiều bài viết khác về biện pháp ngăn chặn bắt ngƣời đƣợc đăng trên các tạp chí Luật học, Tạp chí Tòa án nhân dân, Tạp chí Kiểm sát, Khoa học pháp lý nhƣ: “Sửa đổi, bổ sung các quy định của BLTTHS về những biện pháp ngăn chặn” của tác gải Nguyễn Mai Bộ (2007); “Hoàn thiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng biện pháp ngăn chặn” của tác giả Trần Văn Độ (2012); “Những vướng mắc trong việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn theo quy định của BLTTHS và kiến nghị sửa đổi bổ sung” của tác giả Phùng Văn Tài (2012)… 3 Có thể thấy, những vấn đề chung về biện pháp ngăn chặn bắt ngƣời cũng nhƣ một số trƣờng hợp bắt ngƣời cụ thể đã đƣợc nhiều tác giả nghiên cứu, đề cập đến. Tuy nhiên, việc đi sâu nghiên cứu lý luận cũng nhƣ thực tiễn áp dụng riêng chỉ biện pháp ngăn chặn bắt bị can để tạm giam trong tố tụng hình sự Việt Nam của Cơ quan cảnh sát điều tra, Viện kiểm sát nhân dân - là những cơ quan chủ yếu áp dụng biện pháp ngăn chặn này trong thực tế, để tìm ra những hạn chế, thiếu sót trong việc áp dụng biện pháp ngăn chặn này thì chƣa có một công trình nào đề cập đến. Vì vậy, tác giả lựa chọn việc đi sâu nghiên cứu biện pháp ngăn chặn bắt bị can để tạm giam - một trƣờng hợp bắt ngƣời cụ thể, áp dụng cho một đối tƣợng cụ thể, gắn với thực tiễn áp dụng của cơ quan Cảnh sát điều tra, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc - một địa phƣơng có tình hình tội phạm diễn biến khá phức tạp với mong muốn nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện hơn về biện pháp ngăn chặn này làm cơ sở cho việc đƣa ra giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao chất lƣợng áp dụng biện pháp ngăn chặn quan trọng đó của các cơ quan tiến hành tố tụng trong thực tiễn hiện nay. 3. Đối tƣợng nghiên cứu phạm vi nghiên cứu của luận văn Đối tƣợng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề chung về biện pháp ngăn chặn bắt bị can để tạm giam; thực tiễn áp dụng những quy định pháp luật về biện pháp ngăn chặn bắt bị can để tạm giam của cơ quan Cảnh sát điều tra, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc. Trong phạm vi của một luận văn Thạc sỹ, tác giả tập trung nghiên cứu quy định của Bộ luật TTHS năm 2003, đối chiếu với Bộ luật TTHS năm 2015 về biện pháp ngăn chặn bắt bị can để tạm giam và thực tiễn khi áp dụng quy định của Bộ luật TTHS năm 2003 về biện pháp ngăn chặn bắt bị can để tạm giam của cơ quan Cảnh sát điều tra, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc. 4 4. Mục tiêu nghiên cứu nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn Trên cơ sở nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt bị can để tạm giam của cơ quan Cảnh sát điều tra, Viện Kiểm sát nhân dân tại Vĩnh Phúc,luận văn đƣa ra một số giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng của biện pháp ngăn chặn này trong thực tiễn. Để thực hiện mục đích trên, nhiệm vụ của luận văn là: - Phân tích khái niệm, ý nghĩa của biện pháp ngăn chặn bắt bị can để tạm giam - Phân tích quy định của pháp luật về biện pháp ngăn chặn bắt bị can để tạm giam trong tố tụng hình sự của nƣớc ta. - Phân tích, đánh giá thực tiễn áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt bị can để tạm giam của Cơ quan Cảnh sát điều tra và Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc từ đó chỉ ra đƣợc nguyên nhân của những khó khăn, vƣớng mắc trong việc áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt bị can để tạm giam trong những năm gần đây (từ năm 2012 đến năm 2016). - Đề xuất các kiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt bị can để tạm