Tài liệu Bảo vệ cổ đông thiểu số theo pháp luật doanh nghiệp việt nam hiện nay

  • Số trang: 82 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 7 |
  • Lượt tải: 0
hoangtuavartar

Tham gia: 05/08/2015

Mô tả:

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI PHẠM VĂN HẢI BẢO VỆ CỔ ĐÔNG THIỂU SỐ THEO PHÁP LUẬT DOANH NGHIỆP VIỆT NAM HIỆN NAY LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ HÀ NỘI, năm 2020 VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI PHẠM VĂN HẢI BẢO VỆ CỔ ĐÔNG THIỂU SỐ THEO PHÁP LUẬT DOANH NGHIỆP VIỆT NAM HIỆN NAY Ngành: Luật Kinh Tế Mã số: 8.38.01.07 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS NGUYỄN NHƯ PHÁT HÀ NỘI, năm 2020 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan, Luận văn Thạc sĩ Luật kinh tế “Bảo vệ cổ đông thiểu số theo pháp luật doanh nghiệp Việt Nam hiện nay” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Như Phát. Những kết quả, trích dẫn và số liệu trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cận và trung thực. Nội dung bài viết này chưa ai công bố dưới bất kỳ hình thức nào. Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về sự cam đoan này. Tác giả luận văn Phạm Văn Hải MỤC LỤC MỞ ĐẦU................................................................................................................ 1 Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO VỆ CỔ ĐÔNG THIỂU SỐ THEO PHÁP LUẬT DOANH NGHIỆP VIỆT NAM ................................ 7 1.1. Khái quát về cổ đông và cổ đông thiểu số ............................................... 7 1.1.1. Khái niệm về cổ đông ...................................................................... 7 1.1.2. Khái niệm về cổ đông thiểu số và nhóm cổ đông ............................ 8 1.1.3. Đặc điểm và vai trò của cổ đông thiểu số trong quản trị công ty cổ phần ......................................................................................................... 11 1.1.4. Nhu cầu và bản chất của bảo vệ quyền lợi của cổ đông thiểu số . 12 1.2. Các phương thức bảo vệ quyền lợi của của cổ đông thiểu số theo pháp luật Việt Nam. ............................................................................................... 15 1.3. Quy định về các quyền của cổ đông thiểu số ......................................... 17 Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT DOANH NGHIỆP VỀ BẢO VỆ CỔ ĐÔNG THIỂU SỐ TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN TẠI VIỆT NAM ... 24 2.1. Thực trạng pháp luật về bảo vệ của cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần tại Việt Nam ......................................................................................... 24 2.1.1. Các giai đoạn phát triển của pháp luật về bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần tại Việt Nam ......................................................... 24 2.1.2. Thực trạng các phương thức bảo vệ cổ đông thiểu số theo pháp luật doanh nghiệp Việt Nam hiện nay ..................................................... 28 2.2. Thực tiễn thực hiện pháp luật về bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần tại Việt Nam .................................................................................... 41 2.2.1. Các kết quả đạt được ..................................................................... 41 2.2.2. Những hạn chế, bất cập và nguyên nhân....................................... 44 Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT BẢO VỆ CỔ ĐÔNG THIỂU SỐ .............................................. 54 3.1. Nhu cầu, định hướng nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền lợi của cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần ở Việt Nam. ................................................. 54 3.2. Kiến nghị một số giải pháp hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi của cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần theo pháp luật doanh nghiệp tại Việt Nam. .............................................................................................................. 