Tài liệu Bảo vệ quyền của người chưa thành niên trong tư pháp hình sự việt nam luận văn ths. luật

  • Số trang: 157 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 81 |
  • Lượt tải: 0
tailieuonline

Đã đăng 39907 tài liệu

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT NGUYỄN THỊ THANH BẢO VỆ QUYỀN CỦA NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN TRONG TƯ PHÁP HÌNH SỰ VIỆT NAM CHUYÊN NGÀNH: LUẬT HÌNH SỰ MÃ SỐ : 60 38 40 TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Người hướng dẫn khoa học: TS Trần Quang Tiệp HÀ NỘI - 2008 MỤC LỤC Trang MỞ ĐẦU 1.1. Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về bảo vệ quyền của người chưa thành niên trong Tư pháp hình sự việt nam Khái niệm bảo vệ quyền của người chưa thành niên trong Tư pháp hình sự 1.1.1 Khái niệm người chưa thành niên trong Tư pháp 1.1.2. hình sự Khái niệm bảo vệ quyền của người chưa thành niên 1.1.3. trong Tư pháp hình sự Cơ sở để nhà làm luật quy định quyền của người chưa thành niên trong Tư pháp hình sự 1.2. Lược sử hình thành và phát triển những quy định pháp luật về bảo vệ quyền của người chưa thành niên trong Tư pháp hình sự Việt Nam 1.2.1. Pháp luật Việt Nam về bảo vệ quyền của người chưa thành niên trong Tư pháp hình sự thời kỳ phong kiến 1.2.2. (X-XIX) Pháp luật Việt Nam về bảo vệ quyền của người chưa 1.2.3. thành niên trong Tư pháp hình sự thời kỳ Pháp thuộc Pháp luật Việt Nam về bảo vệ quyền của người chưa 1.2.4. thành niên trong Tư pháp hình sự từ năm 1945 đến 1985 Pháp luật Việt Nam về bảo vệ quyền của người chưa thành niên trong Tư pháp hình sự từ năm 1985 đến nay 2.1. Chương 2: Những quy định của Tư pháp hình sự Việt Nam về bảo vệ quyền của người chưa thành niên và thực tiễn áp dụng Những quy định của Tư pháp hình sự Việt Nam hiện hành về bảo vệ quyền của người chưa thành niên. 2.1.1. Bảo vệ quyền của người chưa thành niên với tư cách là người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị kết án 2.1.1.1 Nguyên tắc xử lý người chưa thành niên phạm tội 2.1.1.2. Bảo vệ quyền của người chưa thành niên phạm tội thông qua chế định hình phạt 2.1.1.3. Bảo vệ quyền của người chưa thành niên phạm tội thông qua các biện pháp tư pháp 2.1.1.4. Đối tượng chứng minh trong vụ án có người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là người chưa thành niên 2.1.1.5. Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng trong những vụ án có người chưa thành niên phạm 2.1.1.6. tội Người tham gia tố tụng trong những vụ án có người 2.1.1.7. chưa thành niên phạm tội áp dụng biện pháp ngăn chặn và giám sát đối với 2.1.1.8. người chưa thành niên phạm tội 2.1.2. Thủ tục tố tụng trong vụ án có người chưa thành niên tham gia Bảo vệ quyền của người chưa thành niên với tư cách người bị hại, người làm chứng 2.2. Thực tiễn áp dụng những quy định của Tư pháp hình sự Việt Nam về bảo vệ quyền của người chưa thành 2.2.1. niên. 2.2.2. Tình hình người chưa thành niên phạm tội gia tăng Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội do người 2.2.3. chưa thành niên thực hiện Thực tiễn điều tra về điều kiện sống, giáo dục và 2.2.4. việc xác định có hay không ngưòi thành niên xúi giục 2.2.5. Thực tiễn áp dụng quy phạm về quyền bào chữa của 2.2.6 người chưa thành niên áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên 2.2.6.1. phạm tội 2.2.6.2. Thực tiễn áp dụng các quy định về bảo vệ quyền cho 2.2.6.3. người chưa thành niên là người bị hại, người làm chứng. Hoạt động lấy lời khai Hoạt động đối chất Hoạt động nhận dạng 3.1. Chương 3: các giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người chưa thành niên trong Tư pháp hình sự Việt Nam Hoàn thiện các quy định của Pháp luật hình sự bảo vệ quyền của người chưa thành