Tài liệu Bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng nghiên cứu so sánh giữa pháp luật liên minh châu âu và việt nam

  • Số trang: 35 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 103 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 27125 tài liệu

Mô tả:

BẢO HỘ NHÃN HIỆU NỔI TIẾNG NGHIÊN CỨU SO SÁNH GIỮA PHÁP LUẬT LIÊN MINH CHÂU ÂU VÀ VIỆT NAM – So sánh : 62.38.60.01 Năm 2011 1 CHƢƠNG 1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1.1. Lý do lựa chọn đề tài Nhãn hiệu, cùng với sáng chế, quyền tác giả và những đối tượng khác của quyền SHTT đang ngày càng nhận được nhiều sự quan tâm trên bình diện quốc gia lẫn quốc tế. Trên thực tế, “nhãn hiệu” đã được sử dụng từ khá sớm trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, cụ thể là từ thời kỳ Đồ Đá. Quan điểm liên quan đến lịch sử hình thành và phát triển của nhãn hiệu nổi bật và nhận được sự ủng hộ của nhiều học giả trên thế giới đã chỉ ra rằng những hình thức sơ khai của nhãn hiệu được sử dụng trên gia súc, cụ thể là những người nông dân vào thời kỳ này đã biết sử dụng sắt nung nóng để đánh dấu lên những con vật thuộc sở hữu của mình. Thực tế này đã được khắc họa lại trên các họa tiết, các nét vẻ trên các vách đá hay trên tường ở Ai Cập cổ đại. một hình thức “đánh dấu” khác cũng được sử dụng trên vật nuôi là hình thức cắt tai xuất hiện ở Madagascar. Mặc dù vậy, phải đến những năm 1800, pháp luật về nhãn hiệu mới thật sự được ban hành lần đầu tiên ở Anh Quốc và những vụ việc đầu tiên liên quan đến tranh chấp về nhãn hiệu được giải quyết tại các Tòa án. Sau đó, vấn đề bảo hộ nhãn hiệu nói riêng và quyền SHTT nói chung đã được thể chế hóa một cách mạnh mẽ trong nhiều điều ước quốc tế cũng như trong pháp luật quốc gia. Những sự cố gắng đó hiển nhiên đã thể hiện được bước tiến bộ vượt bậc trong việc bảo hộ nhãn hiệu ở từng quốc gia cũng như trên phạm vi toàn cầu. Tuy nhiên, vẫn tồn tại một khía cạnh pháp lý quan trọng của pháp luật về nhãn hiệu chưa được đề cập trong một thời gian khá dài, đó là vấn đề bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng – những nhãn hiệu được biết đến và sử dụng rộng rãi trên toàn cầu hoặc ít nhất là trong một quốc gia hay một khu vực địa lý nhất định. Rõ ràng là sự thiếu vắng của các quy định pháp luật trong lĩnh vực này đã mang lại những khó khăn nhất định cho thực tiễn sử dụng và bảo hộ đối với nhiều nhãn hiệu nổi tiếng. Trong nhiều năm qua đã có không ít những tranh chấp thương mại quốc tế phát sinh liên quan đến nhãn hiệu nổi tiếng. Việc giải quyết những tranh chấp này chủ yếu được thực hiện dựa trên án lệ ở các nước theo truyền thống Thông luật hay dựa trên các quy định pháp luật liên quan ở các nước theo truyền thống Dân luật. Điều này vô hình chung đã mang lại nhiều thách thức cho việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của chủ sở hữu nhãn hiệu nổi tiếng, đồng thời cản trở quá trình hoàn thiện pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ nói chung và nhãn hiệu nổi tiếng nói riêng cũng như tăng cường và đảm bảo tính thống nhất, tính hiệu quả 2 và sự khả thi của hệ thống pháp luật. Chính vì vậy, việc xây dựng một thiết chế pháp lý mang tính toàn cầu bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng là một trong những mục tiêu quan trọng nhất của sự phát triển hệ thống pháp luật về nhãn hiệu trong môi trường pháp lý quốc gia cũng như quốc tế. Học thuyết pháp lý quốc tế liên quan đến nhãn hiệu nổi tiếng lần đầu tiên được thể chế hóa trong Công ước Paris vào năm 1925. Ngày nay, học thuyết này trở nên đặc biệt quan trọng trong một thế giới mà các hoạt động tiếp thị và quảng bá thương mại toàn cầu không ngừng gia tăng. Việc tạo ra một thương hiệu toàn cầu ngày càng trở nên dễ dàng hơn rất nhiếu thông qua các kênh thông tin mới, tiết kiệm và có thể tiếp cận từ xa. Trong khi các biên giới và ranh giới chính trị giữa các quốc gia có vẻ như đang gây ra không ít những trở ngại cho sự tự do đi lại của các cá nhân trên toàn cầu thì chúng cũng không thể nào ngăn cản được dòng chảy tự do của thông tin. Như vậy, một nhãn hiệu có thể được đồng thời chuyển tải đến bất kỳ nơi nào để đến với người tiêu dùng cũng như toàn thể công chúng qua nhiều kênh thông tin hiệu quả và nhanh chóng. Bằng cách đó, một nhãn hiệu có thể nhanh chóng được biết đến rộng rãi trên nhiều thị trường trên thế giới bất chấp những hạn chế đối với sự di chuyển của cá nhân. Có thể thấy rằng nhãn hiệu nổi tiếng đã được công nhận như là một trong những hình thức quan trọng nhất của hệ thống nhãn hiệu như đã được ghi nhận trong hệ thống pháp luật quốc gia lẫn trong các Điều ước quốc tế. Cơ chế pháp lý bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng tiếp tục được củng cố và phát triển theo thời gian nhờ vào sự nhận thức về tầm quan trọng của nhãn hiệu nổi tiếng không ngừng gia tăng trên toàn cầu cũng như sự phát triển của vai trò của nhãn hiệu nổi tiếng trong hệ thống thương mại quốc tế. Mặc dù vậy, những vấn đề pháp lý này vẫn còn là những khái niệm khá mới mẻ ở nhiều quốc gia, đặc biệt là ở những quốc gia đang và kém phát triển, trong đó có Việt Nam. Với xu hướng hội nhập và toàn cầu hóa hiện nay, nhiều nhà đầu tư nước ngoài sẽ gia nhập vào thị trường nội địa của Việt Nam. Họ sẽ mang theo nhiều nhãn hiệu nước ngoài, trong đó bao gồm nhãn hiệu nổi tiếng, không chỉ vào thị trường nội địa mà còn vào trong hệ thống pháp luật quốc gia. Ngày nay, chúng ta có thể nhìn thấy nhiều nhãn hiệu nổi tiếng toàn cầu xuất hiện trong các siêu thị của Việt Nam như SONY, TOYOTA, COCA-COLA, MICROSOFT, NOKIA… Những nhãn hiệu này không chỉ đại diện cho tài sản của doanh nghiệp nước ngoài mà còn trở thành yếu tố quan trọng trong toàn bộ nền kinh tế quốc gia nơi chúng được đầu tư. Chẳng hạn, giá trị thương mại của nhãn hiệu COCA-COLA được tính toán vào khoảng 33,4 tỉ Đô là Mỹ năm 1993 và lên đến hơn 70,0 tỉ Đô là Mỹ vào năm 2010 (trở thành thương hiệu có giá trị cao nhất toàn cầu trong năm). Điều này chứng tỏ rằng giá trị kinh tế của quyền SHTT, và đặc biệt là nhãn hiệu, đang đóng một vai trò quan trọng trong sự 3 phát triển của mỗi doanh nghiệp cũng như của nền kinh tế thế giới. trong khi đó, nhìn lại thực tế ở Việt Nam, có thể thấy rằng cơ chế bảo hộ và thực thi quyền SHTT vẫn còn là một bức tranh mờ nhạt. Mặc dù Nhà nước đã có nhiều nỗ lực trong việc ban hành nhiều văn bản luật và