56 3.2.1. Hoàn thiện các quy định về quyền của cổ đông thiểu số ............... 57 3.2.2. Hoàn thiện cơ chế bảo vệ nội bộ đối với cổ đông thiểu số ............ 64 3.2.3. Hoàn thiện cơ chế bảo vệ bên ngoài đối với cổ đông thiểu số ...... 68 3.2.4. Hoàn thiện pháp luật xử lý vi phạm quyền cổ đông ...................... 69 KẾT LUẬN ......................................................................................................... 72 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT BKS Ban kiểm soát BCTC Báo cáo tài chính CĐTS Cổ đông thiểu số CTCP Công ty cổ phần ĐHĐCĐ Đại hội đồng cổ đông LDN Luật doanh nghiệp HĐQT Hội đồng quản trị GĐ Giám đốc TGĐ Tổng giám đốc MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trong thời kỳ đổi mới và hội nhập,Việt Nam luôn chú trọng xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, đặc biệt pháp luật về các chủ thể kinh doanh. Chính hội nhập kinh tế quốc tế dẫn đến không những có những tác động lớn đến hoạt động đầu tư kinh doanh ở trong nước mà còn vấn đề bảo vệ cổ đông. Ngoài ra, Việt Nam phải cam kết thực hiện những thông lệ quốc tế, chấp nhận cạnh tranh quốc tế, mở cửa cho thị trường hàng hoá, dịch vụ nước ngoài, tạo điều kiện thuận lợi theo nguyên tắc đối xử quốc gia cho các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào Việt Nam dưới các hình thức khác nhau. Muốn như vậy, thì chúng ta phải cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, trong đó việc tăng cường các cơ chế biện pháp bảo vệ nhà đầu tư, các cổ đông là thiết yếu. Cổ đông thiểu số thường chiếm số lượng lớn và thậm chí trong nhiều công ty, đặc biệt là các công ty đại chúng có thể có đến hàng ngàn CĐTS và tổng vốn cổ phần của họ cũng thường chiếm tỷ lệ đa số trong vốn điều lệ. Nói cách khác, một khi tập hợp được đa số cổ đông nhỏ, cũng có thể tạo được một nguồn vốn lớn góp phần vào công ty cổ phần. Nên trong những năm qua, có sự xảy ra tình trạng các ĐHĐCĐ thường niên tổ chức không thành công nhiều đợt trong nhiều năm, đơn cử là trường hợp tranh chấp của các cổ đông của Ngân hàng Exim Bank dẫn đến nhiều lần phải huỷ các cuộc họp ĐHĐCĐ hoặc sự mua bán chuyển nhượng cổ phần của các cổ đông lớn và nhỏ như ở Sacombank, Sabeco, Vinaconex cũng gây nhiều lãng phí và tranh chấp xảy ra kéo dài. Hơn nữa việc quản lý công ty cổ phần thường chịu tác động từ phía các cổ đông lớn, mặc dù họ có tỷ lệ vốn góp chưa chắc đã cao và quyết định. Tuy nhiên, thực tế hoạt động của các công ty cổ phần cho thấy, đã có những trường hợp xãy ra như cổ đông lớn chèn ép cổ đông nhỏ, không ít HĐQT và Ban GĐ thể hiện lộng quyền trong vai trò quản lý công ty, xuất hiện trường hợp cổ đông có quyền kiểm soát thông tin, điều hành có sự áp đảo CĐTS; trong khi đó ý thức bảo vệ quyền và nghĩa vụ của các CĐTS còn thấp. Ngoài ra, thị trường chứng khoán là một kênh 1 không thể thiếu cho các nhà đầu tư tham gia đầu tư và đang trên đà phát triển vì vậy để phát triển thì vấn đề thiết lập, xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật có liên quan để bảo vệ tốt quyền và đảm bảo tính cạnh tranh, hấp dẫn cũng như lợi ích của các nhà đầu tư cổ phần là cấp thiết. Vì vậy, tôi chọn đề tài “Bảo vệ cổ đông thiểu số theo pháp luật doanh nghiệp Việt Nam hiện nay” để tìm hiểu các quy định của pháp luật hiện hành, thực trạng áp dụng về quyền và nghĩa vụ của CĐTS trong các công ty cổ phần trong thời gian qua. Đồng thời, từ đó rút ra một số bất cập trong quy định của pháp luật, có đề xuất một số hướng hoàn thiện pháp luật về bảo vệ CĐTS trong công ty cổ phần tại Việt Nam. 2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Việc bảo vệ CĐTS trong công ty cổ phần là một nội dung trong pháp luật về các chủ thể kinh doanh và pháp luật thương mại, được nhiều nhà khoa học, các nhà doanh nghiệp nghiên cứu trong thời gian qua. Thông thường, các nhà nghiên cứu khác nhau sẽ có cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu khác nhau. Hơn nữa, tại từng thời điểm nghiên cứu sẽ có những nhận định khác nhau là điều không thể tránh khỏi. Nhiều công trình đã xuất bản như: Sách, luận văn, báo, đề tài khoa học cấp bộ, ngành, nhiều bài báo, tạp chí có đề cập đến nội dung nghiên cứu. Nhận thấy tầm quan trọng của nó trong tình hình quản trị các doanh nghiệp và định hướng phát triển kinh tế thị trường của đất nước, trong khả năng của người viết đã sưu tầm và xin đề cập một vài nghiên cứu tiêu biểu như sau: - Quách Thuý Quỳnh, 2010, “Quyền của cổ đông thiểu số theo pháp luật Việt Nam”, Tạp chí luật học, Hà Nội. Bài viết đưa ra hai luận điểm chính: thứ nhất, bảo vệ quyền lợi CĐTS, đây là vấn đề quan trọng trong việc quản trị công ty trong các nền kinh tế chuyển đổi; thứ hai, quyền cổ đông , một phương tiện và cơ sở pháp luật để bảo vệ CĐTS. Từ đó đã đề ra một số định hướng và giải pháp nhằm tăng cường bảo vệ CĐTS theo pháp luật doanh nghiệp Việt Nam.. - Đỗ Thái Hán, 2012,“Bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần ở Việt Nam”, Luận văn Thạc sĩ, Khoa Luật, Đại học quốc gia Hà Nội. Trình bày những vấn đề về quyền của cổ đông, sự cần thiết phải bảo vệ CĐTS, cơ chế bảo vệ CĐTS 2 và so sánh pháp luật một số nước trên thế giới với các nội dung nghiên cứu: thực trạng bảo vệ CĐTS trong công ty cổ phần, thực tiễn quản lý và điều hành công ty cổ phần, bảo vệ CĐTS ở một số nước như Nhật Bản, Pháp, Mỹ.. từ đó rút ra những quan điểm và đề xuất một số nghiên cứu để áp dụng cho Việt Nam, giải pháp và kiến nghị. - Nguyễn Thị Thu Hương, 2015,“Pháp luật về bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần ở Việt Nam hiện nay”, Luận án Tiến sĩ, Học viện Khoa học Xã hội, Việt Nam. Luận án nghiên cứu về sâu về quan điểm và nhu cầu bảo vệ CĐTS, thông qua đó góp phần làm rõ nhận thức về bảo vệ CĐTS; làm rõ vai trò về việc bảo vệ CĐTS và các yêu cầu đối với pháp luật về bảo vệ CĐTS, những yếu tố tác động đến pháp luật về bảo vệ CĐTS đối với công ty cổ phần, từ đó đề ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo vệ CĐTS. - Đỗ Quang Minh, 2018, “Bảo vệ quyền lợi cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần theo pháp luật doanh nghiệp Việt Nam hiện nay”, Luận văn Thạc sĩ, Học viện Khoa học Xã hội, Việt Nam. Luận văn gồm 03 chương bao quát về: Những lý luận về quyền cổ đông và sự cần thiết bảo vệ quyền lợi của CĐTS trong CTCP; Đánh giá thực trạng bảo vệ quyền lợi của CĐTS trong CTCP từ đó xây dựng phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bảo vệ quyền lợi của CĐTS trong CTCP trong thời gian sắp tới. - Phan Hoàng Ngọc, 2018,“Pháp luật về bảo vệ cổ đông thiểu số công ty cổ phần ở Việt Nam: nghiên cứu so sánh với Nhật bản và Hoa kỳ”, Luận án Tiến Sĩ Luật, Học viện Khoa Học Xã hội, Việt Nam. Luận án khái quát về lý luận cơ bản về bảo vệ CĐTS; phân tích và đánh giá pháp luật bảo vệ CĐTS, có liệt kê và đối chiếu làm rõ những điểm tương đồng và khác biệt với pháp luật của Nhật Bản và Hoa Kỳ, từ đó rút ra những khuyến nghị để tiếp tục hoàn thiện cơ chế bảo vệ CĐTS. Ngoài ra những cuốn sách rất ý nghĩa đã mang đến nhiều kiến thức bổ ích cho việc nghiên cứu công ty cổ phần tại Việt Nam - PGS.TS Bùi Xuân Hải và Nhóm biên soạn (2017), “Giáo trình Pháp luật về chủ thể kinh doanh”, Nhà xuất bản Hồng Đức. 3 - Bùi Thị Hằng Nga và nhóm biên soạn (2018), “Pháp luật doanh nghiệp: quy định và tình huống”, Nhà xuất bản Đại học quốc gia TP.HCM. Những công trình trên đã có những đóng góp cơ bản cho khoa học pháp lý Việt Nam đối với việc bảo vệ cổ đông trong công ty cổ phần. Tác giả luận văn kế thừa những đóng góp khoa học đó, từ đó bổ sung thêm kiến thức khoa học pháp lý kết hợp với tư duy nhận thức, kiến thức và thực tiễn để có thể hoàn thiện và viết luận văn đạt chất lượng cao nhất. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3.1. Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở lý luận pháp luật và thực trạng trong việc bảo vệ CĐTS theo LDN, rút ra một số định hướng từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo vệ CĐTS theo pháp luật Việt Nam. 3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu Nhằm thực hiện và hoàn thiện các mục đích trên, luận văn giải quyết các vấn đề sau: Nghiên cứu lý luận về quyền và nghĩa vụ cổ đông thiểu trong công ty cổ phần. Phân tích các quy định cũng như thực trạng của pháp luật Việt Nam hiện hành điều chỉnh về bảo vệ CĐTS trong công ty cổ phần. Đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật để bảo vệ CĐTS trong công ty cổ phần theo pháp luật doanh nghiệp Việt Nam hiện nay. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn tốt nghiệp cao học, người viết tập trung vào việc phân tích LDN 2014 về các vấn đề cơ bản về CĐTS, quy định pháp luật về bảo vệ CĐTS hiện nay, cơ chế bảo vệ CĐTS, giải pháp và kiến nghị về bảo vệ CĐTS trong CTCP ở Việt Nam. Luận văn không đề cập đến khía cạnh cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước hoặc cổ đông với tư cách là người nắm giữ các loại chứng khoán khác như: trái phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư; các loại chứng khoán khác. Không nghiên cứu toàn bộ 4 các quy định pháp luật về bảo vệ cổ đông của công ty, mà chỉ tập trung vào nghiên cứu khía cạnh pháp luật về bảo vệ CĐTS trong công ty cổ phần. 5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu Tác giả dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lê Nin gồm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, đặc biệt là nghiên cứu lý luận chung về Nhà nước và Pháp Luật. Ngoài ra còn sử dụng các phương pháp để xem xét một cách toàn diện các vấn đề lý luận và thực tiễn, cụ thể như sau: - Phương pháp logic, phương pháp lịch sử: phương pháp này sử dụng chủ yếu ở chương 1 nhằm phân tích quá trình phát triển để hình thành loại hình công ty cổ phần tại Việt Nam. Làm rõ các khái niệm, cơ sở lý luận về vấn đề cổ đông, bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần. - Phương pháp tổng hợp, phân tích luật viết: tập trung nghiên cứu những quy định của pháp luật có liên quan đến bảo vệ quyền của cổ đông và CĐTS. Trên cơ sở phân tích kết hợp với thực tiễn trong quá trình thực hiện trong thời gian qua liên quan đến vấn đề bảo vệ CĐTS tại các công ty cổ phần ở Việt Nam. - Phương pháp quy nạp, diễn dịch: chủ yếu được sử dụng ở chương 3 với mục đích đánh giá các quy định của pháp luật có liên quan đến đề tài, đánh giá tình hình chung của cả nước cũng như nêu lên những thực trạng về vấn đề bảo vệ CĐTS. Qua đó, kiến nghị một số giải pháp hoàn thiện pháp luật bảo vệ cổ đông thiểu số. 6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ là cơ sở lý luận, tài liệu tham khảo cho các công trình nghiên cứu có những nội dung có liên quan, cho các cơ quan quản lý, các cổ đông và những người quản trị, điều hành công ty. Những phân tích thực tiễn, kiến nghị những giải pháp trong luận văn sẽ là định hướng và góp phần bổ sung các quan điểm lý luận khi các nhà làm luật hoàn thiện pháp luật về góp vốn thành lập CTCP tại Việt Nam. 7. Kết cấu của luận văn Luận văn gồm 3 chương chưa bao gồm phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo theo quy định, kếu cấu như sau: 5 - Chương 1: Những vấn đề lý luận về quyền cổ đông và sự cần thiết bảo vệ quyền lợi của cổ đông thiểu số trong công ty - Chương 2: Thực trạng pháp luật doanh nghiệp về bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần tại Việt Nam. - Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo vệ cổ đông thiểu số 6 Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO VỆ CỔ ĐÔNG THIỂU SỐ THEO PHÁP LUẬT DOANH NGHIỆP VIỆT NAM 1.1. Khái quát về cổ đông và cổ đông thiểu số 1.1.1. Khái niệm về cổ đông Theo khoản 2 Điều 3 LDN 2014 “cổ đông là cá nhân hoặc tổ chức sở hữu ít nhất một cổ phần của công ty cổ phần”. Cổ phần chính là vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau, cũng chính là phần vốn nhỏ nhất của CTCP. Theo quy định LDN 2014, tư cách cổ đông của tổ chức, cá nhân có thể được xác lập trong các trường hợp sau: đăng ký mua cổ phần tại thời điểm đăng ký thành lập doanh nghiệp; mua cổ phần do công ty chào bán trong phạm vi cổ phần được quyền chào bán; nhận chuyển nhượng cổ phần từ cổ đông của công ty; thừa kế cổ phần thuộc di sản của người để lại thừa kế; được cổ đông của công ty tặng cho; mua cổ phần được