Tài liệu Báo cáo tài chính với việc phân tích tình hình tài chính tại công ty xăng dầu b12

  • Số trang: 100 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 510 |
  • Lượt tải: 0
hoanggiang80

Đã đăng 20010 tài liệu

Mô tả:

Báo cáo tài chính với việc phân tích tình hình tài chính tại công ty Xăng Dầu B12
Luận văn tốt nghiệp LỜI NÓI ĐẦU Trong điều kiện sản xuất và kinh doanh theo cơ chế thị trường, để tồn tại và phát triển đòi hỏi các doanh nghiệp phải có lãi. Để đạt được mục tiêu này nhà quản trị phải lựa chọn và đưa ra các quyết định tài chính, tổ chức thực hiện những quyết định đó nhằm đặt mục tiêu là tối đa hoá lợi nhuận, không ngừng làm tăng giá trị doanh nghiệp và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường. Trong hoạt động sản xuất cũng như kinh doanh, có rất nhiều vấn đề nảy sinh mà phần lớn là các vấn đề về tài chính. Do đó, cơ sở của hầu hết mọi quyết định quản trị đều dựa trên những kết luận rút ra từ những đánh giá về mặt tài chính trong hoạt động của doanh nghiệp và bằng các công cụ khác nhau. Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp là cơ sở quan trọng giúp nhà quản trị thực hiện tốt chức năng của mình.Việc thường xuyên tiến hành phân tích tình hình tài chính sẽ giúp cho các doanh nghiệp và các cơ quan chủ quản cấp trên thấy rõ thực trạng hoạt động tài chính, kết quả sản xuất kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp cũng như xác định một cách đầy đủ, đúng đắn nguyên nhân và mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến tình hình tài chính. Qua đó, giúp người sử dụng thông tin có thể đánh giá được tiềm năng, hiệu quả sản xuất kinh doanh cũng như rủi ro và triển vọng trong tương lai của doanh nghiệp, để họ có thể đưa ra các giải pháp hữu hiệu, những quyết định chính xác nhằm nâng cao chất lượng công tác quản lý kinh tế, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Báo cáo kế toán rất hữu ích đối với việc quản trị doanh nghiệp đồng thời là nguồn thông tin tài chính cơ bản đối với người ngoài doanh nghiệp. Do đó, sự phân tích tài chính trước hết tập trung vào các số liệu được cung cấp trong các báo cáo kế toán kết hợp thông tin bổ sung của các bộ phận quản lý. Chính vì thế, việc lập các báo cáo này một cách có hệ thống, số liệu phản -1- Luận văn tốt nghiệp ánh kịp thời sẽ là cầu nối quan trọng giữa doanh nghiệp với các đối tác liên quan. Nhận thức được tầm quan trọng của việc lập báo cáo tài chính cũng như công tác phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp, nên trong thời gian học tập tại trường Đại học Công Đoàn và được thực tập công ty Xăng Dầu B12 em đã tìm hiểu và đi sâu nghiên cứu đề tài: “Báo cáo tài chính với việc phân tích tình hình tài chính tại công ty Xăng Dầu B12”. Đề tài gồm 3 chương : Chương I. Lý luận chung về báo cáo tài chính và việc phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp . Chương II.Thực trạng phân tích tình hình tài chính tại công ty Xăng Dầu B12 thông qua báo cáo tài chính. Chương III. Những giải pháp hoàn thiện báo cáo tài chính và tình hình tài chính của công ty Xăng Dầu B12. Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể CBCNV phòng Tài chính - Kế toán Công ty xăng dầu B12. Đặc biệt là cô giáo hướng dẫn Phạm Thị Gái đã giúp tôi hoàn thành khoá luận này. -2- Luận văn tốt nghiệp CHƯƠNG I LÝ LUẬN CHUNG VỀ BÁO CÁO TÀI CHÍNH VÀ PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP I . Tổng quan về phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp 1. Khái niệm và ý nghĩa của phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp Hoạt động tài chính là một nội dung cơ bản thuộc hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhằm giải quyết các mối quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình kinh doanh, được biểu hiện dưới hình thái tiền tệ để thực hiện các mục tiêu của doanh nghiệp là tối đa hoá lợi nhuận, tối đa hoá giá trị doanh nghiệp. Hoạt động tài chính giữ vị trí và vai trò quan trọng trong sự phát triển của doanh nghiệp nên việc tổng kết, phân tích và đánh giá tình hình tài chính là nhiệm vụ cần thiết và quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp. Phân