những quy định mới, song hiện tượng xâm phạm hay vi phạm quyền SHTT vẫn tiếp tục là những thách thức to lớn đối với các cơ quan có thẩm quyền và đối với các chủ thể quyền SHTT. Pháp luật về nhãn hiệu có vẻ là lĩnh vực chịu thách thức nhiều hơn cả bởi vì ngày càng có nhiều tranh chấp và khiếu nại được đưa ra trước cơ quan có thẩm quyền liên quan đến hành vi xâm phạm nhãn hiệu. Ở Việt Nam, hầu hết mọi người không có nhiều kiến thức và thông tin liên quan đến nhãn hiệu nổi tiếng. Chẳng hạn, nhãn hiệu HONDA thường được sử dụng một cách thông dụng để chỉ tất cả các phương tiện xe gắn máy mà không có sự phân biệt nào đối với các nhãn hiệu mà chúng mang, dù rằng các nhãn hiệu đó không phải là HONDA và cũng không giống nhau. Điều này có vẻ như là một thực tế phổ biến và nó tồn tại trong một thời gian khá dài. Và với tình huống xảy ra như thế, chúng ta buộc phải trả lời một số câu hỏi quan trọng, ví dụ: (1) Có bất kỳ sự xâm phạm nào đối với quyền của chủ sở hữu nhãn hiệu trong ví dụ liên quan đến nhãn hiệu HONDA này? (2) Liệu chủ sở hữu nhãn hiệu HONDA có quyền khiếu nại yêu cầu bảo vệ quyền lợi của họ liên quan đến nhãn hiệu này không? (3) Làm thế nào để họ có thể bảo vệ được các quyền lợi chính đáng của mình tại Việt Nam? Những câu hỏi này không đơn giản và câu trả lời có được tùy thuộc vào các tình huống pháp lý cụ thể. Chẳng hạn, chúng ta có thể sẽ đặt ra vấn đề rằng liệu HONDA có phải là nhãn hiệu nổi tiếng, rằng có văn bản pháp luật nào liên quan đến nhãn hiệu nổi tiếng ở Việt Nam không, và nếu có, thì pháp luật đặt ra những yêu cầu cụ thể nào trong từng trường hợp? Cần lưu ý rằng trên thực tế có một vài sự phân loại không chính thức đối với nhãn hiệu được bảo hộ ở Việt Nam dựa trên các quyết định cụ thể của cơ quan có thẩm quyền, và đồng thời cũng có những quy định riêng biệt trong Luật SHTT năm 2005 liên quan đến nhãn hiệu nổi tiếng. Tuy vậy, những chuẩn mực pháp lý chung dùng để đánh giá và công nhận nhãn hiệu nổi tiếng vẫn chưa được xác định một cách thống nhất và chính xác. Hầu hết mọi người trên thực tế sẽ không thể trả lời được câu hỏi “nhãn hiệu nổi tiếng là gì?”. Họ thường có thể sẽ nhầm lẫn giữa sự nhận biết của cộng đồng đối với nhãn hiệu với giá trị thương mại cao của chúng. Một vài người có thể cho rằng một nhãn hiệu sẽ được coi là nổi tiếng ở nơi nào mà có nhiều người có thể nhận biết về nó. Trong khi một số khác có thể sẽ không quan tâm đến lý do tại sao một nhãn hiệu được coi là nổi tiếng. Họ sẽ chỉ đơn giản đưa ra câu trả lời 4 theo chủ ý cá nhân của họ. Do vậy, hiện nay khó có thể tìm ra được một khái niệm chung về “nhãn hiệu nổi tiếng” ở Việt Nam. Tác giả sẽ quay trở lại những vấn đề pháp lý liên quan đến nhãn hiệu HONDA sau khi đã nghiên cứu và giải quyết một số vấn đề lý luận cơ bản và những phân tích so sánh ở các phần sau của Luận án. Cũng như nhiều quốc gia khác trên thế giới, Việt Nam đã cố gắng tạo ra một hệ thống những quy định chung về quyền SHTT trong BLDS 1995 và quyền SHCN trong Nghị định số 63/CP năm 1996, như là những nền tảng pháp lý đầu tiên của pháp luật Việt Nam liên quan đến mảng SHTT. Chúng cũng có thể được coi là nguồn cơ bản của pháp luật nhãn hiệu Việt Nam ở giai đoạn này. BLDS 1995 sau đó đã được bổ sung, sửa đổi năm 2005 và được thay thế bởi BLDS 2005. Tiếp theo đó, cuối năm 2005, Việt Nam đã tiếp tục ban hành một văn bản pháp luật duy nhất và thống nhất điều chỉnh các vấn đề liên quan đến quyền SHTT. Ngoài ra, những quy định của pháp luật về nhãn hiệu có thể được tìm thấy ở các văn bản pháp lý khác được ban hành bởi các cơ quan có thẩm quyền như Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường, Bộ Công thương, Bộ Tư pháp… Năm 2006, đã có khá nhiều sự kiện trọng đại xảy ra có tác động mạnh mẽ đến nền kinh tế đất nước cũng như quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật. Trong đó, sự kiện quan trọng nhất có thể kể đến là quá trình đàm phán gia nhập vào Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) của Việt Nam đã thành công tốt đẹp, Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức thứ 150 của Tổ chức này. Đây chính là một bước ngoặc lớn trong quá trình phát triển của lịch sử dân tộc. Bên cạnh đó, một số sự kiện khác cũng đã diễn ra và có ảnh hưởng mạnh mẽ đến hệ thống pháp luật về Sở hữu trí tuệ của nước ta, đó là sự kiện Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Nghị định thư Madrid vào ngày 11/04/2006 và ngày 11/07/2006 thì Nghị định thư đ phát sinh hiệu lực trên lãnh thổ Việt Nam; đó là sự bắt đầu hiệu lực của một đạo luật đầu tiên về Sở hữu trí tuệ của Việt Nam vào ngày 01/06/2006. Tuy nhiên, những cố gắng kể trên nhìn chung chỉ thể hiện ở bề nổi và mang tính vĩ mô nhiều hơn chứ chưa đi vào giải quyết một cách kịp thời và hiệu quả những nhu cầu thực tiễn mà xã hội đang đặt ra, đặc biệt là đối với việc bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng. Mặc dù đã có khá nhiều các quy định pháp luật cụ thể được ban hành, song cơ chế đảm bảo thực thi các quy định đó còn khá hạn chế, hiệu quả của quá trình áp dụng pháp luật chưa cao. 1.2. Mục tiêu nghiên cứu Như đã đề cập ở trên, nhãn hiệu nổi tiếng và những vấn đề pháp lý liên quan đến việc bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng chưa được giải quyết một cách thỏa đáng ở Việt Nam. Vì vậy, Luận án này hướng đến hai mục đích chính. Thứ nhất, Luận án sẽ là một đóng góp đáng kể vào hệ thống lý luận về nhãn hiệu nổi tiếng không những trên phương diện toàn cầu mà, quan trọng 5 hơn, còn tập trung vào hoàn cảnh thực tế của Việt Nam. Điều này nhằm giúp những chủ thể liên quan có thể nhận biết được nhãn hiệu nổi tiếng trong thị trường để có thể phân biệt chúng với các nhãn hiệu thông thường khác. Thứ hai, thông qua sự phân tích và đánh giá cơ chế pháp lý về bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng trong bối cảnh pháp lý quốc tế nói chung và trong những hệ thống pháp luật quốc gia cụ thể để rút ra những cách thức phù hợp nhằm củng cố và tăng cường hệ thống pháp luật Việt Nam về bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng. Để có thể đạt được những mục đích nêu trên, Luận án sẽ phải giải quyết được những nhiệm vụ cụ thể sau đây: Một là, Luận án phải giới thiệu được một cách khái quát những kiến thức lý luận cơ bản về nhãn hiệu nói chung và nhãn hiệu nổi tiếng nói riêng. Điều này sẽ giúp mang lại câu trả