bán đấu giá để thi hành án. Tại Việt Nam, pháp luật không có quan niệm và công nhận về CTCP có một cổ đông. Nhưng trên thực tế hoạt động của một số CTCP thì có loại hình CTCP chỉ có một cổ đông chi phối hoặc biến tướng để phù hợp khi đăng ký thành lập nhưng thực tế hoạt động điều hành chỉ có một cổ đông. Trong giáo trình Luật thương mại của PGS.TS Ngô Huy Cương, “cũng có khái quát về pháp luật nhiều nước trên thế giới có thừa nhận và điều tiết Công ty cổ phần một thành viên” [6, tr.229]. Tại Điểm b, Khoản 1 Điều 110 LDN 2014 quy định “trong Công ty cổ phần bắt buộc phải có tối thiểu 03 cổ đông và không hạn chế số lượng tối đa.”. Mọi CTCP đều phải lập sổ đăng ký cổ đông theo quy định, sổ đăng ký cổ đông có thể là văn bản, tập dữ liệu điện tử hoặc cả hai loại này. Phải được lưu trữ tại trụ sở chính của doanh nghiệp hoặc trung tâm lưu ý chứng khoán. Cổ đông được quyền kiểm tra, tra cứu, trích lục, sao chép nội dung sổ đăng ký cổ đông. Việc quy định sổ cổ đông và cách thức quản lý sổ cổ đông và thông tin trao đổi được quy định tại Khoản 2 Điều 121 LDN2014. 7 Tuỳ theo cách phân loại theo quyền và nghĩa vụ gắn liền với loại cổ phiếu mà cổ đông sở hữu, cổ đông được phân thành như sau: cổ đông sáng lập, cổ đông phổ thông và cổ đông ưu đãi. Tuỳ theo tỷ lệ cổ phần mà cổ đông nắm giữ trong một công ty, cổ đông được phân loại thành: - Cổ đông lớn: do điều lệ công ty cổ phần quy định tỷ lệ để được coi là cổ đông lớn trên cơ sở pháp luật hiện hành. Theo Điều 2, Thông tư số 155/2015/TTBTC về việc hướng dẫn công bố thông tin trên thị trường chứng khoán quy định “cổ đông lớn là nhóm người có liên quan sở hữu từ 5% trở lên số cổ phiếu đang lưu hành có quyền biểu quyết của công ty đại chúng; nhà đầu tư sở hữu từ 5% trở lên chứng chỉ quỹ của quỹ đóng; cổ đông sáng lập trong thời gian bị hạn chế chuyển nhượng của công ty đại chúng, công ty đầu tư chứng khoán đại chúng; thành viên sáng lập của quỹ đại chúng”. - Cổ đông nhỏ: Như đề cập định nghĩa về cổ đông lớn, thì có thể hiểu “cổ đông nhỏ là những cổ đông sở hữu trực tiếp hoặc gián tiếp dưới 5% số cổ phiếu có quyền biểu quyết của tổ chức phát hành”. Căn cứ vào khả năng chi phối của công ty, cổ đông được chia thành 02 loại: Cổ đông đa số và CĐTS. 1.1.2. Khái niệm về cổ đông thiểu số và nhóm cổ đông CĐTS là khái niệm trên thực tế còn tồn tại rất nhiều tên gọi khác nhau và có nhiều quan điểm khác nhau chưa thống nhất như sau: Quan điểm thứ nhất khái niệm CĐTS dựa trên khái niệm của cổ đông lớn. Trong khi Luật doanh nghiệp không định nghĩa cổ đông lớn và cổ đông thiểu số, thì Hiện nay có văn bản luật trực tiếp quy định về cổ đông lớn đó là Luật các tổ chức tín dụng 2010. Khoản 26 Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng 2010 khái niệm“cổ đông lớn của tổ chức tín dụng cổ phần là cổ đông sở hữu trực tiếp gián tiếp từ 5% vốn cổ phần có quyền biểu quyết trở lên của tổ chức tín dụng cổ phần”. Như vậy, Luật đưa ra một tỷ lệ là 5% để phân ranh giới giữa cổ đông lớn và loại cổ đông còn lại trong CTCP, vì vậy có thể khái quát rằng cổ đông nhỏ hay còn gọi là CĐTS là cổ đông sở 8 hữu dưới 5% vốn cổ phần có quyền biểu quyết. Cách đề cập như trên là chưa hợp lý bởi vì những tỷ lệ này chưa đủ phản ánh bản chất của CĐTS, mà tỷ lệ này được quy định nhằm mục đích để ghi nhận các quyền lợi cho cổ đông lớn. Quan điểm thứ hai cho rằng loại hình CTCP là loại công ty đối vốn, nên một khi cổ đông góp nhiều vốn (cổ phần) thì sẽ có nhiều quyền hơn so với các cổ đông khác và ngược lại. Nên từ đó hiểu rằng, CĐTS là những cổ đông sở hữu một tỷ lệ phần trăm tương đối nhỏ cổ phần có quyền biểu quyết trong CTCP. Cách tiếp cận này cũng có lý nhưng chưa đầy đủ, vì có những trường hợp các CĐTS tập hợp lại thành nhóm cổ đông, đạt được một mức chi phối thì có thể chi phối được công ty, trong khi đó các cổ đông được coi là cổ đông lớn lại có thể bị lép với bởi nhóm cổ đông này. Ví dụ trong trường hợp có 40 cổ đông, trong đó có 01 cổ đông sở hữu 22% cổ phần của công ty và 39 cổ đông còn lại mỗi cổ đông sở hữu 2% cổ phần công ty. Thông thường cổ đông có