niên. 3.2. Hoàn thiện các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự bảo vệ quyền của người chưa thành niên. 3.2.1 Về phạm vi áp dụng của Bộ luật tố tụng hình sự 3.2.2 Về điều tra, truy tố, xét xử 3.2.3. Về bắt, tạm giữ, tạm giam 3.2.4. Về giám sát bị can, bị cáo là người chưa thành niên 3.2.5. Việc tham gia tố tụng của gia đình, nhà trường và các tổ chức xã hội 3.2.6. Về xét xử 3.2.7. Về chấp hành hình phạt tù 3.2.8. Về xoá án tích 3.2.9. Hoàn thiện các quy định khác trong Bộ luật tố tụng hình sự 2003 và các văn bản pháp luật khác 3.3. Các giải pháp đảm bảo 3.3.1. Thành lập Toà án cho người chưa thành niên 3.3.1.1. Lý do thành lập Toà án dnàh cho người chưa thành 3.3.1.2. niên 3.3.2. Về cơ cấu tổ chức Xây dựng, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ Tư pháp, đội 3.3.3 ngũ bổ trợ tư pháp Nâng cao ý thức pháp luật cho người chưa thành niên và cho nhân dân 3.4. Tăng cường hợp tác quốc tế KẾT LUẬN DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài. Vấn đề tội phạm và những chính sách, pháp luật tương ứng với nó là hết sức quan trọng đối với mỗi xã hội hướng tới mục tiêu xây dựng một cộng đồng mà ở đó cơ hội và các quyền tự do là tối đa đối với mỗi cá nhân. Tầm quan trọng được nhấn mạnh hơn đối với nhóm tội phạm là người chưa thành niên - nhóm được xem như nền tảng tương lai của mỗi xã hội nhưng lại mang trong mình những đặc trưng hết sức non nớt và cần sự quan tâm giáo dưỡng nhiều hơn cả. Thực tiễn cho thấy điều đó khi Liên hợp quốc tổ chức hội nghị toàn thế giới để bàn cách đấu tranh phòng chống tội phạm là người chưa thành niên cùng với nhiều chương trình, nội dung quan tâm tới nhóm xã hội đặc thù này. Trong tiến trình hội nhập quốc tế nói chung và với vấn đề phạm tội ở người chưa thành niên nói riêng - vấn đề đang ngày càng được xã hội quan tâm, Việt Nam chúng ta cũng đã có những bước đi hết sức kịp thời và phù hợp với các thông lệ cũng như chuẩn mực pháp lý quốc tế. Có thể nhận thấy những năm gần đây ở nước ta, số lượng người chưa thành niên phạm tội đang có chiều hướng gia tăng cả về số lượng lẫn mức độ nghiêm trọng, tính chất liều lĩnh của hành vi phạm tội. Do người chưa thành niên có những đặc điểm khác so với người thành niên nên trong quy định của Tư pháp hình sự Việt Nam có những quy định đặc thù áp dụng đối với họ. Bộ luật hình sự năm 1999 dành chương thứ X và Bộ luật tố tụng hình sự trong Phần thứ bảy chương XXXII cũng quy định thủ tục tố tụng đặc biệt dành cho người chưa thành niên nhằm bảo đảm những quyền lợi của họ. Tuy vậy, thực tiễn áp dụng các quy định của tư pháp hình sự Việt Nam bảo vệ quyền của người chưa thành niên trong thời gian qua đã bộc lộ những hạn chế cần có những điều chỉnh, sửa đổi cho phù hợp. Bên cạnh đó đội ngũ 1 cán bộ tư pháp, bổ trợ tư pháp còn thiếu, trình độ nghiệp vụ và sự hiểu biết về khoa học giáo dục đối với người chưa thành niên còn yếu cũng đã cộng thêm những khó khăn nhất định trong quá trình thực thi tính ưu việt của các quy phạm tư pháp hình sự bảo vệ quyền của người chưa thành niên. Bởi vậy, việc nghiên cứu một cách có hệ thống về mặt lý luận các quy định của pháp luật tư pháp hình sự Việt Nam đối với người chưa thành niên, tìm ra những hạn chế, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng, trên cơ sở đó đưa ra được những căn cứ khoa học nhằm tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật tư pháp hình sự là việc làm hết sức cần thiết. Đề tài “Bảo vệ quyền của người chưa thành niên trong tư pháp hình sự Việt Nam” được xây dựng như một nỗ lực nghiên cứu nghiêm túc, khách quan khoa học nhằm đáp ứng phần nào yêu cầu của thực tiễn đó. 2. Tình hình nghiên cứu. Các quy định về người chưa thành niên được quy định trong Chương X Bộ luật hình sự 1999 và trong chương XXXII Bộ luật tố tụng hình sự. Trong khoa học pháp lý hình sự, chế định về người chưa thành niên đã được một số tác giả nghiên cứu ở các cấp độ khác nhau, trong đó phải kể đến cuốn: Bảo vệ quyền trẻ em trong pháp luật Việt Nam của Viện nghiên cứu khoa học pháp lý Bộ Tư pháp năm 1999; hay cuốn Tăng cường năng lực hệ thống tư pháp người chưa thành niên tại Việt Nam, Thông tin khoa học pháp lý của Viện nghiên cứu khoa học pháp lý Bộ tư pháp năm 2000; "Thủ tục tố tụng về những vụ án mà bị can, bị cáo là người chưa thành niên và thực tiễn áp dụng tại thành phố Hà Nội", Luận văn cử nhân Luật của tác giả Nguyễn Trần Bích Phượng, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2001; Đỗ Thị Phượng: "Thủ tục tố tụng đối với bị can, bị cáo là người chưa thành niên trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam", Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2003..., và một số bài viết được đăng trên tạp chí Tòa án nhân dân của đồng tác giả Lê Cảm và Đỗ Thị Phượng 2 “Tư pháp hình sự đối với người chưa thành niên: Những khía cạnh pháp lý hình sự, tố tụng hình sự, tội phạm học và so sánh luật học” các số 20,21,22 năm 2004. Các công trình nghiên cứu trên đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau về các quy định của pháp luật áp dụng đối với người chưa thành niên, thủ tục tố tụng đối với những vụ án có người chưa thành niên tham gia nhưng chưa có công trình nào đi sâu, nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống về bảo vệ quyền của người chưa thành niên trong tư pháp hình sự Việt Nam. Điều này cho thấy sự cần thiết phải tiếp tục nghiên cứu sâu hơn, toàn diện hơn nữa để từng bước hoàn thiện quy định tư pháp hình sự Việt Nam để bảo vệ quyền cho người chưa thành niên là việc làm cần thiết và có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn hiện nay. 3. Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Mục đích nghiên cứu Mục đích của luận văn là trên cơ sở lý luận và thực tiễn áp dụng các quy phạm tư pháp hình sự Việt Nam bảo vệ quyền của người chưa thành niên, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng những quy phạm đó trong thực tiễn. Nhiệm vụ nghiên cứu Để đạt được mục đích trên, tác giả luận văn đã đặt ra và giải quyết các nhiệm vụ sau: - Làm sáng tỏ một số vấn đề lý lụân chung về bảo vệ quyền của người chưa thành niên trong Tư pháp hình sự, như: khái niệm người chưa thành niên, bảo vệ quyền cho người chưa thành niên trong Tư pháp hình sự Việt Nam. - Phân tích lược sử hình thành và phát triển các quy phạm tư pháp hình sự Việt Nam về bảo vệ quyền của người chưa thành niên. 3 - Nghiên cứu và làm rõ các quy định pháp luật tư pháp hình sự Việt Nam bảo vệ quyền cho người chưa thành niên và thực tiễn áp dụng các quy định đó. - Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả của việc áp dụng các quy phạm tư pháp hình sự Việt Nam bảo vệ quyền của người chưa thành niên. Đối tượng nghiên cứu của luận văn. Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý lụân và thực tiễn bảo vệ quyền của người chưa thành niên trong Tư pháp hình sự Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu Trong Tư pháp hình sự Việt Nam, người chưa thành niên có thể là người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị hại, người làm chứng, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ có liên quan đến vụ án... Nhưng do phạm vi của luận văn thạc sĩ luật học, tác giả giới hạn nghiên cứu việc bảo vệ quyền của người chưa thành niên là người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị kết án, người bị hại, người làm chứng dưới góc độ luật hình sự và luật tố tụng hình sự. 4. Cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn và phương pháp nghiên cứu. Cơ sở lý luận của luận văn là hệ thống quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng cộng sản Việt Nam về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân và vì dân, về chính sách hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng, chống tội phạm của Đảng và Nhà nước ta. Luận văn được thực hiện trên cơ sở quán triệt các chỉ thị, Nghị quyết của Đảng, các văn bản pháp luật của Nhà nước về người chưa thành niên. Cơ sở thực tiễn của luận văn là các báo cáo tổng kết, số liệu điều tra, truy tố, xét xử các vụ án có người chưa thành niên tham gia. 4 Cơ sở phương pháp luận của luận văn là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Trong khi thực hiện đề tài, các phương pháp hệ thống, phân tích, tổng hợp, lịch sử, lôgic, thống kê, so sánh pháp luật, xã hội học, ... đã được sử dụng để hoàn thành các nhiệm vụ mà tác giả luận văn đã đặt ra. 5. Những đóng góp mới của luận văn. Đây là công trình chuyên khảo nghiên cứu tương đối toàn diện và có hệ thống về bảo vệ quyền của người chưa thành niên trong tư pháp hình sự Việt Nam. Có thể xem những nội dung sau là đóng góp mới của luận văn: - Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận chung về bảo vệ quyền của người chưa thành niên. - Phân tích làm rõ thực trạng áp dụng các quy định tư pháp hình sự Việt Nam về bảo vệ quyền của người chưa thành niên. - Đề xuất những phương hướng nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định tư pháp hình sự về bảo vệ quyền cho người chưa thành niên. 6. Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận văn. Kết quả nghiên cứu và những giải pháp được đề xuất trong luận văn có ý nghĩa quan trọng đối với công cuộc bảo vệ quyền trẻ em nói chung, của người chưa thành niên trong Tư pháp hình sự nói riêng. Thông qua hệ thống các giải pháp, tác giả mong muốn đóng góp một phần ý kiến vào sự phát triển của kho tàng lý luận tư pháp hình sự về bảo vệ quyền cho người chưa thành niên trong tư pháp hình sự Việt Nam. Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong công tác nghiên cứu, giảng dạy về khoa học pháp lý nói chung, khoa học tư pháp hình sự nói riêng cũng như trong thực tiễn xét xử. 7. Kết cấu của luận văn. 5 Luận văn có kết cấu chặt chẽ, khoa học, đúng quy chuẩn: Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 03 chương, 08 mục. 6 Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO VỆ QUYỀN CỦA NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN TRONG TƯ PHÁP HÌNH SỰ VIỆT NAM 1.1. KHÁI NIỆM BẢO VỆ QUYỀN CỦA NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN TRONG TƯ PHÁP HÌNH SỰ 1.1.1. Khái niệm người chưa thành niên trong Tư pháp hình sự Để có thể làm sáng tỏ khái niệm người chưa thành niên trong Tư pháp hình sự, trước hết, cần làm sáng tỏ khái niệm người chưa thành niên trong Tư pháp hình sự quốc tế. Trẻ em - Người chưa thành niên và bảo vệ quyền của trẻ em - người chưa thành niên trong pháp luật nói chung và trong lĩnh vực Tư pháp hình sự nói riêng là một vấn đề được cả thế giới quan tâm, bởi lẽ: Trong những năm gần đây, tình trạng người chưa thành niên phạm tội đang ngày một gia tăng cả về số lượng lẫn mức độ vi phạm nghiêm trọng nhưng tư pháp hình sự vẫn chưa có những cơ chế đầy đủ bảo vệ quyền cho họ bởi họ là những người “non nớt” về độ tuổi và khả năng nhận thức, xử sự chưa hoàn hảo, bồng bột và thiếu đúng đắn. Bên cạnh đó, người chưa thành niên là người bị hại và người làm chứng quyền của họ cũng chưa đảm bảo một cách thoả đáng. Bảo vệ quyền của người chưa thành niên, đảm bảo cho họ phát triển toàn diện, hài hoà cả về thể chất và tinh thần là mối quan tâm chung của các bậc làm cha, làm mẹ, của nhà trường và của toàn xã hội. Vì thế hệ trẻ là tương