Tài liệu Báo cáo thực tập-viện thủy sản iii trung tâm nghiên cứu nuôi biển

  • Số trang: 30 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 87 |
  • Lượt tải: 0
quangtran

Đã đăng 3721 tài liệu

Mô tả:

Trường ĐH Mở TP.HCM Khoa CNSH Lớp SH05B *** Nhóm thực hiện: Thái Mộc Sâm Trần Minh Việt Đoàn Phước An Đồng Mai Khánh Hoàng Quốc Cường Nguyễn Trương Kiến Khương Hồ Chí Minh, tháng 8 năm 2008 1 30560552 30560712 30560731 30560369 30560231 30560383 VIỆN THỦY SẢN III TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU NUÔI BIỂN I. Giới thiệu: Trung tâm nghiên cứu giống quốc gia khu vực miền Trung (trực thuộc viện nuôi trồng thuỷ hải sản 3) gồm có 2 cơ sở : Cơ sở 1:trung tâm nghiên cứu và phát triển nuôi biển (đại lộ Nguyễn Tất Thành – sông Lô). Do Nhật đầu tư 7 triệu USD từ nguồn vốn viện trợ không hoàn lại, có chức năng nghiên cứu và sản xuất các loài giống cá biển có giá trị kinh tế cao. Trong đó chủ yếu là: • Cá biển: Cá mú ( có 2 giống chủ yếu, thành công mới đây nhất là giống cá mú đỏ ) và cá Chẻm . • Tôm: nghiên cứu và phát triển quy trình nuôi tôm sú,quy trình nhân giống tôm bố mẹ có chất lượng cao gần giống nguồn giống tự nhiên. Sau đó chuyển hướng sang tôm chiêm trắng nhưng gặp rất nhiều khó khăn. Từ nguồn viện trợ ban đầu thì nguồn kinh phí để nuôi sống trung tâm là từ các đề tài và từ nguồn giống nghiên cứu đưa ra thị trường. − Cơ sở 2: trung tâm nghiên cứu giống quốc gia Vạn Ninh, do bộ thủy sản đầu tư, cách thành phố Nha Trang 50km diện tích 45 ha , vốn đầu tư 60 tỉ đồng.Chuyên nghiên cứu về các nhóm đối tượng thuộc ngành giáp xác, nhuyễn thể, da gai,( như tôm, hải sâm ),…. − II. Cơ cấu tổ chức viên nghiên cứu và nuôi trồng thuỷ hải sản − Ban lãnh đạo − Hội đồng khoa học. − Văn phòng gồm có: phòng kế hoạch, phòng tài chính, phòng thông tin-hợp tác quốc tế, phòng sinh học thực nghiệm, phòng nghiên cứu 2 khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản nội địa môi trường, phòng chế biến và công nghệ sau thu hoạch. Trung tâm Quốc gia giống hải sản miền Trung . Trung tâm Quốc gia Quan trắc CBMT và PNDBTS Miền trung Trung tâm Quốc gia giồng thủy sản nước ngọt môi trường Trung tâm tư vấn , sản xuất vsf dịch vụ khoa học công nghệ thủy sản − − − − III. Chức năng và nhiệm vụ của các trung tâm : Trung tâm nghiên cứu và phát triển giống sông Lô trực thuộc viện III trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, có chức năng nghiên cứu khoa học và công nghệ thủy sản bao gồm: Nghiên cứu môi trường, các vấn đề về giống, nuôi trồng, bệnh thủy sản, công nghệ sau thu họach, bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản nội địa và ven biển; nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật và công nghệ mới vào sản xuất thủy sản.Trung tâm đảm nhận những nhiệm vụ chính. − Nghiên cứu, thử nghiệm và hoàn thiện các quy trình sản xuất giống. Lập phương hướng nghiên cứu khoa học kĩ thuật,tổ chức thực hiện theo từng giai đoạn và dài hạn. − Tạo quy trình nuôi thương phẩm. Chuyển giao công nghệ, tổ chức tập huấn, cho các cơ sở sản xuất và nghiên cứu trong nước. − Nghiên cứu và phát triển các giống mới, thức ăn cho vật nuôi theo hướng sản xuất có giá trị kinh tế cao. − Điều tra môi trường nuôi nguồn lợi thủy sản nội địa và ven biển, các đối tượng có giá trị kinh tế cao, xây dựng thành các vùng miền chuyên canh thủy sản có tầm chiến lược quốc gia. − Nghiên cứu và tìm biện pháp giải quyết các vấn đề tồn đọng trong quá trình nuôi trồng thủy sản (bệnh truyền nhiễm, điều kiện môi trường,….) − Mở các hội thảo về lĩnh vực nuôi và nhân giống, sản xuất các loại thuỷ sản có giá trị kinh tế cao. IV. Vài mô hình nhân giống và quy trình sản xuất con giống: 1. Mô hình nuôi cá bố mẹ và sản xuất cá giống ở trung tâm: Đầu tiên nước biển được lấy nơi cách trung tâm 2km rồi được xử lý bằng tia cực tím và đưa vào bể cá bố mẹ. − 3 Tại đây, cá bố mẹ được nuôi đến thành thục rồi sau đó chuyển vào khu sinh sản để tiến hành sinh sản. − Đối với cá mú thì ở giai đoạn 5-10 kg thì nó là cá đực (khoảng 3-4 tuổi) và nếu hơn mức đó thì nó chỉ cho trứng trứng. − Còn với cá chẻm thì lúc cá 3 tuổi, trọng lượng khoảng 3kg thì lúc này cá đã thuần thục bắt đẩu cho tinh, và sau 5 tuổi thì nó không còn cho tinh nữa mà chỉ cho trứng. − Để nuôi cá được thành thục thì yêu cầu về kĩ thuật của người nuôi rất là quan trọng, những yêu cầu như thức ăn, điều kiện môi trường, chế độ chăm sóc…nếu những yêu cầu này không được đáp ứng tốt thì cá có thể không sinh sản được trong môi trừơng nhân tạo. − Sau khi sinh sản xong thì ở giai đoạn cá bột cũng cần nhiều yêu cầu nghiêm ngặc như cá bột, cá giống từ 3-4 ngày tuổi cần cung cấp thức ăn cho phù hợp, đảm bảo cung cấp đầy đủ dinh dưỡng cho cá phát triển. Giai đoạn 5-12 ngày tuổi thì cho cá ăn phù du, và sau đó tuỳ độ tuổi của cá mà ta cho ăn các loại thức ăn thích hợp. Chất lượng của cá giống phụ thuộc rất nhiều vào trình độ kỉ thuật của người nuôi − Đối với cá mú thì thời gian nuôi dưỡng cá giống phải hơn 60 ngày, còn cá chẻm thì phải hơn 40 ngày tuổi. Sauk hi 4 nuôi dưỡng xong thì cá giống được phân loại kích thước để rồi đưa ra thị trường − Đối với các loài cá biển khi tiến hành nhân giống nhân tạo thì yếu tố nuôi con giống bố mẹ thành thục là rất quan trọng và khi tiến hành sinh sản xong thì yếu tố nuôi con giống cũng quan trọng không kém. Những điều này sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến việc sản xuất và số lượng cũng như chất lượng con giống. 2. Quy trình sản xuất tôm giống : − Tôm là thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao và giá trị xuất khẩu thu lại lợi nhuận rất lớn. Ngoài ra nuôi tôm là một ngành nghề có tỷ lệ lãi lớn, chi phí kĩ thuật ít, quản ly kĩ thuật đơn giản, lao động dễ dàng ,… nên nghề nuôi tôm là mộ nghề dễ thành công, có thể giúp dân miền Trung nhanh chóng xóa đói giảm nghèo. − Hiện nay tỉnh Khánh Hoà có khoảng 600 trại nuôi tôm các loại, bao gồm rất nhiều loại tôm, trong đó tôm hùm có nguồn giống từ tự nhiên, giá thành rất cao, còn các giống tôm khác có thể tiến hành nhân giống bằng cách thụ tinh nhân tạo. − Trước nhu cầu tôm giống ngày càng lớn như thế nên việc tiến hành nghiên cứu và phát triển các giống tôm có chất lượng lẫn số lượng là một điều cần thiết cho một mô hình sản xuất thủy sản bền vững hiện nay. Trước tình hình đó trung tâm đã tiến hành nghiên cứu và đưa vào sản xuất mộ số giống tôm sú và tôm chiêm trắng có chất lượng cho người nông dân. *Quy trình sản xuất tôm giống: − Tôm cũng được tiến hành nuôi lấy giống như cá nhưng trong quy trình sản xuất đòi hỏi nghiêm ngặt hơn như việc quản lý môi trường, nguồn nước, khẩu phần ăn và chế độ chăm sóc hợp lý là yêu cầu tối cần thiết trong việc sản xúât tôm giống. − Từ trứng tôm sẽ trải qua 4 pha: • Pha 1 : thời kì phát triển phôi sau khi thụ tinh, sau đó tôm mới nở phát triển dưới bụng tôm cái, trứng có màu từ vàng lòng đỏ trứng chuyển sang màu xám đen. 5 • Pha 2: ấu trùng sau khi thoát khỏi trứng trở thành ấu trùng phù du trải qua 12- 15 lần lột xác rồi trở thành giai đoạn ấu trùng. • Pha 3: hậu ấu trùng có cấu tạo cơ thể giống tôm trưởng thành, cả về cách bơi, sinh trưởng, bám vào các vật thể khác. • Pha 4: tôm bắt đầu bước vào giai đoạn trưởng thành. − Tôm nguyên con trải qua thời kì hậu bị ở trại tôm giống đến khoảng 150-250g là có thể cung cấp cho thị trường. V. Định hướng phát triển: Việc phát triển tràn lan đã làm cho nguồn lợi thủy sản khác bị cạn kiệt, ô nhiễm môi trường sinh thái. Để phát triển ngành chăn