tích tình hình tài chính là quá trình xem xét, kiểm tra, đối chiếu và so sánh số liệu về tình hình tài chính hiện hành với quá khứ thông qua hệ thống các phương pháp và công cụ khác nhau nhằm đánh giá tiềm năng, hiệu quả cũng như những rủi ro và triển vọng của doanh nghiệp trong tương lai . Một doanh nghiệp tồn tại trong nền kinh tế luôn là đối tượng của nhiều nhóm người khác. Để có thể đưa ra các quyết định đúng đắn trong hoạt động kinh doanh của mình, nhằm đem lại tối đa lượng tài sản cho bản thân thì họ luôn đặt ra nhu cầu hiểu biết về tình hình kinh doanh của doanh nghiệp mà cụ thể là tình hình kinh doanh của doanh nghiệp. Báo cáo kế toán rất hữu ích đối với việc quản trị doanh nghiệp, đồng thời là nguồn thông tin tài chính cơ bản đối với người ngoài doanh nghiệp. Do đó, sự phân tích tài chính trước hết tập trung vào các số liệu được cung cấp trong các báo cáo kế toán kết hợp thông tin bổ sung của các bộ phận quản lý. Đáp ứng nhu cầu của các chủ thể sử dụng kết quả của việc phân tích tài chính doanh nghiệp, bản thân phân -3- Luận văn tốt nghiệp tích chỉ ra những thay đổi chủ yếu và những chuyển biến theo xu hướng trong những mối quan hệ kinh tế xuất phát từ quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Như vậy, từ các thông tin tài chính chi tiết hay những con số thống kê, phân tích thực sự là “việc làm cho các con số biết nói” để có thể quyết định một cách trực tiếp và hiệu quả. Chính vì thế, phân tích báo cáo tài chính của doanh nghiệp là mối quan tâm của nhiều nhóm người khác nhau như ban giám đốc, các nhà đầu tư, cổ đông, các chủ nợ, khách hàng, các nhà cho vay tín dụng, nhân viên ngân hàng, các cấp quản lý, bảo hiểm... Mỗi nhóm người này có nhu cầu thông tin khác nhau do vậy, mỗi nhóm có xu hướng tập trung vào các khía cạnh khác nhau trong bức tranh tài chính của đơn vị. Mặc dù mục đích của họ là khác nhau nhưng thường liên quan đến nhau và do vậy các công cụ và kỹ thuật phân tích cơ bản mà họ sử dụng để phân tích tình hình tài chính là giống nhau . - Đối với các nhà quản lý doanh nghiệp Nhà quản lý doanh nghiệp tiến hành nghiên cứu các hoạt động tài chính gọi là phân tích nội bộ. Phân tích nội bộ hoàn toàn khác với phân tích từ bên ngoài, những nhà phân tích nội bộ có ưu thế rõ ràng về chất lượng thông tin và sự hiểu biết về doanh nghiệp. Mối quan tâm hàng đầu của các nhà phân tích nội bộ là tìm kiếm lợi nhuận và khả năng trả nợ. Để đạt được mục tiêu đó, người quản lý doanh nghiệp phải đưa ra các quyết sách đúng như : - Các quyết định đầu tư dài hạn và ngắn hạn. - Việc tìm kiếm nguồn tài trợ . - Sử dụng vốn và tài sản sao cho có hiệu quả cao nhất ... Như vậy, mục tiêu cơ bản và thử thách sống còn của doanh nghiệp là thanh toán được nợ và kinh doanh có lãi. Chỉ quá trình phân tích tài chính thận trọng và đầy đủ mới có thể tìm ra mấu chốt và những vấn đề còn bất cập trong toàn bộ quá trình kinh doanh của doanh nghiệp . Ví dụ như về hiệu quả -4- Luận văn tốt nghiệp sử dụng tài sản cố định còn chưa hiệu quả, vòng quay vốn lưu động thấp, khả năng thanh toán không đủ đáp ứng dẫn đến nguy cơ phải giải phóng tài sản để thanh toán nợ đến hạn ... trên cơ sở đó mới có thể tìm giải pháp hữu hiệu để khắc phục . - Đối với các chủ nợ Các chủ nợ bao gồm ngân hàng, các doanh nghiệp cho vay, ứng trước hay bán chịu, mối quan tâm của họ thường hướng tới khả năng trả nợ của doanh nghiệp đi vay. Vì vậy, họ đặc biệt chú ý đến tiền và các khoản có thể quy thành tiền nhanh, từ đó so sánh với số nợ ngắn hạn để có thể nhận biết được khả năng thanh toán tức thời của doanh nghiệp. Đối với các khoản nợ dài hạn thì còn phải quan tâm đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp, vì khả năng này liên quan trực tiếp đến việc thanh toán vốn sẽ diễn trong tương lai. Như vậy trước khi cho vay, người cho vay phải nghiên cứu khả năng thanh toán của doanh nghiệp để trả lời các câu hỏi: -Tình hình tài chính của doanh nghiệp là mạnh hay yếu ? -Doanh nghiệp có khả năng thanh toán nợ đến hạn hạn hay không ? -Doanh nghiệp có thực hiện được doanh thu thoả đáng so với vốn đầu tư vào tài sản lưu động và cố định hay