lời cơ bản nhất cho câu hỏi thế nảo là nhãn hiệu nổi tiếng trong bối cảnh toàn cầu. Hai là, Luận án sẽ phải thực hiện được một sự so sánh khá đầy đủ và cơ bản giữa hai hệ thống pháp luật của EU và Việt Nam về vấn đề bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng. Ba là, Luận án phải phân tích được tình huống thực tế của Việt Nam liên quan đến bảo hộ nhãn hiệu, đặc biệt tập trung vào nhãn hiệu nổi tiếng, và đánh giá hiệu quả của hệ thống pháp luật hiện hành cũng như những thách thức đặt ra cho Việt Nam trong quá trình hội nhập vào hệ thống thương mại toàn cầu. Cuối cùng, từ những phân tích nói trên, Luận án sẽ đề xuất những giải pháp hợp lý và khoa học nhằm củng cố và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam về bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng. 1.3. Phạm vi nghiên cứu Cần khẳng định rằng Luận án tập trung chủ yếu vào kiền thức lý luận và những vấn đề thực tiễn liên quan đến nhãn hiệu nổi tiếng và cơ chế pháp lý bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng như là một phần riêng biệt trong hệ thống pháp luật về nhãn hiệu. Theo đó, Luận án bắt đầu bằng cái nhìn tổng thể về khái niệm nhãn hiệu nổi tiếng ở góc độ lý luận và đi vào phân tích các thiết chế pháp lý quốc tế quan trọng có liên quan đến việc bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng như Công ước Paris, Hiệp định TRIPs… Quá trình này bao gồm cả sự phân tích và so sánh những vấn đề pháp lý cụ thể liên quan đến khái niệm và cơ chế bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng cũng như hệ thống thực thi của nó trong hệ thống pháp luật quốc tế và một số quốc gia. Nhìn chung Luận án đề cập chủ yếu nhãn hiệu nổi tiếng, và trong một chừng mực nhất định có liên hệ đến nhãn hiệu rất nổi tiếng (famous trademarks) và nhãn hiệu có danh tiếng (trademarks with a reputation). Tuy nhiên, những khía cạnh khác của quyền SHTT nói chung cũng được tham chiếu đến nhằm mục đích so sánh hoặc làm rõ thêm những vấn đề lý luận liên quan đến nội dung của Luận án. 6 Phạm vi nghiên cứu của Luận án thống nhất và phù hợp với mục tiêu nghiên cứu đã được xác định để đảm bảo rằng những nhiệm vụ chính của Luận án được giải quyết một cách thỏa đáng. Do sự hạn chế về thời gian nghiên cứu và phạm vi rộng lớn của vấn đề nghiên cứu, Luận án sẽ chỉ tập trung nghiên cứu và so sánh đối với hệ thống pháp luật của EU và Việt Nam. Theo đó, đối với hệ thống pháp luật EU, Luận án sẽ chỉ dừng lại ở việc tiếp cận và phân tích các quy định của pháp luật Liên minh cũng như các bản án và quyết định của Tòa án Công lý châu Âu liên quan đến nhãn hiệu nổi tiếng và nhãn hiệu có danh tiếng. Luận án cũng đồng thời tham chiếu một cách hạn chế đến một số hệ thống pháp luật quốc gia như Vương quốc Anh, Đức và Pháp và một số quốc gia khác. Ngoài ra, hệ thống pháp luật Hoa kỳ cũng được đề cập một cách hạn chế trong những bối cảnh phù hợp. 1.4. Phƣơng pháp nghiên cứu Phương pháp pháp lý truyền thống Phù hợp với mục tiêu nghiên cứu chính của Luận án, tác giả vận dụng phương pháp pháp lý truyền thống trong việc tiếp cận và nghiên cứu các quy định liên quan đến việc bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng được ghi nhận trong các điều ước quốc tế và các văn bản pháp luật quốc gia bao gồm Công ước Paris, Hiệp định TRIPs, Chỉ thị về thống nhất pháp luật nhãn hiệu của EU, Quy chế về Nhãn hiệu cộng đồng của EU, Luật SHTT Việt Nam cũng như pháp luật nhãn hiệu của một số quốc gia châu Âu cụ thể. Ngoài ra, các án lệ cũng là một loại nguồn quan trọng được sử dụng trong Luận án nhằm giải thích các quy định của pháp luật về nhãn hiệu nổi tiếng cũng như làm rõ cách thức mà pháp luật được áp dụng trong từng trường hợp cụ thể. Chẳng hạn, ở khía cạnh pháp luật EU, thông qua việc nghiên cứu các vụ việc cụ thể như vụ General Motors hay vụ Davidoff Luận án sẽ giúp người đọc hiểu được cách thức mà quy định tại Điều 4 và Điều 5 của Chỉ thị về thống nhất pháp luật nhãn hiệu của EU được giải thích và áp dụng. Ở khía cạnh của pháp luật Việt Nam, mặc dù không có nhiều vụ việc liên quan đến bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng trên thực tế, nhưng tác giả cũng đã cố gắng giới thiệu và phân tích một số vụ việc điển hình như vụ McDonald’s hay vụ Shangri-La để làm sáng tỏ cách thức mà cơ chế bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng được giải thích và vận hành ở Việt Nam. Như vậy, phương pháp giáo điều pháp lý hay phương pháp pháp lý truyền thống được ưu tiên sử dụng xuyên suốt toàn bộ nội dung của Luận án, đặc biệt là ở chương 3 và chương 4. Những phân tích và đánh giá thông qua việc sử dụng phương pháp này để nghiên cứu và làm sáng tỏ các quy định của pháp luật và các án lệ ở chương 3 đóng vai trò đặc biệt quan trọng đối với những sự so sánh được thực hiện ở chương 4 của Luận án. 7 Phương pháp pháp lý so sánh Như đã xác định ngay trong tiêu đề và trong mục tiêu nghiên cứu, Luận án được xác định là một công trình nghiên cứu so sánh. Do đó, phương pháp pháp lý so sánh được sử dụng như là một phương pháp nghiên cứu chủ đạo xuyên suốt nội dung của Luận án. Tuy nhiên, tùy thuộc vào phạm vi tiếp cận cụ thể của từng chương, phương pháp này được sử dụng ở mức độ khát nhau ở những phần khác nhau. Phương pháp pháp lý so sánh đóng vai trò quan trọng nhất trong nội dung của chương 4 bởi vì đây là chương tập trung chủ yếu vào việc so sánh giữa hệ thống pháp luật của EU và Việt Nam liên quan đến vấn đề bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng. Sau khi đã nghiên cứu cẩn thận hệ thống pháp luật của EU và Việt Nam ở chương 3, chương 4 sẽ tiếp tục một cách hệ thống bằng việc so sánh các nội dung cụ thể được quy định bởi hai hệ thống pháp luật để phân tích và lý giải những khác biệt và tương đồng, những thành tựu và hạn chế của từng hệ thống. Sự so sánh được thực hiện dựa trên những vấn đề pháp lý quan trọng liên quan đến cơ chế bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng như cách thức xác định nhãn hiệu nổi tiếng, các căn cứ pháp lý của việc bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng, phạm vi bảo hộ đối với nhãn hiệu nổi tiếng cũng như sự thực thi của cơ chế pháp lý về bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng. Những phân tích so sánh được thực hiện ở chương này sẽ trở thành nền tảng lý luận quan trọng cho những đề xuất, kiến nghị cho Việt Nam trong