lai của đất nước, quyết định đến sự phát triển hay suy thoái của một quốc gia. Trong những năm qua, đứng trước thực trạng này, các tổ chức quốc tế cũng như các quốc gia có nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu để đưa ra cơ chế bảo vệ quyền của người chưa thành niên sao cho vừa tương thích với pháp luật hình sự quốc tế, vừa phù hợp với phong tục, truyền thống của pháp luật quốc gia. 7 Người chưa thành niên - Trẻ em là một khái niệm được sử dụng khá phổ biến ở nhiều ngành khoa học, dưới nhiều góc độ khác nhau. Trong pháp luật cũng vậy, mặc dù đã được đề cập tới trong nhiều văn bản pháp luật quốc tế song ở mỗi văn kiện, khái niệm người chưa thành niên lại tồn tại nhiều điểm khác biệt. Điều 1 Công ước quốc tế về quyền trẻ em ghi nhận: “Trong phạm vi của công ước này, Trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn” [28 – tr1]. Theo cách hiểu thông thường, từ “Trẻ em” có nghĩa là người chưa thành niên. Theo điều này Công ước đã ghi nhận, khái niệm người chưa thành niên được hiểu là mọi trẻ em dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật quốc gia có quy định khác. Trong quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu phổ biến của Liên Hợp Quốc về Tư pháp người chưa thành niên (Quy tắc Bắc Kinh) [30 - tr1] không nói rõ người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi mà chỉ đưa ra khái niệm chung chung là “trẻ em” hoặc “người ít tuổi”. Theo quy tắc này “Người chưa thành niên phạm tội là trẻ em hay người ít tuổi bị cho là hay bị phát hiện là đã phạm tội...”. Quy tắc Bắc Kinh (2.2) định nghĩa: “Người chưa thành niên” và “phạm tội” là những thành tố của người chưa thành niên phạm tội. Cần lưu ý rằng giới hạn độ tuổi phụ thuộc vào pháp luật của các quốc gia thành viên. Sự khác nhau về giới hạn độ tuổi này là điều không tránh khỏi khi xem xét hệ thống pháp luật của các quốc gia và không làm giảm hiệu lực của những Quy tắc phổ biến này về mặt pháp luật cũng như trong thực tiễn áp dụng. Người chưa thành niên phạm tội là khái niệm không những mang tính pháp lý mà còn có ý nghĩa chính trị - xã hội sâu sắc. Trong Hướng dẫn của Liên Hợp Quốc về phòng ngừa phạm pháp ở người chưa thành niên (Hướng dẫn Riat) mặc dù không đưa ra một cách cụ thể về khái niệm người chưa 8 thành niên, song thông qua các quy định cũng giúp chúng ta hình thành tư duy: Người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi. Sở dĩ có thể khẳng định như thế bởi: “Hướng dẫn này cần được giải thích và thực hiện trong phạm vi khuôn khổ của Tuyên ngôn thế giới về quyền con người, Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, tuyên ngôn về quyền trẻ em, Công ước về quyền trẻ em và trong phạm vi của Quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu của Liên Hợp Quốc về tư pháp người chưa thành niên (Quy tắc Bắc Kinh) cũng như những văn kiện và tiêu chuẩn khác có liên quan tới các quyền, lợi ích và phúc lợi của tất cả những người trẻ tuổi” [30 - tr2]. Công ước Quyền trẻ em lại quy định trẻ em là tất cả những người dưới 18 tuổi. Do đó, ta lại bắt gặp quan điểm chung về độ tuổi của người chưa thành niên trong các Công ước quốc tế. Quy tắc của Liên Hợp Quốc về bảo vệ người chưa thành niên bị tước quyền tự do một lần nữa đề cập đến khái niệm người chưa thành niên. Bên cạnh mục đích xác định các quyền của người chưa thành niên bị tước quyền tự do thì Quy tắc còn quy định cách đối xử với trẻ em khi chúng phạm pháp. Xuất phát từ mục đích đó, khái niệm người chưa thành niên cũng được ghi nhận một cách tương đối rõ ràng và cụ thể, như một sự kế thừa của Công ước quốc tế về Quyền trẻ em. Theo đó, “Người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi. Giới hạn độ tuổi này cần phải được pháp luật xác