Tài liệu Bạn văn 2 - nguyễn quang lập

  • Số trang: 259 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 1367 |
  • Lượt tải: 0
Itteen

Đã đăng 56 tài liệu

Mô tả:

Bạn văn 2 - Nguyễn Quang Lập
Võ Lão Nông, tình anh bán chiếu Võ Lão Nông là nick name của Võ Đắc Danh. Nó lập blog đầu tiên ghi là Người nông dân cầm bút, sau sang facebook đổi tên là Võ Lão Nông. Từ ngày mình vô Sài Gòn chỉ nhậu loanh quanh với năm, bảy anh em trong đó có nó. Lúc mình ở Miếu Nổi bên này kênh Nhiêu Lộc, nó ở bên kia kênh Nhiêu Lộc, hú cái là nó vọt sang ngay. Bây giờ mình về Thảo Điền thì nó về Nhà Bè làm cái nhà vườn đẹp mê tơi, cứ một tháng đôi lần mình lại về nhà nó nhậu. Ngồi nhậu ở đấy thật đã. Nhà vườn Võ Đắc Danh thật đặc sắc, có hồ cá ao sen, hoa quả sum suê mùa nào thức ấy, có nhà nuôi yến mỗi tháng kiếm được vài ba cân. Đặc biệt có cái nhà rường là bảo tàng nông cụ miền Tây, ở đấy có cái cày, cái cối xay, cái xe trâu đã mấy trăm năm, có cối đá người Chàm chí ít cũng 2 Bạn văn 2 500 năm có lẻ. Có lẽ đại gia địa chủ ngày xưa cũng khó có được ngôi nhà vườn như nó. Rõ là ông nông dân cầm bút, sống ở thị thành vẫn cố mang về hương đồng gió nội chốn quê nhà Cà Mau của nó. Mình quen Võ Đắc Danh từ lúc nào không nhớ nữa, chỉ nhớ lần đầu mình ngồi nhậu với nó vào năm 2009. Khi đó vào dịp cuối năm, một hôm nó gọi điện cho mình, nói tuần tới anh đi đâu không. Mình nói không. Nó nói rồi, mấy ngày nữa em ra Hà Nội nhậu với anh. Mình hỏi ra Hà Nội làm gì. Nó bảo nhận cái giải bút kí “Cổ tích trên đỉnh mồ côi” của báo Văn Nghệ. Mình hỏi giải mấy. Nó cười khì khì, nói hỏi chi kì vậy ta, không giải nhất thì giải gì nữa. Trước đó mình không đọc của nó bất kì cái gì, nó có gửi tặng hai tập sách mình cũng chưa đọc. Mấy món bút kí phóng sự hồi nhỏ mê lắm, về già hết hứng thú. Thú thật ngoài kí của Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Tuân, Phan Nhật Nam mình không đọc kí của ai nữa. Biết nó sắp ra, bạn bè không đọc của nhau ngồi với nhau khó nói chuyện, mình tắc lưỡi tìm đọc cái giải nhất của nó xem thế nào, chẳng ngờ đọc xong lại ngồi ứa nước mắt. “Cổ tích trên đỉnh mồ côi” kể về hai má con dì Ba và anh Bông đã nhận nuôi 12 đứa trẻ bị bỏ rơi từ các bệnh viện. Cái kí đọc một lần là nhớ đời. Mình là chúa hay quên tên, đến tên nhân vật tiểu thuyết của mình cũng phải nhờ thằng Nguyên (Phạm Xuân Nguyên) nhắc giùm nhưng tên hai má con dì Ba và anh Bông khiến mình nhớ mãi. Thằng này viết thật khéo, nó cứ kể tưng tửng vậy thôi mà ứa nước mắt. Nhớ nhất câu Nguyễn Quang Lập 3 nói của anh Bông, khi người ta hỏi sao không lấy vợ, anh nói: “Tụi nó đã khổ từ trong bào thai rồi, tôi không muốn tụi nó phải khổ vì mẹ ghẻ”. Cái câu này mình cũng nhớ như in, vì lời nói chân chất của anh Bông lại chính là một câu thoại rất đặc sắc, nó vừa đưa thông tin, vừa thể hiện tính cách nhân vật và chứa đựng cái “ý tại ngôn ngoại” về tấm lòng một người cha của những đứa trẻ mồ côi. Mình tìm lại hai tập bút kí nó tặng mình, Nỗi niềm U Minh Hạ và Đồng cỏ chát, đọc một lèo trắng đêm. Tuổi già đọc vài chục trang đã mỏi mắt đau lưng nhưng đọc hai tập sách của nó mình không biết mỏi mệt là gì... Đồng cỏ chát, Thà đui mà giữ đạo nhà, Chiều chiều ra đứng ngõ sau, Chuyện cũ, Gã khùng, Nỗi niềm sinh tử bên rìa “công thổ quốc gia”, Đứa con nuôi, Đất lên tình người xuống, Nữ hoàng áo bà ba, Chị Phượng, Ông Kỳ Phùng, Thế giới người điên, Bần nông lên ngôi vua, Bà chúa vỉa hè... quá nhiều những số phận lạ lùng, chắc chắn nó đã tìm thấy chứ nó không bịa, dù giàu tưởng tượng đến mấy cũng khó bịa ra được những số phận như vậy. Hôm nó nhận giải tại Nhà hát lớn mình cũng đến, vì nó nhận giải mình mới đến chứ chẳng mấy khi mình đến mấy nơi đông vui công cộng thế này. Người ta xướng tên, vẫn mặc bộ đồ lùi xùi hôm qua vừa xuống sân bay nó lúi húi lên sân khấu, nhận xong cái bằng nó lúi húi về chẳng phát biểu phát beo gì cả. Đang khi người ta thi nhau phát biểu về sự thành công của giải, nó bấm mình, nói đi anh. Mình kéo áo nó rỉ tai, nói mày không ngồi lại nghe khen à, người ta đang 4 Bạn văn 2 khen mày ầm ầm đó kìa. Nó cười khì chặc lưỡi, nói chà, biết rồi khổ quá nói mãi... rồi kéo mình ra khỏi hội trường. Bữa hôm đó ở Cá lăng Toàn Thắng mình với nó nhậu say sưa với Phạm Ngọc Tiến, Bảo Ninh, Phạm Xuân Nguyên, Nguyễn Việt Hà. Mọi người khen nó viết kí thân phận số một Việt Nam. Nó xua xua tay, nói thôi thôi, em lạy các bác, các bác đừng cho em lên mây nữa. Chẳng qua kiếp trước em sống không ra gì kiếp này trời mới hành em vậy. Mọi người cười, nói thôi đi ông ơi, tụi này chán món khiêm tốn lắm rồi. Nó nhìn mọi người rất nghiêm túc, nói em nói thiệt đó, nhiều khi nghĩ đến những gì mình đã viết thấy mắc cỡ muốn chết, không dám đọc lại. Bảo Ninh trợn mắt lên, nói viết thế còn mắc cỡ thì viết thế nào để tự hào đây, ô kìa! Nó rầu rầu nhìn Bảo Ninh, nói là em mắc cỡ với nhân vật của mình. Mỗi lần mình viết về họ tên tuổi mình lại nổi lên chút đỉnh trong khi họ vẫn vậy, vẫn khổ đau, vẫn oan ức, vẫn bị đày đọa... cực thấy mồ. Nói đến đó thì nó im, mắt rưng rưng. Như sực nhớ ra, nó gạt nước mắt cười cái xoẹt, nói thôi nói chuyện chi cho vui đi, chuyện nghề ngỗng buồn lắm. Rồi nó ép người này uống người kia uống, nói uống đi uống đi rồi tui ca vọng cổ cho nghe. Ngồi nhậu nó thường ít nói nhưng khi đã nói thì nói rất nhiều, sướng lên nó còn ca vọng cổ rất hay, mình nghe nó ca đi ca lại Tình anh bán chiếu không biết bao nhiêu lần vẫn cứ thích nghe nữa. Nó có cả kho chuyện tiếu lâm đời mới, chuyện nào chuyện nấy cười vỡ bụng. Một hôm ăn cháo Nguyễn Quang Lập 5 hàu, nó hỏi anh biết cháo hàu còn gọi là cháo gì không. Mình nói không. Nó bảo cháo l. ngâm, mình ôm bụng cười rũ. Nó nói cười cái gì, dân mình hay đặt tên gần gũi họ thôi chứ hàu là cái gì ai biết. Nó kể có ông chồng bảo vợ nấu cháo l. ngâm đãi bạn. Mấy ông bạn ăn xuýt xoa khen ngon. Bà vợ thích lắm, nói em mới ngâm có nửa tiếng phải vội đi đón cháu, nếu để em ngâm lâu chắc còn ngon nữa. Hi hi. Tan cuộc nhậu nào nó cũng lừ đừ khật khừ, cứ tưởng thằng này rồi phải nằm bẹp mấy ngày, té ra không, sáng sớm gọi uống cà phê nó đã vọt đi miền Tây từ hồi nào. Cái nhà vườn đẹp thế cũng chỉ là chỗ tạm trú, đất sống của nó là những nơi những người nông dân đau khổ đang sống, ấy là nơi bùn lầy, chỗ hoang vu, chốn xơ xác, bến tiêu điều... Lắm kẻ chỉ nghĩ đến việc phải đến đó thôi cũng đã phải rùng mình kinh sợ. Suốt đời nó gắn bó với những người bất hạnh, đói rách lầm than, bị vùi dập - bị lừa đảo - bị đổ oan - bị đày đọa... Nó vừa viết vừa làm phim. Dòng phim tài liệu thân phận của nó cũng hay không kém hơn trăm cái bút kí thân phận của nó. Không phải bạn bè rồi tâng nhau, nói thật ai đã từng xem mấy phim Con trâu, Nỗi niềm U Minh Hạ, Nhức nhối một vùng quê của nó nếu không chảy nước mắt cũng đêm về khó ngủ. Một lần ở Miếu Nổi, đang đêm xem ti vi phát lại phim Con trâu, phim làm đã khá lâu, được giải liên hoan phim Bông sen vàng lần thứ 12 từ năm 1998 thì phải. Xem xong ngồi ngẩn ngơ, xem lại vẫn cứ hay như thường. Mình gọi nó sang quán 36, nói vừa xem xong Con trâu, bỗng dưng muốn nhậu với 6 Bạn văn 2 mày quá. Nó cười khì khì, nói anh tính kêu tui sang để khen phải không. Chà, biết rồi khổ quá nói mãi. Mình cụt hứng, cáu, nói tao thèm vào nịnh mày, nịnh mày thì được cái éo gì. Nó cười khì khì cúi mặt uống, hồi sau nó ngước lên thấy mắt nó ướt sũng nước. Mình hỏi sao khóc. Nó cười không nói gì. Ngồi im hồi lâu nó mới lau nước mắt thở dài, nói ai không thích khen. Viết văn làm phim loại cà mèng như tui được khen sướng lắm chứ. Nhưng lạ lắm anh ạ, cứ ai khen tui là tui lại nhớ nhân vật của mình, tự dưng buồn nẫu ruột. Quán nhậu đêm vắng khách. Hai anh em ngồi nhậu cho tới khuya, chẳng ai nói với ai. Khi rượu đã ngấm nó mới thủ thỉ tâm sự, khi em khi tui, nói hồi mới vào nghề, còn trẻ hăng máu vịt lắm, tui nghĩ mình phải giống ông Lục Vân Tiên “cứu nhơn độ thế”. Tui say sưa kiếm những số phận hẩm hiu để mong làm cho họ đổi đời. Nhưng càng về sau thì càng nhận ra rằng đó chỉ là điều hoang tưởng. Rốt cuộc mình không cứu được đời họ, chưa gặp mình họ đã khổ đau, gặp mình rồi họ vẫn khổ đau, có khác chi đâu. Nó ngừng lại khẽ thở dài, nói nhiều khi em muốn bỏ nghề nhưng trời không cho bỏ, cực quá trời luôn. Nó im lặng uống nốt chén rượu rồi đứng dậy, nói thôi em về đây, xỉn rồi. Vừa đứng lên nó lại rơi phịch xuống ngồi ngẩn ngơ, nói anh biết vì sao tui hay ca Tình anh bán chiếu không. Cái anh bán chiếu giống anh cầm bút vậy. Yêu đời thương đời nhưng thấy đời cực quá mà mình chẳng làm gì tốt để giúp đời thì xấu hổ muốn chết luôn, muốn chết luôn anh ạ. Nguyễn Quang Lập 7 Nó cầm chén rượu không còn một giọt rượu lên soi đi soi lại, chừng muốn uống thêm chừng muốn úp chén. Và nó hát, hát say sưa. Chiếu Cà Mau nhuộm màu tươi thắm,/ công tôi cực lắm mưa nắng dãi dầu./ Chiếu này tôi chẳng bán đâu... 8 Bạn văn 2 Nhớ Trúc Cương Chủ nhật buồn thiu, đến trưa càng buồn hơn, chẳng thiết làm gì cả. Mò mạng thấy bài thơ của Trúc Cương nhắc đến mấy ông sâu rượu trong làng văn, thấy hay hay - Một nửa đời Mai, thơ đã nuốt/ Nửa đời sau, rượu uống nốt Mai rồi/ Rót một ly này đưa Định Nguyễn/ Hà Nội còn Tạ Vũ, Trúc Cương - Tôi. Mai là Trần Vũ Mai, đúng là nửa đời sau rượu đã nuốt Trần Vũ Mai, chừng bốn mươi tuổi anh đã nát rượu. Tiếc quá là tiếc. Thơ anh hay đã đành, anh còn nổi tiếng là một biên tập viên đỡ đầu cho nhiều cuốn sách nổi tiếng ra đời. Biên tập xuất bản ngày nay đa phần làm cái việc cực đơn giản là chấm chính tả, mấy ai có con mắt xanh được như Trần Vũ Mai, mình đã nói rồi thôi không nói nữa. Trúc Cương cũng thuộc loại có con mắt xanh, là nghe anh Phùng Quán nói thế chứ mình không biết nhưng mình tin, anh Quán không khen lăng nhăng bao giờ. Là cộng tác Nguyễn Quang Lập 9 viên ruột Nhà xuất bản Văn hóa - dân tộc mấy chục năm, nơi Trúc Cương làm biên tập, anh Quán đã phán thế chắc chẳng sai. Cuốn sách đầu tiên của Nhà xuất bản Văn hóa - dân tộc từ ngày đầu mới thành lập năm 1976 đều do Trúc Cương biên tập là Trường Ca Đam San do Đào Tử Chí biên soạn là công trình rất sáng giá cũng đủ biết con mắt xanh của anh. Nhưng thôi, đang nói chuyện sâu rượu. Trúc Cương còn nát rượu sớm hơn Trần Vũ Mai, năm 1985 mình gặp anh lần đầu tại nhà Phùng Quán đã thấy anh nát rượu rồi. Khi đó đang mùa đông, sáng sớm nhà anh Quán chưa mở cửa. Mình và anh Quán đang nằm co ro trong chăn chợt có tiếng đập cửa rầm rầm, nghe có tiếng hai người thi nhau gọi, nói Phùng Quán đâu Phùng Quán đâu, mở cửa mở cửa, cấp cứu cấp cứu. Anh Quán vùng dậy mở cửa, hai người đàn ông một cao to một nhỏ thó, ai nấy đầu bù tóc rối, áo quần nhếch nhác. Người cao to bước vào cửa đã nói oang oang là Tạ Vũ. Người kia là Trúc Cương, rét quá anh đứng khóm róm, tay cầm chai rượu run run, răng đánh cầm cập nhưng miệng cười rất tươi, nói có chai rượu ngon, không có mồi ngon uống phí rượu. Anh Tạ Vũ nói mồi ngon chỉ có nhà Phùng Quán. Anh Quán cười cười cầm chai rượu lắc lắc, nói được có nửa chai cứ làm như có cả thùng phuy. Trúc Cương cười hì hì, nói hai anh em xách chai rượu từ nhà đến đây lộ phí mất nửa chai. Tạ Vũ chỉ Trúc Cương giọng như lệnh vỡ, nói tại thằng này, tao đã bảo nhịn đi đến nhà Phùng Quán rồi uống, thằng này đéo nhịn được. Trúc Cương lại cười hì hì, nói thì 10 Bạn văn 2 anh cũng có nhịn được đâu. Tạ Vũ trương gân cổ lên cãi, nói mày không nhịn được, ngu gì tao nhịn. Mình cười rũ. Vào cuộc rượu (vừa bét mắt đã uống rượu, kinh!) anh Quán giới thiệu mình, nói đây là Nguyễn Quang Lập, thằng này nó... Trúc Cương xua tay, nói khỏi phải giới thiệu, bạn Phùng Quán tất nhiên là giỏi rồi. Rồi anh tranh nhau nói tranh nhau đọc thơ với Tạ Vũ, chẳng để ý gì đến mình. Khi say nhừ nói đã líu lưỡi anh mới bá vai mình lè nhè, nói anh Quán giới thiệu mày tên cứt gì tao quên mẹ nó rồi. Mình chưa kịp mở mồm anh đã xua tay, nói tao biết rồi, mày làm thơ chứ gì. Bỗng anh vỗ vai mình đánh bốp, nói a tao nhớ rồi, thằng Trần Ninh Hồ vừa bảo mày có cái truyện đéo gì hay lắm. Sáng hôm sau mình đang uống nước chè ở đầu đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, Trúc Cương từ Nhà xuất bản đi ra kéo áo mình, nói đi ăn sáng với tao, có hàng bún ốc tao quen, bán cho Trúc Cương rất rẻ, chỉ một nghìn một bát. Hai anh em đi bộ tới hàng bún gánh bên kia đường. Hi hi tưởng quen thân thế nào, vừa thấy mặt anh bà hàng bún đã lườm, nói chú Cương còn ba nghìn chưa trả nha. Anh cười hiền lành, nói rồi, ăn xong trả hết có gì đâu. Thời này đói lắm, người ta hay ăn bún ốc bún riêu vì rẻ nhưng chủ yếu được ăn rau miễn phí, tha hồ nhét rau cho đầy bụng. Nói tha hồ vậy thôi chứ mình bốc rau bỏ bát nhiều quá người ta cũng xót ruột. Thấy anh Trúc Cương bốc rau lắm quá, bà chủ lườm lên lườm xuống, nói chú Cương ăn bún hay ăn rau? Anh cười hiền lành, nói ăn rau bà ạ, nhà thơ bây giờ vào trong ăn chữ ra ngoài ăn rau. Bà yên tâm đi, ăn một nhúm rau trả bà một cục vàng, may túi ba gang mang đi Nguyễn Quang Lập 11 mà đựng bà nha. Vừa nói anh vừa thò tay bốc rau. Bà chủ chụp lấy tay anh rảy rảy cho rau tuột khỏi tay anh. Người ngồi cạnh nhìn anh cười khinh khỉnh, nói nước mình toàn dân đánh bạc với cả nhà thơ, đói là phải. Xong bữa mình cằn nhằn Trúc Cương, nói đói thì ăn thêm bát nữa, có nhúm rau anh làm ồn chuyện, ngượng chết được. Anh khoác vai mình mặt mày nghiêm trọng, nói chú mày biết không, tao đang trắc nghiệm sự xấu hổ. Mình cười, nói giống Bùi Giáng trắc nghiệm cái sự điên, phải không? Anh gật đầu lia lịa, nói đúng đúng đúng. Hai năm sau dự đại hội nhà văn lần thứ tư, ngày đầu không thấy anh đâu, mình cố tìm mà không thấy. Sang ngày thứ hai, trên diễn đàn anh L. đang phát biểu cái gì đó chung quanh đề tài xây dựng nền văn học nước nhà tiên tiến, hiện đại đậm đà bản sắc dân tộc... ôi chà vân vân. Anh L. nói rất hăng, nhìn phong thái, lời ăn tiếng nói y hệt ông bộ trưởng không phải thằng đầu nậu sách, mình cứ bấm bụng cười. Trúc Cương bỗng đâu xuất hiện, xiêu vẹo đi lên mấy hàng ghế đầu tay cầm micro tay chỉ anh L., nói tôi có ý kiến thằng nào làm tổng thư kí cũng được hết, trừ thằng mặt mẹt kia, đ. mẹ tôi nói xong. Mọi người cười ầm ầm, vỗ tay rần rần. Đến đoạn bầu cử, mấy trăm người được đề cử, duy nhất Trúc Cương tự ứng cử, chẳng ma nào đề cử anh. Bầu lần thứ nhất anh được 2 phiếu, chắc là phiếu của anh và phiếu Tạ Vũ. Tưởng anh rút, nhưng không, anh cứ để nguyên vậy cho bầu lần hai, kết quả lần hai Trúc Cương vẫn hai phiếu. Mình ôm vai anh cười rũ, nói Trúc Cương ơi là Trúc Cương. Anh tỉnh bơ rất nghiêm túc, nói mày ngu lắm, tao đang trắc 12 Bạn văn 2 nghiệm cái sự trơ. Bây giờ mình mới tin Trúc Cương trắc nghiệm thật, nếu không chẳng ai mất thời giờ làm mấy trò vớ vẩn đó. Hết đại hội mình đến Nhà xuất bản Văn hóa - dân tộc thăm anh, nhà anh tít Cầu Giấy xa quá không lên được. Vừa tới hỏi anh đâu ba bốn cô liền xúm lại, nói anh Lập ơi, anh mau xách cổ Trúc Cương ra khỏi cầu thang cho tụi em với. Té ra anh say, nằm đâu không nằm cứ nhè cầu thang bộ nằm vắt ngang. Chị em lên xuống cầu hét ầm anh vẫn không dậy, nói tụi mày mặc váy bước qua anh đi, để anh nhìn cái, tội. Mình cười to tới lôi cổ anh dậy, nói anh đang trắc nghiệm cái sự l. à? Anh tỉnh bơ rất nghiêm túc, nói ừ, l. quan trọng lắm, chúng mày không được xúc phạm l. nghe chưa. Anh kéo mình ra quán. Mình trì lại, nói thôi thôi anh say rồi quán xá làm gì. Anh vẫn lôi đi cho kì được, nói mày phải cho tao trắc nghiệm nốt cái sự say chứ. Mình cười, nói trời đất, say đến thế còn trắc nghiệm cái đéo gì nữa. Mặc, anh cứ lôi vào quán. Được hai ly anh đã say nhừ mềm như bún, lè nhè líu lưỡi, nói mày biết tao viết gì không, văn hay thơ? Tao đéo nhớ tao viết gì nhưng tao thừa nhận tao tài. Hi hi.   Nguyễn Quang Lập 13 Niệu liệu pháp Tối qua ủng hộ anh châu Á thắng anh châu Âu sung sướng trắng đêm, cảm, mệt, lại thêm mấy anh bạn trẻ gọi đi uống rượu ở Hồ Tây, về nhà tính làm một giấc không viết lách gì, chợt nhận được comment thằng Thịnh, nhắc đến “Niệu liệu pháp”, nó bảo viết đi. Thì viết. Vào khoảng năm 1985, 1986 chi đó nhà mình ở 24 Lê Lợi, Huế, cạnh nhà thằng Thịnh, sát ngay Hội Văn nghệ Bình Trị Thiên, 26 Lê Lợi. Sáng đó không biết có việc gì mình sang Hội sớm, thấy chú Khuyến phó chủ tịch hội, đứng đái ở hàng rào. Ông cầm cái ca, đái vào đấy, đầy ca thì bưng vào, trông điệu bộ kính cẩn ca nước đái lắm. Tưởng chú sưng chân, đau chân đái ra để bóp, ai dè chú ngửa cổ tu hết nửa ca, khà một tiếng rất ngon lành. 14 Bạn văn 2 Mình trợn mắt hỏi chú mần chi rứa? Chú không nói không rằng tu hết nửa ca còn lại, lại khà một tiếng ngon lành. Mình cười hè hè chú ni e điên. Ông nói ua cái thằng ni không biết chi hết à, niệu liệu pháp, cả nước đang thực hành. Mình hỏi niệu liệu pháp là chi, ông cười to nói ngu lắm rồi ném cho một tập tài liệu nói xem đi. Mình xem qua, thấy lối tuyên truyền tào lao, Đức Phật nói sao, Giê su nói sao, ông thủ tướng nước nào sáng sáng uống một ca nước đái mà chữa được bệnh tiểu đường, bà Thị trưởng phố nào đó ở Pháp ung thư giai đoạn cuối, uống một trăm ca thì khối u tan, thêm trăm ca nữa thì các ổ di căn biến mất. Toàn chuyện trên trời, mình cười phì nói ri mà chú cũng tin. Ông trợn mắt nói cả thành phố Huế uống hết mình tao đâu, không tin mày hỏi anh Tường, anh Điềm. Vừa lúc anh Điềm xách cặp đi vào, mình hỏi ngay, anh gật đầu nghiêm trang: ừ, mình thực hiện lâu rồi. Không dám hỏi gì thêm anh Điềm mình ra khỏi phòng, cứ ngơ ra không biết sao mà đến anh Điềm cũng uống nước đái từ lâu rồi. Mình xuống gác, thấy anh Vinh Nguyễn vừa đái xong, cầm cái ca đặt lên bàn thờ vái hai vái rồi tu sạch cả ca. Anh nói tao uống mới một tuần mà đại tràng cơ bản đã ngon lành. Cạnh nhà Vinh Nguyễn là nhà chị Hà Khánh Linh, chị đang bưng cái bô từ toilet vào, rót vào cái cốc thủy tinh, nâng cái cốc nước đái lên ngắm nghía rồi nhấp từng ngụm ngon Nguyễn Quang Lập 15 lành. Chị nói chị mới uống có ba buổi sáng mà cái xoang của chị 10 phần đã đỡ đến 6, 7. Rồi chị nói về các giáo lý Phật đã ngụ hết cho mọi người hãy uống nước đái của chính mình, trải qua hơn hai nghìn năm ông gì đó bên Ấn Độ mới ngộ ra cái từ nước nguồn mà Đức Phật nhắc đi nhắc lại nhiều lần chính là nước đái. Mình vẫn không tin, chạy lên anh Tường. Anh đã uống xong ca to, đang ngậm một mồm nước đái, đầu gật gật, ra hiệu đúng đấy đúng đấy. Anh đang ngậm nước tiểu cốt để vững chân răng. Răng anh không vấn đề gì, nhưng anh Vĩ nói răng chắc cặc bền, cặc ông không bền, ông cần củng cố chân răng. Anh Tường ngậm chân răng bằng nước tiểu rất lâu, một ngày nhiều lần là vì lý do đó. Chị Dạ la rầm trời nghe ai mà uống nước đái vậy hả trời, ông Tường ơi là ông Tường, văn hóa ơi là văn hóa. Anh Tường nhìn chị Dạ, cái nhìn khinh thường, nói em thì biết chi. Rồi anh vỗ vai mình ân cần nói về thực hiện đi em, tôốk lắm tôốk lắm. Mình về cơ quan kể cho anh Văn Lợi nghe, anh cười nói tao uống cả nửa năm rồi, ông Điềm là tao bày cho đó. Anh kéo tay tôi nói nhỏ: Ngày xưa tao không biết tại sao mà thằng Nguyễn Quang Hà đêm nào cũng quất năm, sáu phát. Hóa ra nó uống nước đái mà giấu không cho ai biết. Mình hỏi Văn Lợi anh uống thấy răng. Anh nói mắt tao sáng lên hẳn, còn một đêm được ba phát, phát nào phát nấy Tùng sướng rêm. 16 Bạn văn 2 Mình về nói với vợ, vợ kêu lên tởm rứa mà anh cũng tin à. Vừa lúc anh Vĩ đến, anh trợn mắt khoa chân múa tay nói bên Nga ông Ốp gì đó đã nghiên cứu ra trong nước tiểu có chất gì chất gì, bên Nam Tư ông Vich gì đó đã thí nghiệm thành công trên