không ? -Doanh nghiệp có thể đạt mức lợi nhuận là bao nhiêu trước khả năng không thể đáp ứng chi phí cố định như lãi suất, tiền thuê nhà đất, các khoản chi trả cố định khác...? Nếu doanh nghiệp thua lỗ, các tài sản sẽ mất giá trị bao nhiêu so với con số trong bảng tổng kết tài sản trước khi các chủ nợ được bảo hiểm chấp nhận thiệt hại. Từ những phân tích trên, các chủ nợ sẽ xem xét, dự báo được mức độ rủi ro đối với các khoản cho vay, cân nhắc giữa doanh lợi và rủi ro, đi đến quyết định có cho vay hay không ... - Đối với nhà đầu tư Đây là các doanh nghiệp, các cá nhân quan tâm trực tiếp đến tính toán các giá trị doanh nghiệp, họ giao vốn cho doanh nghiệp sử dụng và sẽ cùng -5- Luận văn tốt nghiệp chịu mọi rủi ro mà doanh nghiệp gặp phải. Thu nhập của nhà đầu tư là tiền chia lợi tức và giá trị tăng thêm của vốn đầu tư. Hai yếu tố này chịu ảnh hưởng của lợi nhuận kỳ vọng của doanh nghiệp .Các nhà đầu tư lớn thường dựa vào các nhà chuyên môn những người chuyên phân tích tài chính, chuyên nghiên cứu kinh tế về tài chính để phân tích làm dự báo triển vọng của doanh nghiệp. Đối với các nhà đầu tư hiện tại cũng như các nhà đầu tư tiềm năng thì mối quan tâm trước hết của họ là việc đánh giá những đặc điểm đầu tư của doanh nghiệp . Các đặc điểm này có yếu tố rủi ro, sự hoàn hảo, lãi cổ phần hoặc tiền lời, sự bảo toàn vốn, khả năng thanh toán vốn, sự tăng trưởng và các yếu tố khác . Các nhà đầu tư quan tâm đến sự an toàn về vốn đầu tư của họ thông qua tình hình được phản ánh trong điều kiện tài chính của doanh nghiệp và tình hình hoạt động của nó . Mặt khác, các nhà đầu tư còn quan tâm tới thu nhập của doanh nghiệp. Họ quan tâm tới tiềm năng tăng trưởng, các thông tin liên quan đến việc doanh nghiệp đã giành nhưng nguồn tiềm năng gì và như thế nào, những loại rủi ro nào mà doanh nghiệp đang phải đối mặt, doanh nghiệp có sử dụng đòn bẩy tài chính không ? Ngoài ra, các nhà đầu tư còn quan tâm tới việc điều hành hoạt động và tính hiệu quả của công tác quản lý trong doanh nghiệp để có thể ra các quyết định đầu tư . - Đối với những người hưởng lương trong doanh nghiệp. Lương là khoản thu nhập chính trong doanh nghiệp . Vì vậy, người hưởng lương buộc phải quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp . Cách quan tâm của người hưởng lương đến tình hình tài chính của doanh nghiệp một cách đơn giản hơn các đối tượng khác, câu hỏi lớn nhất mà họ đặt ra là : Tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp có hiệu quả hay không, lợi nhuận đạt đến mức nào, nếu lỗ thì là bao nhiêu, triển vọng trong tương lai là tăng lên hay gặp khó khăn ? chỉ có phân tích tài chính mới có thể trả lời được câu hỏi này. -6- Luận văn tốt nghiệp Như vậy, có thể nói,mục đích cao nhất của phân tích tài chính là đảm bảo tối đa hoá giá trị. Quy luật cạnh tranh luôn luôn tồn tại trong nền kinh tế thị trường, để đứng vững và phát triển doanh nghiệp cần có chiến lược kinh doanh đúng đắn, cụ thể hợp lý tạo thế mạnh riêng cho mình. Bởi vậy, phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp là hết sức quan trọng, giúp nhà phân tích có thể nhận dạng một cách trung thực tình trạng “sức khoẻ’’ của doanh nghiệp, từ đó đề ra chiến lược kinh doanh phù hợp . 2.Trình tự và phương pháp phân tích tình hình tài doanh nghiệp Trình tự phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp - Xác định mục tiêu phân tích Mỗi chủ đề đều có những yêu cầu khác nhau đối với công tác phân tích tài chính. Vì vậy, họ cần đi sâu vào những nội dung khác nhau trong quá trình phân tích. Xác định mục tiêu phân tích sẽ giúp nhà phân tích sử dụng những phương pháp thích hợp và tập trung vào những vấn đề cụ thể hơn. Những người sử dụng khác nhau sẽ đưa ra các quyết định khác nhau theo những mục đích khác nhau : - Quyết định quản lý doanh nghiệp - Quyết định mua bán tín phiếu - Quyết định chấp nhận hay từ chối tín dụng - Quyết định mua toàn bộ hay từng phần doanh nghiệp ... Phân tích tài chính của nhóm người sử dụng khác nhau đòi hỏi phải đáp ứng vấn đề chuyên môn của mỗi nhóm. - Thu thập thông tin Phân tích tài chính sử dụng mọi nguồn thông tin có khả năng lý giải và thuyết