nuôi thủy hải sản một cách bền vững cần có những chiến lược phát triển thật tốt, nuôi trồng thủy hải sản gắn liền với môi trường : − Xây dựng các trung tâm nghiên cứu và phát triển giống cấp quốc gia để đảm bảo số lượng và chất lượng nguồn giống. − Đầu tư vào lĩnh vực đào tạo cán bô khoa học, cán bộ quản lý để đáp ứng tốt cho nhu cầu thực tế ngày một khó khăn, cạnh tranh cao. − Đầu tư công tác khuyến ngư, công nghệ tiên tiến, chú trọng phát triển những giống có giá trị kinh tế cao như tôm he, cá biển (cá chẻm, cá mú,…)và một số loài như hải sâm, ốc ….để tạo thế mạnh cho quốc gia, tiến tới xuất khẩu các mặt hang thuỷ sản một cách mạnh mẽ − Chú trọng việc hợp tác quốc tế, thu hút nguồn vốn nước ngoài, nâng cao trình độ kĩ thuật, khoa học trong nước, đảm bảo vịêc sản xuất phải chặt chẽ với chống ô nhiễm môi trường. − Nhà nước chú trọng hơn vể việc phát triển nuôi trồng thủy sản, phát triển ngành này thành một ngành công nghiệp mũi nhọn của đất nước. ĐẠI HỌC THỦY SẢN NHA TRANG KHOA CHẾ BIẾN THỰC PHẨM I. Giới thiệu tổng quan về trường: 1. Lịch sử hình thành và phát triển của trường: Tiền thân của Trường đại học Nha Trang là khoa Thủy sản được thành lập ngày 01/8/1959 tại Học viện Nông Lâm Hà Nội (nay là Trường đại học Nông nghiệp I Hà Nội). Ngày 16/08/1966, theo Quyết định số 155-CP của 6 Thủ tướng Chính phủ, Khoa Thủy sản tách thành Trường Thủy sản. Năm 1977, Trường chuyển địa điểm từ Hải Phòng vào Nha Trang và lấy tên là Trường Đại học Hải sản; Từ năm 1980 đổi tên thành Trường Đại học Thủy sản. Ngày 25/7/2006, theo Quyết định số 172/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, Trường đổi tên thành Trường Đại học Nha Trang. Qua 47 năm xây dựng và phát triển, đến nay Trường đã đi vào thế ổn định và đang từng bước trở thành một trường đại học đa ngành, đa cấp học với các chuyên ngành thủy sản truyền thống là mũi nhọn và thế mạnh. Trước năm 1990, Trường chỉ có 5 chuyên ngành phục vụ ngành thủy sản, đến nay Trường đã có 23 chuyên ngành thuộc các lĩnh vực khác nhau; từ chỗ chỉ có 1 cấp đào tạo nay Trường đã có 4 cấp đào tạo từ Trung cấp chuyên nghiệp đến Tiến sĩ. 2. Tổ chức nhân sự, cơ cấu bộ máy quản lý, các ngành đào tạo: Bộ máy quản lý của Trường Đại học Nha Trang gồm 3 cấp: cấp Trường, cấp Khoa và cấp Bộ môn. Cấp trường : Đứng đầu Nhà trường là Hiệu trưởng - chịu trách nhiệm điều hành mọi hoạt động của Nhà trường và do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo bổ nhiệm. Giúp việc cho Hiệu trưởng là các Phó Hiệu trưởng. Tham mưu cho Hiệu trưởng và trực tiếp triển khai các mặt hoạt động là các Phòng, Ban với các chức năng nghiệp vụ theo các lĩnh vực khác nhau: - Phòng Đào tạo ĐH và SĐH - Phòng Khoa học - Công nghệ và QHQT - Phòng Công tác Sinh viên - Phòng Tổ chức - Hành chính - Phòng Kế hoạch - Tài chính - Phòng Quản trị và Thiết bị - Phân hiệu Kiên Giang - Hội đồng Đào tạo - Khoa học - Hội đồng Xét và Công nhận Tốt nghiệp - Hội đồng Tuyển sinh - Hội đồng Thi đua - Hội đồng Xét cấp Học bổng - Hội đồng Kỷ luật 7 Cấp khoa và Bộ môn : Đứng đầu mỗi Khoa là Trưởng khoa. Giúp việc cho Trưởng khoa là các Phó Trưởng khoa. Mỗi khoa có một số bộ môn, đứng đầu mỗi bộ môn là Trưởng bộ môn. Hiện nay Trường đại học Nha Trang có các Khoa và Bộ môn sau đây: - Khoa Khoa học Cơ bản - Khoa Khai thác thuỷ sản - Khoa Cơ khí - Khoa Chế biến - Khoa Kinh tế - Khoa Nuôi trồng Thủy sản - Khoa Công nghệ Thông tin - Khoa Lý luận Mác – Lênin Các Trung tâm và Viện nghiên cứu, đào tạo triển khai ứng dụng KHCN, dịch vụ và phục vụ: - Trung tâm Nghiên cứu và Đào tạo Quốc Tế: có chức năng xây dựng và triển khai các chương trình đào tạo bằng Anh ngữ cho các học viên trong và ngoài nước, tìm kiếm và tổ chức thực hiện các dự án nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ do nước ngoài tài trợ, và tư vấn phát triển công nghệ cho các doanh nghiệp trong ngành thủy sản. -Viện nghiên cứu sinh học và MT: Có chức năng tổ chức quản lý và triển khai các hoạt động thực nghiệm khoa học trong lĩnh vực Công nghệ sinh học và bảo vệ môi trường phục vụ đào tạo và nghiên cứu khoa học. - Viện Nuôi trồng Thủy sản: Trung tâm có nhiệm vụ nghiên cứu ứng dụng các thành tựu mới vào việc sinh sản nhân tạo và ương nuôi các loại giống tôm cá và hải đặc sản. - Trung tâm Giáo dục Quốc phòng - Viện NC Chế tạo Tàu thủy - Trung tâm NC và Phát triển CNPM - Trung tâm Ngoại ngữ - Thư viện II. Các công trình đã nghiên cứu, ứng dụng của trường: Nhà trường đã trang bị các thiết bị, máy móc dùng để phục vụ việc nghiên cứu và học tập với tổng giá trị khoảng 74 tỉ VNĐ. Các thiết bị này có thể nói là hàng đầu trong nước như: 8 Và còn nhiều thiết bị khác. Hiện nay trường có nhận phân tích dịch vụ các mẫu VSV, và giá 1 mẫu khi đi đem định danh trung bình là 1,8trđ. Một số hoạt động trên cơ sở các thiết bị được trang bị của trường: -Quy trình xử lý vỏ tôm,vỏ cua, xương mực để tạo ra Chitosan có khối lượng phân tử 500000 Dalton dùng để sản xuất viên Chitovac trị béo phì. ( Chitosan + acid béo trong cơ thể hay lipid trong máu sẽ được thải ra bên ngoài). Ngoài ra còn tạo ra Oligosacharide ( khi được xử lý bằng enzyme, enzyme sẽ cắt chitin và thuỷ phân Chitosan tạo thành Oligosacharide), chất này khi trộn với phân bón hữu cơ khi phun lên lá sẽ làm tăng khả năng phát triển của lá, rễ và ức chế côn trùng ăn hại hạn chế sử dụng thuốc trừ sâu. Các phương pháp thực hiện: +Phương pháp hóa học: dùng HCl đặc cắt chitin trong vỏ tôm và tẩy khoáng clorua, sau đó ta trung hòa bởi NaOH tạo ra Chitosan. Tuy nhiên phương pháp này sẽ gây ô nhiễm. + Phương pháp sinh học: Dùng protease ( Bacillus subtilis, Flavouzyme,..) để xử lý vỏ tôm thay cho acid HCl. Hoặc dùng vi khuẩn lên men lactic: lactobacillus để tạo ra acid lactic khử khoáng vỏ tôm và ức chế vi khuẩn gây thối. Sau đó ta trung hòa bởi NaOH tạo ra Chitosan. Ngoài ra còn tạo ra thêm sản phẩm Astaxanthin protein, sau khi cô đặc lại và cho vào bể nước nuôi cá sẽ làm màu sắc cá cảnh đẹp hơn. Phương pháp này không gây ô nhiễm như phương pháp trên. - Quy trình tạo chế phẩm vi sinh để nuôi heo bằng cách xử lý vỏ tôm cua bằng các vi khuẩn khử lưu huỳnh, Lactobacillus , Bacillus để tạo ra hỗn hợp để dùng nuôi heo làm tăng trọng heo lên 8% và giảm lượng NH3 & H2S trong phân heo nên không gây thối, ô nhiễm. 9 - Ngoài ra trường còn dùng phóng xạ 60Co cắt Chitosan sản xuất ra glucozamin ( Thuốc làm tăng sản xuất dịch ở khớp hạn chế thái hóa khớp. Phương pháp này có nhiều ưu thế và đang được nghiên cứu, mua thiết bị. - Trích chất Carageenan ( khi đưa vào hỗn hợp sẽ tăng độ nhớt và kết tủa các chất hòa tan) trong rong sụn Kappaphycus alvarezii với nhiều ứng dụng: + Tạo kẹo carageenan + Nước uống carageenan nha đam + Sản xuất sản phẩm dược, liên kết vào các mô, dạ dày, vết loét làm thành phần trám vào giúp vết loét mau liền. Làm thực phẩm chức năng chống đau loét dạ dày. Tăng khả năng nhũ hóa các loại thuốc kháng sinh. + Dùng carageenan thay agar trong môi trương nuôi VSV ( đang được nghiên cứu). - Nghiên cứu thủy phân: Tận dụng phế liệu cá basa, cá tra ( da, mỡ và xương) để làm ra: + Mỡ cá chứa DHA. + Tạo dầu DO, mỡ bôi trơn. + Da cá Collagen Gelatin : Tăng sức đông kết thực phẩm ( tạo khối thịt nguội), làm màng bao viên con nhộng. + Thủy phân phế liệu thủy sản, dùng chế phẩm VSV protease để sản xuất thức ăn cho tôm hùm. Tại trường cũng đã có các phòng sản phẩm: + Sản xuất đồ hộp. + Sản xuất thủy hải sản: Nước mắm Sản phẩm tận dụng từ phế liệu Sản phẩm đông lạnh + Sản xuất đồ uống, trà