một ngàn ca bệnh nhân chữa bệnh bằng nước tiểu hiệu quả như thế nào. Thằng Thịnh bồng con sang nói ông Vũ Thắng nhờ uống nước tiểu mà ông trụ được một ngày ba, bốn cuộc họp. Cả báo Dân đã uống hết rồi, ông Thích tổng biên tập báo Dân còn uống ngày ba ca, sáng trưa chiều tối chứ không chỉ uống buổi sáng không đâu. Mình và vợ mình tin như điếu đổ. Sáng mai chồng đái vợ đái, nâng niu cái ca nước đái còn quá nước sâm. Vợ uống vào một ngụm rồi nôn thốc nôn tháo, từ đó khiếp không uống nữa. Mình mắng vợ có ca nước tiểu cũng không nuốt nổi thì làm cái gì tốt. Nói rồi mình tu sạch cả ca nước tiểu của mình. Khốn nạn tối hôm trước bia rượu nốc đầy bụng, nước tiểu khẳn mùi bia rượu cũng cố nuốt cho xong, nêu gương cho vợ. Mình uống được một tuần, sáng nào cũng cố nuốt hết ca nước đái khẳn mùi bia rượu. Sau nghĩ mình có bệnh tật gì đâu, sao tự hành mình khổ thế này, rồi lặng lẽ bỏ. Ngô Minh hỏi mình mày uống nước tiểu chưa. Mình nói phét uống cả tháng rồi tuyệt lắm, chỉ uống nửa tháng thôi Nguyễn Quang Lập 17 bệnh dạ dày tự nhiên hết sạch, chuyện ấy khỏe cực kì, một đêm năm, sáu phát. Mắt Ngô Minh sáng lên nói rồi rồi tao về uống ngay. Tháng sau Ngô Minh đến nhà ngồi thở ra nói: Mọi người uống hợp nước đái hợp cả, riêng tao không hợp. Mình hỏi sao. Anh thở hắt ra nói chưa uống thì còn được một phát, uống rồi một nửa phát cũng hỏng lên hỏng xuống. Mình nói cứng anh nói thế nào ấy chứ, cả thành phố uống ai cũng kêu tốt. Vài ngày sau thằng Thịnh đưa tờ báo có bài: Niệu liệu pháp phản khoa học, một trò lừa đảo cả hội mới ớ người ra. Anh Điềm nói hội mình anh em dại quá toàn nghe người ta xui bậy. Anh Vĩ nói rất hay về sự tuyên truyền rỉ tai nguy hiểm thế nào, tôi đã nói rồi tiếc thay anh em trí thức cả lại không ai cảnh giác. Anh Nguyễn Quang Hà cười ha ha ha nói tôi lừa các ông thế mà các ông cũng tin. Anh Văn Lợi nói Lập ơi tao thử trí thông minh mày, chứ đời nào tao uống. Mình cũng nói với Ngô Minh em trêu anh chứ có họa ngu mới đi uống nước đái. Ngô Minh cũng cười khe khe khe nói tao cũng lừa mày chứ sức mấy tao ngu. Chỉ anh Tường là ngơ ngác quay đi quay lại nói rứa a rứa a. 18 Bạn văn 2 Ông Sơn Nam đời mới Mình quen thằng Tín (Nguyễn Trọng Tín) từ năm 1985 tại Hội nghị viết văn trẻ toàn quốc lần thứ ba, đâu như vào tháng 12 thì phải. Mấy ngày hội nghị đông đúc toàn người lạ chẳng biết ai với ai, may Hội Nhà văn cho đi thăm thủy điện Sông Đà tình cờ nó ngồi cùng ghế với mình, nghỉ lại khách sạn Hòa Bình cũng tình cờ mình được phân cùng phòng với nó, thế là quen nhau. Đám viết văn trẻ thường vẫn hay gồng lên để chứng tỏ, đi đâu gặp ai cũng muốn người ta biết mình là ai. Mình cũng vậy, hồi đó nghe ai nhắc tên Nguyễn Quang Lập thấy tai nong nóng liền, nếu họ nhắc đến vài cái truyện của mình là sướng râm ran cả ngày. Thằng Tín khác, trong khi anh em hỏi nhau tên này tên kia, đọc cho nhau bài này bài kia thì nó cứ lẳng lặng vào vào ra ra chẳng nói gì. Ai biết nó thì biết, chả biết thì thôi chứ nó không quan tâm. Đôi mắt nó buồn buồn, ai không Nguyễn Quang Lập 19 quen cứ tưởng nó đang có chuyện không vui. Chắc vì thế nên ít người hỏi han nó. Nó cũng chẳng quan tâm việc cho bạn văn biết mình đã đọc cái gì của họ. Để lấy lòng nhà văn nhanh nhất là tỏ cho họ biết mình đã đọc của họ những gì, ai cũng thế chẳng riêng gì nhà văn trẻ. Thằng Tín ít khi nói cho người lạ biết mình đã đọc gì của họ, cả những nhà văn nó cực kì hâm mộ. Thân rồi cũng thế, nó chẳng đem văn của người ta ra để lấy lòng. Chơi với văn Sơn Nam bền bỉ mấy chục năm nó không nói cho ông biết nó đọc gì của ông. Đến khi Sơn Nam sắp về trời nó mới liệt kê 14 cuốn sách của ông, kể cả cuốn Chuyện xưa tình cũ in năm 1958, năm nó mới hai tuổi, khiến Sơn Nam quá ngạc nhiên. Chưa hết, nó còn tính cho ông những gì ông chưa in thành sách, cả thảy hơn mười nghìn trang. Nghe thế  Sơn Nam rưng rưng nước mắt, nói tao chết cũng vui rồi, ít nhất có một người nhớ tao, đó là mày. Sau này  ở cùng phòng với Nguyễn Trọng Tín gần hai tháng tại trại viết Suối Hoa mình mới biết thẳng này thiên kinh vạn quyển. Văn học miền Nam nó nằm lòng không nói làm gì, mới giải phóng hơn chục năm, mới dăm ba lần ra Bắc nó nắm văn học miền Bắc còn hơn cả những người sống trong lòng miền Bắc như mình. Mình cũng siêng đọc, thế mà có hơn một nửa sách văn học miền Bắc mà nó đọc mình chẳng hề biết nó méo hay tròn, nghe cứ lạ hoắc cả tên sách lẫn tên tác giả. Nhờ có nó mình mới đọc được cuốn Trai làng Quyền, mới biết té ra người viết về nông thôn hay nhất miền Bắc sau 1954 là Nguyễn Địch Dũng chứ không là ai khác. 20 Bạn văn 2 Ngày ở thủy điện Sông Đà mình ngủ cùng phòng nhậu cùng mâm chuyện trò vui vẻ lắm nhưng chẳng đứa nào đả động đến văn chương của nhau. Mình chưa hề đọc nó một cái gì, thậm chí chẳng biết nó làm thơ hay viết văn, không dám nói thật sợ nó phật lòng. Mình cũng đinh ninh nó chẳng biết mình làm thơ hay viết văn, mấy ông viết văn tỉnh lẻ đa số được mời đi dự trại này trại nọ, hội này hội nọ vì chính sách ưu tiên chiếu cố chứ tài cán làm sao so được mấy ông tỉnh chẵn. Không biết nhau cũng phải thôi. Chẳng ngờ một lần đang nhậu thằng Tín bỗng vui vẻ kể, nói ông nội tôi cũng ở cùng huyện Quảng Trạch tỉnh Quảng Bình với ông đấy, hình như ở xã Cảnh Dương. Ổng đi thuyền vô huyện Mỏ Cày tỉnh Bến Tre sinh cơ lập nghiệp ở đó. Mình hơi ngạc nhiên, nói sao ông biết tôi ở huyện Quảng Trạch? Nó khịt khịt mũi, nói tôi đọc Tạp chí Sông Hương đều đều, cái gì về ông tôi không biết. Tập truyện ngắn Một giờ trước lúc rạng sáng của ông, ở Cà Mau tôi còn đọc trước cả mấy ông Sài Gòn. Nghe nó nói thế mình vừa cảm động vừa ngượng, càng không dám hỏi nó làm thơ hay viết văn. Tối hôm đó anh Hữu Thỉnh tổ chức uống rượu cần đọc thơ vòng, ai cũng phải đọc thơ, đến lượt không được đùn đẩy. Mình nhớ có em Hồng Vân hay Thu Vân gì đấy rất xinh đẹp. Em có bộ giò cực ngon, vừa đọc thơ vừa nhún nhẩy, rất đã. Thằng Tín ngồi xó ró một góc tuyệt không nói câu nào, đôi mắt buồn buồn của nó chỉ nhìn bình rượu cần, chẳng nhìn ai. Chừng như muốn chuồn khỏi cuộc rượu để khỏi phải đọc thơ. Nó chực đứng lên, anh Hữu Thỉnh ấn cổ nó ngồi xuống, nói ngồi yên đấy, sắp đến lượt rồi còn chạy đi đâu. Nó Nguyễn Quang Lập 21 bẽn lẽn cười cười không nói gì. Đến lượt, nó cầm cần rượu tu một hơi, ngước lên đưa đôi mắt buồn buồn nhìn mọi người, lại tu thêm hơi nữa. Bây giờ nó mới thong thả đọc bài Mười sáu cuộc chiến tranh. Nó đọc xong mọi người lặng đi hồi lâu rồi đột khởi vỗ tay. Bài thơ thật hay. Thơ hay là thơ nghe hoài không chán. Sau này mỗi lần gặp nhau mình đều yêu cầu nó đọc lại bài đó, có đến vài chục lần như thế, lần nào đến cái kết mình cũng rưng rưng ...Và thật tình cờ cho tôi nhận ra xóm tôi vẻn vẹn hai mươi sáu ngôi nhà có mười sáu người đàn bà sau chiến tranh chồng không về nữa có mười sáu ngọn gió giọt mưa đêm đêm đi gõ cửa trong đó có nhà má tôi có mười sáu cuộc chiến tranh trong xóm còn âm ỉ dù đã mười năm giặc giã qua rồi. Dần dà mới biết chẳng những thơ nó hay, văn nó cũng hay không kém. Hai tập bút kí về đất rừng Cà Mau nó viết từ những năm tám mươi đến giờ đọc vẫn sướng. Đặc biệt mảng tản văn vài trăm cái về những nét đặc sắc văn hóa miền Tây và văn hóa Việt thì nói thật trừ Sơn Nam không ai bì được. Những tản văn nho nhỏ như Đi ăn bún bo chóc, Lá dong xanh Sài Gòn, Chợ cua đồng, Duyên nợ mùa nước nổi, Bún ốc ngày xưa... và một loạt các phóng sự văn hóa vùng miền như Đường lên xứ Mường ai đã đọc thật khó quên. Mình vẫn nói vui với bạn văn, nói  thằng Tín là ông Sơn Nam 22 Bạn văn 2 đời mới. Anh Sơn Nam nghe chúng nó nói lại thì cười, nói Sơn Nam chỉ văn hóa Nam Bộ thôi, thằng Tín có cả văn hóa Việt. Tức Sơn Nam là một bộ phận của thằng Tín. Nói xong ông ngửa cổ cười lớn, như phát hiện điều gì to lớn lắm. Không biết Nguyễn Tuân theo cái chủ nghĩa xê dịch ông đã đi những đâu, thằng Tín chẳng theo chủ nghĩa gì sất những nó đã đi khắp nước. Nó đã đến tận nơi 88 cái chợ đặc sắc của Việt Nam và 96 làng nghề nổi tiếng của cả nước. Thỉnh thoảng mình gọi điện cho nó, nói mày đang ở đâu. Khi nó bảo đang ở Cao Bằng, khi nó bảo đang ở Rạch Giá, rồi Quảng Ninh, Thanh Hóa, Phan Thiết, An Giang, Cà Mau, Móng Cái... thấy nó đi mà hoa cả mắt. Lắm khi kẹt việc không thấy nó đâu mình gắt ầm lên, nói ông đi éo gì mà đi lắm thế. Nó nhăn răng cười, nói ông ở nhà làm éo gì. Thằng Tín thuộc típ ham chơi, bây giờ vẫn ham chơi. Nó có thể chơi một mạch vài tháng liền rồi ngồi đóng cửa viết cả tháng không tiếp ai. Nó viết cũng như chơi, cuốn Bè trầm hai trăm trang nó viết hơn một tháng là xong. Không phải viết ngày ba buổi như mình, nó chạy lòng vòng suốt ngày, nhậu từ trưa cho tới tối, ngủ một đến ba giờ sáng vùng dậy cày cho đến tám giờ sáng. Nó viết rất nhanh, hình như trong khi đang nhậu nó đã sắp xếp chữ nghĩa đâu vào đấy cả rồi, đến giờ viết là xổ hết cả ra. Bên phải gói thuốc lá, bên trái cuốn Từ điển chính tả, nó chỉ mất thời gian hút thuốc lá và tra từ điển chính tả. Hi hi thứ lỗi chính tả vùng miền làm nó nhiều khi phát điên. Một lần ở trại viết Suối Hoa, 4 giờ sáng mình đang ngủ, nó tới bóp mạnh chim mình phát, nói đây là con gì. Mình cáu vì bị đánh thức, nói bộ ông không biết con gì Nguyễn Quang Lập 23 sao. Nó gãi đầu bứt tai, nói nhưng vần ặt hay vần ặc, tôi tra từ điển không có, mấy từ tục nó bỏ hết... đù má! Hi hi khổ thân ông nhà văn miền Tây Nam Bộ. Dân miền Tây đã không nhậu thì thôi hễ nhậu là tới bến. Đi miền Tây sợ nhất là gặp mấy ông sâu nhậu, đã ngồi vào chiếu rượu thì không chết cũng bị thương, họ nhậu từ đầu hôm đến rạng sáng là chuyện thường. Thời trẻ thằng Tín cũng là sâu nhậu miền Tây. Mỗi lần ra Hà Nội nó gọi điện cho mình, nói Tín đây là mình biết phải trắng đêm với nó rồi. Đầu cuộc nhậu nó chẳng