minh thực trạng hoạt động tài chính doanh nghiệp, phục vụ cho quá trình dự đoán tài chính nó bao gồm cả những thông tin nội bộ đến những thông tin bên ngoài, những thông tin kế toán và các thông tin khác nhau, những thông tin về số lượng và giá trị trong đó: các thông tin kế toán phản -7- Luận văn tốt nghiệp ánh tập trung trong báo cáo kế toán của doanh nghiệp, là những thông tin đặc biệt quan trọng. Do vậy, phân tích tài chính trên thực tế là phân tích các báo cáo kế toán trong doanh nghiệp . - Xử lý thông tin Giai đoạn tiếp theo của quá trình phân tích tình hình tài chính là quá trình xử lý thông tin đã thu thập được. Trong giai đoạn này, người sử dụng thông tin ở góc độ nghiên cứu khác nhau, có phương pháp xử lý thông tin khác nhau phục vụ mục tiêu phân tích đặt ra: xử lý thông tin là quá trình sắp xếp các thông tin theo những mục tiêu nhất định nhằm tính toán, so sánh, giải thích đánh giá xác định nguyên nhân của các kết quả đã được phục vụ cho quá trình dự đoán và quyết định . Trong việc xử lý thông tin, người ta chú trọng đến việc sử dụng các phương pháp phân tích thích hợp để làm việc với thông tin đó. Phương pháp phân tích tài chính: bao gồm một hệ thống các công cụ và biện pháp nhằm tiếp cận, nghiên cứu các sự kiện, hiện tượng các mối quan hệ bên trong chỉ tiêu tài chính tổng hợp và chi tiết nhằm đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp . - Có rất nhiều phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp trong thực tế người ta có thể sử dụng các phương pháp sau: Phương pháp so sánh - Để áp dụng phương pháp so sánh cần phải bảo đảm các điều kiện có thể so sánh được các chỉ tiêu tài chính (thống nhất về không gian, nội dung tính chất và đơn vị tính toán ...) và theo mục đích phân tích mà xác định gốc so sánh. Gốc so sánh được chọn là là gốc về mặt thời gian hoặc không gian, kỳ phân tích được chọn bàng số tuyệt đối, số tương đối huặc số bình quân, nội dung so sánh gồm : + So sánh giữa số thực hiện kỳ này với số thực hiện kỳ trước để thấy rõ xu hướng thay đổi về tài chính doanh nghiệp. Đánh giá sự thâm hụt hay thụt lùi trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. -8- Luận văn tốt nghiệp + So sánh giữa số thực hiện kỳ này với số với số thực hiện kỳ trước để thấy mức phấn đấu của doanh nghiệp. + So sánh giữa số liệu của doanh nghiệp với số liệu trung bình ngành, của các doanh nghiệp khác nhau để đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp mình tốt hay xấu, được hay chưa được. + So sánh theo chiều dọc để xem xét tỷ trọng của từng chỉ tiêu so với tổng thể, so sánh theo chiều ngang của nhiều kỳ để tháy sự biến đổi cả về số lượng tương đối và tượng đối của một chỉ tiêu nào đó qua các niên độ kế toán liên tiếp. Phương pháp phân tích tỷ lệ Phương pháp này dựa trên ý nghĩa chuẩn mực, các tỷ lệ của đại lượng tài chính trong quan hệ tài chính. Sự biến đổi các tỷ lệ là sự biến đổi của các đại lượng tài chính .Về nguyên tắc, phương pháp tỷ lệ yêu cầu phải xác định các định mức để nhận xét, đánh giá tinh hình tài chính trên cơ sở so sánh các tỷ lệ của doanh nghiệp với các tỷ lệ tham chiếu. Trong phân tích tài chính doanh nghiệp các tỷ lệ tài chính được phân thành các nhóm tỷ lệ tài chính đặc trưng, phản ánh những nội dung cơ bản theo các mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp. Đó là các nhóm, tỷ lệ về khả năng thanh toán, nhóm tỷ lệ về cơ cấu vốn và nguồn vốn, nhóm tỷ lệ về năng lực hoạt động kinh doanh, nhóm tỷ lệ về khả năng sinh lời. Mỗi nhóm tỷ lệ lại bao gồm nhiều tỷ lệ phản ánh riêng lẻ, từng bộ phận của hoạt động tài chính trong mỗi trường hợp khác nhau, tuỳ theo giác độ phân tích người phân tích lựa chọn các nhóm tỷ lệ khác nhau để phục vụ mục tiêu phân tích của mình. II. Báo cáo kế toán tài chính tài liệu chủ yếu sử dụng trong phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp 1.Khái niệm và vai trò của báo cáo kế toán tài chính +Báo cáo tài chính là những bản báo cáo được lập dựa vào nhưng bản báo cáo được lập dựa vào phương pháp kế toán tổng hợp số liệu từ các sổ -9- Luận văn tốt nghiệp sách kế toán, theo các chỉ tiêu tài chính phát sinh tại những