chương tiếp theo (chương 5). Phương pháp pháp lý lịch sử Trong Luận án, phương pháp pháp lý lịch sử được sử dụng trong từng phần cụ thể ở từng chương nhất định tùy thuộc vào nội dung của các vấn đề được giải quyết. Trước hết, cần thiết phải thực hiện một nghiên cứu khái quát về quá trình phát triển mang tính lịch sử của hệ thống pháp luật của EU và Việt Nam để cung cấp một cái nhìn tổng thể và một bức tranh sơ lược về bối cảnh của hai hệ thống này. Theo đó, phương pháp pháp lý lịch sử được sử dụng chủ yếu và trước hết ở các chương 1, 2 và 3 để tìm hiểu những nền tảng lý luận cơ bản làm cơ sở cho việc giải quyết các vấn đề pháp lý liên quan đến đối tượng nghiên cứu của Luận án. Ở cấp độ cụ thể hơn, phương pháp pháp lý lịch sử được vận dụng trong quá trình phân tích các nội dung cụ thể được trình bày trong các chương. Chẳng hạn, sự xem xét dưới góc độ lịch sử đối với sự ra đời và phát triển của học thuyết về nhãn hiệu nổi tiếng thông qua các quy định của các điều ước quốc tế và pháp luật các quốc gia được trình bày ở chương 2, hay sự tìm hiểu ở khía cạnh lịch sử của học thuyết về sự lu mờ nhãn hiệu được trình bày ở chương 4 đóng vai trò quan trọng trong việc tìm hiểu và lý giải cơ chế pháp lý hiện tại về bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng ở cấp độ quốc gia lẫn quốc tế. Phương pháp pháp lý kinh tế 8 Phương pháp pháp lý kinh tế được sử dụng một cách phù hợp trong Luận án để làm rõ những vấn đề liên quan đến giá trị kinh tế, thương mại của những vấn đề pháp lý đang được xem xét như ở c1c chương 1, 2, 4 và 5. Cụ thể, phương pháp pháp lý kinh tế phải được xem xét đến khi giải quyết các vấn đề cụ thể liên quan đến sự cần thiết phải mở rộng phạm vi bảo hộ đối với nhãn hiệu nổi tiếng, hoặc khi xem xét, đánh giá giá trị thương mại của nhãn hiệu, hoặc để xác định các hành vi xâm phạm nhãn hiệu trong các vu kiện dựa trên thiệt hại về kinh tế. Phương pháp pháp lý xã hội Phương pháp pháp lý xã hội có vẻ ít quan trọng hơn so với các phương pháp nghiên cứu khác. Tuy nhiên, pháp luật luôn tồn tại trong mối liên hệ chặt chẽ với các yếu tố xã hội khác và dĩ nhiên sẽ bị ảnh hưởng không nhỏ bởi các yếu tố đó. Do vậy, khi nghiên cứu và giải quyết các vấn đề pháp lý cụ thể, cách thức thông thường được thực hiện là đặt chúng trong các mối liên hệ xã hội nhất định để đánh giá sự tương tác giữa chúng với các yếu tố khác. Cần thừa nhận rằng có nhiều sự khác biệt giữa các cộng đồng khác nhau trong việc đánh giá một vấn đề pháp lý cụ thể do những điều kiện xã hội khác nhau tác động lên chúng. Vì thế, nội dung của Luận án được giới hạn và xác định trong mối liên hệ biện chứng giữa pháp luật và xã hội. Phương pháp pháp lý xã hội được sử dụng trong những phần nhất định của Luận án khi cần thiết đánh giá những tác động mang tính xã hội của các quy định của pháp luật. Phương pháp này được sử dụng chủ yếu ở chương 4 và 5 khi so sánh hai hệ thống pháp luật cũng như khi đề cập đến thực trạng hệ thống pháp luật Việt Nam về bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng và đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện nó. Phương pháp phỏng vấn trực tiếp Tất cả các phương pháp nghiên cứu được đề cập ở trên đều cần thiết và hữu ích cho việc đạt đến mục tiêu nghiên cứu của Luận án. Tuy nhiên, việc tiếp cận và nghiên cứu thực tiễn của hệ thống pháp luật Việt Nam về bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng vẫn là một thách thức lớn vì thiếu thông tin thực tế liên quan đến sự vận hành của hệ thống nhãn hiệu Việt Nam. Ở điểm này, có thể nói rằng việc gặp gỡ, trao đổi, thảo luận với các chuyên gia làm việc trong nhiều lĩnh vực khác nhau liên quan đến quyền SHTT nói chung và hệ thống nhãn hiệu nói riêng chính là một nguồn thông tin bổ sung quan trọng cho công trình nghiên cứu. Vì vậy, trong suốt quá trình nghiên cứu của mình, tác giả đã thực hiện ít nhất ba chuyến đi thực tế đến Hà Nội để gặp gỡ và thảo luận với các chuyên gia về SHTT của Việt Nam. Tác giả đã có dịp trao đổi những vấn đề chuyên môn quan trọng với các chuyên gia vận hành hệ thống nhãn hiệu ở Việt Nam của Cục SHTT và Bộ Khoa học và Công nghệ. Ngoài ra, tác giả cũng được tiếp 9 cận và học hỏi các kiến thức thực tế từ các luật sư và các chuyên gia nhiều kinh nghiệm về lĩnh vực SHTT. Nội dung của những cuộc gặp gỡ và thảo luận đó được thiết kế dựa trên một danh mục các câu hỏi giúp làm sáng tỏ các vấn đề mang tính lý luận liên quan đến nhãn hiệu nổi tiếng cũng như để củng cố và làm tăng tính thuyết phục của các kiến nghị, đề xuất hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng được đưa ra ở chương 5 của Luận án. 1.5. Tình hình nghiên cứu Trên bình diện quốc tế, đã có khá nhiều các công trình nghiên cứu được thực hiện liên quan đến nhãn hiệu nổi tiếng, rất nổi tiếng và nhãn hiệu có danh tiếng. Luận án này được thực hiện dựa trên những quan điểm và bình luận trong các sách chuyên khảo và cả các tạp chí nghiên cứu pháp lý chuyên ngành. Công trình quan trọng đầu tiên phải được kể đến là cuốn sách nổi tiếng thế giới của Frederick W. Mostert, Famous and well-known marks – An international analysis. Tác phẩm của Mostert không chỉ giá trị trong việc tìm hiểu cách thức nhãn hiệu nổi tiếng được giải quyết ở cấp độ quốc gia trên toàn cầu mà còn đi sâu vào những vấn đề pháp lý cụ thể hơn về nhãn hiệu nổi tiếng như định nghĩa về nhãn hiệu nổi tiếng, tiêu chí đánh giá nhãn hiệu nổi tiếng và rất nổi tiếng, và vấn đề thực thi bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng ở cấp độ quốc gia lẫn quốc tế. Nguồn tài liệu quan trọng tiếp theo có tểh kể đến là tác phẩm của Jeremy Phillips, Trademark Law: A Practical Anatomy vốn có thể được coi như là nền tảng lý luận quan trọng về pháp luật nhãn hiệu nói chung. Nguồn tài liệu quan trọng thứ ba là cuốn sách của Christopher Heath và Kung – Chung Liu, The protection of well-known marks in Asia. Cuốn sách là một tập hợp những nghiên cứu có giá trị về vấn đề bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng được thực hiện bởi một nhóm các nhà nghiên cứu đến từ các quốc gia châu Âu và châu Á. Cuốn sách không những giới thiệu hệ thống pháp luật về bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng của từng quốc gia châu Á mà đồng thời cung cấp một sự so sánh rất giá trị về cơ chế pháp lý bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng giữa ba