định và không được tước quyền tự do của người chưa thành niên” [28 – tr5]. Như vậy, mặc dù phạm vi nghiên cứu có thể khác nhau song hầu hết các văn kiện quốc tế đều đưa ra quan điểm thống nhất là: Người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi. Công ước Quyền trẻ em còn những điều khoản để ngỏ cho các nước quy định về độ tuổi cho người chưa thành niên để các quốc gia căn cứ vào sự phát triển về thể chất và tinh thần của công dân nước mình mà có những quy định khác nhau về độ tuổi của người chưa thành niên nhằm đảm bảo sự phù hợp giữa pháp luật và thực tiễn. 9 Trong các Công ước quốc tế không đưa ra khái niệm thế nào là quyền của người chưa thành niên hay bảo vệ quyền của người chưa thành niên mà chỉ liệt kê quyền của người chưa thành niên như sau: Công ước về quyền trẻ em của Liên Hợp Quốc năm 1989 ghi nhận “Ghi nhớ rằng do còn non nớt về thể chất và trí tuệ, trẻ em cần được bảo vệ và chăm sóc đặc biệt, kể cả sự bảo vệ thích hợp về mặt pháp lý trước cũng như sau khi ra đời như đã chỉ ra trong Tuyên ngôn về quyền trẻ em”. “Không trẻ em nào bị tra tấn hay bị đối xử hoặc trừng phạt tàn tệ, vô nhân đạo hay làm mất phẩm giá. Không được xử tử hình hoặc tù chung thân mà không có khả năng phóng thích vì những tội do những người dưới 18 tuổi gây ra. Không một trẻ em nào bị tước quyền tự do một cách hợp pháp hoặc tuỳ tiện. Việc bắt, giam, giữ hoặc bỏ tù trẻ em phải được tiến hành theo luật pháp và chỉ được dùng đến như một biện pháp cuối cùng trong thời hạn thích hợp ngắn nhất ...” (Điều 37 Công ước). Như vậy, chỉ thông qua một số văn kiện pháp lý quốc tế: Công ước về quyền trẻ em, Hướng dẫn Riát, Quy tắc tối thiểu... giúp chúng ta có được một tư duy khái quát về người chưa thành niên. Qua đó, có những khuyến nghị về việc thiết lập hệ thống tư pháp người chưa thành niên theo khuôn khổ pháp luật quốc gia nhằm mục đích vừa tôn trọng pháp luật quốc tế vừa duy trì trật tự xã hội và bảo vệ quyền cho người chưa thành niên. Vấn đề tiếp theo cần làm sáng tỏ là khái niệm người chưa thành niên trong Tư pháp hình sự Việt Nam. Theo Từ điển Tiếng Việt - Trung tâm ngôn ngữ học Việt Nam định nghĩa: “Người chưa thành niên là người chưa phát triển đầy đủ, toàn diện về thể lực, trí tuệ, tinh thần cũng như chưa có đầy đủ quyền và nghĩa vụ công dân”. 10 Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, xuất phát từ khách thể cần bảo vệ các quan hệ xã hội của từng ngành luật khác nhau nên mỗi ngành luật quy định thế nào là người chưa thành niên khác nhau: Điều 18 Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005 ghi nhận: “…Người chưa đủ mười tám tuổi là người chưa thành niên.” Điều 1 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em khẳng định: “Trẻ em là công dân Việt Nam dưới mười sáu tuổi”. Điều 12 Bộ luật hình sự 1999 quy định: “1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm. 2. Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.” Điều 68 Bộ luật hình sự cũng quy định: “Người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự...” Với quy định trong các điều khoản trên có thể hiểu độ tuổi người chưa thành niên phải chịu trách nhiệm hình sự là người từ đủ 14 tuổi nhưng chưa đủ 18 tuổi. Và như thế, có thể hiểu: “Người chưa thành niên phạm tội là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi, có năng lực trách nhiệm hình sự chưa đầy đủ do sự hạn chế bởi các đặc điểm về tâm, sinh lý và đã có lỗi (cố ý hoặc vô ý) trong việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm”.