nói năng gì, ai nói gì cũng khịt khịt mũi gật gật đầu. Giữa cuộc rượu bắt đầu ngấm là nó nói, những gì giấu giếm khi tỉnh bây giờ xổ ra cả. Những chuyên đề văn hóa nó nung nấu bây lâu nhờ rượu mà lộ thiên. Đúng là ông Sơn Nam con, cái gì cũng biết, đã biết thì biết rất kĩ, nghe nó nói thật sướng, có khi đọc cả chục cuốn sách nhặt nhạnh được cũng bằng nửa giờ nghe nó nói. Đến khi say nhừ, nói ngọng mồm rồi nó lặp đi lặp lại một điều, chỉ  một điều ấy thôi nói mãi cho đến khi lăn ra ngủ như chết. Một đêm Trung Trung Đỉnh, Bảo Ninh và mình nhậu với nó đến nửa đêm mới kéo nhau về phòng anh Đỉnh ở Văn nghệ  quân đội nhậu tiếp cho đến ba giờ sáng. Nó đã say nhừ, nói đã ngọng mồm, mắt lờ đờ, cầm chén rượu nâng lên rồi đặt xuống chứ không uống, nói tui nói thiệt, truyện ngắn nước ni thứ nhất là Nam Cao, thứ nhì là Nguyễn Quang Lập. Biết nó yêu mình thì nói vậy thôi nhưng nghe cũng sướng, hi hi. Nhưng rồi nó cứ lặp đi lặp lại mỗi câu đó, nghe lâu oải cả người... Bảo Ninh đã ngủ như chết, anh Đỉnh buồn ngủ rũ ra, 24 Bạn văn 2 chỉ mong nó rời mâm để dọn dẹp còn đi ngủ mà nó vẫn cầm chén rượu lừ đừ nhìn mọi người, nói tui nói thiệt... Anh Đỉnh nói rồi, tụi tao nhất trí rồi, thứ  nhất Nam Cao thứ nhì Nguyễn Quang Lập, mày ngủ đi cho tao nhờ. Nó vẫn lừ đừ nhìn anh Đỉnh, nói tui nói thiệt thứ nhất Nam Cao... Mình ngủ được một giấc, bừng dậy vẫn thấy nó cầm chén rượu lừ đừ nhìn mình, nói tui nói thiệt... Hi hi kinh. Sáng mai thức dậy thằng Tín đã biến đâu mất tăm, hỏi ra mới biết nó đã lên máy bay vô Nam rồi. Tính nó vậy, đang nhậu bỗng biến mất chẳng chào hỏi ai, đang chơi bỗng lặn mất tiêu, không cho ai đưa tiễn. Có lẽ dân rong chơi chuyên nghiệp không chịu ràng buộc món văn hóa chào hỏi, tiễn đưa. Dân rong chơi chuyên nghiệp không thích ngồi ngâm  dấm quá vãng, cái họ quan tâm là hôm nay và ngày mai chứ không phải ngày hôm qua. Thằng Tín chẳng muốn ai nhắc đến những gì nó đã viết, ai nhắc thì ngứa ngáy khó chịu như là đang nghe người ta nhắc đến một sai lầm của nó vậy. Một lần mình bảo nó, nói thằng Tiến (Phạm Ngọc Tiến) nhắn mấy lần rồi, ông tập hợp Bè trầm với mấy cuốn văn xuôi của ông để nó cho tái bản. Nó đầu lắc tay xua, nói ôi thôi thôi, các ông quên nó đi giùm tôi, tui nói thiệt đó. Rồi nó rủ rỉ với mình, nói văn chương giao cho các ông lo, tôi coi như hết nhiệm vụ. Tôi bỏ viết văn lâu rồi, bây giờ chỉ xài món văn hóa Việt thôi. Từ đây cho đến khi về trời tôi cần phải đi nốt mấy nơi chưa tới được, rồi viết về văn hóa rong chơi, chỉ văn hóa rong chơi thôi, không văn chương mẹ gì hết. Mình nói ông già rồi chơi vừa phải thôi, cái bệnh hen phế quản nó kị chơi lắm đó. Ông Sơn Nam về già có chơi bời gì Nguyễn Quang Lập 25 đâu. Nó khẽ lắc đầu thở hắt, nói tôi khác, không rong chơi chắc tôi chết sớm quá. Có rong chơi tôi mới sống được lâu, tui nói thiệt đó...  Nó ngước lên nhìn mình, đôi mắt buồn tươi sáng một niềm vui. Nguyễn Đình Toán, khổ vì yêu 26 Bạn văn 2 Chả nhớ mình quen anh Toán (Nguyễn Đình Toán) lúc nào, hình như lâu lắm rồi, đâu như năm 1987 thì phải. Khi đó mình mới nổi, đi đâu cũng có người đón rước chào mời, thích lắm. Ra Hà Nội mình vẫn hay tạt vào 51 Trần Hưng Đạo, giống như 81 Trần Quốc Thảo ở Sài Gòn đấy là nơi tụ tập của văn nghệ sĩ. Muốn tìm ai cứ ra đấy thế nào cũng gặp. Hồi đó ở 51 Trần Hưng Đạo có quán nước chè của chị Thanh Hoa (ca sĩ), mình vẫn thường ngồi đấy. Lúc đầu uống đôi ba chén chè, sau có người gọi rượu. Vài ba chén rượu nóng máy rồi thế nào cũng có người gọi bia, đó là đồ uống sang thời này. Bia uống đủ say, vừa uống vừa cãi nhau chán chê mới rủ nhau đi mát xa, đi karaoke, đi “bông hoa nhỏ” tối ngày mới bò về nhà. Ngày nào cũng giống ngày nào. Hôm nào cũng vậy, hễ có mình là anh Toán có mặt dù chưa khi nào anh em nói chuyện với nhau được một câu. Anh cầm máy vè vè quanh mình bấm máy liên tục. Lần đầu có người bám lấy chụp ảnh mũi mình cứ phồng lên như hai quả cà. Anh Tạo (Nguyễn Trọng Tạo) thấy vậy cười cái hậc, nói mày đừng có tưởng bở, vì mày chưa có trong bộ sưu tập Nguyễn Quang Lập 27 thì nó chụp thôi. Mình hơi xìu, nói thật là hơi thất vọng. Anh Tạo lại cười, nói tất nhiên thằng Toán chỉ chụp đứa nào đáng chụp. Anh hất hàm về mấy ông ngồi phía trước, nói chứ như cái đám chó chết kia thì không bao giờ nó thí cho một cái ảnh. Mình thấy trong “đám chó chết kia” có vài ông tên tuổi to đùng, cái mũi mình lại phồng lên. Hi hi. Về sau quen anh rồi mới biết anh là ông “vua” chân dung trong làng nhiếp ảnh. Ảnh chân dung của anh nhiều vô thiên lủng, hầu như văn sĩ nước Nam đương đại không ai không có trong kho ảnh của anh. Anh chưa bao giờ nói khối lượng ảnh chân dung của anh là bao nhiêu nhưng cứ xem cái sự bấm máy “điên cuồng” của anh thì hơn ba chục năm cầm máy bảo đảm  có nửa tạ phim chân dung chứ không ít. Riêng anh chụp cho mình cũng có đến mấy trăm bức, còn như Hoàng Cầm, Văn Cao, Phùng Quán có khi có ngàn bức. Vừa rồi ra Hà Nội anh cứ đeo lấy mình chụp ảnh. Mình cười, nói anh chụp mãi em không chán sao. Anh nheo mắt cười cười, nói chán làm sao, chụp bạn bè mà chán à. Đúng vậy, hễ gặp bạn là anh chụp như kẻ khát chụp, chụp quên ăn quên ngủ, như sợ nếu không chụp nhanh mấy ông bạn văn của anh hoặc thăng thiên hoặc độn thổ. Ở bất cứ đâu, bất kì thời điểm nào có bạn văn là có Nguyễn Đình Toán. Buổi sáng mừng sinh nhật 60 tuổi Nguyễn Trọng Tạo, người ta ăn nhậu tưng bừng riêng anh ôm máy chạy hết mâm này sang mâm kia chụp và chụp. Thỉnh thoảng anh có nhấp ngụm rượu chứ không một lúc nào thấy anh cầm đũa. Buổi trưa ở Hồ Tây nhà thơ Bùi Minh Quốc bù khú 28 Bạn văn 2 với thiếu tướng công an Phạm Chuyên, bạn bè nhậu tiếp trận nhậu ở nhà anh Nguyễn Trọng Tạo, anh lại cầm máy bấm lia lịa, cũng không thấy anh ăn uống gì. Buổi chiều tụ bạ tại nhà Đặng Hùng Võ, ông thứ trưởng về hưu có mấy chai rượu ngon điếc tai khiến mình uống tì tì, vừa uống vừa sợ hết, anh cũng chẳng màng, cứ xoay trở đảo điên chụp và chụp không biết mệt. Bây giờ anh xài máy ảnh điện tử có chụp bao nhiêu cũng không tốn kém gì. Ngày xưa toàn chụp máy cơ, thấy anh bấm lia lịa mình xót lắm, nói anh chụp kiểu đó có mà bán nhà mua phim. Anh cười không nói gì. Mình nghĩ không ra anh kiếm tiền bằng cách nào mà suốt ngày đánh đu với bạn văn, một ngày đi đứt cả chục cuộn phim. Ảnh chân dung các tòa báo trả rất rẻ, giả sử mỗi ngày có chục tờ đăng ảnh thì số nhuận bút cũng chưa đủ mua phim. Là nói người ta còn nhớ trả nhuận bút chứ thực tế nhiều báo đăng ảnh của anh tiền không trả, tên chả ghi. Họ vào mạng tìm ảnh để đăng, nào có biết ảnh của ai. Nhiều người, trong đó có mình, hễ báo gọi xin ảnh mình đều bảo hỏi ông Nguyễn Đình Toán, mặc dù có đầy ảnh vẫn không đưa, cứ ép các báo xin ảnh của anh để anh kiếm thêm ít nhuận bút. Cứ tưởng anh biết vậy mừng lắm hóa ra không, anh hầu như chẳng quan tâm. Có lần mình được bốn, năm báo xin ảnh, mình bảo họ xin ảnh của anh. Thấy họ đăng ảnh của anh mình mừng lắm vội gọi điện cho anh, nói anh lấy nhuận bút báo nọ báo kia chưa. Anh nói chưa. Mình bảo sao anh không gọi cho chúng nó đòi nhuận bút. Anh cười, nói đòi làm gì, được đăng mấy ảnh ưa ý là anh Nguyễn Quang Lập 29 mừng rồi, chú mày đừng có lăn tăn giùm anh. Thật quái lạ, chẳng ai như anh, báo trả nhuận bút cũng tốt, chả trả thì thôi; có ghi tên cũng hay, quên ghi tên cũng xong béng. Ối giời ơi anh Toán ơi. Nói vậy không phải anh Toán chụp ảnh vô điều kiện. Chưa khi nào có người gọi anh, nói ê Toán, chụp cho cái ảnh mà anh nhận lời. Nâng máy lên bấm một nhát chẳng khó khăn gì nhưng anh không là không, các vàng cũng không, ai giận ai hờn mặc kệ. Nguyễn Đình Toán không bao giờ chịu làm cái anh thợ chụp ảnh, có ai đó bảo Nguyễn Đình Toán là nhiếp ảnh gia anh cũng không chịu, nói da với xương cái gì, ai cần da với xương chứ tôi chả cần. Na Sơn là tay máy có số má trong làng nhiếp ảnh, nó quí anh Toán lắm, vẫn gọi anh là bố Toán. Giống như Xuân Bình, Mai Kỳ, Dương Minh Long, thằng này cũng hơi ngạo rất ít khi phục ai. Nhắc đến tay máy nào đều khen một chê ba, chả thần phục ai bao giờ. (Hi hi nhiếp ảnh sao giống nhà thơ, họa sĩ thế không biết). Nhưng nó mê bố Toán, cứ nói đến nghề là nó nhắc đến bố Toán. Nó bảo bây giờ ở Việt Nam, nhiếp ảnh gia nhiều hơn ăn mày ngoài đường. Nhưng thắp đuốc tìm bảy ngày cũng khó tìm được ai như bố Toán. Nó kể chuyện, nói cái thời tụi em còn hỉ mũi chưa sạch, máu lên mở cuộc triển lãm photo-essays đầu tiên ở Việt Nam. Bố Toán tới xem, ghi cảm tưởng thế này: “Tuyệt vời tuổi trẻ! Cám ơn các bạn và hãy cố giữ lửa như thế!” Mấy ai đối xử với đám hỉ mũi chưa sạch được như bố Toán. Mình nói anh Toán thua chúng mày về kĩ thuật, ánh sáng 30 Bạn văn 2 ánh séo, bố cục bố kéo anh không hiện đại bằng chúng mày. Nhưng anh ấy hơn chúng mày về cái tình. Anh ấy yêu cái anh ấy chụp, anh ấy chụp vì yêu chứ không chụp để khoe tài, để chứng tỏ. Na Sơn vỗ vai mình đánh bốp, nói ông này điếu biết gì về ảnh sao mà nói hay thía. Rồi nó gật gù, yêu được như bố Toán khó lắm, mà cũng khổ lắm. Nghe Na Sơn nói mình chợt nhớ một hôm ngồi nhậu, thấy anh Toán không chịu ngồi yên chỗ cứ vè vè quanh mâm nhậu bấm máy, anh Nguyễn Thụy Kha lắc đầu cười, nói ông này rồi cũng chết khổ vì yêu. Mình không hiểu, nói em có thấy anh Toán bồ bịch gì đâu. Mọi người cười ồ, nói thằng này thông minh nhưng chậm hiểu. Thằng Toán yêu bạn yêu nghề chứ nói chuyện gái gú với nó thì thà nói với đầu gối còn hơn. Thì rõ rồi. Nguyễn Đình Toán hành nghề vì yêu bạn, yêu bạn mới hành nghề. Không yêu bạn làm sao có thể vác máy đi hơn hai ngàn cây số bám theo chuyến đi bộ xuyên Việt của Hòa Vang và Nguyễn Lương Ngọc. Lại còn đèo bồng theo ông già Hoàng Cầm nữa. Hôm anh và Hoàng Cầm vào nhà mình ở Quảng Trị để đón hai ông đi bộ, mình hỏi anh, nói