hòa tan,… 10 VIỆN VACXIN VÀ CHẾ PHẨM Y TẾ I. Tổng quan về Viện vacxin: Viện Vacxin và Các Chế phẩm Sinh học được Bộ Y tế nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quyết định thành lập vào ngày 23 tháng 11 năm 1978 với chức năng và nhiệm vụ sản xuất các loại Vacxin, Huyết thanh phục vụ cho Chương trình tiêm chủng mở rộng (TCMR) và cho nhân dân cả nước. Đến năm 1997, Bộ Y Tế qui định lại chức năng nhiệm vụ của Viện Vacxin là : + Xây dựng kế hoạch và thực hiện sản xuất các loại vacxin và huyết thanh, chủ yếu là các vacxin cho Chương trình tiêm chủng mở rộng (TCMR) và các vacxin và huyết thanh khác để phục vụ cho nhu cầu dự phòng và điều trị. + Nghiên cứu ứng dụng những tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất. + Hợp tác liên doanh với các tổ chức trong và ngoài nước trong lĩnh vực nghiên cứu sản xuất vacxin, huyết thanh và các chế phẩm sinh học để mở rộng sản xuất và nâng cao chất lượng sinh phẩm. + Đào tạo cán bộ, quản lý ngân sách và công sản. Từng bước hoạch toán sản phẩm, tiến tới tự trang trải kinh phí. Từ lúc thành lập, qua quá trình phát triển, cho đến nay Viện Vacxin gồm ba cơ sở và một công ty trực thuộc: + Cơ sở Nha Trang là bộ phận chính của Viện với diện tích 13.946m2. + Cơ sở II Đà Lạt trước đây là Viện Pasteur Đà Lạt, với diện tích 16.000m2. + Trại chăn nuôi Suối Dầu với diện tích 126 ha cách Nha Trang 22km về phía Nam, thuộc huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa. + Công ty Vacxin và Sinh phẩm số 2 (Biopharco) Đội ngũ cán bộ công chức và cơ cấu nhân lực: Viện Vacxin có 410 người (kể cả công ty Biopharco), trong đó có: - Tiến sĩ và thạc sĩ: 15 người. - Phó giáo sư : 2 người. 11 - Cán bộ đại học chiếm 32.6% cơ cấu. - Còn lại là công nhân: đa số là Công nhân lành nghề được huấn luyện nhiều năm về sản xuất vacxin. II. Quy trình công nghệ sản xuất vacxin: -Quy trình sản xuất vacxin uốn ván, ho gà bạch hầu: Nguồn nước để sản xuất vacxin sẽ được xử lý sạch, khử khoáng, kim loại nặng bởi các hệ thống xử lý và chưng cất hiện đại như: máy cất nước 100s 100 l/h, hệ thống R-O 900 l/h, Aqua nova 250 l/h. Qua hệ thống này nước sẽ trở thành nước cất tinh khiết luôn luôn đạt tiêu chuẩn dược liệu châu Âu & Mỹ. Nước sau khi xử lý được dẫn đến các phòng sản xuất bởi đường ống bằng thép không rỉ hồi lưu và luôn luôn bảo đảm nhiệt độ ở 800C. Môi trường dùng cho sản xuất được pha trong các nồi thép không rỉ và được chuyển qua nồi nuôi cấy bằng hệ thống đường ống. Sau khi quá trình nuôi cấy kết thúc huyền dịch vi khuẩnho gà được bất hoạt và được bảo quản trong kho lạnh. Độc tố uốn ván, độc tố bạch hầu được bât hoạt bởi formalin trong phòng ấm 350C để giải độc và tinh chế bằng công nghệ màng lọc dòng chảy tiếp tuyến đạt độ tinh khiết cao. Hiện nay hệ thống nồi lên men có dung tích lớn để sản xuất vacxin bạch hầu, uốn ván, ho gà được đặt tại Nha Trang. Các loại vacxin trên được đóng lọ bằng hệ thống liên hoàn tự động từ khâu súc rửa, khâu tiệt trùng tới khâu vô thuốc đều thực hiện trong phòng hoàn toàn vô trùng. Hàng năm Viện cung cấp hàng chục triệu liều vacxin ho gà, bạch hầu, uốn ván đạt tiêu chuẩn quốc tế và tiêu chuẩn Việt Nam cho chương trình tiêm chủng mở rộng, chích loại trừ uốn ván sơ sinh và hướng tới xuất khẩu. - Khác với Vacxin bạch hầu, uốn ván, ho gà được nuôi cấy trên dây chuyền công nghệ sinh học, vacxin phòng lao BCG được sản xuất bằng phương pháp nuôi cấy tĩnh. Đây là 1 phương pháp đơn giản nhưng rất khó sản xuất vì rất dễ nhiễm khuẩn, khó khăn nhất trong việc sản xuất vacxin này còn ở chỗ là làm sao đảm bảo độ sống vi khuẩn để công hiệu vacxin được lâu bền nhờ thiết bị hàn tự động với điều kiện chân không. Viện đã có máy hàn Uma B ES 100 có khả năng hàn 5000 ống/1h. Trước khi