tỷ lệ cổ phần sở hữu đạt 22% thì được xem là cổ đông lớn. Và cổ đông nắm giữ 2% là cổ đông nhỏ, các cổ đông này tập hợp lại cổ phần của mình, tạo thành nhóm cổ đông sở hữu 78% cổ phần công ty thì cổ đông sở hữu 22% cổ phần trong công ty lại ở vào vị trí CĐTS do bị hạn chế về khả năng chi phối các quyền điều hành và định đoạt trong công ty. Quan điểm thứ ba, theo quan điểm của Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Xuân Hải (2018) trong cuốn giáo trình pháp luật về chủ thể kinh doanh định nghĩa “Cổ đông thiểu số dựa trên cả hai yếu tố quan trọng: thứ nhất, là phần vốn góp của họ (tỷ lệ phần trăm có quyền biểu quyết) hay phần vốn góp của họ trong vốn điều lệ của công ty. Thứ hai là khả năng trong việc tác động và chi phối đến các vấn đề quan trọng cũng như có quyền biểu quyết thông qua các vấn đề được đưa ra tại Đại hội đồng cổ đông”. Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Hoàng Thuỳ Trang (2015) “nếu tỷ lệ cổ phần của cổ đông mà không quyết định và kiểm soát công ty thì bản thân số lượng cổ phần không thể nói lên được vị trí của cổ đông là cổ đông thiểu số hay cổ đông đa số” hay theo như Luật sư Nguyễn Ngọc Bích và Tiến sĩ Nguyễn Đình Cung trong trang 349 sách Công ty, vốn, quản lý và tranh chấp theo luật doanh nghiệp 2005 thì 9 cho rằng “được gọi là cổ đông ít vốn hay nhiều vốn là khi phải nói đến số lượng tiền họ bỏ ra thực tế để góp vốn vào công ty và gọi là đa số hay thiểu số là khi họ thực thi và khả năng thực hiện quyền biểu quyết”. Từ những phân tích và nhận định trên, cho thấy việc xác định CĐTS nên theo hướng mở tuỳ thuộc cơ cấu cổ đông từng doanh nghiệp, theo đó khi nhận định CĐTS không nên chỉ căn cứ vào việc ấn định tỷ lệ sở hữu vốn cụ thể mà cần phải xem xét khả năng chi phối của cổ đông trong việc thực hiện quyền điều hành công ty. Nói một cách khác, CĐTS nên được hiểu và xác định chính xác tuỳ thuộc vào cơ cấu sở hữu thực tế trong mỗi CTCP. Theo thông lệ quốc tế về quản trị công ty tốt thì được xem là CĐTS (minority shareholders) khi mà cổ đông/nhóm cổ đông đó không có quyền biểu quyết hoặc nắm tỷ lệ cổ phần có quyền biểu quyết dưới 50%, do quy định tại luật pháp đa số các nước tiên tiến là các Nghị quyết ĐHCĐ được thông qua khi có số cổ phần có quyền biểu quyết chỉ cần từ 51% trở lên là hợp pháp. Thực tế cho thấy tỷ lệ phần vốn góp mà cổ đông nắm giữ quyết định khả năng tham gia vào quá trình quản lý, kiểm soát CTCP. Theo đó, các cổ đông hoặc nhóm cổ đông có tỷ lệ sở hữu cổ phần càng cao thì khả năng chi phối các vấn đề lớn của công ty càng lớn và ngược lại. CĐTS với số vốn góp hạn chế sẽ gặp phải không ít những bất lợi khi thực hiện quyền biểu quyết các vấn đề quan trọng trong công ty, để tự bảo vệ mình những CĐTS có tiếng nói chung có thể tập hợp lại, thông qua nhóm cổ đông thực hiện các quyền mà pháp luật cho phép. Về nhóm cổ đông, luật quy định rõ tại Khoản 2 Điều 114 LDN như sau: “ Nhóm cổ đông là một tập hợp các cổ đông thiểu số sở hữu từ 10% tổng số cổ phần phổ thông trở lên trong thời hạn liên tục ít nhất 06 tháng hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn quy định tại Điều lệ công ty”. Nhóm cổ đông được hình thành một cách đơn giản và linh hoạnh như: chỉ cần có từ hai cổ đông và không hạn chế số lượng tối đa, khi tập hợp lại sở hữu ít nhất 10% tổng số cổ phần hoặc ít hơn theo Điều lệ công ty quy định, sở hữu cổ phần đó liên tục ít nhất là 06 tháng. Nhờ đó, cổ đông tự mình hoặc được gộp các cổ đông nhỏ lẻ thành nhóm cổ đông để thực hiện quyền đề cử, bầu, bổ nhiệm, miễn hội đồng 10 quản trị (HĐQT), ban kiểm soát (BKS); quyền triệu tập họp đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ)…, những quy định này mang ý nghĩa quan trọng trong việc thực hiện các biện pháp để bảo vệ CĐTS. Trên cơ sở quan điểm về các quy định, phân tích trên về CĐTS và Nhóm cổ đông. Tác giả đề xuất khái quát khái niệm CĐTS như sau: CĐTS còn gọi là cổ đông nhỏ là cổ đông sở hữu một tỷ lệ cổ phần nhỏ trong CTCP, không có khả năng chi phối, kiểm soát hoạt động của công ty một cách trực tiếp hoặc gián tiếp. 1.1.3. Đặc