chỉ cần theo một đoạn đường anh đã có cả một tấn ảnh rồi, việc gì phải đánh đu với hai ông ấy suốt cả hành trình? Anh cười hiền lành, nói ừ, nhưng mà đi để cho tụi nó vui, động viên tụi nó ráng đi tới nơi về tới chốn, nếu không dễ mang tiếng lắm. Nhớ mãi cái đêm trao giải liên hoan phim châu Á - Thái Bình Dương. Khi nghe xướng phim Đời Cát được giải vàng, anh lao như bay từ tầng hai xuống tầng một tìm mình và thằng Vân (đạo diễn Nguyễn Thanh Vân). Cả trăm tay máy nhao vào lấy hình buổi lễ, riêng anh cứ bám theo mình và Nguyễn Quang Lập 31 thằng Vân. Cho đến khi tàn cuộc, mọi người về hết rồi anh vẫn cứ bám theo mình và thằng Vân. Cả hội Đời Cát kéo nhau đi nhậu cho đến hai ba giờ sáng, ngoảnh lại vẫn thấy anh đứng sau lưng. Mình ngạc nhiên quá kêu lên, nói ôi trời, sao giờ này anh còn chưa về. Anh trợn mắt lên, nói về sao được mà về. Rồi anh ôm riết lấy mình, đôi mắt anh ngời sáng long lanh, như chính anh vừa được giải vậy, nói vui quá chú mày ơi, vui quá, về sao được mà về. Trọc phú 32 Bạn văn 2 Mình về quê, cô em họ nói tối nay nhà hát Thị xã có chương trình ca nhạc của nhạc sĩ Tinh Túy, có giấy mời đây, anh có đi không. Chẳng biết Tinh Túy là ai, hồi này các nhạc sĩ trẻ nổi lên cũng nhiều, sáng tác như điên, nghe không kịp, toàn những bài na ná nhau, hết nhại Phú Quang sang nhại Ngọc Đại, ca từ hoặc rỗng tuếch hoặc nhẹ tênh, chán ốm, định bụng không đi. Cô em họ nói nhạc sĩ Tinh Túy nói ông quen anh đấy, hình như học với anh. Cái tên nghe lạ hoắc, quen thân hồi nào nhỉ? Ừ thôi thì đi. Tới nơi thấy đông nghịt, vé 180.000 đồng mà đông nghịt. Cô em họ nói giá vé đề cho oai, thực ra toàn giấy mời. Mình cười nói ừ thì mời mà người ta đi cho đông thế này cũng là tốt rồi. Cô em họ nói phải tổ chức mời, lôi kéo mọi người vào mới được như vậy, ai mời được một người đi thì được thưởng 10 ngàn, em mời được sáu chục người được 600 ngàn khỏe re, ke ke ke. Mình ngạc nhiên nói có chuyện đó a? Nó bảo ông Tinh Túy thiếu gì tiền. Hóa ra là thằng Tụy học lớp 7 với mình, nó là Phạm Tụy, Nguyễn Quang Lập 33 sao giờ nảy nòi đổi tên là Phạm Tinh Túy không biết. Thằng Tụy không dốt nhưng lười, học hết lớp 7 thì bỏ, lêu bêu ba bốn năm trời. Nó mê con Thủy lắm, rình con Thủy tắm suốt. Một hôm thấy nó di chân trên cát đi một hình vẽ to đùng, mình hỏi vẽ chi rứa? Nó nói bướm con Thủy. Vẽ xong nó ngồi lọt thỏm vào đấy, tay bó gối mắt nhìn đăm chiêu, nói cho tao lấy con Thủy thì sai tao ăn bát cứt tao cũng ăn. Mình hỏi cứt nác có ăn không, nó nói ăn. Hôm con Thủy cưới chồng, nó uống rượu say cứ ép bên tường hồi nhà con Thủy, sát ngay phòng ngủ vợ chồng Thủy dập liên tục, ở quê gọi là nắt gió. Con Thủy đi đâu nó cũng đứng dạng háng chặn lại, chim võng trong quần nói chồng Thủy có bằng con cu của tui không mà chê tui hử! Thấy phiền quá, chú nó xin cho một chân làm hậu đài đoàn văn công tỉnh, đuổi nó đi cho khuất mắt con Thủy. Thằng Tụy thích lắm, ai hỏi làm đâu, nó ra cái vẻ khiêm tốn nói làm ở đoàn văn công, phụ trách hậu đài. Ít ai biết việc của nó là kéo dây, mắc đèn, khuân vác bục bệ, nghe nói phụ trách hậu đài là oách rồi, lương tháng năm đồng ba cọc, bù lại gái gẩm có dùng, cũng phởn. Thằng Tụy to đen như con gấu, mỗi tối biểu diễn, nó cứ lởn vởn quanh khu hóa trang, các cô nhờ nó khi thì lấy cái này, khi thì lấy cái kia, rồi nhờ cột cái tóc, sửa cái giày... nó vui vẻ làm hết thảy, thỉnh thoảng lại véo cái, vuốt cái... loanh 34 Bạn văn 2 quanh thế nào nó kiếm được ối cô. Hồi mình ở tỉnh, nó chuyên kể các nàng ế chồng, các em trẻ ngứa nghề, các bà nạ dòng chồng già, mất sức chiến đấu đều vào tay nó cả. Nó kể một hôm ông trưởng đoàn nghi nó tằng tịu với vợ ông, định đuổi đi, chưa kịp mở mồm vợ ông đã cho một vả rụng hai cái răng cửa. Từ đó nó được chiều chuộng nâng đỡ, uy quyền ra phết. Đến đoàn văn công hỏi gặp anh Tụy thế nào cũng có người vồn vã dạ đây dạ đây, anh chờ cho chút rồi hộc tốc đi tìm, y chang thằng Tụy là lãnh đạo. Nó bảo tao dưới một người trên muôn vạn người, khác gì phó đoàn, thằng phó đoàn lơ mơ tao cách chức, khe khe khe. Năm 1985 đoàn văn công vào diễn cho xí nghiệp đông lạnh, ông giám đốc phấn khởi nói tặng anh em đoàn văn công tỉnh rẻo đất của xí nghiệp làm quà. Đó là rẻo đất thừa, bùn lầy, rác rưởi nằm ngoài khuôn viên xí nghiệp, ông cho ai trong xí nghiệp cũng chẳng lấy, nên cho đoàn văn công.   Mọi người ra nhìn rẻo đất chừng vài ngàn mét đất ai cũng ngán ngẩm, bĩu môi không lấy. Thằng Tụy nói mọi người không lấy tui lấy, tui làm mấy ao cá nuôi cá chơi. Thằng Tụy lấy xong bỏ đấy cả chục năm chẳng làm gì, đụng đến ngày qui hoạch Thị xã thay đổi, lên thành phố, giá đất lên ầm ầm, mấy ngàn mét đất của thằng Tụy thành tiền tỉ, nó lại khéo mua đi bán lại đất đai, chỉ vài năm sau nó thành tỉ phú, tiền nhiều như quân Nguyên, nó mặc nhiên thành ông lớn trong tỉnh, gặp nó ai ai cũng một anh, hai anh, tuyệt không ai dám gọi nó bằng thằng. Nguyễn Quang Lập 35 Nó thường nhậu nhẹt đàm đạo với các quan chức trong tỉnh, hễ nó nói câu gì cũng được khen giỏi, có đầu óc, tầm chiến lược gia, nghe ù tai. Bây giờ nó là nhạc sĩ Tinh Túy, nổi tiếng khắp tỉnh, bài hát thì chẳng ai nhớ nhưng tên nó cứ nổi như cồn. Mình nghĩ mãi không ra làm sao một lúc nó có thể làm được món nghệ thuật cao sang kia, trong khi một nốt nhạc bẻ đôi cũng không biết. Hồi lớp 3, cô giáo tập bài Giải phóng miền Nam, hát đi hát lại cả trăm lần, ai cũng thuộc, cô giáo gọi nó đứng lên hát. Bài hát như mắc ngang họng, nó cố khạc ra: giải phóng miền Nam, chúng ta cùng quyết quyết quyết... Mọi người cười, nó lườm đe mọi người, nói cười cu tao, rồi hát lại: giải phóng miền Nam chúng ta cùng bước bước bước... Đêm ca nhạc tưng bừng, thằng Tụy khiêm tốn ra cúi chào, vẻ mệt mỏi trước hư danh, các cô gái chạy ào ra tranh nhau tặng hoa, trong đó cô em họ mình. Cô em họ nói phải tranh nhau tặng hoa thì mới được thưởng, nếu lên chậm, rời rạc thì một xu cũng không có. Ti vi bốn, năm cái máy quay, ông nào ông nấy mặt mày nghiêm trọng, lật đật ngược xuôi trong khán phòng. Mình ngạc nhiên thấy mấy ông lớn nghệ thuật trong tỉnh, dù đã già nhưng danh tiếng vang lừng đều có mặt trên sấn khấu, người thì hát bài hát thằng Tụy, người thì phát biểu ca ngợi nó, Tinh Túy một phát hiện mới, Tinh Túy một tài năng tiềm ẩn vừa được khám phá... oách kinh. Anh Hào Hoa nói tao nói Tinh Túy một tài năng, thằng 36 Bạn văn 2 Tụy bỏ bì có 5 trăm, ông Xốc Tới  nói Tinh Túy một tài năng lớn, nó bỏ bì cho hai triệu, được rồi lần sau tao nói Tinh Túy một thiên tài xem nó bỏ bì tao bao nhiêu. Hết chương trình, mình tìm gặp nó bắt tay, nói chào thiên tài Tinh Túy. Nó cười rỉ tai nói thiên cái đầu b., chơi ngông tốn tiền bỏ mẹ, khơ khơ khơ. Một người đàn ông già thâm thấp đi đến, vẻ khóm róm nói dạ thưa anh mời anh lên xe. Thằng Tụy vỗ vai người này nói anh Khái chồng cô Thủy, chánh văn phòng công ty tôi. Mình à và bắt tay, ông Khái khom người hai tay nắm tay mình, gập cái đầu thiệt lẹ, rồi lón thón chạy về chiếc Mercedes đang chờ, mở sẵn cửa. Mình lên xe cùng thằng Tụy, ông lại khom người kính cẩn, gập cái đầu thiệt lẹ, nói dạ các anh đi. Mình hỏi thằng Tụy đi đâu? Nó bảo qua chỗ này nghe tụi nó nịnh tao chút rồi hai thằng mình ngồi với nhau. Đến nhà hàng, cả trăm người đang chờ, đủ mặt cả: văn nghệ sĩ, quan chức trong tỉnh và các ca sĩ phục vụ đêm nhạc, nhiều nhất là các nhà thơ. Thằng Tụy bắt tay, nhận hoa, vỗ vai người này, cụng ly người kia, nói cười ha hả. Thằng Tụy đi đến đâu ti vi chạy rật rật theo đấy. Ai cũng nói đêm nhạc thành công, bài này hay, bài kia sâu sắc, hiếm có ai đa tài như Tinh Túy. Nhà thơ Hoài Ân nói may trời có mắt, tỉnh mình có Tinh Túy, không thì nỏ biết lấy chi mà tự hào. Mấy người nói đúng đúng giả sử Tinh Túy không sinh ra Nguyễn Quang Lập 37 ở đây có phải tỉnh mình trơ mép không. Mấy người lại nói đúng đúng không có Tinh Túy tụi mình bốc cát mà ăn. Mấy người lại nói đúng đúng, đừng nói cát, cứt cũng không có mà ăn.  Thằng Tụy nhận những lời khen có vẻ như miễn cưỡng, lấy lệ. Nụ cười khiêm tốn lấy lòng người khen, chắc là được rèn dũa nhiều, rất chuẩn. Thằng Tụy nâng cốc nói giờ tôi có việc phải đi, không vui được với anh em, rất mong thông cảm. Mọi người cứ nhậu thoải mái, nhậu đến sáng cho vui. Chồng cô Thủy lón thón cầm xấp phong bì đưa từng người một, kèm theo một chai rượu xịn, ông gập lưng đưa phong bì, gập lưng đưa chai rượu, lại gập lưng chào rồi lón thón chạy sang người khác, cứ thế cả trăm người. Nhìn ông cứ thương thương. Thằng Tụy nói anh em mình biết nhau rồi, nói thiệt nhạc của tao đếch đâu. Tao soạn lời, thằng Khái phổ nhạc, nó lấy tiền, tao lấy tên, rứa thôi. Mình nói ông không làm nhạc thì người ta giết ông à? Nó cười nói bây giờ phải nhà nọ nhà kia chút làm ăn mới dễ, tiến sĩ thạc sĩ bây giờ mất giá, thèm vào. Tao vốn ở văn công, chọn cái món nhạc là dễ nhất, tiếng tăm mau nổi, gái gú cũng dễ kiếm, cứ véo von mấy điệu dân ca quen tai là nức nở hết lượt. Mình nói ông đúng là thiên tài. Nó cười ha hả nói tao 38 Bạn văn 2 không thiên tài thì thằng nào thiên tài đây. Mình nói thế mà tôi tưởng ông trọc phú, nó cười khe khe khe nói trọc phú hết lượt, mình tao à. Mình lại theo thằng Tụy lên xe đi ra bờ biển với nó. Mình nói ông mời cả trăm người nhậu đến sáng cả đống tiền, không tiếc à? Nó bảo lo chi, nhận xong phong bì, chai rượu chúng nó cút cả đó mà. Xe ra bờ biển, thằng Tụy vừa xuống xe, bà chủ quán lật đật chạy ra kêu một tiếng ôi anh ngọt lịm, rồi chạy lui mời anh ra đây! Mời anh ra đây. Nhìn cái dáng chạy lui của bà, mắt sớn sác, miệng cười gượng, vú sệ rung bần bật, thấy tức cười. Một cái chòi vắng, nằm nghiêng bờ cát, ở giữa những cây phi lao mắc đèn xanh đỏ mờ ảo dưới trăng rất đẹp. Mình vừa bước vào đã thấy Thủy. Cô bận