hệ thống pháp luật điển hình trên thế giới là hệ thống pháp luật Hoa Kỳ, hệ thống pháp luật châu Âu và hệ thống pháp luật châu Á. Trong phạm vi của Việt Nam, hiện nay vẫn còn khá ít tài liệu liên quan đến vấn đề nhãn hiệu nổi tiếng. Khái niệm này được đề cập một cách hạn chế trong cuốn sách của Tiến sĩ Lê Nết, Quyền Sở hữu trí tuệ (năm 2004). Trong Luận án Tiến sĩ của tác giả Lê Mai Thanh, Những vấn đề pháp lý về bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam (2006) cũng đã tiếp cận một cách khái quát nhất về nhãn hiệu nổi tiếng. Hoặc trong Luận văn thạc sĩ với đề tài Well-known trademarks versus dilutive signs – A transAtlantic comparative analysis of protection schemes (2004), Phạm Thanh Trà đề cập đến vấn đề bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng chống lại sự lu mờ nhãn hiệu trên cơ sở so sánh giữa pháp luật EU và pháp luật Hoa Kỳ. Gần đây nhất có thể kề đến công trình nghiên cứu của tác giả Hà Thị Nguyệt Thu, Well-known trademark protection – Reference to the Japanese experience, 10 (2010) được coi như là công trình nghiên cứu chuyên sâu và tập trung chủ yếu vào vấn đề bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng. Công trình nghiên cứu này được thực hiện dựa trên sự so sánh giữa pháp luật Nhật Bản và pháp luật Việt Nam. Trong khi các vấn đề pháp lý phát sinh liên quan đến nhãn hiệu nổi tiếng và bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng được giải quyết một cách cơ bản trong các công trình khoa học thì trên thực tế đây vẫn là một khái niệm còn khá mới ở Việt Nam. Vì vậy, tác giả cho rằng Luận án này sẽ là một bước tiếp nối quan trọng trong công cuộc nghiên cứu và tìm hiểu về nhãn hiệu nổi tiếng ở Việt Nam trên cả phương diện lý luận, phương diện lập pháp và thực tiễn áp dụng pháp luật. 1.6. Bố cục của Luận án Luận án được kết cấu thành năm phần, bao gồm Lời nói đầu (Chương 1) và bốn chương chính. Sau phần giới thiệu chung ở Lời nói đầu, chương 2 của Luận án sẽ khắc họa một cách khái quát bức tranh tổng thể về hệ thống lý luận liên quan đến nhãn hiệu nổi tiếng, trong đó làm rõ khái niệm nhãn hiệu nổi tiếng và những thuật ngữ liên quan trên phương diện quốc gia và quốc tế. Chương này cũng đề cập đến vị trí, vai trò của cơ chế pháp lý về bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng trong hệ thống pháp luật về nhãn hiệu cũng như phân tích sự tác động, ảnh hưởng của quá trình toàn cầu hóa đối với vấn đề bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng theo pháp luật quốc gia và theo pháp luật quốc tế. Chương 3 của Luận án giới thiệu về hệ thống các thiết chế pháp lý quốc tế quan trọng liên quan đến bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng, bao gồm Công ước Paris 1883, Thỏa ước Madrid 1891 và Nghị định thư, Hiệp định TRIPs năm 1994 và một số văn kiện pháp lý quốc tế khác có liên quan đến nhãn hiệu. Chương này đặc biệt chú trọng đến việc cung cấp cho người đọc một cái nhìn toàn cầu về nhãn hiệu nổi tiếng và cơ chế bảo hộ chúng ở khía cạnh lý luận lẫn trong công tác lập pháp. Chương 3 cũng tiếp cận và giới thiệu khái quát hệ thống pháp luật nhãn hiệu nói chung và cơ chế bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng nói riêng theo pháp luật của EU và Việt Nam. Theo đó, chương này sẽ giới thiệu sơ lược về lịch sử phát triển của pháp luật nhãn hiệu trong phạm vi châu Âu cũng như hệ thống pháp luật nhãn hiệu hiện hành của EU. Trong đó, một số hệ thống pháp luật nhãn hiệu của các quốc gia điển hình cũng được đề cập đến như Anh, Pháp và Đức. Ngoài ra, chương 3 cũng dành một phần quan trọng để tìm hiểu và phân tích hệ thống pháp luật Việt Nam về bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng. Sau khi đã giới thiệu hệ thống pháp luật về nhãn hiệu của Việt Nam, ở chương này, Luận án tiếp tục đi vào phân tích các quy định pháp luật cụ thể cũng như các vụ việc điển hình liên quan đến vấn đề bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng ở Việt Nam theo pháp luật hiện hành. 11 Ở chương 4, các vấn đề pháp lý liên quan đến bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng sẽ được tiếp tục đào sâu dựa trên sự so sánh được thực hiện giữa pháp luật EU và Việt Nam. Chương này sẽ cung cấp những đánh giá và phân tích chi tiết về những sự tương đồng và khác biệt giữa hai hệ thống pháp luật liên quan đến định nghĩa nhãn hiệu nổi tiếng, các tiêu chí đánh giá nhãn hiệu nổi tiếng và các căn cứ pháp lý của việc bảo hộ đối với nhãn hiệu nổi tiếng. Sự so sánh được thực hiện trên phương diện quy định của pháp luật cũng như thông qua thực tiễn giải quyết của cơ quan có thẩm quyền. Chương 5 của Luận án bắt đầu bằng việc nghiên cứu thực tiễn bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng ở Việt Nam. Chương này tập trung trước hết vào việc đánh giá cơ chế pháp lý hiện hành về bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng ở Việt Nam theo quy định của pháp luật. Những thành tựu và hạn chế của hệ thống pháp luật được phân tích cả ở góc độ lập pháp lẫn trên phương diện áp dụng pháp luật. Bên cạnh đó, dựa trên những kết quả so sánh của chương 4, ở chương 5 Luận án sẽ đi sâu vào phân tích và đưa ra các giải pháp phù hợp cho việc củng cố và hoàn thiện hệ thống pháp luật hiện hành về bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng ở Việt Nam theo xu hướng chung của thế giới. Phần kết luận đúc kết lại toàn bộ kết quả nghiên cứu của Luận án, không chỉ khẳng định quan điểm khoa học của tác giả đối với từng vấn đề lý luận cụ thể mà còn mở ra những vấn đề mới cho các công trình nghiên cứu tiếp theo, đồng thời đưa ra một số dự báo cho sự phát triển của hệ thống pháp luật về bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng trong tương lai. CHƢƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NHÃN HIỆU NỔI TIẾNG 2.1 Tổng quan về nhãn hiệu Nhãn hiệu nổi tiếng trước tiên vẫn phải được xác định là nhãn hiệu như tất cả các nhãn hiệu khác. Do vậy, trước khi tiếp cận nghiên cứu những vấn đề liên quan đến nhãn hiệu nổi tiếng, cần thiết phải có cái nhìn chung về pháp luật nhãn hiệu và phải đặt nhãn hiệu nổi tiếng trong toàn bộ hệ thống pháp luật nhãn hiệu nói chung. Ở phần này, tác giả tập trung giới thiệu một bức tranh tổng quát về nhãn hiệu và pháp luật nhãn hiệu với tư cách là nền tảng lý luận cơ bản của cơ chế pháp lý về bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng. 