giam trong thực tiễn. 5. Phƣơng pháp nghiên cứu Luận văn đƣợc thực hiện trên cơ sở phƣơng pháp luận của triết học MacLênin về Chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, quan điểm của Đảng và Nhà nƣớc về đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm. Luận văn hoàn thành dựa trên các phƣơng pháp nghiên cứu cụ thể nhƣ phƣơng pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê các số liệu tổng kết của các cơ quan tiến hành tố tụng; nghiên cứu các bài viết trên các sách, tạp chí, các công trình nghiên cứu khác. 6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn Luận văn là công trình nghiên cứu một cách hệ thống, tƣơng đối toàn diện và đầy đủ về biện pháp ngăn chặn bắt bị can để tạm giam về mặt lý luận và 5 thực tiễn trong tố tụng hình sự Việt Nam. Từ những sự nghiên cứu, tìm tòi và so sánh trong luận văn, tác giả hi vọng luận văn góp phần bổ sung và làm rõ hơn lý luận về biện pháp ngăn chặn bắt bị can để tạm giam; đóng góp thiết thực để Bộ luật TTHS 2015 nói chung và chế định về biện pháp ngăn chặn bắt bị can để tạm giam đi vào thực tế một cách sắc bén tạo ra những kết quả tốt cho công tác áp dụng biện pháp ngăn chặn. 7. Kết cấu của luận văn Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu của luận văn gồm ba chƣơng: Chƣơng 1. Những vấn đề chung về biện pháp ngăn chặn bắt bị can để tạm giam trong tố tụng hình sự Việt Nam Chƣơng 2. Thực tiễn áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt bị can để tạm giam của Cơ quan Cảnh sát điều tra và Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc Chƣơng 3. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt bị can để tạm giam của Cơ quan cảnh sát điều tra, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc 6 Chƣơng 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHẶN ẮT IỆN PHÁP NGĂN Ị CAN ĐỂ TẠM GIAM TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM 1.1. Khái niệm mục đích ý nghĩacủa biện pháp ngăn chặn bắt bị can để tạm giam trong tố tụng hình sự Việt Nam 1.1.1. Khái niệm biện pháp ngăn chặn bắt bị can để tạm giam trong tố tụng hình sự Việt Nam Bắt ngƣời không phải là biện pháp trừng phạt của pháp luật mà là biện pháp ngăn chặn nhằm tƣớc bỏ điều kiện gây ra tội phạm, chặn đứng hành vi phạm tội và hành vi trốn tránh pháp luật của ngƣời phạm tội, bảo đảm sự hoạt động đúng đắn của các cơ quan tiến hành tố tụng. Biện pháp ngăn chặn bắt ngƣời có tính cƣỡng chế nghiêm khắc trong tố tụng hình sự, nó tác động trực tiếp đến quyền tự do về thân thể của công dân, một trong các quyền nhân thân quan trọng nhất của con ngƣời đƣợc quy định trong hiến pháp. Trong lịch sử lập pháp Tố tụng hình sự Việt Nam, lần đầu tiên biện pháp ngăn chặn bắt ngƣời đƣợc đề cập trong sắc lệnh số 40 ngày 29/3/1946 của Nhà nƣớc ta về quyền tự do cá nhân. Sắc lệnh đã đề cập về trình tự, thủ tục áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt ngƣời nhƣng chƣa đƣa ra quy phạm định nghĩa về khái niệm biện pháp ngăn chặn bắt ngƣời. Trong Luật số 103-SL/L.005 ngày 20/5/1957 về bảo đảm quyền tự do thân thể và bất khả xâm phạm đối với nhà ở, đồ vật, thƣ tín của nhân dân, đã quy định bắt ngƣời tại chƣơng II Bắt ngƣời phạm pháp. Tiếp đến là các văn bản quy định chi tiết về việc bắt ngƣời nhƣ: Sắc luật số 002-SLt ngày 18/6/1957; Sắc luật số 02-SL ngày 15/3/1976. Thực hiện các quy định trong các văn bản pháp luật trên đây, việc bắt ngƣời đã phát huy đƣợc tác dụng to lớn trong cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm. Tuy nhiên, việc vận dụng các quy định nói trên trong một thời gian dài đã bộc lộ nhiều hạn chế, vƣớng mắc do sự phát triển không ngừng của đất nƣớc và những diễn biến phức tạp của xã hội nói chung và tình 7 hình tội phạm nói riêng. Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn của công cuộc đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm cũng nhƣ yêu cầu của việc tăng cƣờng pháp chế xã hội chủ nghĩa và việc bảo đảm quyền con ngƣời, quyền công dân, kế thừa có chọn lọc các quy định về bắt ngƣời trong các văn bản pháp luật trƣớc đây, nhất là quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định cụ thể về các trƣờng hợp bắt ngƣời trong tố tụng hình sự bao gồm: “Bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, bắt người phạm tội quả tang, bắt người đang bị truy nã, bắt bị can, bị cáo để tạm giam, bắt người bị yêu cầu dẫn độ” (Điều 109 BLTTHS năm 2015). Tuy nhiên, điều luậtkhông đƣa ra định nghĩa pháp lý của khái niệm biện pháp ngăn chặn bắt ngƣời. Hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau về bản chất của biện pháp ngăn chặn bắt ngƣời. Theo giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam của trƣờng Đại học Luật Hà Nội thì: “Bắt người là biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự được áp dụng đối với bị can, bị cáo, người đang bị truy nã và trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang thì áp dụng cả đối với người chưa bị khởi tố về hình sự nhằm kịp thời ngăn chặn hành vi phạm tội của họ, ngăn ngừa họ trốn tránh pháp luật, tạo điều kiện thuận lợi cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự”1. Khái niệm trên đã chỉ ra đƣợc mục đích, phạm vi và đối tƣợng áp dụng. Tuy nhiên, khái niệm chƣa nêu ra đƣợc thẩm quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn này. Theo quan điểm của tác giả, bắt ngƣời trong tố tụng hình sự đƣợc hiểu một cách đầy đủ là một biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự do Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án hoặc người có thẩm quyền quyết định áp dụng đối với bị can, bị cáo, người đang bị truy nã và người bị giữ trong 1 Trƣờng Đại học Luật Hà (2008), Giáo trình luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, tr.200 8 trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang nhằm kịp thời ngăn chặn tội phạm, ngăn ngừa người phạm tội gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc tiếp tục phạm tội, cũng như khi cần bảo đảm thi hành án. Bắt bị can để tạm giam là một trƣờng hợp của biện pháp ngăn chặn bắt trong tố tụng hình sự. Mặc dù bộ luật tố tụng hình sự có quy định tƣơng đối đầy đủ về biện pháp ngăn chặn bắt bị can để tạm giam, tuy nhiên điều luật không giải thích thế nào là bắt bị can để tạm giam. Cho nên, hiện nay tồn tại rất nhiều quan niệm khác nhau về khái niệm biện pháp ngăn chặn bắt bị can để tạm giam. Tuy nhiên, các khái niệm trêncòn chƣa thực sự khoa học. Cụ thể, nội hàm của các khái niệm đó vẫn chƣa bao hàm đƣợc hết đối tƣợng áp dụng, thẩm quyền áp dụng, căn cứ áp dụng cũng nhƣ mục đích áp dụng của biện pháp ngăn chặn này. Tác giả có thể nêu ra các khái niệm thể hiện các quan điểm điển hình sau: Khái niệm 1: “Bắt bị can…để tạm giam là bắt người đã bị khởi tố về hình sự…để tạm giam nhằm ngăn chặn bị can… tiếp tục phạm tội cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự”2. Khái niệm này chƣa chỉ ra đƣợc đầy đủ căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt bị can để tạm giam cũng nhƣ thẩm quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn này. Khái niệm 2: “Bắt bị can… để tạm giam là bắt người đã bị khởi tố về hình sự…để tạm giam phục vụ cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự”3. Khái