bộ đồ nền nã, sang trọng, chìa bàn tay thon dài đeo hai nhẫn mặt ngọc nói chào Lập, lâu ngày quá hè. Thằng Tụy ôm vai Thủy, nói đây là vợ thằng Khái nhưng là bồ của tôi. Hôm sau mình ra Hà Nội, chỉ con Thủy đến, nó đưa gói quà thằng Tụy cho mình, nói anh Tinh Túy bận tiếp khách sở không ra được. Mình nói họp gì họp khiếp thế. Thủy nói họp chi mô, thấy anh Tinh Túy có chút tiền chúng đeo anh suốt ngày, tệ lắm. Mình nói không ngờ cuối cùng hai bạn lại yêu nhau. Thủy nói Lập đừng nghĩ mình lăng nhăng, anh Tinh Túy tâm hồn như rứa ai mà không yêu. Nguyễn Quang Lập 39 Tuấn cơm có thịt 40 Bạn văn 2 Rượu Tết của người đẹp Đàn bà không biết uống rượu thì thôi đã uống được rượu thì uống rất ghê, đàn ông ít ai bì kịp. Người đẹp xứ Huế cùng chung cư 24 Lê Lợi với mình là một ví dụ, để mình kể trận say vì rượu Tết của người đẹp. Nhưng trước hết phải nói qua chung cư nơi mình sống thì mọi người mới tin chuyện mình sắp kể. Chung cư này vốn là biệt thự cũ thời Pháp, hình như chủ nhà là quan to hay đại gia chi đó đã bỏ chạy từ năm 1975. Người ta ngăn lại thành vài chục phòng, mỗi phòng hơn chục mét vuông cho cán bộ Sở Văn hóa Bình Trị Thiên, mọi người cứ gọi phứa đi là căn hộ cho oách, mình cũng được phân một căn hộ kiểu vậy. Chung cư kiểu này có đầy ở thời bao cấp, cả chung cư chung nhau một vòi nước một nhà vệ sinh, lấy nước phải sắp hàng, đi vệ sinh cũng phải sắp hàng. Vào mùa mưa thật gian nan, mưa Huế dai dẳng từ sáng tới tối, mỗi lần đi vệ sinh Nguyễn Quang Lập 41 thật gian khổ vô cùng. Nhà vệ sinh bị dột, ngồi trong cũng như ngồi ngoài trời. Ai đã từng đội áo mưa đi vệ sinh mới hiểu cái cảnh người ngồi trong lom khom áo mưa nón lá, hai ba người đứng ngoài chờ nón lá áo mưa. Rõ cám cảnh Mưa lâm thâm ướt dầm lá hẹ/ Anh thương nàng đi ẻ trời mưa. Vì thế mỗi nhà nghĩ ra một sáng kiến riêng giải quyết bế tắc. Anh Bính Văn, họa sĩ chuyên vẽ bìa sách và câu đối, ở độc thân vợ con không có, tính lại nhác, không muốn sắp hàng đứng đợi giữa trời mưa. Anh lấy cái thùng đựng gạo làm nơi giải quyết bế tắc, cứ tương vào đấy, đậy kín nắp khi đầy mới đem đi đổ. Anh Đình Nô, họa sĩ chuyên vẽ tranh cổ động, ba lần ăn giải về tranh cổ động về tuyên truyền vệ sinh công cộng, lại có sáng kiến khác. Phòng anh ở sát vườn nhà bên cạnh. Anh đục tường tuồn cái ống nước qua đấy rồi lắp cái phễu đầu ống, khi mót tiểu cứ tương vào phễu, thế là xong, rất tiện. Nhà mình ở khu trên, căn phòng có 4 mét vuông, về sau mở rộng hơn chục mét vuông, kẹp sát với ba phòng, chung nhau cái sảnh khoảng 6 mét vuông, dùng làm nơi nấu nướng và để xe đạp của cả ba nhà. Cái sảnh thật bi thương, chỉ 6 mét vuông thôi phải chứa ba cái bếp, ba cái chạn, ba đống củi, sáu chiếc xe đạp của cả ba nhà. Cửa sổ của ba phòng đều hướng ra sảnh, mỗi lần ba cái bếp “nổi lửa lên em” là ba phòng chẳng khác gì ba cái hang chuột bị hun khói. Phòng nào cũng chỉ mỗi cửa sổ, trời nóng quạt cóc chạy gật gù nếu đóng cửa sổ coi như bị thui luôn. Cửa sổ mở toang, nhà này làm gì nhà kia đều biết cả, đứng ở sảnh thấy cả ba nhà không sót một thứ gì. Chuyện vợ chồng phải nhịn đến tận khuya 42 Bạn văn 2 nhưng cũng không thoát được bị “đột kích”. Thôi thì kệ mẹ, ai làm cứ làm ai nhìn cứ nhìn, chẳng biết làm thế nào. Một lần mình dậy sớm ra ga đón người nhà, ra sảnh nhìn vào nhà anh Hoành thấy anh đang nằm trên bụng vợ. Anh đang ngậm ti chợt nhìn thấy mình, miệng vẫn ngậm ti không chịu nhả anh hất mặt lên mắt nháy nháy ý bảo biến đi biến đi. Lần khác, nửa đêm mình đang yêu vợ giai đoạn cuối, ngẩng lên thấy mặt thằng Minh con anh Trung đang áp sát cửa sổ. Nó nhăn răng cười, nói mần chi lâu rứa hè, mau cho cháu mượn bật lửa, thèm thuốc chết được. Hu hu. Bây giờ mới đến chuyện rượu Tết của người đẹp. Tết nào chung cư cũng vắng hoe, người ta đua nhau về quê ăn Tết chỉ còn lại dăm ba nhà. Tết năm 1987 vợ mới sinh nhà mình phải ở lại ăn Tết ở chung cư. Sáng Mồng một thắp hương bàn thờ, húp bát cháo gà giao thừa còn sót lại rồi ngồi ngoảnh mặt ra cửa sổ chờ khách. Thoáng thấy cô gái cực xinh đi vào phòng chị Hòa, cô tự mở khóa vào phòng, biết là em gái chị Hòa về đây coi phòng cho chị về quê ăn Tết. Cô tên Hương hay Phương chi đó làm ở công ty du lịch. Thời này ai làm ở công ty du lịch coi như chuột sa chĩnh gạo, muốn đói nghèo cũng chả được. Cô bé ăn mặc đúng mốt chải chuốt đúng điệu nhìn mãi không chán. Từ khi cô vào phòng mình không rời mắt khỏi cửa sổ nhà cô, bây giờ mới phát hiện trên bàn cô có chục chai rượu Nàng Hương và một đống quà Tết chưa kịp dọn. Mình lác mắt luôn, rượu Nàng Hương lúc đó giống rượu Chivas 18 bây giờ, dân nghèo như mình đến Tết mới có một chai để bàn thờ, cô có cả chục chai, nể! Đang nghĩ cô này con gái độc thân sao sắm rượu nhiều thế không Nguyễn Quang Lập 43 biết thì cô tụt váy thay đồ. Sáng Mồng một được show khỏa thân không mất tiền thật đã. Xong show khỏa thân mình tót sang phòng Đình Nô, thấy Bính Văn đã ngồi sẵn đấy rồi. Anh Nô pha trà, nói uống trà cho ấm bụng, sáng ra uống rượu hại gan lắm. Anh Bính Văn lườm Đình Nô, nói thôi đi mi, có chai rượu để bàn thờ sáng Mồng một chưa dám lấy xuống uống thì nói cha cho rồi, hại gan hại ghéo. Đình Nô cười khì, nói thằng Lập sắm được mấy chai, thừa chai mô không? Mình nói em có một chai đang để bàn thờ, lấy xuống bây giờ vợ nó xé xác. Bính Văn thở hắt chép miệng, nói tụi bay còn khá, tao có mỗi xị rượu sắn mua chịu mụ Phước để bàn thờ. Cả ba thằng ngồi im nhìn mặt nhau. Đình Nô thở dài, nói ba thằng mình nổi tiếng như ri Tết không có chén rượu, nhục rứa bay. Mình vỗ vai Đình Nô, nói chỉ có đi chúc Tết hàng xóm mới kiếm được rượu ngon. Em phát hiện nhà chị Hòa có cả chục chai Nàng Hương. Đình Nô Bính Văn mắt sáng như sao, nhổm đít đi liền. Ba thằng vào phòng, Đình Nô tính làm màn giới thiệu thật hoành tráng chẳng dè cô bé biết tên tuổi cả ba, rối rít chào mời rất quý trọng, mừng húm. Cô bé bóc chai rượu rót hết ra hai li cối đầy, nói em có chút việc phải đi. Em uống với các anh mỗi người ly chúc mừng năm mới rồi các anh cứ ngồi đây thoải mái khui rượu uống, đừng ngại. Cô bé đưa ly cối cho Bính Văn, anh trợn mắt lên, nói một hơi hết ly cối này a? Cô bé cười, nói chứ sao. Bính Văn nhắm mắt uống ba hơi mới hết, cô bé uống nhẹ nhàng như không, như uống nước chè vậy. Mình và Đình Nô trợn mắt nhìn nhau, phen 44 Bạn văn 2 này không chết cũng bị thương. Cô bé bóc chai khác uống với Đình Nô, bóc chai khác uống với mình. Từ bé đến giờ chưa bao giờ mình nốc một hơi cạn ly cối như vậy, sợ quá. Uống xong ba ly cối hơn một lít rượu cô bé vẫn tỉnh như sáo, thong dong cắp nón dắt xe ra đi trong khi ba thằng đã ngà ngà say, ngật ngà ngật ngưởng. Rượu càng ngấm càng say, càng say càng tham uống, ba thằng khui tiếp hai chai nữa uống cho đến khi say bí tí, ôm nhau khóc cười như ba thằng điên. Mình còn bò được về phòng, Bính Văn Đình Nô chết ngay tại trận, ngủ lăn trên sàn nhà. Khi say như mê sảng chỉ làm theo thói quen, Bính Văn mót tiểu loạng quạng bò dậy mở nắp thùng gạo trút hết vào đấy. Đình Nô mắt nhắm mắt mở tìm được cái phễu cắm trên can nước mắm dí ngay vào bắn hết vào can nước mắm ba lít. Kinh. Ba giờ chiều ba thằng mới tỉnh rượu, cô bé vẫn chưa về. Mình sang phòng chị Hòa, nói các anh về đi, để em khóa cửa cho. Chợt mình phát hiện thùng gạo và can nước mắm của chị Hòa đã bị Bính Văn Đình Nô hủy diệt. Hai anh nhìn nhau mặt mày tái nhợt. Cần phải phi tang khẩn cấp trước khi cô bé về. Có bao nhiêu gạo, nước mắm của nhà hai anh trút hết sang nhà chị Hòa. Xong rồi ngồi đực mặt nhìn nhau. Đình Nô gãi đầu bứt tai, nói biết lấy chi ăn cho qua ba ngày Tết đây bay ơi. Bính Văn cười cái hậc, nói ráng uống nước tiểu qua ngày chớ răng nữa. Họ nhìn nhau cười nhăn nhó. Đến chết mình cũng không quên hai cái mặt đực như ngỗng ỉa đang nhăn nhó cười của hai họa sĩ trứ danh xứ Huế sáng Mồng một Tết 25 năm về trước, hi hi. Nguyễn Quang Lập 45 Mình biết Trần Đăng Tuấn khá lâu, từ cái thời mình đánh đu với ông Khải Hưng làm phim Gió qua miền sáng tối, bộ phim truyền hình dài tập đầu tiên của Việt Nam. Quen thì quen vậy thôi chứ chưa bao giờ ngồi nhậu với nhau một lần nào. Khi đó Tuấn làm trưởng kênh VTV3 thì phải, đối với mình là quan to, sau này lão lên phó tổng giám đốc lại càng to, cái sự xa cách giữa mình với lão lại càng lớn. Đại hội nhà văn lần thứ 5 thứ 6 chi đó, tan chợ Tiến trọc (Phạm Ngọc Tiến) rủ mình đến chơi nhà lão, nói tao hẹn Bảo Ninh rồi, tối nay đến nhà Trần Đăng Tuấn nhậu, nhà thằng cha này nhiều rượu ngon lắm. Mình ngại, nói thôi các ông đi, tôi không quen ông Tuấn. Tiến trọc hơi giận mình nhưng kệ, tính mình vậy, thích phù suy không thích phù thịnh. Chẳng ngờ năm sau lão đang thịnh (mà thịnh to hơn, chỉ nửa bước chân là leo lên ghế chánh tổng) bỗng đâu chuyển sang suy, lão đâm đơn thôi chức phó tổng, bạn bè anh em ai cũng ngơ ngác. Lão im như thóc, cho đến bây giờ vẫn chẳng ai hiểu vì sao. Dân tình tha hồ bàn tán, toàn đoán mò chẳng ai moi được từ lão một chút gì. Tự nhiên mình có nhu cầu gặp lão quá, mới gọi cho Tiến trọc, nói ông cho tôi đến nhà 46 Bạn văn 2 Trần Đăng Tuấn chơi với. Tiến trọc ok liền. Tiến trọc đánh xe đưa mình đến nhà, tối om rồi lão đi đâu chưa về, chỉ thấy Thùy Linh và vợ chồng Long Vũ đang ngồi đợi. Vừa hỏi bà Trâm (vợ lão), nói ông Tuấn đi đâu thì lão gọi điện, nói bọ Lập chờ tí chờ tí, sắp về sắp về. Mình nói khách khứa đầy nhà ông còn bỏ đi đâu. Lão nói đi Suối Giàng (Yên Bái), có chút việc nên trễ hẹn, chịu khó chờ chút, tôi đang cho ô tô bay về đây. Một chút của lão cũng hơn một tiếng, tám rưỡi lão mới về. Mới vào nhà chẳng kịp bắt tay bắt chân ai cả lão đã rú lên với vợ, nói dọn ăn dọn ăn anh đói lắm rồi, từ trưa đến giờ chưa có gì bỏ bụng đây. Tiến trọc cười, nói ông làm như Yên Bái không có quán xá, tiền bạc trút hết cho em nào rồi thì khai ra. Lão cười hì hì, nói đúng là trút hết cho các em thật. Bà Trâm vằn mắt lên, lão chỉ cười hì hì không nói gì. Vào mâm rượu mới biết nhà thằng cha này lắm rượu, cả một góc nhà đầy rượu người ta biếu chưa kịp xếp vào tủ. Đương chức đương quyền không nói làm gì, quan thất sủng về vườn mà có cả góc rượu biếu thế kia đủ biết lão sống với anh em cấp dưới thế nào. Lão rót vang khai vị. Món rượu vang mình rất dốt, thấy cái chai vang xâu xấu, uống vào một ngụm chẳng thấy ngon, nghĩ bụng chắc là thứ vang Pháp - Gia Lâm mấy trăm ngàn lão vẫn dùng để đãi khách toạc. Nhìn sang Long Vũ, Tiến trọc thấy mặt hai thằng hơi xìu, có lẽ chúng cùng tâm trạng như mình nhưng không dám nói. Mình đánh bạo nhìn lão cười cười, nói chai vang này mấy trăm? Lão trợn mắt lên, nói sao lại mấy trăm, hai triệu tám Nguyễn Quang Lập 47 của người ta đấy. Lão vừa dứt lời tự nhiên mình nhấp vào một ngụm thấy ngon hẳn, Tiến trọc, Long Vũ mặt mày bỗng sáng bừng lên, xuýt xoa khen vang ngon cực. Thùy Linh cười phì, nói mấy ông này đúng đã dốt lại muốn mốt sang. Hi hi. Nhậu lai rai lão mới kể chuyện đi Suối Giàng, vì sao về muộn. Đọc báo xem ảnh thấy ở Suối Giàng có rừng chè cổ thụ, lão rủ mấy người bạn vọt lên xem thế nào. Xe lên đến trung tâm xã Suối Giàng, thế nào lại đỗ ngay trước cửa trường nội trú học sinh miền núi. Lão chui vào quán trước cửa trường uống nước, chủ quán mới kể trường nội trú này do dân nuôi hoàn toàn vì chỉ có 80 em, trường dưới 100 em Nhà nước không hỗ trợ. Lão hỏi dân nuôi thế nào? Chủ quán nói cha mẹ góp gạo mỗi tuần hai cân và 5 ngàn tiền thức ăn. Lão trợn mắt há mồm, nói một tuần có 5 ngàn thức ăn, ngày không được 1 ngàn thì ăn uống thế nào? Chủ quán chỉ bác người Mông xách xô nước đi qua, nói đấy, ông này nấu cơm cho tụi trẻ đấy. Nghe vậy lão vọt theo bác người Mông liền. Vào tới nơi thấy cái bếp trọc lóc mỗi nồi cơm, lão hỏi bác người Mông, nói thế ăn cơm với gì? Bác người Mông chỉ mấy bó rau cải bé tẹo đã vàng úa một nửa, nói ăn canh rau này. Lão lại trợn mắt há mồm, nói chỉ thế này thôi à. Bác người Mông gật đầu, nói chỉ thế này thôi. Lão nói quanh năm chỉ thế này thôi? Bác người Mông nhìn lão rưng rưng, nói đúng rồi. Lão ngừng kể lặng lẽ uống hết ly rượu, lừ lừ nhìn Long Vũ, nói Vũ có nhớ sáu, bảy năm trước tại trường quay S9, Mỹ Linh dẫn chương trình Nối vòng tay lớn, quay cảnh bữa 48 Bạn văn 2 cơm học sinh dân tộc nội trú. Mỹ Linh nói chỉ cần 2 ngàn đồng/ngày cho mỗi đứa bé thôi thì hàng ngày bữa ăn có màu sắc hơn, chứ bây giờ chỉ thấy có màu trắng của cơm và trắng của măng nấu muối... Rồi cô nàng không nén được, khóc nấc trước cả bao triệu người xem ti vi. Long Vũ nói em nhớ chứ, đó là chương trình Nối vòng tay lớn lần thứ hai, Mỹ Linh khóc thật luôn. Chúng nó kể trong trường quay đứa nào cũng khóc theo. Lão nhìn bà Trâm cười buồn, nói tiền anh trút cho các em là các em trường dân tộc nội trú Suối Giàng. Bốn thằng tụi anh nhịn đói một bữa mà cả trường nội trú Suối Giàng có một bữa cơm có thịt, em ok chứ? Trong ví có mấy trăm anh đưa hết cho bác người Mông, nói để các em ăn cơm có chút thịt kho với đậu phụ được một tuần cần bao nhiêu tiền? Bác người Mông tính rất nhanh, nói bốn triệu rưỡi, một tháng 18 triệu. Bà Trâm cố giấu tiếng thở phào nhẹ nhõm (hi hi), nói nhưng hết một tuần, một tháng rồi thì sao? Lão vỗ vai vợ, nói em giỏi lắm. Anh cũng nghĩ thế. Để cả tháng bữa nào cũng có thịt trường dân tộc nội trú Suối Giàng cần phải có 18 triệu, anh sẽ ngửa nón xin bạn bè ở Hà Nội mỗi thằng 500 ngàn/tháng, chắc là lo được. Mình hỏi lão, nói nước mình có bao nhiêu trường dân tộc nội trú như Suối Giàng? Lào thở hắt, nói ôi có cả ngàn, nhưng sức mình chỉ kham được một trường Suối Giàng thì cứ lo cho tốt đã, mọi chuyện tính sau. Chuyện đó rồi cũng qua đi, mình vào Sài Gòn lo mua nhà, quên tiệt luôn bữa cơm có thịt của Trần Đăng Tuấn. Một tối Tiến trọc nhắn tin: Lão Tuấn vừa lập blog, mới lên bài Nguyễn Quang Lập 49 đầu hay lắm, mày vào còm một phát động viên lão. Mình vào ngay, thấy bài: “Hôm nay lên Suối Giàng” đọc cảm động quá nhưng chẳng thấy ma nào còm, mỗi hai cái còm của Thùy Linh và Tiến trọc. Mình còm một phát rồi đưa bài lão lên blog Quê choa, dẫn link blog lão, viết A lô a lô đây là blog Trần Đăng Tuấn. Sáng mai lão vào blog, giật mình thấy hơn trăm cái còm đổ xuống, mừng húm lão nhắn tin báo cho mình, viết cảm ơn bọ Lập nhé, đúng là làm gì cũng phải có ô dù he he. Đến chiều tối lão gọi điện báo, nói đã hơn hai trăm còm rồi, ối giới ơi không ngờ bờ lốc bờ leo mà hay thế. Mình vào blog lão đọc còm, thấy ai nấy đề nghị Trần Đăng Tuấn lập quỹ  bữa cơm có thịt cho trường dân tộc nội trú Suối Giàng. Mình gọi điện cho lão, nói ý tưởng hay đấy, bác nên lập quỹ đi. Lão có vẻ chần chừ, nói ừ để tính xem có rắc rối gì không đã. Mình nói bác cứ lập đi, mình làm ăn đàng hoàng sợ đếch gì. Lão cười hì hì, nói ừ thì lập, thử xem cái đếch của bọ nó đến đâu. Lão thông báo trên blog, ba ngày thu về hơn trăm triệu, một tuần hơn ba trăm triệu. Tiến trọc mừng rú gọi điện cho mình, nói ông Trịnh Công Sơn nói đúng, sống trong đời sống chỉ cần một tấm lòng không việc đếch gì không làm được... đú mé hay cực! Cuối tháng lão cũng gọi điện cho mình, nói tình hình là rất tình hình. Quỹ cho các em trường dân tộc nội trú Suối Giàng đã quá đủ, phải đưa quỹ này lên quỹ các trường dân tộc nội trú. Mình sướng run, nói ối giời ơi hay quá là hay, làm tới đi. Chuyện đó xảy ra cách đây 10 tháng, đến nay quỹ Bữa cơm có thịt, thu được hơn 4 tỉ rưỡi, 51 trường dân tộc nội trú 50 Bạn văn 2 đã có bữa cơm có thịt. Ngoài ra còn có hàng tấn áo quần, sách vở cho các cháu. Hôm qua mình gọi điện cho lão, nói hơn chục năm bác xây dựng VTV thu được ối thành công nhưng chắc chắn không thành công nào lớn lao như thành công này. Lão có vẻ cảm động, nói ừ ừ. Mình cười, nói Tuấn cơm có thịt oách hơn Tuấn phó tổng đấy nhé. Lão nói ừ ừ. Lão ngập ngừng giây lát rồi kể, nói cảm động lắm bọ à. Có cháu sinh viên mới ra trường tháng nào cũng gửi năm chục ngàn rất đều đặn. Có cháu viết thư bảo cháu chưa xin được việc làm, chừng nào có việc làm cháu sẽ gửi nhiều hơn. Nói đến đó lão nghẹn lại, cứ để mobile nguyên thế nhưng không nói thêm được tiếng nào. Mình ngồi yên ứa nước mắt, hình dung mắt lão đang đỏ hoe. Tạ Duy Anh, Lão Khổ Nguyễn Quang Lập 51 Mình quen Tạ Duy Anh từ năm 1992, khi nó vừa đoạt thủ khoa khóa 4 trường viết văn Nguyễn Du cùng với Võ Thị Hảo. Được giữ lại Trường làm trợ giáo, Tạ Duy Anh cùng với anh Phạm Vĩnh Cư, hiệu phó Nhà trường, đi từ Bắc chí Nam tuyển học trò khóa 5, có ghé qua nhà mình ở Quảng Trị “dụ dỗ” mình đi học. Mình cũng thích lắm nhưng kẹt con còn bé, vợ không có việc làm, bỏ đi học lấy gì nuôi vợ con, đành chịu. Suốt buổi chỉ có anh Cư nói chuyện với mình, Tạ Duy Anh chẳng nói gì. Nó đi đi lại lại ngắm nghía cái nhà mới xây của mình, vào chuồng lợn xem mấy con lợn mới nuôi, chui ra cả vào hố xí đổ thử gàu nước xem hố xí có thông không. Rồi nó nhảy tót ra ngoài đi vòng quanh nhà, ngắm Đông ngắm Tây gật gà gật gù y chang thầy địa lý đi tìm long mạch vậy. Cuối buổi nó mới ôm vai mình lắc lắc, nói tôi nghe về ông cũng đã nhiều. Nhà ông rất giống nhà tôi, bố ông rất giống bố tôi, cái số của ông cũng lao đao lận đận như số tôi vậy. Nó không nói giọng cảm động, cũng chẳng để thông cảm chia sẻ gì, mặt mày hớn hở, nói năng hồ hởi. Nói xong vỗ vai mình đánh bốp, nói văn ông cũng đắng ngắt như văn tôi. 52 Bạn văn 2 Nó cười hơ hơ, vỗ vai một phát lại cười hơ hơ hơ. Mãi lúc ra về nó mới bắt tay mình thật chặt, nhìn vào mắt mình thật lâu, hắt ra mấy tiếng như một tiếng thở dài, nói thôi ra Hà Nội đi ông, đừng sống mòn ở đây nữa. Sau này mới biết lần nào gặp nhau cũng vậy, nó cứ bỗ bã xởi lởi nói cười như không, thân mật gần gũi như là nói tiếp chuyện hôm qua chứ không phải câu chuyện mấy năm sau, mười mấy năm sau mới gặp lại. Kể từ lần gặp nhau đầu tiên bốn năm sau mình mới gặp lại nó. Năm 1996 không nhớ vì chuyện gì mình với thằng Nguyên (Phạm Xuân Nguyên) đến trường viết văn Nguyễn Du, thấy nó đỏ mặt tía tai đứng trong văn phòng chửi ai đó um lên. Quay ra thấy mình, cái mặt đang đằng đằng nộ khí bỗng biến ngay thành cái mặt cười rất ngộ. Hi hi công nhận thằng này xấu trai, mồm vẩu răng vẹo, cái cười tối om xấu oẳng. Nó ném cho mình cuốn Lão Khổ nhưng không nói gì về cuốn sách. Không như người khác kín đáo theo dõi thái độ người khác đối với sách mình thế nào. Nó chẳng thèm bận tâm. Trong khi mình lật mấy trang đầu xem qua, nó kéo banh tai mình ra, nói tôi biết con bồ cũ của ông ở trường Tổng hợp rồi nhé. Yêu nhau từ hồi lớp 10 hả? Thua tôi, tôi biết yêu từ hồi lớp 5! Mới 12 tuổi mà dám yêu cô giáo nhé! Mình không tin, nói tuổi ấy chưa hết đái dầm yêu đương cái gì. Mồm nó nhọn lên xòe cả bộ răng vẹo, nói tôi yêu thật chứ. Cô giáo dạy sinh lớp tôi nhé. Yêu là nhớ, đúng không? Những lúc vắng cô tôi nhớ cô nhé, bồn chồn mong nhớ hẳn hoi nhé. Tôi còn ghen tuông nữa nhé. Một hôm tôi thấy cô giáo đứng nói chuyện với thầy toán rất lâu, tôi tức phát điên, Nguyễn Quang Lập 53 tức đến bật khóc. Ô kìa, tôi nói thật đấy, đó là mối tình đầu của tôi, một mối tình bi thảm trong đời tôi, không đùa đâu.  