2.1.1 Khái niệm nhãn hiệu 12 Nhãn hiệu là một yếu tố đặc trưng gắn liền giữa thị trường thương mại và lĩnh vực sở hữu công nghiệp. Nó đã được sử dụng trong một thời gian dài bởi các nhà sản xuất cũng như các thương nhân để xác định nguồn gốc xuất xứ của hàng hóa hay dịch vụ của họ và phân biệt những hàng hóa, dịch vụ đó với các hàng hóa, dịch vụ được sản xuất hay bán bởi các chủ thể khác. Chức năng phân biệt nguồn gốc của hàng hóa hay dịch vụ luôn được xem là yếu tố quan trọng nhất của nhãn hiệu. Vì vậy nó luôn đóng vai trò trung tâm và được đề cập đến rất nhiều trong pháp luật về nhãn hiệu của hầu hết các quốc gia trên thế giới. Nhãn hiệu có thể được hiểu theo nhiều cách khác nhau: - Theo Davis Bainbridge, nhãn hiệu thông thường được định nghĩa bởi tòa án là nhãn mác, dấu hiệu hay biểu tượng, mà chức năng đầu tiên và cơ bản của chúng là để “xác định nguồn gốc hay quyền sở hữu đối với hàng hóa mang nó được gắn vào”; - Theo một định nghĩa được sử dụng trên trang web chính thức của Văn phòng Nhãn hiệu và Sáng chế Hoa Kỳ (USPTO), nhãn hiệu hàng hóa là bất kỳ từ ngữ, tên gọi, một biểu tượng hay hình vẽ hay bất kỳ sự kết hợp nào của chúng được sử dụng, hoặc sẽ được sử dụng trong thương mại để xác định nguồn gốc hàng hóa và phân biệt những hàng hóa đó với hàng hóa của các nhà sản xuất hoặc nhà phân phối khác. Nói cách khác, nhãn hiệu có thể được hiểu như tên thương mại; - Theo pháp luật nhãn hiệu EU, khái niệm nhãn hiệu được sử dụng thống nhất cho cả hàng hóa và dịch vụ. Theo đó, “nhãn hiệu có thể bao gồm bất kỳ dấu hiệu nào có thể được trình bày một cách vật chất và riêng biệt dưới dạng từ ngữ, bao gồm tên riêng, các thiết kế, chữ cái, con số, hình dáng hay bao bì hàng hóa, có khả năng phân biệt hàng hóa hay dịch vụ của một chủ thể này với hàng hóa hay dịch vụ của các chủ thể khác”; - Theo quan điểm của Việt Nam, nhãn hiệu được định nghĩa một cách khái quát tại Điều 4 (16) của Luật SHTT năm 2005 (bổ sung, sửa đổi năm 2009) là “dấu hiệu để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau”; - Ở góc độ chung nhất, nhãn hiệu có thể được hiểu là bất kỳ dấu hiệu nào có thể nhận biết được bao gồm từ ngữ, tên gọi, chữ cái, con số, biểu tượng, thiết kế, hình vẽ hay bất kỳ sự kết hợp nào của chúng, và kiểu dáng hay bao bì hàng hóa được sử dụng hoặc sẽ được sử dụng trong thương mại để xác định và phân biệt hàng hóa hay dịch vụ của chủ thể này với hàng hóa hay dịch vụ của các chủ thể khác. 2.1.2 Chức năng của nhãn hiệu 13 Trong phần này, tác giả lý giải và phân tích một số chức năng quan trọng của nhãn hiệu, xét cả ở góc độ lịch sử, kinh tế và các điều kiện xã hội có thể chi phối đến quá trình hình thành và phát triển của nhãn hiệu. Các chức năng cơ bản đó bao gồm: - Xác định nguồn gốc tự nhiên của hàng hóa và dịch vụ mang nhãn hiệu; - Là sự đảm bảo cho nguồn gốc của hàng hóa và dịch vụ; - Đảm bảo cho chất lượng của hàng hóa và dịch vụ; - Được sử dụng như biểu tượng của chủ sở hữu nhãn hiệu; - Được sử dụng như biểu tượng để quảng bá sản phẩm; - Đôi khi được sử dụng như là đại diện cho phương châm sống của người tiêu dùng. 2.1.3 Đặc điểm của nhãn hiệu - Tính phân biệt: Việc đăng ký đối với một nhãn hiệu sẽ bị từ chối và theo đó quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến nhãn hiệu cũng sẽ không được bảo vệ nếu nhãn hiệu không có tính phân biệt hoặc trong một số trường hợp tính phân biệt đó không được thể hiện một cách rõ rang. - Tính đa dạng: các dấu hiệu được xem xét như là nhãn hiệu luôn tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau, như là những từ ngữ, tên gọi (bao gồm cả tên riêng), biểu tượng, hình ảnh, âm thanh hay bất kỳ sự kết hợp nào của các yếu tố này, hình dạng của hàng hóa (nhãn hiệu không gian ba chiều), màu sắc hay sự kết hợp các màu sắc và bất kỳ một cái gì khác có thể được sử dụng để xác định những hàng hóa hay dịch vụ được bán hay được cung cấp trên thị trường. - Tính giá trị: Nhãn hiệu là một dạng tài sản rất quan trọng của chính doanh nghiệp. Giá trị thương mại của nhãn hiệu có thể được xác định khi chính bản thân các nhãn hiệu có thể được đưa vào lưu thông chuyển nhượng trên thị trườngnhãn hiệu mà còn là một dạng tài sản rất quan trọng của chính doanh nghiệp. Giá trị thương mại của nhãn hiệu có thể được xác định khi chính bản thân các nhãn hiệu có thể được đưa vào lưu thông chuyển nhượng trên thị trường. - Giới hạn lãnh thổ trong việc bảo hộ: Theo nguyên tắc giới hạn của lãnh thổ quốc gia, một nhãn hiệu thông thường phải được đăng ký bảo hộ ở một quốc gia hay một vùng lãnh thổ nhất định. Khi đó nó sẽ được bảo hộ bởi pháp luật của quốc gia hay vùng lãnh thổ đó. 2.1.4 Nhãn hiệu và các đối tượng SHTT khác có liên quan 14 Ở phần này tác giả giới thiệu một cách khái quát những điểm khác biệt giữa nhãn hiệu với các đối tượng khác có liên quan để giúp phân biệt chúng trong từng bối cảnh cụ thể. - Nhãn hiệu hàng hóa và nhãn hiệu dịch vụ - Nhãn hiệu và tên thương mại - Nhãn hiệu và thương hiệu - Nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý - Nhãn hiệu và tên miền Pháp luật về nhãn hiệu 2.2 Pháp luật về nhãn hiệu là một trong những hợp phần quan trọng của hệ thống pháp luật về SHTT nói chung. Trong luận án này, tác giả tiếp cận và nghiên cứu những vấn đề cơ bản nhất liên quan đến pháp luật về nhãn hiệu với tư cách là nền tảng lý luận trọng yếu để từ đó đi sâu nghiên cứu các vấn đề pháp lý cụ thể liên quan đến nhãn hiệu nổi tiếng. Tại phần này, tác giả chỉ tiếp cận pháp luật về nhãn hiệu một cách khái quát nhất, dựa trên hệ thống lý luận cơ bản về pháp luật nhãn hiệu và đánh giá pháp luật nhãn hiệu trong cách nhìn đa chiều, bao gồm khía cạnh lịch sử, kinh tế và cả ở góc độ xã hội. 2.2.1 Giới thiệu chung Một bức tranh tổng thể về pháp luật nhãn hiệu được mô tả một cách khái quát từ lịch sử hình thành và phát triển của những quy định pháp luật sơ khai có liên quan đến nhãn hiệu từ thời Trung Cổ, đến sự ra đời của các quy phạm chuyên biệt dành riêng cho việc bảo hộ nhãn hiệu, và những vụ việc điển hình được các cơ quan có thẩm quyền giải quyết liên quan đến tranh chấp nhãn hiệu. Đặc biệt trong phần này tác giả đề cập và lý giải mối quan hệ hữu cơ giữa pháp luật nhãn hiệu hiện đại với các nền tảng pháp lý quan trọng của truyền thống Luật chung (Common Law) ở các quốc gia phương Tây. 2.2.2 Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật về nhãn hiệu - Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu nhãn hiệu. - Đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác và lợi ích của nhà nước liên quan đến việc sử dụng và khai thác nhãn hiệu. - Đảm bảo cầu nối thông tin hiệu quả giữa người tiêu dùng với sản phẩm mang nhãn hiệu, giúp giảm thiểu chi phí và những phí tổn khác của người tiêu dùng trong việc tiếp cận và chọn lựa đúng sản phẩm mình cần. 15 - Đảm bảo môi trường cạnh tranh thương mại công bằng và lành mạnh giữa các nhà sản xuất, phân phối hàng hóa và dịch vụ. 2.2.3 Pháp luật nhãn hiệu và các lĩnh vực pháp luật khác có liên quan - Pháp luật về nhãn hiệu là một bộ phận quan trọng của hệ thống pháp luật về SHTT nói chung. Nó có mối quan hệ tương tác chặt chẽ với các lĩnh vực pháp luật khác như pháp luật về sáng chế, pháp luật về bản quyền... - Pháp luật về nhãn hiệu có cùng mối quan tâm với pháp luật thương mại nói chung và luật thương mại quốc tế nói riêng vì nó phải đề cập đến những khía cạnh thương mại của việc sử dụng, khai thác và bảo hộ nhãn hiệu. 2.3 Pháp luật về nhãn hiệu cũng có mối liên hệ chặt chẽ với pháp luật cạnh tranh. Nhãn hiệu nổi tiếng Sau khi tiếp cận và giới thiệu một cách khái quát nhất về nhãn hiệu và pháp luật nhãn hiệu như đã trình bày ở trên, luận án tiếp tục đi sâu nghiên cứu và phân tích những vấn đề pháp lý và lý luận quan trọng liên quan đến nhãn hiệu nổi tiếng và vấn đề bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng. Trong phần này, tác giả tập trung giải quyết các vấn đề cụ thể như học thuyết về nhãn hiệu nổi tiếng, khái niệm nhãn hiệu nổi tiếng, đặc điểm của nhãn hiệu nổi tiếng, vấn đề bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng trong bối cảnh toàn cầu hóa... Đặc biệt, tác giả đã mở rộng phạm vi tiếp cận một cách hợp lý nhằm đưa ra một cái nhìn toàn cầu về nhãn hiệu nổi tiếng mà không chỉ giới hạn trong phạm vi của EU và Việt Nam. Một số hệ thống pháp luật, theo đó, cũng được tiếp cận và giới thiệu một cách cơ bản như pháp luật của Hoa Kỳ hay pháp luật Nga, Nhật Bản, Trung Quốc... 2.3.1 Cơ sở lý luận Quá trình toàn cầu hóa và tự do hóa hệ thống thương mại thế giới cũng như sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ đã khiến cho các nguyên tắc truyền thống của pháp luật nhãn hiệu trở nên bị hạn chế, đặc biệt là nguyên tắc lãnh thổ quốc gia được áp dụng để xác định phạm vi bảo hộ. Sự ra đời của học thuyết về nhãn hiệu nổi tiếng đòi hỏi hệ thống pháp luật nhãn hiệu trên toàn cầu phải có những chuyển đổi phù hợp, đáp ứng yêu cầu bảo hộ một cách hiệu quả và kịp thời đối với loại nhãn hiệu đặc biệt này. 2.3.2 Khái niệm nhãn hiệu nổi tiếng Khái niệm nhãn hiệu nổi tiếng được đề cập một cách chính thức tại Điều 6bis Công ước Paris 1883. Tuy nhiên, Công ước lại không đưa ra bất kỳ định nghĩa chính thức rõ ràng nào 16 về nhãn hiệu nổi tiếng. Cụm từ “nhãn hiệu nổi tiếng” trong Điều 6bis Công ước Paris được chuyển ngữ sang các ngôn ngữ khác nhau với những sự khác biệt trong cách thể hiện nội dung của thuật ngữ này như “marque notoirement connue”, “notorisch bekannte marke”, “marchio notoriamente conosciuto”, or “marca notoriamente conocida”. Theo Hiệp định TRIPs, khái niệm “nhãn hiệu nổi tiếng” không chỉ được sử dụng cho đối tượng là hàng hóa mà còn được sử dụng cho cả các đối tượng dịch vụ, và Hiệp định cũng ghi nhận một số căn cứ chung để xác định một nhãn hiệu hàng hóa có phải là nổi tiếng hay không. Ngoài ra, Hiệp định cũng mở rộng phạm vi các nhãn hiệu nổi tiếng được bảo hộ, bao gồm cả các nhãn hiệu được coi là rất nổi tiếng. Tuy nhiên, cũng giống như Công ước Paris, Hiệp định TRIPs cũng không đưa ra bất kỳ một định nghĩa chính thức nào về “nhãn hiệu nổi tiếng”. Một số điều ước quốc tế khác cũng có đề cập đến nhãn hiệu nổi tiến trong những chừng mực nhất định nhưng hầu như cũng không có bất kỳ một định nghĩa chính thức nào được ghi nhận về loại nhãn hiệu này. Do vậy, định nghĩa về nhãn hiệu nổi tiếng thường sẽ được ghi nhận trong pháp luật nội địa của mỗi quốc gia. Trong khi đó, pháp luật của các quốc gia vẫn còn khác biệt rất lớn, cho nên cách hiểu về nhãn hiệu nổi tiếng khó có thể đạt được sự thống nhất. Theo quy định của pháp luật Việt Nam, nhãn hiệu nổi tiếng được hiểu là “nhãn hiệu được người tiêu dùng biết đến rộng rãi trên toàn lãnh thổ Việt Nam” (khoản 20 – Điều 4 – Luật SHTT 2005). Để làm rõ thêm khái niệm nhãn hiệu nổi tiếng, pháp luật Việt Nam đã đưa ra các tiêu chí cơ bản làm chuẩn mực xem xét đánh giá nhãn hiệu nổi tiếng tại Điều 75 – Luật SHTT 2005 và được cụ thể hóa tiếp tục tại Mục 5 – Thông tư 01/2007. 2.3.3 Đặc điểm của nhãn hiệu nổi tiếng 2.4 - Sự nổi tiếng của nhãn hiệu - Giá trị thương mại cao - Thời gian sử dụng liên tục và lâu dài - Được sử dụng phổ biến - Là đối tượng dễ bị xâm phạm Nhãn hiệu nổi tiếng trong hệ thống thƣơng mại toàn cầu Hiện nay, toàn cầu hóa được xem như là xu hướng phát triển chủ yếu của nền kinh tế thế giới. Tuy nhiên, ý nghĩa của toàn cầu hóa không chỉ giới hạn trong phạm vi lĩnh vực kinh tế mà nó còn liên quan và tác động đến nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, bao gồm 17 cả hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật về sở hữu trí tuệ nói riêng của mỗi quốc gia. Trong đó, tác động quan trọng nhất của nó đối với lĩnh vực pháp luật về sở hữu trí tuệ chính là sự xuất hiện và nhu cầu thiết thực của một hệ thống thông tin toàn cầu hóa. Để có được sự phân tích đầy đủ và toàn diện đối với vấn đề này trên bình diện các thiết chế pháp lý và quyền sở hữu trí tuệ trong nước và quốc tế thực sự là một sự nổ lực to lớn. Và điểm bắt đầu lý tưởng nhất cho quá trình đó chính là việc xác định các thành tố quan trọng của vấn đề bao gồm: toàn cầu hóa, tự do thông tin và quyền sở hữu trí tuệ. Các rào cản chính trị luôn là những thách thức lớn nhất đối với các nhà lập pháp trên thế giới trong việc tìm kiếm một thiết chế pháp lý chung hiệu quả cho vấn đề bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trên phạm vi toàn cầu. Bên cạnh đó, những sự khác biệt về văn hóa, tôn giáo và các điều kiện xã hội khác cũng là những vấn đề quan trọng mà các quốc gia đang phải đối mặt trong quá trình hoàn thiện và phát triển hệ thống pháp luật của mình. Rõ ràng là những tác động, ảnh hưởng của xu hướng toàn cầu hóa đối với các hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật về sở hữu trí