niệm này cũng chƣa nêu ra đƣợc căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt bị can để tạm giam, chƣa nêu ra đƣợc thẩm quyền áp dụng cũng nhƣ chƣa nêu đƣợc nêu đƣợc đầy đủ mục đích áp dụng của biện pháp ngăn chặn này. 2 Trƣờng Đại học Luật Hà Nội (2008), tlđd chú thích 1, tr.202 PGS.TS. Võ Khánh Vinh (2006), Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng hình sự, Nxb Công an nhân dân, tr.183-184 3 9 Khái niệm 3: “Bắt bị can… để tạm giam là một biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự do người có thẩm quyền của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án áp dụng đối với người đã bị khởi tố về hình sự… khi có những căn cứ do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định nhằm ngăn chặn bị can… tiếp tục phạm tội cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự”4. Khái niệm này khá đầy đủ, đã chỉ ra đƣợc đối tƣợng, căn cứ áp dụng, thẩm quyền áp dụng, mục đích áp dụng biện pháp ngăn chặn này. Tuy nhiên, chƣa nêu đƣợc về thẩm quyền áp dung của cơ quan điều tra khi ra lệnh bắt bị can để tạm giam thì phải có phê chuẩn của Viện kiểm sát; Bên cạnh đó, khi nêu căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn này là theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, việc nêu căn cứ nhƣ vậy vẫn còn chung chung, không có sự liên hệ logic mà buộc ngƣời thực hiện phải tự nghiên cứu tìm hiểu trong Bộ luật. Theo quan điểm của tác giả thì: Bắt bị can để tạm giam là một biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự do người có thẩm quyền của Cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát, Tòa án ra quyết định áp dụng đối với người bị khởi tố về hình sự khi có những căn cứ, điều kiện quy định tại Điều 109, Điều 119 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 nhằm ngăn chặn bị can tiếp tục phạm tội, ngăn ngừa bị can gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự. Theo tác giả cho rằng, khái niệm này là hợp lý hơn cả vì từ khái niệm trên nó đã chỉ ra đƣợc đối tƣợng áp dụng biện pháp ngăn chặn này là ngƣời bị khởi tố về hình sự (bị can). Căn cứ áp dụng là những căn cứ đƣợc quy định tại Điều 109, điều kiện áp dụng là những điều kiện đƣợc quy định tại Điều 119BLTTHS 2015, đồng thời cũng nêu ra đƣợc mục đích áp dụng biện pháp ngăn chặn này. Việc đƣa ra một khái niệm đầy đủ về biện pháp ngăn chặn bắt bị can để tạm giam tạo điều kiện thuận lợi cho các Cơ quan tiến hành Dƣơng Thị Hồng Lĩnh (2014), Bắt bị can, bị cáo để tạm giam trong Tố tụng hình sự Việt Nam” (2014), Luận văn thạc sĩ luật học, Trƣờng Đại học Luật Hà Nội, tr.09 4 10 tố tụng áp dụng đúng pháp luật, bắt đúng ngƣời, đúng tội, tránh oan sai, xâm phạm đến quyền bất khả xâm phạm về thân thể và quyền tự do của công dân. Đồng thời góp phần giải quyết kịp thời, nhanh chóng vụ án hình sự, đảm bảo an toàn trật tự xã hội. Lệnh bắt bị can để tạm giam có thể đƣợc ban hành trong giai đoạn điều tra hoặc trong giai đoạn truy tố hay trong giai đoạn chuẩn bị xét xử. Trong giai đoạn điều tra, lệnh bắt bị can để tạm giam chỉ có thể đƣợc ban hành sau khi cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát ra quyết định khởi tố bị can và quyết định phê chuẩn quyết định khởi tố bị can của viện kiểm sát (nếu cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố bị can). Trong các giai đoạn tố tụng khác nhau thì do các chủ thể khác nhau có thẩm quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt bị can để tạm giam. Pháp luật tố tụng hình sự đã quy định cụ thể về thẩm quyền bắt bị can để tạm giam trong từng giai đoạn tố tụng. Trong giai đoạn điều tra, truy tố chỉ có Viện trƣởng, Phó viện trƣởng Viện kiểm sát các cấp; Thủ trƣởng, Phó thủ trƣởng CQĐT các cấp mới có quyền ra lệnh bắt bị can để tạm giam. Lệnh bắt bị can để tạm giam do Thủ trƣởng, Phó thủ trƣởng CQĐT các cấp ban hành phải đƣợc Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trƣớc khi thi hành. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử thì Chánh án, phó chánh án tòa án nhân dân có quyền ra lệnh bắt bị can để tạm giam. Tuy nhiên, dù thẩm quyền ra lệnh bắt bị can để tạm giam là Cơ quan CSĐT, Viện kiểm sát hay Tòa án thì quyền thi hành lệnh, quyết định bắt bị can để tạm giam đều do cơ quan cảnh sát điều tra thực hiện. Nhƣ vậy, có thể đƣa ra khái niệm bắt bị can để tạm giam của cơ quan cảnh sát điều tra nhƣ sau: Bắt bị can để tạm giam của cơ quan cảnh sát điều tra là hoạt động của cơ quan cảnh sát điều tra trong tố tụng hình sự nhằm thực hiện lệnh bắt, quyết định phê chuẩn lệnh, quyết định bắt đối với người đã bị khởi tố về hình sự theo lệnh, quyết định bắt của cơ quan có thẩm quyền nhằm ngăn chặn bị can tiếp tục phạm tội, ngăn ngừa bị can gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự. 11 1.1.2. Mục đích, ý nghĩa của biện pháp ngăn chặn bắt bị can để tạm giam trong tố tụng hình sự Việt Nam - Mục đích áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt bị can để tạm giam trong tố tụng hình sự Việt Nam Thực tiễn áp dụng pháp luật cho thấy, việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn nói chung, biện pháp ngăn chặn bắt bị can để tạm giam nói riêng đều nhằm mục đích sau: Thứ nhất, bắt bị can để tạm giam nhằm đảm bảo cho việc ngăn ngừa tội phạm và góp phần quan trọng vào công tác đấu tranh chống tội phạm Tội phạm về bản chất là hành vi nguy hiểm cho xã hội, gây ra hoặc đe dọa gây ra những thiệt hại cho những quan hệ xã hội quan trọng đƣợc luật hình sự bảo vệ. Tội phạm xâm hại trực tiếp hoặc gián tiếp đến sự bền vững, ổn định của chế độ nhà nƣớc, chế độ kinh tế - chính trị và xã hội, đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và tài sản của công dân. Do đó, nhà nƣớc ta coi việc đấu tranh phòng, chống tội phạm, ngăn chặn kịp thời, xử lý nghiêm minh nhằm tiến tới loại trừ hiện tƣợng phạm tội ra khỏi đời sống xã hội là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất và phải đƣợc tiến hành một cách kiên quyết, triệt để, không khoan nhƣợng.5 Việc quy định và đảm bảo thực hiện biện pháp ngăn chặn bắt bị can để tạm giam trong tố tụng hình sự là biểu hiện cụ thể quan điểm đó của Nhà nƣớc.Ngăn ngừa tội phạm không cho tội phạm đang đƣợc chuẩn bị xảy ra hoặc không cho tội phạm đang đƣợc thực hiện tiếp tục. Ngăn ngừa kịp thời tội phạm có ý nghĩa rất lớn trong việc giảm bớt hậu quả của tội phạm. Kịp thời ngăn ngừa tội phạm không những bảo vệ đƣợc đối tƣợng tác động của tội phạm mà còn ngăn ngừa, hạn chế hậu quả do tội phạm gây ra. Khi có căn cứ cho rằng một ngƣời đang chuẩn bị thực hiện tội phạm hay đang thực hiện một tội xâm phạm xâm hại đáng kể đến các quan hệ đƣợc luật 5 Trƣờng Đại học Luật Hà Nội (2008), tlđd chú thích 1, tr.195 12 Hình sự bảo vệ thì áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt ngƣời nói chung và bắt bị can để tạm giam nói riêng là vô cùng cần thiết, góp phần ngăn ngừa tội phạm tiếp tục xảy ra đồng thời góp phần làm giảm bớt hậu quả do tội phạm gây ra. Thứ hai, bắt bị can để tạm giam góp phần quan trọng trong việc nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, củng cố, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Là biện pháp cƣỡng chế thể hiện sự kiên quyết của nhà nƣớc trong