thời điểm nhất định. Các báo cáo tài chính phản ánh một hệ thống tình hình tài sản của đơn vị tại những thời điểm, kết quả hoạt động kinh doanh và tình hình sử dụng vốn trong thời hạn nhất định. Đồng thời được giải trình giúp cho các đối tượng sử dụng thông tin tài chính nhận biết được thực trạng tài chính, tình hình sản xuất kinh doanh của đơn vị để ra quyết định phù hợp. + Tác dụng và ý nghĩa của báo cáo tài chính. °Trong nền kinh tế thị trường, đối tượng sử dụng các thông tin kinh tế rất rộng rãi: Các nhà quản lý nhà nước, quản lý doanh nghiệp, cổ đông chủ đầu tư, chủ tài trợ. Vì vậy, báo cáo tài chính có vai trò quan trọng mà cụ thể là : + Cung cấp những chỉ tiêu kinh tế tài chính cần thiết, giúp kiểm tra phân tích một cách tổng hợp toàn diện, có hệ thóng tình hình sản xuất kinh doanh, tình hình thực hiện các chỉ tiêu tài chính chủ yếu của doanh nghiệp. + Cung cấp nhưng thông tin số liệu để kiểm tra, giám sát tình hình hạch toán kinh doanh, tình hình chấp hành các chế độ kinh tế - tài chính của doanh nghiệp. +Cung cấp những thông tin và số liệu cần thiết để phân tích đánh giá những khả năng và tiềm năng kinh tế tài chính của doanh nghiệp, giúp cho công tác dự báo và lập kế hoạch tài chính ngắn hạn và dài hạn của doanh nghiệp. ˜Ngoài các vai trò trên báo cáo kế toán tài chính còn có nhiều tác dụng đối với người sử dụng các thông tin tài chính. + Đối với các nhà quản lý doanh nghiệp: dựa vào các báo cáo kế toán tài chính để nhận biết và đánh giá khả năng, tiềm lực của doanh nghiệp, tình hình vốn công nợ, thu chi tài chính để ra các quyết định cần thiết, thực hiện có hiệu quả các mục tiêu của doanh nghiệp. + Đối với các tổ chức cá nhân ngoài doanh nghiệp như các nhà đầu tư, chủ nợ, ngân hàng các đối tác kinh doanh ... Dựa vào các báo cáo kế toán tài chính để doanh nghiệp để phân tích, đánh giá thực trạng kinh doanh và tài - 10 - Luận văn tốt nghiệp chính của doanh nghiệp, để quyết định phương hướng và quy mô đầu tư, khả năng hiệp tác, liên doanh cho vay. +Đối với các cơ quan chức năng, cơ quan quản lý nhà nước dựa vào các báo cáo kế toán tài chính doanh nghiệp để kiểm tra, kiểm soát hoạt động kinh doanh, hoạt động tài chính tiền tệ của doanh nghiệp có đúng chính sách, chế độ và pháp luật không, tình hình hạch toán chi phí, giá thành, tình hình thực hiện nghiệp vụ với Nhà nước và khách hàng. - 11 - Luận văn tốt nghiệp 2. Yêu cầu và trách nhiệm, thời hạn lập và gửi báo cáo tài chính Theo quyết định 167/ Bộ Tài Chính tất cả các doanh nghiệp phải lập và gửi các báo cáo tài chính theo đúng quy định của chế độ kế toán doanh nghiệp. Riêng báo cáo lưu chuyển tiền tệ tạm thời chưa quy định là báo cáo bắt buộc phải lập và gửi nhưng khuyến khích các doanh nghiệp lập và sử dụng các báo cáo lưu chuyển tiền tệ. + Yêu cầu đối với báo cáo tài chính - Báo cáo tài chính phải được lập đúng mẫu theo quy định của Bộ tài chính đã ban hành như các bảng CĐKT, báo cáo kết quả kinh doanh, thuyết minh báo cáo tài chính. - Báo cáo tài chính phải đảm bảo độ chính xác nghĩa là các thông tin số liệu trên báo cáo phải phản ánh đúng thực trạng tài sản, nguồn vốn cũng như tình hình sản xuất kinh doanh của công ty. - Báo cáo tài chính phải đảm bảo tính khách quan đó là việc báo cáo tài chính được công khai cho các cơ quan chức năng, các nhà đầu tư… - Báo cáo tài chính phải được trình bày một cách rõ ràng, dễ hiểu đảm bảo cho quá trình kiểm tra, đối chiếu được thuận lợi. +Thời hạn lập và gửi báo cáo tài chính doanh nghiệp: Báo cáo tài chính của các doanh nghiệp phải lập và gửi vào cuối quý, cuối năm tài chính cho các cơ quan quản lý Nhà nước và cho các doanh nghiệp cấp trên theo quy định. Trường hợp có công ty con ( công ty trực thuộc ) thì phải gửi kèm bản sao báo cáo tài chính cùng quý, cùng năm của công ty con. - Đối với các doanh nghiệp Nhà nước. Các doanh nghiệp hạch toán độc lập và hạch toán phụ thuộc Tổng công ty, và các doanh nghiệp hạch toán độc lập không nằm trong các Tổng công ty, thời hạn gửi báo cáo tài chính năm chậm nhất là 30 ngày kể từ ngày kết thúc năm tài chính. Đối với Tổng công ty, thời hạn gửi báo cáo tài chính chậm nhất là 90 ngày