tuệ nói riêng thể hiện ở nhiều phương diện khác nhau, bao gồm cả các tác động tích cực lẫn những ảnh hưởng tiêu cực. Trong thời đại toàn cầu hóa hiện nay, cùng với sự lưu chuyển mạnh mẽ của nguồn vốn đầu tư từ các quốc gia phát triển đến các quốc gia đang và kém phát triển, nhãn hiệu nổi tiếng cũng được nhập khẩu đến các thị trường đó. Tuy nhiên, hệ thống pháp luật về sở hữu trí tuệ nói chung và bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng nói riêng ở các quốc gia này thường còn rất yếu và chưa hoàn thiện. Điều này vô hình chung sẽ mang lại những đe dọa đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Họ có thể sẽ trở thành nạn nhân của nạn đánh cắp nhãn hiệu của các doanh nghiệp địa phương. Một khía cạnh khác của toàn cầu hóa thương mại chính là xu hướng chuyên môn hóa. Theo đó, một sản phẩm hàng hóa có thể được sản xuất từng phần ở nhiều quốc gia khác nhau, điều này dẫn đến hệ quả là ngay bên trong một sản phẩm có thể chứa đựng cùng lúc nhiều nhãn hiệu và các nhãn hiệu này tồn tại song song và gắn liền với nhãn hiệu bên ngoài của sản phẩm. Trong điều kiện như thế, việc bảo hộ đối với từng nhãn hiệu sẽ trở nên phức tạp và khó khăn hơn. Thêm vào đó, sự phát triển không ngừng của công nghệ thông tin, sự phổ biến của mạng internet toàn cầu, việc khai thác hệ thống vệ tinh nhân tạo cũng như sự gia tăng cả về chất lẫn về lượng của các kênh thông tin truyền thông giúp kết nối người tiêu dùng với nhãn hiệu và sản phẩm mang nhãn hiệu ngày càng trở nên nhanh chóng và hiệu quả hơn. Một nhãn hiệu thông thường vì thế sẽ có nhiều cơ may trở nên nổi tiếng một cách nhanh chóng. Điều này cũng mang lại thách thức không nhỏ cho việc bảo hộ các nhãn hiệu như thế bởi vì các nguyên tắc pháp lý truyền thống đôi khi không thể phát huy hết tác dụng của mình. Do vậy, 18 trong bối cảnh hiện đại, nhu cầu xây dựng và phát triển một cơ chế pháp lý chung mang tính toàn cầu nhằm bảo hộ hiệu quả nhãn hiệu nói chung và nhãn hiệu nổi tiếng nói riêng ngày càng trở nên thiết yếu. CHƢƠNG 3 PHÁP LUẬT VỀ BẢO HỘ NHÃN HIỆU NỔI TIẾNG Các thiết chế pháp lý quốc tế 3.1 3.1.1 Công ước Paris 1883 Điều 6bis Công ước Paris cho phép chủ sở hữu nhãn hiệu nổi tiếng được quyền ngăn chặn việc đăng ký hoặc sử dụng một nhãn hiệu nếu nhãn hiệu đó “Cấu thành một sự sao chép, bắt chước, hoặc biên dịch, có khả năng gây nhầm lẫn, về một nhãn hiệu do cơ quan có thẩm quyền của nước đăng ký hoặc nhãn hiệu được sử dụng xem xét là nổi tiếng tại nước đó vì nhãn hiệu đã thuộc về người có quyền đối với các lợi ích của Công Ước Paris và dùng cho hàng hóa giống nhau hoặc tương tự. Các quy định này cũng sẽ được áp dụng khi phần chính yếu của nhãn hiệu hợp thành hành vi sao chép đối với bất kỳ nhãn hiệu nổi tiếng đó hoặc một sự sao chép có khả năng gây nhầm lẫn với nhãn hiệu nổi tiếng”. Công Ước Paris cũng quy định thời hiệu yêu cầu hủy việc đăng ký một nhãn hiệu mà bị coi là có nguy cơ gây nhầm lẫn cũng như một nhãn hiệu được đăng ký và sử dụng gian dối hay có dụng ý xấu. Theo đó, các chủ sở hữu nhãn hiệu nổi tiếng có năm năm để yêu cầu xóa hoặc hủy bỏ việc đăng ký một nhãn hiệu do bất kỳ bên thứ ba nào thực hiện, còn đối với trường hợp gian dối hay có dụng ý xấu thì các chủ sở hữu nhãn hiệu nổi tiếng có thể yêu cầu xóa hoặc hủy bỏ việc đăng ký của bên thứ ba đối với bất kỳ nhãn hiệu tương tự nào tại bất kỳ thời điểm nào miễn là họ có bằng chứng tích cực chứng minh rằng việc đăng ký hoặc sử dụng đó đã được thực hiện gian lận do lợi dụng sự nổi tiếng của nhãn hiệu nổi tiếng. Ngoài ra, Điều 10 Công ước Paris cũng ghi nhận các trường hợp sử dụng nhãn hiệu nhằm mục đích cạnh tranh không lành mạnh. Cụ thể, các hành vi sau đây sẽ bị coi là cạnh tranh không lành mạnh và bị ngăn cấm: - tất cả các hành vi có tính chất gây nhầm lẫn bằng bất kỳ hình thức nào có liên quan đến cơ sở, hàng hóa, hoặc các hoạt động công nghiệp hoặc thương mại, của đối thủ cạnh tranh; 19 - các lý lẽ sai trái trong hoạt động thương mại có tính chất làm mất uy tín cơ sở, hàng hóa, hoặc các hoạt động công nghiệp hoặc thương mại, của đối thủ cạnh tranh; - các chỉ dẫn hoặc chú giải sử dụng trong hoạt động thương mại có khả năng lừa dối công chúng về tính chất, quy trình sản xuất, đặc điểm, tính phù hợp về mục đích của họ, hoặc số lượng, của hàng hóa. Do vậy, Công Ước Paris quy định việc bảo hộ một nhãn hiệu nổi tiếng tại một nước kể cả khi nhãn hiệu đó chưa được sử dụng hoặc đăng ký tại nước đó nếu có bằng chứng thể hiện một bên thứ ba đăng ký hoặc sử dụng nhãn hiệu giống hoặc tương tự đối với hàng hóa tương tự; và/hoặc sử dụng nhãn hiệu giống hoặc tương tự theo hình thức dẫn đến hành vi cạnh tranh không công bằng (ví dụ: lừa dối công chúng). 3.1.2 Hiệp định TRIPs Các vấn đề liên quan việc bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng được quy định tại Điều 16 TRIPS. Các quy định này căn cứ theo các quy định của Công Ước Paris dẫn chiếu cụ thể Điều 6bis. Tuy nhiên, TRIPS đã điều chỉnh Điều 6bis Công Ước Paris một cách hiệu quả bằng cách quy định bổ sung các quy định của Điều 6bis. - Thứ nhất, việc bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng có thể được áp dụng cho cả hàng hóa và dịch vụ. Việc mở rộng này là một trong các quy định quan trọng nhất của TRIPS được áp dụng theo Công Ước Paris bởi vì các nhãn hiệu dịch vụ ngày càng trở nên quan trọng trong thương mại quốc tế và đóng góp vào sự phát triển của hệ thống thương mại toàn cầu. - Thứ hai, để xác định một nhãn hiệu có nổi tiếng hay không, quốc gia thành viên phải xem xét đến việc có được sự biết đến của công chúng về nhãn hiệu đó trong lĩnh vực liên quan, bao gồm việc có được sự biết đến của quốc gia thành viên có liên quan từ hệ quả của việc quảng bá nhãn hiệu. - Thứ ba, việc bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng cũng có thể được áp dụng đối với nhãn hiệu kể cả trường hợp nhãn hiệu áp dụng là hàng hóa hoặc dịch vụ không giống hoặc tương tự với hàng hóa hoặc dịch vụ đối với nhãn hiệu được đăng ký. Theo đó, thẩm quyền của các Quốc Gia Thành Viên phải từ chối hoặc hủy bỏ đơn hoặc đăng ký nhãn hiệu đối với hàng hóa hoặc dịch vụ nếu việc đăng ký đó có khả năng gây thiệt hại đến lợi ích của chủ sở hữu nhãn hiệu nổi tiếng ngay cả trường hợp không có bất kỳ điểm giống hoặc tương tự giữa hàng hóa hoặc dịch vụ đó. 3.1.3 Các thiết chế pháp lý khác - Thỏa ước Madrid 1891 20
- Xem thêm -