việc đấu tranh phòng chống tội phạm, việc áp dụng biện pháp bắt bị can để tạm giam đảm bảo cho trật tự xã hội đƣợc ổn định, trật tự pháp luật đƣợc giữ vững, chế độ xã hội chủ nghĩa đƣợc bảo vệ, các quyền cũng nhƣ lợi ích hợp pháp của con ngƣời, của công dân đƣợc tôn trọng, bảo vệ, tạo điều kiện cho việc đấu tranh chống tội phạm, đảm bảo không để lọt tội phạm, không làm oan ngƣời vô tội. Bên cạnh đó, bắt bị can để tạm giam còn tạo cơ sở pháp lý vững chắc nhằm đảm bảo sự tôn trọng các quyền cơ bản của công dân đƣợc Hiến pháp và pháp luật ghi nhận. Đó là biện pháp đảm bảo cho mọi công dân đƣợc sống trong một xã hội mà quyền và lợi ích hợp pháp của mỗi ngƣời đƣợc tôn trọng và bảo vệ, tránh đƣợc sự tấn công và xâm hại từ phía các đối tƣợng nhất định đảm bảo cho mọi ngƣời yên tâm sinh sống, học tập, làm việc, tham gia vào công tác đấu tranh phòng chống tội phạm đạt hiệu quả nhất. - Ý nghĩa của biện pháp ngăn chặn bắt bị can để tạm giam trong tố tụng hình sự Việt Nam Với ý nghĩa là một biện pháp ngăn chặn, bắt bị can có ý nghĩa rất lớn trong việc đấu tranh, phòng và chống các loại tội phạm cũng nhƣ việc đảm bảo các quyền tự do, dân chủ của công dân. Biện pháp ngăn chặn bắt bị can để tạm giam có ý nghĩa đảm bảo cho công tác điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án thuận lợi. Các biện pháp ngăn chặn đƣợc áp dụng nhằm đảm bảo các điều kiện pháp lý cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án theo đúng các 13 quy định của pháp luật, bảo đảm sự có mặt của bị can, bị cáo trong hoạt động tố tụng khi cần thiết, bảo đảm để bản án tuyên có điều kiện thi hành khi có hiệu lực pháp luật cũng nhƣ đảm bảo tính chính xác, khách quan của hoạt động tố tụng đó.6 Khi tiến hành các hoạt động tố tụng điều tra, truy tố, xét xử, các cơ quan tiến hành tố tụng không chỉ dựa vào các biện pháp nghiệp vụ của mình mà còn phải có sự hợp tác từ phía bị can nhằm góp phần cho việc giải quyết vụ án đƣợc kịp thời, nhanh chóng tìm ra sự thật vụ án, xử lý đúng ngƣời, đúng tội, đúng pháp luật. Với tính chất đặc thù của biện pháp bắt bị can để tạm giam là “cƣỡng chế nhằm ngăn chặn” đã góp phần hạn chế đến mức thấp nhất những khó khăn mà ngƣời phạm tội có thể gây ra trong quá trình giải quyết vụ án nhƣ bị can có ý định bỏ trốn, che giấu, tiêu hủy chứng cứ, gây khó khăn cho việc xử lý vụ án. 1.2. Quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về biện pháp ngăn chặn bắt bị can để tạm giam Từ khi thành lập nƣớc Việt nam dân chủ cộng hòa năm 1946, các quy định về bắt ngƣời đã đƣợc hình thành một cách sơ khai, đây cũng là những quy định đầu tiên về bắt bị can để tạm giam đã đƣợc các nhà làm luật tiếp thu, thay đổi, phát triển phù hợp với thực tiễn. Qua quá trình phát triển của pháp luật tố tụng hình sự qua các thời kỳ, ta có thể nắm bắt đƣợc những thay đổi của biện pháp ngăn chặn bắt bị can để tạm giam trong quá trình lập pháp của Nhà nƣớc ta. 1.2.1. Quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988 về biện pháp ngăn chặn bắt bị can để tạm giam Ngày 25/8/1988 Quốc hộ đã thông qua Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988. BLTTHS năm 1988 ra đời, qua 03 lần sửa đổi, bổ sung (năm 1990, 1992 và năm 2000). Lần đầu tiên trong tố tụng hình sự, các trƣờng hợp bắt 6 Dƣơng Tuyết Miên, “Tội phạm học đƣơng đại”, Nxb Chính trị - hành chính, Hà Nội, 2013 14 ngƣời đƣợc quy định cụ thể tại một chƣơng riêng và một số điều khác trong Bộ luật. Trƣớc đây, theo các quy định của Luật 103/SL-L005 ngày 20/5/1957, Sắc luật số 002/SLT ngày 18/6/1957 và Sắc luật 02/SL-76 ngày 15/3/1976 có ba trƣờng hợp bắt