[34 - 20] Từ những phân tích trên, ta có thể đưa ra khái niệm: Người chưa thành niên trong tư pháp hình sự Việt Nam là người dưới mười tám tuổi. Bô luật hình sự của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1999 đề cập đến khái niệm người chưa thành niên dưới hai phương diện: một 11 mặt, họ là chủ thể của tội phạm, mặt khác họ là những người đặc biệt cần được các quy phạm pháp luật bảo vệ. Với tư cách là chủ thể của tội phạm, độ tuổi người chưa thành niên phải chịu trách nhiệm hình sự là khi họ từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi thực hiện những hành vi nguy hiểm cho xã hội và bị Luật hình sự cấm. Điều đó có nghĩa là ở độ tuổi từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi họ có năng lực trách nhiệm hình sự để có thể gánh chịu những hậu quả pháp lý hình sự do hành vi nguy hiểm cho xã hội của mình gây ra. Với tư cách là đối tượng đặc biệt cần được bảo vệ bởi các quy phạm pháp luật hình sự, Bộ luật hình sự đã dành hẳn một chương riêng quy định đối với người chưa thành niên phạm tội (Chương X) và Bộ luật tố tụng hình sự 2003 cũng dành phần thứ bảy - thủ tục đặc biệt chương XXXII quy định thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên cho thấy quyền của người chưa thành niên được các quy phạm pháp luật tư pháp hình sự bảo vệ đặc biệt. 1.1.2. Khái niệm bảo vệ quyền của người chưa thành niên trong Tư pháp hình sự. Theo Từ điển Tiếng Việt: “Quyền là cái mà luật pháp, xã hội, phong tục hay lẽ phải cho phép hưởng thụ, vận dụng, thi hành và khi thiếu được yêu cầu để có, nếu bị tước đoạt có thể đòi hỏi để giành lại”. Ngay trong khái niệm này, ta có thể thấy, để được coi là quyền và để bảo vệ quyền cần có sự thể hiện “thái độ” của xã hội và luật pháp. Hay nói cách khác, những quyền tự nhiên, vốn có của con người, như: Quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc và các lợi ích, nhu cầu khác trở thành quyền khi được xã hội, pháp luật pháp ghi nhận và bảo bảo đảm thực hiện. Bộ luật tố tụng hình sự 2003 quy định: Người bị tạm giữ là người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang, người bị bắt theo quyết định truy nã hoặc người phạm tội tự thú, đầu thú và đối với họ đã có quyết định tạm giữ. Bị can là người đã bị khởi tố về hình sự. Bị cáo là người đã bị Toà 12 án quyết định đưa ra xét xử. Người bị hại là người bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản do tội phạm gây ra. Người làm chứng là người biết được những tình tiết liên quan đến vụ án đều có thể được triệu tập đến làm chứng. Người bị kết án là người đã có quyết định thi hành bản án có hiệu lực pháp luật của Toà án. Do đó, có thể hiểu: Người bị tạm giữ là người chưa thành niên là người đang ở độ tuổi từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi tại thời điểm họ bị cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn là tạm giữ khi có các căn cứ theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Bị can là người chưa thành niên là người đang ở độ tuổi từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi tại thời điểm họ bị cơ quan tố tụng có thẩm quyền khởi tố về hình sự vì có căn cứ xác định là họ thực hiện hành vi phạm tội theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Bị cáo là người chưa thành niên là người đang ở độ tuổi từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi tại thời điểm họ bị Toà án quyết định đưa ra xét xử căn cứ vào quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Người bị kết án là người chưa thành niên là người đang ở độ tuổi từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi tại thời điểm họ đã bị Toà án xét xử và tuyên bản án có hiệu lực pháp luật căn cứ vào các quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Người bị hại là người chưa thành niên là người đang ở độ tuổi từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi tại thời điểm họ bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản do tội phạm gây ra và được cơ quan tiến hành tố tụng xác định là người bị hại theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Người làm chứng là người chưa thành niên là người đang ở độ tuổi từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi biết được những tình tiết liên quan đến vụ án và được các cơ quan có thẩm quyền xác định là người làm chứng theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự. 13 Tư pháp hình sự Việt Nam về bảo vệ quyền của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị kết án, người bị hại, người làm chứng được nghiên cứu trong luận văn là toàn bộ các quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam 1999 và Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam 2003 quy định về người chưa thành niên. Từ sự phân tích ở trên, có thể đưa ra khái niệm bảo vệ quyền của người chưa thành niên trong Tư pháp hình sự như sau: Bảo vệ quyền của người chưa thành niên trong Tư pháp hình sự là bảo bảo thực hiện các quyền của người chưa thành niên là người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị kết án, người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được ghi nhận trong pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự. 1.1.3. Cơ sở để nhà làm luật quy định quyền của người chưa thành niên trong tư pháp hình sự. Để được coi là người chưa thành niên trong tư pháp hình sự Việt Nam, các nhà lập pháp đã dựa trên hai tiêu chí, đó là: Độ tuổi và trình độ phát triển tâm sinh lý. Điều 12 Bộ luật hình sự 1999 quy định: “1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm. 2. Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.” Điều 68 Bộ luật hình sự cũng quy định: “Người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự...” Khi xây dựng điều này của Bộ luật có ý kiến đề xuất là nên cân nhắc độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự lên 16 tuổi cho phù hợp với Luật bảo vệ, chăm 14 sóc và giáo dục trẻ em. Tuy nhiên, ở đây cần phân biệt rõ khách thể bảo vệ trong Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em và trách nhiệm phải chịu hậu quả pháp lý về hành vi nguy hiểm cho xã hội là hai phạm trù khác nhau. Trong khi luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em trả lời cho chúng ta câu hỏi: Độ tuổi nào thì trẻ em cần thiết phải được hưởng sự bảo vệ, chăm sóc và giáo dục đặc biệt của cộng đồng xã hội? Thì pháp luật hình sự lại khẳng định cho chúng ta là bắt đầu từ độ tuổi nào thì một con người có nhận thức khá đầy đủ và phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với hành vi phạm tội của mình. Ở một khía cạnh nào đó, độ tuổi bắt đầu phải chịu trách nhiệm hình sự cũng chịu ảnh hưởng của thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm trong từng giai đoạn của quá trình phát triển xã hội. Tuy nhiên, việc tăng hay giảm độ tuổi bắt đầu chịu trách nhiệm hình sự không thể do một quyết định duy ý chí mà phải dựa trên những cơ sở sau: - Trình độ phát triển dân trí, bào gồm cả trình độ văn hoá và trình độ hiểu biết pháp luật. - Điều kiện kinh tế - xã hội. - Tình hình diễn biến tội phạm. - Tập quán pháp lý truyền thống. - Tương quan với sự phát triển của các ngành pháp luật khác. Pháp luật của các nước quy định độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự ít khi có sự thay đổi về độ tuổi. Điều này lý giải tại sao ở Úc độ tuổi này vẫn giữ nguyên là mười tuổi mặc dù trình độ dân trí, điều kiện kinh tế - xã hội rất phát triển. Ngược lại, cũng không thể giải thích rằng sở dĩ Nhật Bản vẫn giữ nguyên độ tuổi bắt đầu phải chịu trách nhiệm hình sự là mười lăm vì ở nước Nhật trẻ em dưới 15 tuổi không có những hành vi nguy hiểm cho xã hội cần phải có sự can thiệp của pháp luật. Tuy nhiên, nói như vậy không có nghĩa là 15
- Xem thêm -