kể từ ngày kết thúc năm tài chính. - 12 - Luận văn tốt nghiệp -Đối với các doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh, thời hạn gửi báo cáo tài chính chậm nhất là 30 ngày kể từ ngày kết thúc năm tài chính. - Đối với các công ty TNHH, công ty cổ phần, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các loại hình hợp tác xã, thời hạn gửi báo cáo tài chính chậm nhất là 90 ngày kể từ ngày kết thúc năm tài chính. -Đối với các doanh nghiệp có năm tài chính kết thúc không vào ngày 31/12 hàng năm thì phải gửi báo cáo tài chính quý IV (quý kết thúc) vào ngày 31/12 và có số luỹ kế từ đầu năm tài chính đến hết ngày 31/12 +Nơi nhận báo cáo tài chính Nơi nhận báo cáo Sở thống DN cấp Các loại doanh Thời hạn Sở tài Cục nghiệp lập báo cáo chính thuế kê trên đăng ký KD x x x x x x x x 1. Doanh nghiệp Quý, năm nhà nước 2.Doanh nghiệp Năm có vốn ĐTNN 3.Các loại doanh Năm x nghiệp khác Cơ quan x x 3.Nội dung của hệ thống báo cáo tài chính - Báo cáo tài chính quy định cho các doanh nghiệp bao gồm 4 biểu mẫu sau: +Bảng cân đối kế toán (Mẫu số B01-DN) +Bảng kết quả hoạt động kinh doanh (Mẫu số B02-DN) +Lưu chuyển tiền tệ ( Mẫu số B03-DN) +Thuyết minh báo cáo tài chính (Mẫu số B09- DN)  Ngoài ra ,để phục vụ yêu cầu quản lý kinh tế tài chính,yêu cầu chỉ đạo điều hành các nghành,các Tổng công ty ,các tập đoàn sản xuất, liên hiệp xí nghiệp, các công ty liên doanh ... có thể quy định thêm các báo cáo tài chính chi tiết khác. a. Bảng cân đối kế toán Khái niệm và kết cấu của bảng cân đối kế toán - 13 - Luận văn tốt nghiệp Bảng cân đối kế toán là báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh tổng quát tình hình tài sản của doanh nghiệp theo giá trị tài sản và nguồn hình thành tài sản tại một thời điểm nhất định, là tài liệu quan trọng để phân tích đánh giá một cách tổng quát tình hình và kết quả kinh doanh, trình độ sử dụng vốn và triển vọng kinh tế tài chính của doanh nghiệp. Bảng cân đối kế toán chia làm hai phần: Phần “Tài sản” và phần “Nguồn vốn” được trình bày dưới dạng 1 phía (bảng cân đối báo cáo ) hoặc hai phía (bảng cân đối kế toán ). + Phần tài sản - Phản ánh hai loại tài sản là TSCĐ và TSLĐ. Xét về mặt kinh tế, các chỉ tiêu của bảng cân đối kế toán thể hiện vốn bằng tiền của doanh nghiệp có ở thời điểm lập bảng cân đối kế toán .Xét về mặt pháp lý ,đây là vón thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp. + Phần nguồn vốn - Phản ánh các nguồn hình thành tài sản của doanh nghiệp bao gồm công nợ và vốn chủ sở hữu .Xét về mặt kinh tế ,đây là các chỉ tiêu thể hiện các nguồn tài sản mà doanh nghiệp hiện có. Xét về mặt pháp lý, đây là các chỉ tiêu thể hiện trách nhiệm pháp lý về mặt vật chất của doanh nghiệp đối với các đối tượng góp vốn cho doanh nghiệp kinh doanh. + Bảng cân đối kế toán là tài liệu quan trọng đối với việc đánh giá khái quát tình hình và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, trình độ sử dụng vốn và những triển vọng kinh tế tài chính của doanh nghiệp.Các đặc điểm sau đây của nó rất hữu ích cho việc phân tích tài chính doanh nghiệp : - Các chỉ tiêu được phản ánh dưới hình thức giá trị nên nó cho phép tổng hợp, đánh giá toàn bộ tài sản. - Bảng cân đối kế toán bao gồm hai phần tài sản và nguồn vốn,do vậy tổng tài sản và tổng nguồn vốn luôn bằng nhau. - 14 - Luận văn tốt nghiệp Thông qua các đẳng thức của bảng cân đói kế toán,ta có thể đánh giá được thực trạng tài chính của doanh nghiệp. b. Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh .Khái niệm Báo cáo hoạt động kinh doanh là báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh tổng quát tình hình và kết quả kinh doanh trong một kỳ kế toán của doanh nghiệp chi tiết theo từng hoạt dộng kinh doanh chính và các hoạt động kinh doanh khác, tình hình thực hiện các nghĩa vụ với nhà nước về thuế và các khoản phải nộp khác. . Kết cấu của bảng báo cáo kết quả kinh doanh Báo cáo kết quả kinh doanh gồm 3 phần : Phần I :Lãi ,lỗ. Phần này phản ánh kết quả kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh ,hoạt động tài chính và hoạt động bất thường. Phần II:Tình hình thực hiện nghĩa vụ với nhà nước. Phần này phản ánh