điểm và vai trò của cổ đông thiểu số trong quản trị công ty cổ phần CĐTS cũng là cổ đông phổ thông, do đó, quyền và nghĩa vụ của CĐTS cũng giống như cổ đông phổ thông. Ngoài các quyền của cổ đông phổ thông, CĐTS còn có những quyền rất đặc thù để họ có thể tự bảo vệ mình trước các cổ đông lớn đầy quyền lực, như quy định cụ thể tại khoản 2 Điều 114 LDN 2014. Về cơ bản, kế thừa và tiếp thu các ý kiến sau khi vận dụng LDN 2005, LDN 2014 đã xây dựng thêm một cơ chế để bảo vệ các CĐTS, vốn luôn là những nhóm có quyền và nghĩa vụ bé nhỏ trong CTCP, bởi họ ít có khả năng tự bảo vệ quyền lợi của mình trước các cổ đông lớn. Tuy nhiên, trong quá trình áp dụng các quy định pháp luật này đã xảy ra nhiều vấn đề cho những nhà làm luật tiếp tục nghiên cứu để hoàn thiện các quy định của pháp luật. Thông qua đó sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho CĐTS bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình cũng có một cơ sở và cấu trúc hoàn chỉnh trong quản trị để chính CTCP có thể hoạt động thuận lợi và hội nhập hơn. LDN 2005 cũng như LDN 2014 gần như không có quy định nào liên quan đến khái niệm cổ đông nhỏ hay cổ đông lớn, ngoại trừ một lần nhắc đến cụm từ “cổ đông lớn”. Luật không quy định về CĐTS và cổ đông đa số, nhưng có thể coi cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu số cổ phần mà trong ĐHĐCĐ không đạt tỷ lệ biểu quyết cần thiết để thông qua quyết định của ĐHĐCĐ là CĐTS. Như vậy, cổ đông nhỏ và nhiều cổ đông lớn, thậm chí sở hữu tới 49% số cổ phần vẫn có thể thuộc vào nhóm CĐTS, đây là đặc điểm để nhận biết CĐTS. 11 Về vai trò, cổ đông đa số hay CĐTS cũng đều phát sinh các vấn đề tương tự nhau, trong đó có việc tranh chấp các vấn đề liên quan đến quyền lợi trong nội bộ công ty. Chính vì vậy, cả LDN 2005 và LDN mới năm 2014 đều quy định, nguyên tắc giải quyết tranh chấp nội bộ là một trong những vấn đề quan trọng bắt buộc phải có trong Điều lệ của công ty. Tuy nhiên, từ “tranh chấp” chỉ xuất hiện rất ít trong LDN 2014, chẳng hạn, quy định tại điểm b, khoản 3, Điều 120 về “Cổ phiếu”, LDN 2014: Cổ đông phải “chịu trách nhiệm về những tranh chấp phát sinh từ việc cấp lại cổ phiếu mới” trong trường hợp đề nghị công ty cấp lại cổ phiếu mới, nếu bị mất, bị huỷ hoại hoặc hư hỏng khác. Nhưng, Luật lại có nhiều quy định khác xử lý vấn đề tranh chấp nội bộ công ty, trong đó có việc khởi kiện đối với người quản lý công ty. 1.1.4. Nhu cầu và bản chất của bảo vệ quyền lợi của cổ đông thiểu số Trong ngôn ngữ tiếng Việt, bảo vệ có nghĩa là: chống lại mọi sự hủy hoại, xâm phạm để giữ gìn cho được nguyên vẹn; bênh vực bằng lý lẽ để giữ vững ý kiến hay quan điểm; bảo vệ quyền lợi có nghĩa là bảo vệ các lợi ích được hưởng, mà người khác không được xâm phạm đến. Do vậy, bảo vệ quyền lợi CĐTS trong CTCP được hiểu là: hoạt động pháp lý được thực hiện bởi những chủ thể có nghĩa vụ bảo vệ các lợi ích được hưởng của CĐTS trong CTCP nhằm phòng ngừa, trừng trị hành vi vi phạm quyền của CĐTS, đồng thời phục hồi những quyền đã bị hạn chế, tước bỏ bởi hành vi vi phạm quyền của CĐTS. Bảo vệ CĐTS là một trong những nhiệm vụ quan trọng bậc nhất của pháp luật CTCP. CĐTS thường chiếm số lượng lớn và thậm chí nhiều công ty đặc biệt trong các công ty đại chúng có CĐTS lên đến hàng ngàn người và tổng vốn cổ phần của họ cũng thường chiếm tỷ lệ đa số trong vốn điều lệ. Nói cách khác, một khi tập hợp được lại các cổ đông nhỏ thì cũng có thể tạo một nguồn vớn lớn góp vào CTCP, chứ để từng cổ đông nhỏ riêng lẽ sẽ không có tiếng nói trong CTCP. Cho nên, thông thường việc quản lý CTCP lại thường chịu tác động từ các cổ đông lớn, trong khi chúng chưa chắc có một tỷ lệ vốn cổ phần cao. Như vậy, việc bảo vệ quyền lợi của các cổ đông nhỏ sẽ tạo ra một sự phát triển bền vững trong mộ hình quản trị CTCP, 12 bởi nó sẽ đảm bảo tính cạnh tranh, hấp dẫn đối với các nhà đầu tư cổ phần. Tuy nhiên, thực tế trên thị trường có những trường hợp xảy ra như sau: - Cổ đông lớn chèn ép CĐTS: bảo vệ cả cổ đông lớn và CĐTS là phù hợp với tinh thần của pháp luật doanh nghiệp, mọi cổ đông đều có