xuất xưởng mỗi ống vacxin được kiểm tra chặc chẽ về độ sống, độ chân không, độ ẩm tồn dư. 12 - Trước kia Viện có phân xưởng sản xuất vacxin dại, nhưng đã đóng cửa khoảng 1 năm nay do sản xuất vacxin dại theo phương pháp cũ, Bộ y tế cho rằng không an toàn, có biến chứng. Các loại vacxin: bạch hầu, uốn ván, lao, thương hàn, các loại huyết thanh được lấy từ huyết thanh cua hơn 400 con ngựa ở trại Suấi Dầu. Hiện nay Viện đang hợp tác với Cuba và các nước khác để sản xuất loại vacxin 5 trong 1 để tiêm cho trẻ 1 mũi nhưng phòng ngừa được 5 bệnh: viêm gan B, viêm não, quai bị, bại liệt, lao. CÔNG TY CHẾ BIẾN NƯỚC MẮM 584 NHA TRANG I. Giới thiệu công ty: Công ty được hình thành từ năm 1977, với tên gọi Xí nghiệp Thủy sản Nha Trang là doanh nghiệp Nhà Nước thuộc Bộ Thủy sản, chịu sự chi phối trực tiếp từ Bộ Thủy sản. Năm 2006, với chủ trương đổi mới doanh nghiệp Nhà nước của Đảng, Nhà nước, đơn vị được cổ phần hoá và chuyển hình thức kinh doanh và tên gọi thành Công ty Cổ phần Thủy sản 584 Nha Trang. Sự chuyển đổi đã mở ra một chặng đường mới có nhiều điều kiện thuận lợi hơn so với trước, linh hoạt và tự chủ trong hoạt động sản xuất, kinh doanh song cũng đặt ra nhiều thách thức. Đòi hỏi sự nổ lực hơn nữa, luôn mang đến cho khách hàng những sản phẩm chất lượng và uy tín, khẳng định vị thế của mình trên thị trường có sự cạnh tranh cao. *Cơ cấu bộ máy quản lý sản xuất gồm có: 60 người trong đó có 3 người trong ban giám đốc. Công ty có cả thảy ba phòng chức năng: • Phòng kế hoạch kĩ thuật: chuyên xây dựng kế hoạch kinh doanh, kiểm soát chất lượng sản phẩm, marketing… 13 • Phòng kế toán tài vụ: đảm nhân chức năng kiểm tra, cung cấp tiền vốn,.., • Phòng tổ chức hành chính nhân sự: tính toán lương, bố trí và điều hành nhân sự. Tổng số lao động hiện có: 200 lao động. Trong đó, tỷ lệ lao động có trình độ chuyên môn cao học: 4%; đại học: 30%; cao đẳng, trung cấp: 20%. Với đội ngũ công nhân lành nghề, 60% có tay nghề trên 15 năm, 20% trên 10 năm. Luôn tận tâm, gắn bó và cống hiến cho mục tiêu phát triển Công ty. Với bề dày về truyền thống văn hoá doanh nghiệp được xây dựng và hun đúc qua quá trình hình thành và phát triển, giá trị nguồn nhân lực hiện nay là tài sản lớn nhất Công ty. *CƠ SỞ HẠ TẦNG, VẬT CHẤT: Trụ sở Công ty nằm tại giao điểm của 2 tuyến đường lớn của thành phố Nha Trang là đường Lê Hồng Phong và đại lộ Nguyễn Tất Thành.Với diện tích 4.000m2 bao gồm văn phòng làm việc và sản xuất; khu nghiên cứu, phát triển và kiểm tra chất lượng sản phẩm; khu vực giới thiệu sản phẩm và khu đóng gói sản phẩm. Nằm về hai phía của ngã tư, hoạt động xuất nhập hàng hoá, giao dịch mua bán có nhiều thuận lợi, thuộc tuyến đường được xem là huyết mạch, cửa ngõ phía Nam của thành phố, đi các cảng biển của tỉnh và sân bay Cam Ranh. Tại đây hệ thống nhà xưởng, dây truyền sản xuất, kho thành phẩm với nguyên liệu sử dụng trên 3.000 tấn cá cơm, sản xuất được 3 triệu lít nước mắm mỗi năm. Với diện tích gần 500m2 nằm tại đường Trần Phú, P.Vĩnh Nguyên, Nha 14 Trang hệ thống kho hàng của Công ty luôn đảm bảo sức dự trữ và cung cấp kịp thời cho thị trường tiêu thụ. Trong thời kì bao cấp, xí nghiệp đảm nhận rất nhiều nhiệm vụ, thu mua nông sản, thủy hải sản của ngư dân địa phương, ngoài ra công ty còn kinh doanh cả xăng dầu. Sau khi bước sang nền kinh tế thị trường, được cổ phần hóa, công ty chỉ chuyên về sản xuất một mặt hàng đó là nước mắm với lượng trang thiết bị không được mấy dồi dào.So với trước đây, thì lượng sản phẩm của công ty ít hơn rất nhiều, sản phẩm trước đây của công ty gồm có nhiều loại như: cá khô, mắm khô, mắm ruốt,…Mặc dù chỉ sản xuất có một mặt hàng là nước mắm nhưng công ty đã chuyên hóa với một sản lượng rất lớn, khoảng 3 triệu lít nước mắm các loại