tình hình thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước về thuế, phí,lệ phí và các khoản phải nộp khác. Phần III : Thuế GTGT được khấu trừ, đã khấu trừ, thuế GTGT được hoàn lại, thuế GTGT được giảm, thuế GTGT hàng bán nội địa. Phản ánh số thuế GTGT được khấu trừ đã khấu trừ, còn được khấu trừ cuối kỳ; thuế GTGT được giảm, đã giảm và còn được giảm cuối kỳ thuế GTGT hàng bán nội địa còn phải nộp đầu kỳ, thuế GTGT đầu ra phát sinh, thuế GTGT hàng bán nội địa đã nộp vào Nhà nước và còn phải nộp cuối kỳ. * Nguồn gốc số liệu để lập báo cáo - Căn cứ vào báo cáo kết quả kinh doanh của kỳ trước - Căn cứ vào sổ kế toán trong kỳ dùng cho các tài khoản từ loại 5 cho đến loại 9 và tài khoản 133 “ Thuế GTGT được khấu trừ’’.Tài khoản 333 “ Thuế và các khoản phải nộp Nhà nước’’. c. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ - 15 - Luận văn tốt nghiệp  Khái niệm mục đích lập báo cáo Nếu bảng cân đối kế toán cho biết nguồn lực của cải và nguồn gốc của những tài sản đó; báo cáo kết quả kinh doanh cho biết thu nhập và chi phí phát sinh để tính kết quả lãi lỗ trong kỳ kinh doanh thì báo cáo lưu chuyển tiền tệ được trả lời các vấn đề liên quan đến luồng tiền vào, ra trong doanh nghiệp, tình hình tài trợ đầu tư bằng tiền của daonh nghiệp trong từng thời kỳ. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là báo cáo tài chính tổng hợp phản ánh việc hình thành và sử dụng lượng tiền phát sinh trong kỳ báo cáo của doanh nghiệp. Dựa vào báo cáo lưu chuyển người ta có thể đánh giá khả năng tạo ra tiền, sự biến động của tài sản thuần của doanh nghiệp, khả năng thanh toán của doanh nghiệp và dự đoán luồng tiền trong kỳ tiếp theo. Chính vì vậy, mục đích của báo cáo lưu chuyển tiền tệ là nhằm trình bày cho người sử dụng biết tiền tệ được sinh ra bằng cách nào và doanh nghiệp đã sử dụng chúng như thế nào trong kỳ báo cáo. Người sử dụng báo cáo lưu chuyển tiền tệ sẽ tiến hành phân tích, đánh giá và sử dụng các mặt chính sau đây: 1-Dự đoán các lượng tiền mang lại từ hoạt động trong tương lai của doanh nghiệp thông qua việc xem xét việc thu và chi tiền trong quá khứ. 2-Đánh giá khả năng thanh toán của doanh nghiệp. 3- Chỉ ra mối quan hệ giữa lãi (lỗ) ròng và luồng tiền tệ bởi doanh nghiệp sẽ không thu được lợi nhuận nếu hoạt động kinh doanh của họ thiếu tiền. 4- Xác định nhu cầu tài chính cần thiết trong tương lai của doanh nghiệp như nhu cầu đầu tư TSCĐ, đầu tư nghiên cứu sản phẩm mới, đánh giá khả năng sinh lợi ... Nội dung và kết cấu của báo cáo Báo cáo lưu chuyển tiền tệ gồm 3 phần : Phần I: Lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động sản xuất kinh doanh: - 16 - Luận văn tốt nghiệp Phản ánh toàn bộ dòng tiền thu vào và chi ra liên quan trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như tiền bán hàng tiền thu từ các khoản phải thu thương mại, các chi phí bằng tiền như tiền trả cho người cung cấp (trả ngay trong kỳ là khoản tiển trả cho các khoản nợ từ kỳ trước ), tiền thanh toán cho công nhân viên về tiền lương và BHXH ...các khoản chi phí khác bằng tiền (chi phí văn phòng phẩm, công tác phí ...) Phần II : Lưu chuyển tiền từ hoạt động đầu tư . Phản ánh dòng tiền thu vào và chi ra có liên quan trực tiếp đến hoạt động đầu tư của doanh nghiệp . Hoạt động đầu tư bao gồm : -Đầu tư cơ sở vật chất cho bản thân doanh nghiệp hoạt động xây dựng cơ bản, mua sắm TSCĐ. -Đầu tư vào các đơn vị khác dưới hình thức góp vốn liên doanh, đầu tư chứng khoán, cho vay không phân biệt đầu tư ngắn hạn hay dài hạn. Dòng tiền lưu chuyển được tính toàn bộ các khoản thu do thanh lý, bán TSCĐ, thu hồi các khoản đầu tư vào các đơn vị khác ... và các khoản chi mua sắm, xây dựng TSCĐ, chi để đầu tư vào các đơn vị khác . Phần III. Lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động tài chính Phản ánh toàn bộ dòng tiền thu vào và chi ra liên quan trực tiếp đến hoạt động tài chính của doanh nghiệp. Hoạt động tài bao gồm các nghiệp vụ làm tăng, giảm vốn kinh doanh của doanh nghiệp như chủ doanh nghiệp góp vốn, vay vốn (không phân biệt vay dài hạn hay vay ngắn hạn ), nhận vốn liên, doanh phát hành cổ phiếu, trái phiếu trả nợ vay ... Dòng tiền lưu chuyển được tính bao gồm toàn bộ các khoản thu, chi liên quan như tiền vay nhận được, tiền thu được như góp vốn liên doanh bằng tiền, do phát hành cổ phiếu trái phiếu bằng tiền, thu lãi tiền gửi. Phương pháp lập báo cáo lưu chuyển tiền tệ Báo cáo lưu chuyển tiền tệ được lập theo phương pháp gián tiếp và trực tiếp. Sự khác biệt ở hai phương pháp này là điểm xuất phát và căn cứ để xác - 17 - Luận văn tốt nghiệp định lưu chuyển tiền của hoạt động kinh doanh. Đối với lưu chuyển tiền từ hoạt động đầu tư và hoạt động tài chính cách lập của hai phương pháp là giống nhau. - 18 - Luận văn tốt nghiệp -Phương pháp gián tiếp Theo phương pháp này báo cáo lưu chuyển tiền tệ được lập bằng cách điều chỉnh lợi tức trước thuế của hoạt động sản xuất, kinh doanh khỏi ảnh hưởng của các nghiệp vụ không trực tiếp thu tiền huặc chi tiền đã làm tăng, giảm lợi tức loại trừ các khoản lãi lỗ của hoạt động đầu tư và hoạt động tài chính đã tính vào lợi nhuận trước thuế, điều chỉnh các khoản mục thuộc vốn lưu động . -Phươ ng pháp trực tiếp: Theo phương pháp này báo cáo lưu chuyển tiền tệ được lập bằng cách xác định và phân tích trực tiếp các khoản thực thu, chi bằng tiền trên các sổ kế toán vốn bằng tiền theo từng loại hoạt động và theo nội dung thu chi . d. Thuyết minh báo cáo tài chính Thuyết minh báo cáo tài chính là báo cáo nhằm thuyết minh và giải trình bằng lời, bằng số liệu một số chỉ tiêu kinh tế - tài chính chưa được thể hiện trên các báo cáo tài chính trên. Bản thuyết minh này cung cấp thông tin bổ sung cần thiết cho việc đánh giá kết quả kinh doanh của doanh nghiệp trong năm được chính xác. Khi lập báo cáo thuyết minh cần chú ý : -Phần trình bày bằng lời phải ngắn gọn, rõ ràng dễ hiểu. Phần trình bày bằng số liệu phải thống nhất trên số liệu các báo cáo khác . - Đối với báo cáo quý, các chỉ tiêu thuộc phần chế độ kế toán áp dụng tại doanh nghiệp phải thống nhất trong cả niên độ kế toán. Nếu có sự thay đổi phải trình bày lý do thay đổi. -Trong các biểu số liệu, các cột số liệu thể hiện số kế hoạch của kỳ báo cáo, cột số thực hiện kỳ trước thể hiện số liệu của kỳ ngay trước kỳ báo cáo. - Các chỉ tiêu đánh giá khái quát tình hình hoạt động của doanh nghiệp chỉ sử dụng trong thuyết minh báo cáo tài chính năm. - 19 - Luận văn tốt nghiệp Theo chế độ kế toán hiện hành thì căn cứ vào 4 chuẩn mực kế toán đã ban hành theo Quyết định số 149/2000/QĐ/BTC ngày 31-12-2001 của bộ tài chính (mẫu B09-DN ) đã được giải thích và bổ xung một số chỉ tiêu. Các báo cáo tài chính doanh nghiệp có mối liên hệ mật thiết với nhau, mỗi sự thay đổi một chỉ tiêu trong báo cáo này hoặc trực tiếp hay gián tiếp ảnh hưởng tới báo cáo kia, trình tự đọc hiểu và kiểm tra các báo cáo tài chính phải được bắt đầu từ báo cáo kết quả kinh doanh và báo cáo lưu chuyển tiền tệ kết hợp với bảng cân đối kế toán kế toán để đọc kiểm tra bảng cân đối kế toán này . III.Nội dung phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp 1. Đánh giá khái quát tình hình tài chính doanh nghiệp. Đánh giá khái quát tình hình tài chính doanh nghiệp sẽ cung cấp một cách tổng quát nhất tình hình trong kinh doanh của doanh nghiệp là khả quan hay không. Điều đó cho phép chủ doanh nghiệp thấy rõ thực chất của quá trình sản xuất kinh doanh và dự đoán được khả năng phát triển hay chiều hướng suy thoái của doanh nghiệp. Qua đó, có những giải pháp hợp lý để quản lý. Thứ nhất -Phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn trong doanh nghiệp. - Phân tích diễn biến vốn và sử dụng vốn là quá trình xem xét và đánh giá sự thay đổi các chỉ tiêu cuối kỳ so với đầu kỳ trên BCĐKT về nguồn vốn và cách thức sử dụng vốn của doanh nghiệp. Để tiến hành phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn trước tiên người ta trình bày BCĐKT bảng cân đối báo cáo từ tài sản đến nguồn vốn. Sau đó so sánh số liệu đầu kỳ so với cuối kỳ trong từng chỉ tiêu của bảng cân đối kế toán để xác định tình hình tăng giảm vốn trong doanh nghiệp theo nguyên tắc: + Tăng các khoản nợ phải trả, tăng vốn chủ sở hữu cũng như một sự giảm tài sản của doanh nghiệp chỉ ra sự diễn biến của nguồn vốn. - 20 -
- Xem thêm -