quyền được đối xử công bằng. Trong một công ty đối vốn như công ty cổ phần, cổ đông lớn với số lượng cổ phần mà họ nắm giữ đã được pháp luật bảo vệ rất nhiều, ưu thế về vốn giúp họ không chỉ tự bảo vệ quyền lợi của mình mà còn có thể dễ dàng chi phối công ty, trục lợi thông tin, cá nhân, đẩy thiệt hại cho CĐTS. Nếu quyền lợi của CĐTS không bị xâm phạm và bị xem thường từ thì sẽ không nêu ra vấn đề bảo vệ CĐTS. Lý do khiến cổ đông lớn lạm quyền, xâm phạm quyền lợi của CĐTS chủ yếu là vì mục đích tư lợi. Thực tế cho thấy các cổ đông lớn có những quyền lợi, tìm cách thâm tóm công ty để dành quyền quản lý, từ đó không khó để họ thực hiện điều chèn ép CĐTS bởi họ có trong tay sức mạnh quyền lực. Các CĐTS dù có biết mình bị xâm phạm, nhưng do thời gian, thông tin tiếp cận khó nên phần lớn vẫn phải cam chịu chấp nhận. Các thủ đoạn, cách thức mà cổ đông lớn hay dùng trong việc lấn quyền phổ biến là việc cổ đông lớn trực tiếp điều hành công ty với quyền kiểm soát HĐQT, thậm chí cả Ban giám đốc nên thông qua HĐQT bành trướng quyền lực, xây dựng những quyết định có lợi cho mình tước bỏ quyền CĐTS hoặc lợi dụng quyền hạn của mình và sử dụng các thông tin của công ty để thực hiện tối đa các giao dịch tư lợi, chiếm đoạt tài sản của công ty. - Sự lộng quyền của HĐQT, Ban giám đốc trong vai trò quản lý, thực tế rất nhiều công ty không có sự tách bạch giữa sở hữu và quản lý là một dấu hiệu đặc trưng của CTCP. Chính vì vậy, có những người được làm quản lý công ty rồi có những hành động cá nhân mà không vì mục tiêu tối đa hóa của cải cho các cổ đông. - Sự áp đảo của cổ đông có quyền kiểm soát thông tin, điều hành với CĐTS trong CTCP, họ có quyền để giữ tài sản với số vốn đã góp vào công ty và lòng tham nổi lên. Do vậy, về mặt lý thì các cổ đông góp nhiều vốn sẽ có nhiều ưu thế hơn trong việc ứng cử và tham gia quản lý, từ đó quản lý được phần vốn của mình một cách chính đáng và trục lợi phần vốn của các cổ đông nhỏ, gây ra bất công cho 13 những cổ đông nhỏ khi mà quyền của họ không được chính những người quản lý bảo vệ. - Ngoài ra ý thức tinh thần tham gia đầu tư góp vốn theo kiểu đám đông, nên ý thức tự bảo vệ chính mình của CĐTS ở Việt Nam còn thấp. CĐTS thường không hiểu biết hoặc ít hiểu biết về các quy định pháp luật hiện hành. Đa số họ xuất phát từ nhiều thành phần khác nhau, vì vậy có trình độ, nhận thức, kiến thức, phương thức đầu tư chủ yếu quan tâm đến khoản lời. Họ chỉ quan tâm đến việc tăng giá, giá giá trị cổ phiếu hằng ngày, không quan tâm đến những nguy cơ gây thất thoát trong vấn đề quản trị doanh nghiệp đó. Trong khi đó, các cổ đông lớn có thể biết nhau nên họ gắn kết và liên minh dễ dàng để có thể kiểm soát công ty, từ đó có những xâm hại đến lợi ích chung của định hướng phát triển của doanh nghiệp cũng như lợi ích của các CĐTS. Ngoài ra, sự cần thiết bảo vệ quyền lợi của CĐTS nói chung và cổ đông nói riêng xét theo khía cạnh mục đích hoạt động của công ty: Các cổ đông với vai trò là chủ sở hữu công ty sẽ được bảo đảm bảo lợi ích tốt nhất, công ty cũng có trách nhiệm bảo vệ các quyền lợi và lợi ích của những chủ thể có có liên quan khác như khách hàng, ngân hàng, nhân viên và đối tác của công ty. Vì vậy có thể nói rằng, bản chất của việc bảo vệ CĐTS là: - Đối với nhà đầu tư: Đảm bảo quyền lợi của các CĐTS, các CĐTS khi tham gia góp vốn vào công ty cổ phần mà được bảo vệ thì sẽ có quyền lợi. Việc pháp luật bảo vệ CĐTS sẽ giúp các nhà đầu tư có thể thực hiện được các quyền có cơ sở hơn. Ngoài ra tránh được sự chèn ép, đối xử không công bằng của các cổ đông lớn, và cuối cùng là nhận được quyền lợi công bằng của các cổ đông lớn và xứng đáng với số vốn mình bỏ ra. - Đối với công ty cổ phần: Khi bảo vệ quyền lợi CĐTS, thì sẽ khuyến khích nhà đầu tư tin tưởng bỏ vốn thêm khi công ty có nhu cầu huy động. Cũng như các CĐTS sẽ giữ đầu tư dài hạn, tạo sự bền vững trong phát triển của công ty và thị trường chứng khoán nếu công ty lên sàn chứng khoán. Bảo vệ CĐTS, giúp nhà đầu tư tin tưởng, lựa chọn tham gia góp vốn thay vì công ty phải đi vay ngân hàng, 14
- Xem thêm -