mỗi năm. Với khoảng 20 chủng loại mặt hàng từ 120N đến 400N, giá cả khác nhau tùy chất lượng nước mắm và phù hợp với tất cả người tiêu dùng. Thị phần và hệ thống phân phối của công ty: công ty có thị phần rất lớn, hệ thống phân phối bao gồm nhiều đại lý lớn nhỏ và bán lẻ trải khắp các tỉnh, thành phố trên cả nước, tại miền Bắc: Hà Nội, Thái Nguyên, Hải Phòng,...miền Trung và Tây Nguyên: Nha Trang, Đà Nẵng, Quảng Nam, ĐăkLăk, Gia Lai,...miền Nam: Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Vũng Tàu,... Thành tích của công ty: • Sản phẩm Công ty nhiều năm liền đạt danh hiệu hàng Việt Nam chất lượng cao nhiều năm liền Năm 2004, sản phẩm nước mắm 350N tại hội chợ an toàn thực phẩm ở Thành phố Hồ Chí Minh đã đạt giải thưởng sản lượng an toàn vì sức khỏe cộng đồng do nhiều viện uy tín chứng nhận. • 2005, đạt giải thưởng tại hội nghị Festival Tây Nguyên.Ngoài ra công ty còn đạt được rất nhiều danh hiệu cao quý của nhà nước và 15 người tiêu dùng bình chọn trong nhiều năm liề, trở thành một thương hiệu rất uy tín với người tiêu dùng. II. Giới thiệu quy trình sản xuất nước mắm : Có rất nhiều cách chế biến nước mắm khác nhau theo phương pháp truyền thống, như đánh khuấy (Cát Hải), phương pháp sản xuất nước mắm Phú Quốc, phương pháp thuỷ phân protein bằng chất hóa học,…Nhưng tóm lại đều có chung một nguyên tắc là thuỷ phân protein thịt cá thành hỗn hợp acid amin, polypeptide có giá trị dinh dưỡng cao. Đối với phương pháp lên men truyền thống thì trong quá trình sản xuất, hệ vi sinh vật làm cho nước mắm có mùi vị đặc trưng. *Quy trình sản xuất có thể tóm tắt bằng sơ đồ sau: 16  Đầu tiên nguyên liệu cá tươi được tiến hành ướp muối, trộn muối theo công thức ( theo phương pháp Phú Quốc thì cứ cho 3 cá thì 1 muối, và cho đủ muối một lần rồi gài nén.Còn đối với phương pháp Cát Hải thì cho muối nhiều lần kết hợp đánh khuấy để tạo điều kiện lên men nhanh hơn,…) rồi tiến hành lên men từ từ  Đợi đến khi chượp chin thì bắt đầu tiến hành kéo rút.  Phương pháp kéo rút này cần yêu cầu trình độ kĩ thuật và kinh nghiệm của người thợ rất nghiêm ngặt để có chất lượng nước mắm thật tốt, mùi vị thơm ngon.  Đối với phương pháp lên men truyền thống thì thời gian lên men dài do sử dụng hệ enzyme trong nội tạng cá là chủ yếu, còn đối với phương pháp lên men nhanh thì thời gian rút ngắn hơn rất nhiều do được bổ sung một lượng lớn protein, nhưng sản phẩm không có hương vị đặc trưng do thiếu các sản phẩm chuyển hóa của hệ vi sinh vật tồn tại trong chượp như các ester tạo hương (theo phương pháp lên men truyền thống). 17  Nước mắm thành phẩm từ các cơ sở sẽ được chuyển về công ty ( số 584 Lê Hồng Phong ) để tiến hành pha chế theo các độ đạm khác nhau rồi đóng chai thành phẩm. III. Hướng phát triển sản phẩm và phát triển thị trường: Hiện nay công ty đang nghiên cứu công nghệ làm nước mắm ngắn ngày, và nghiên cứu phát triển thêm một số sản phẩm mới. Đối với phương pháp sản xuất nước mắm thì nhanh nhất cũng phải 5-6 tháng mới cho sản phẩm, phương pháp của công ty sử dụng thì thường đến 9 tháng mới có thể xuất hàng. Còn theo hướng sản xuất nước mắm ngắn ngày thì chỉ cần 8-10 ngày là đã thủy phân hoàn toàn protein trong cá, nhưng vấn đề rất lớn đối với phương pháp này là nước mắm không có hương vị đặc trưng. Chính vì thế việc nghiên cứu này sẽ còn là một vấn đề nan giải để đưa vào thực tế sản xuất. Công ty còn tiến hành nghiên cứu đưa ra nhiều sản phẩm mới, đa dạng hóa các mặt hàng, tăng uy tín với người tiêu dùng, mở rộng thị trường kinh doanh. Có thể nói đến vài sản phẩm mới của công ty như cá cơm khô, mắm nêm,… Ngoài ra, công ty cổ phần thủy sản 584 Nha Trang cũng đã khai trương mẻ nước mắm bổ sung chất sắt ngày 4/7/2008 tại Khánh Hoà, trong khuôn khổ dự án “bổ sung chất sắt vào nước mắm”. Hiện nay, thiếu máu thiếu sắt là một vấn đề dinh dưỡng phổ biến nhất trên toàn thế giới. Nhóm có nguy cơ cao là trẻ em và phụ nữ độ tuổi sinh đẻ, đặc biệt là phụ nữ có thai và đang cho con bú. Trước thực trạng thiếu máu thiếu sắt khá phổ biến ở nước ta, Bộ Y Tế đã giao cho Viện Dinh Dưỡng là cơ quan chủ quản, đảm nhiệm việc thiết kế và triển khai Chương trình “ Bổ sung chất sắt vào nước mắm “ trong chiến 18 lược quốc gia dinh dưỡng 2001-2010, nhằm làm giảm tỷ lệ thiếu máu thiếu sắt trong cộng đồng dân cư, đặc biệt ở phụ nữ và trẻ em. Sản phẩm” nước mắm sắt dinh dưỡng “ đầu tiên được tiến hành tại 7 tỉnh : Hà Nội, Khánh Hoà, Bình Định, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiêng Giang, Bình Thuận, Vũng Tàu. Sau khi tìm hiểu và điều tra, Viện Dinh Dưỡng đã chọn Công ty Cổ Phần Thuỷ sản 584 Nha Trang là doanh nghiệp duy nhất tại Khánh Hoà có đủ điều kiện và năng lực để thực hiện dự án “ sung chất sắt vào nước mắm”. “Nước mắm sắt dinh dưỡng” là sản phẩm của kết qủa nghiên cứu được áp dụng thực tiển, thể hiện sự kết hợp ngành Y tế với các doanh nghiệp, mang tính nhân đạo sâu sắc. Sử dụng “ Nước mắm sắt dinh dưỡng” hằng ngày là bổ sung sắt cho cơ thể. Nước mắm bổ sung sắt có tác dụng phòng chống thiếu máu dinh dưỡng, để tăng cường sức khoẻ, tăng khả năng lao động và học tập, đặc biệt ở phụ nữ và trẻ em. CÔNG TY CHẾ BIẾN THỦY SẢN F17 NHA TRANG SEAFOOD I. Giới thiệu: Xí nghiệp được thành lập năm 1976 trên cơ sở tiếp nhận xí nghiệp đông lạnh Nha Trang của tư nhân. − Năm 1986, vì vấn đề môi trường, công ty phải chuyển ra vùng ngoại ô. Sau đó vùng này phát triển thành vùng dân cư mới, việc này gây khó khăn nhiều trong trong vấn đề mở rộng sản xuất, xử lý chất thải và bảo vệ môi trường. − Do nhu cầu phát triển nhưng không được mở rộng sản xuất về mặt diện tích mặt bằng tại vùng dân cư gây ra rất nhiều khó khăn cho nhà máy. Đến năm 1990, công ty bắt đầu phát triển theo chìêu sâu, với lượng nhân lực ban đầu là 50 người, trong đó có đến 25 người là kĩ sư, đến nay đã có hơn 2000 công nhân − 19 Năm 1991 được đổi tên thành công ty chế biến thủy sản Nha Trang, với trang thiết bị dây chuyền được nhập từ Hàn Quốc. − Hiện nay công ty đã được cổ phần hoá, mở rộng thêm nhiều nhà máy, đến tận miền Tây( Kiên Giang, Cần Thơ ). − Công ty có hội đồng quản trị gồm 5 người, trong đó có 1 người Hàn Quốc, còn lại là các thành viên chủ chốt của công ty ban đầu (ban giám đốc, phòng kế toán) − Khối quản lý gồm có: • Phòng kinh doanh xuất nhập khẩu • Phòng tài vụ • Phòng kiểm tra chất lượng sản phẩm (ở từng đơn vị sản xuất và ở tổng công ty để có thể kiểm soát chặt chẽ chất lượng hàng). − Công ty có tổng diện tích mặt bằng khoảng 18000 km2 ,có 3 phân xưởng sản xuất • Chế biến hàng đông lạnh. • Chế biến hàng thủy đặc sản. • Phân xưởng cơ điện lạnh, sản xuất nước đá phục vụ sản xuất, với công suất cấp đông là 60 tấn/ ngày Nguồn nguyên liệu được thu mua từ trong và ngoài tỉnh, sức chứa của kho 2000 tấn, có thể đáp ứng nhu cầu của sản xuất của công ty trong các mùa vụ. Ngoài ra, còn có một cửa hàng vật tư khác nằm ở trung tâm thành phố. − Công ty là một trong những doanh nghiệp sản xuất, chế biến thủy hải sản lớn nhất tỉnh Khánh Hòa, với các mặt hàng chủ yếu: cá fillet đông lạnh, mực, tôm, ghẹ, cua … − Cá thị trường chính của công ty gồm có: Nhật (30%), Mỹ (50%), còn lại là các thị trường khác: Úc, Đài Loan, Châu Âu. Xuất khẩu trên 5000 tấn mỗi năm, đạt giá trị kim ngạch 30 triệu USD. − Sản phẩm của công ty được chứng nhận các yêu cầu về quản lý chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm HACCP, ISO ,BRC và một số chứng chỉ xuất khẩu sang EU ( DL17 & DL90 ). − II. Quy trình sản xuất tôm đông lạnh : 20
- Xem thêm -