ngƣời: Bắt ngƣời phạm pháp quả tang, bắt ngƣời trong trƣờng hợp khẩn cấp và bắt ngƣời trong trƣờng hợp bình thƣờng. Thì nay theo các quy định của Chƣơng V của BLTTHS 1988 có 4 trƣờng hợp bắt ngƣời với những căn cứ quy định chặt chẽ hơn nhƣ bắt ngƣời phạm tội quả tang, bắt ngƣời đang bị truy nã; bắt ngƣời trong trƣờng hợp khẩn cấp; bắt bị can, bị cáo để tạm giam. Bên cạnh đó, Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 đã quy định về căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn nói chung; quy định về thầm quyền, đối tƣợng, thủ tục áp dụng trong từng trƣờng hợp bắt Biện pháp ngăn chặn bắt bị can để tạm giam đƣợc quy định cụ thể tại Điều 62 BLTTHS 1988. Điều luật đã có quy định cụ thể về đối tƣợng áp dụng, mục đích áp dụng, thẩm quyền áp dụng và thủ tục áp dụng biện pháp ngăn chặn này. Về đối tƣợng áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt bị can để tạm giam tức là bắt ngƣời đã bị khởi tố về hình sự để tạm giam. Về mục đích áp dụng biện pháp ngăn chặn này đƣợc thể hiện qua tên gọi của nó là “bắt bị can,…để tạm giam”. Tuy nhiên, Điều 62 BLTTHS 1988 không đề cập đến căn cứ cụ thể để bắt bị can để tạm giam. Do đó, khi áp dụng thƣờng dựa vào căn cứ tại Điều 61 (căn cứ chung để áp dụng biện pháp ngăn chặn) và xem xét các điều kiện về tạm giam quy định tại Điều 70 BLTTHS. Đó là các căn cứ nhƣ: để kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc tiếp tục phạm tội, cũng nhƣ khi cần bảo đảm thi hành án; hoặc các điều kiện nhƣ: bắt bị can để tạm giam có thể đƣợc áp dụng đối với bị can phạm tội trong những trƣờng hợp đặc biệt 15 nghiêm trọng hoặc bị can về tội Bộ luật hình sự quy định hình phạt tù trên một năm và có căn cứ cho rằng ngƣời đó có thể trốn hoặc cản trở việc điều tra, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội. Về thẩm quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt bị can để tạm giam: Điều 62 BLTTHS quy định những ngƣời sau đây có quyền ra lệnh bắt bị can để tạm giam - Viện trƣởng, Phó viện trƣởng và Viện kiểm sát quân sự các cấp - Chánh án, Phó chánh án TAND và Tòa án quân sự các cấp - Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp tỉnh hoặc Tòa án quân sự cấp quân khu trở lên chủ tọa phiên tòa - Trƣởng công an, Phó trƣởng công an cấp huyện, Thủ trƣởng, Phó thủ trƣởng cơ quan điều tra cấp tỉnh và cấp quân khu trở lên. Trong trƣờng hơp này lệnh bắt phải đƣợc Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trƣớc khi thi hành. Quy định về thẩm quyền ra lệnh bắt bị can để tạm giam cho các cơ quan tiến hành tố tụng là hoàn toàn phù hợp, đảm bảo sự độc lập và chủ động của các cơ quan tiến hành tố tụng tiến hành nhiệm vụ trong các giai đoạn nhất định của quá trình giải quyết vụ án. Tuy nhiên cũng phải thấy rằng quy định về thẩm quyền bắt bị can để tạm giam cũng còn một số điểm chƣa hợp lý, thể hiện sự chƣa đồng bộ và thiếu thống nhất về nội dung các quy phạm pháp luật tố tụng hình sự. Tại khoản 1 Điều 62 BLTTHS quy định: “Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp tỉnh hoặc Tòa án quân sự cấp quân khu trở lên chủ tọa phiên tòa” có quyền ra lệnh bắt bị can, bị cáo để tạm giam; Điều 70 BLTTHS quy định những ngƣời có quyền ra lệnh bắt bị can để tạm giam đƣợc quy định tại khoản 1 Điều 62 là ngƣời có quyền ra lệnh tạm giam. Nhƣ vậy, Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Tòa án quân sự cấp quân khu trở lên đƣợc phân công làm chủ tọa phiên tòa vừa có quyền ra lệnh bắt, vừa có quyền ra lệnh tạm giam. Nhƣng tại Điều 152 BLTTHS lại quy định thẩm quyền ra lệnh tạm giam trong giai đoạn chuẩn bị
- Xem thêm -