Gặp Tạ Duy Anh lần nào cũng chỉ nghe nó tán phét mấy chuyện ba lăng nhăng, cứ tưởng đời nó nhẹ tênh, vào trong gái gú ra ngoài rượu bia, chẳng phải lo lắng nghĩ ngợi gì. Chẳng ngờ từ năm 1990 đến giờ nó đã có hơn hai chục cuốn sách, gần vạn trang bản thảo. Nó viết đến hói cả đầu, lòi cả mắt. Viết giữa những lần lao đao vay nợ người này trả nợ người kia, giữa khi hoạn nạn vợ ốm con đau, giữa những lần chảy máu dạ dày thập tử nhất sinh. Khi mình gặp nó ở trường viết văn Nguyễn Du là nó vừa ra viện, sụt mất cả chục cân, nợ thêm chục triệu. Mặt mày tái mét, răng vẹo lại càng veo, mồm vẩu lại càng vẩu. Thế mà nó cứ cười hơ hơ, cứ như khổ đau là lẽ đương nhiên không việc gì phải bàn. Năm 1998 mình đến chơi nhà nó, một căn gác bé tí hin ngậy mùi thuốc Bắc. Nó uống thuốc Bắc quanh năm, siêu thuốc Bắc nhà nó không khi nào rời bếp điện, hết siêu này lại bắc liền siêu khác. Bệnh dạ dày của nó cũng lạ lắm. Nó đang nói cười vui vẻ bỗng ọ một phát thổ ra cả bát máu. Cấp cứu năm bảy ngày đỡ ngay, ra viện năm bảy ngày nói cười tí tởn lại ọ một phát thổ ra một bát máu. Thất kinh. Thời đó, những năm 1990 - 1996, khi nào nó cũng ở trạng thái sắp chết. Bạn bè nó đứa nào cũng nghĩ thằng này chắc chẳng  sống quá được vài năm. Mình nói ông số khổ, cứ loay hoay bước qua lời nguyền, hèn gì bạn bè gọi ông là Lão Khổ. Nó cười hơ hơ, nói sai bét. Tôi loay hoay bước qua cái siêu thuốc Bắc cũng đủ mệt, nói gì đến chuyện bước qua lời nguyền. Mà tôi chỉ có một 54 Bạn văn 2 lời nguyền vợ khỏe con khôn gia đình yên ổn, thế thì việc gì phải bước qua. Tôi sống được đến giờ là nhờ vợ chả phải nhờ trời. Con vợ tôi hay lắm, hay đến nỗi tôi viết văn không bao giờ dám nói xấu đàn bà. Nó kéo tai mình xuống, nói ông gặp vợ ông sau bao lâu thì quyết định cưới nó làm vợ? Mình nói 5 ngày. Nó nói thua tôi, tôi chỉ sau 5 phút là quyết ngay. Mình nói sao nhanh thế. Nó bảo tôi ngửi, tôi ngửi được mùi đàn bà đấy. Tôi gặp con bé ở vòi nước công cộng, ngửi phát biết ngay con này sinh ra để làm vợ, thế là tôi quyết liền. Nó ngửa cổ cười hơ hơ hơ, mắt nhắm tít đầu giật giật trông thật đã đời. Sáng sớm hôm sau mình đến cơ quan thấy Nguyễn Bình Phương đứng ở cổng chờ, nói anh biết tin gì Lão Khổ chưa? Mình nói chưa. Nó bảo Lão Khổ vừa thổ huyết, lại cấp cứu bệnh viện. Mình tới thăm. Nó nằm dúm dó trên giường bệnh nhìn mình cười méo mó, nói ông biết không, bệnh dạ dày của tôi sinh ra thời đổi mới đấy, thời Những việc cần làm ngay. Chuyện này thì mình có biết. Năm 1989 - 1990 chi đó, bố nó ở quê đọc báo thấy Những việc cần làm ngay mới hăng máu lên mới viết đơn gửi lên tỉnh tố cáo mấy ông “cường hào mới” ở xã. Tỉnh, huyện lập đoàn về điều tra mới hô hoán lên bố nó vu khống bôi xấu cán bộ. Bạn gái của Vũ Hữu Sự, bạn thân của nó, viết bài Người tố cáo sai sự thật phải được xử lý nghiêm minh đăng trên báo Hà Sơn Bình do ông bạn vong niên của nó làm tổng biên tập. Bài báo nhanh chóng được báo Nhân dân đăng lại, đài phát thanh Hà Sơn Bình đọc đi đọc lại một ngày ba lần. Một chuyên án nhắm tống cổ bố nó Nguyễn Quang Lập 55 vào tù được triển khai riết róng. Khi đó nó đang ở lính, trời xui đất khiến thế nào hôm đó nó lại đọc báo Nhân dân. Lập tức nó lao về nhà, điên cuồng tìm kiếm sự thật và chứng minh được tố cáo của bố nó đúng sự thật một trăm phần trăm. Nhưng ông tổng biên tập bạn nó không chịu đăng bài cáo lỗi, nói tôi biết bố Duy Anh đúng nhưng không lẽ bây giờ tôi đăng bài nói lại lãnh đạo sai, lãnh đạo thì sai thế quái nào được. Rồi ông vỗ vai nó ân cần, nói thôi, Duy Anh chịu khó để ông già vào tù dăm bảy tháng một năm chi đó rồi ra, có gì đâu. Cô nhà báo bạn của Vũ Hữu Sự cũng không thừa nhận mình viết sai sự thật, chẳng những thế còn tổ chức liên hoan linh đình khi bài báo của cô trúng giải Hội nhà báo. Nó chạy về Hà Nội, tìm đến tất cả các tờ báo có bạn bè nhờ đăng lại sự thật về bố nó, khốn thay bạn bè thấy nó hết thảy mắt trước mắt sau lặn mất tăm. Thế cùng nó liều mạng gõ cửa nhà Bí thư tỉnh ủy. May thay Bí thư tỉnh ủy đã chăm chú nghe nó, ông lệnh cho cấp dưới điều tra lại rồi đình chỉ ngay vụ án. Bố nó thoát án tù trong gang tấc. Vụ án kết thúc, dạ dày nó rách toác, nó thổ ra đúng một thau máu. May cấp cứu kịp thời không nó ngỏm củ tỏi từ lâu rồi. Mình nói vụ án kết thúc, lẽ phải thuộc về bố ông sao con bé viết bài, cái ông tổng biên tập đăng bài vẫn sống khỏe, không ai làm gì được bọn họ cả a? Tưởng chọc đúng chỗ uất nó lại bừng bừng nộ khí, té ra không, nó xua tay cười cười, nói bố tôi thoát tù tội thế là phúc rồi. Lạc bất khả mãn ông ạ. Nó kéo tay mình ra hiệu đến gần, nói ông biết không, tôi ngửi được mùi con bé nhà báo kia đấy, nó mùi trâu. Mùi trâu kinh lắm. Đàn bà mùi trâu thì thậm nguy, không trốn chúa cũng lộn 56 Bạn văn 2 chồng. May cho thằng Vũ Hữu Sự, hơ hơ hơ.... Nó nằm thoi thóp cười, cái cười rệu rã như kẻ sắp chết nhưng lạ thay mắt nó sáng trưng, lấp lánh một niềm tin vô bờ bến. Nhà văn nhà veo Nguyễn Quang Lập 57 Kỳ này mình ra Hà Nội gần nửa tháng, ra để giải quyết việc nhà, kỳ thực không nghĩ gì đến Đại hội nhà văn. Từ lâu rồi mình không quan tâm đến các đại hội của các hội, hội nào cũng thế chứ chẳng cứ gì Hội Nhà văn. Mình có tên trong bốn năm hội, khi còn trẻ mỏ thì hăng lắm, bây giờ già rồi, và nói thật cũng nản rồi, chẳng muốn dự bất kỳ đại hội nào nữa. Đến dự thì cũng vui, được gặp bạn bè tứ xứ ôm vai hót cổ hỏi han năm điều ba chuyện để biết thêm chút về nhau cũng không phải là dở... Hồi còn trẻ thì máu me lắm. Sắp đến kỳ đại hội trong lòng rộn rã, xôn xao trước cả tháng. Mình nhớ Đại hội nhà văn lần thứ IV vào cuối năm 1989, hồi đó mình đang ở Huế, anh em nhà văn ngày nào cũng gặp nhau khi thì quán rượu chị Phước, khi thì quán rượu chị Hiếu, sôi sục bàn chuyện đại hội. Người nói tôi sẽ nói cái này, người nói tôi sẽ nói cái kia, ai nấy mặt mày phừng phừng như sắp ra chốn sa trường, hi hi. Đoàn nhà văn Bình Trị Thiên được Tỉnh ủy gặp gỡ, mời cơm trước khi đi đại hội, còn cho tiền cấp xe đi ra Hà Nội, 58 Bạn văn 2 rất oách. Ra đến Bến Thủy trúng mùa nước lũ, kẹt phà, xe dồn nhau dài đến mấy cây số, anh em trình cả giấy triệu tập của Ban bí thư cũng không được ưu tiên. Bí thế, mấy anh Hoàng Phủ Ngọc Tường, Ngô Minh, Nguyễn Trọng Tạo kẻ đọc thơ, người hát nhạc nịnh mấy ông canh phà suốt đêm, sáng ra mới được ưu tiên cho qua phà trước, mừng hết lớn. Tâm trạng đi dự đại hội hồi đó lạ lắm, giống như đi lễ hội lớn vậy, ai nấy ngây ngất con cà cưỡng, tâm niệm đến đấy vừa để chơi vừa để giải quyết việc lớn văn chương nước nhà. Ai nấy đều đinh ninh nếu đại hội thành công, bầu được Ban chấp hành (BCH) ưa ý thì văn chương nước nhà nhất định sẽ khởi sắc. Mình cũng đinh ninh như thế. Chẳng biết từ khi nào anh em nhà văn đã đánh đồng nền văn chương với công tác hội, đinh ninh sở dĩ nền văn chương Việt xập xệ là do BCH hội mà ra. Mọi yếu kém của nền văn chương cũng do mấy anh BCH đầu têu hết. Bây giờ vẫn nhiều người đinh ninh như thế chứ chẳng phải ngày xưa. Kỳ thực Hội là nơi động viên giúp đỡ anh em sáng tác cho tốt, thế thôi. Chẳng có hội nào lại chỉ đạo được nhà văn viết cái gì, viết như thế nào. Phàm là nhà văn chẳng ai chỉ đạo được ai, ông nào ông nấy cái tôi to bằng cái bồ, văn mình vợ người xưa nay đều thế cả, chẳng làm sao thay đổi được. Vả, tự do sáng tác là thứ nhà văn cần chứ không phải người ta cần. Hội bắt tay chỉ ngón cho người ta viết, nếu bị bắt tay chỉ ngón thì đố ai còn viết văn được đấy. Có ai đó ví von chuyện con rết rất hay. Con rết có hai dãy chân đến cả trăm chân, mỗi lần nó chạy hai dãy chân chuyển Nguyễn Quang Lập 59 động nhịp nhàng. Con chuột hỏi con rết ông làm sao điều khiển được hai dãy chân nhịp nhàng đến thế. Con rết nói có gì đâu, đầu tiên giơ chân này nhé, rồi giơ chân này nhé... Đến khi nó làm như nó nói thì nó không đi được nữa. Hôm qua Vi Thùy Linh gọi điện phỏng vấn mình, nó nói theo chú BCH có cần những người thực tài không. Mình nói có chứ sao không. Nhưng đó là các nhà văn có tài quản lý, tài điều hành, tài tổ chức sự kiện hội nghị hội thảo... chứ không phải tài viết văn. Bầu mấy ông có tài viết văn vào BCH để làm gì, để họ viết văn mẫu cho mọi người viết theo hay sao? Nói chuyện BCH cũng buồn cười. Không rõ các kỳ đại hội I, II, III thì thế nào, từ đại hội IV trở đi trên cho bầu bán tự do thoải mái, thì danh sách đề cử cả đến mấy trăm người, nhiều người xin rút rồi vẫn còn hơn hai trăm người, thất kinh. Lâu nay cứ nghĩ nhà văn thì chẳng ai mê quyền lực, thậm chí ghét bỏ khinh miệt nữa, té ra không phải. Quá nhiều người mê dù đó chỉ là cái quyền hão, danh hão và cũng quá nhiều người ảo tưởng về bản thân. Về cái sự ảo tưởng bản thân thì ai cũng mắc, mình cũng không thoát được. Đại hội V mình có tên trong danh sách đề cử, kỳ thực thì 500 đại biểu có đến 250 ông được đề cử rồi chứ chẳng vinh dự gì. Khi đó bao nhiêu người rủ rê tán tỉnh mình. Kẻ kéo áo, nói ông không được rút nhé; người rỉ tai, nói đợt này ông phải vào đấy, cấm có chạy làng. Ngoài mặt ra vẻ không quan tâm nhưng trong bụng sướng củ tỉ, bèn tắc lưỡi nói ừ thì không rút, vào được BCH cũng tốt, nếu chẳng 60 Bạn văn 2 vào được cũng biết thực có bao nhiêu người yêu mình. Đến khi bầu mình chỉ có 156 phiếu, còn gần trăm phiếu nữa mới trúng, xấu hổ chết được. Buồn đúng một tháng, không phải buồn vì trật BCH mà buồn vì nhận ra quá ít người yêu quý mình thật sự. Sau nghĩ lại thấy chẳng việc gì mà buồn, người ta bầu BCH là bầu những người có năng lực điều hành chứ đâu bầu kẻ mình yêu, người mình phục văn tài. Ông Thiệp (Nguyễn Huy Thiệp) hồi đó tên tuổi nổi như cồn, nhiều người nói nếu gọi Hội Nhà văn là một gánh thì đầu này là cả Hội Nhà văn, đầu kia là Nguyễn Huy Thiệp. Chắc ông Thiệp cũng nghĩ thế nên ông chẳng rút, kết quả ông chỉ có hơn trăm phiếu bầu cho ông thôi. Mình nhớ đại hội IV mình ở trong ban kiểm phiểu, ông nào ông nấy hằm hè nhau, ông này nghi ông kia lậu phiếu, rất căng thẳng. Bầu lần đầu được 5 người, lại bầu lần nữa được 6 người. Kiểm phiếu đến nửa đêm mới xong, mệt bã người. Điều lạ là giờ đó vẫn còn rất nhiều nhà văn ngồi phủ phục chờ kết quả bầu cử, khi tụi mình ra khỏi phòng kiểm phiếu xuống hội trường thì mọi người chạy rật rật đến, nói sao rồi sao rồi. Hi hi, bầu BCH Hội Nhà văn mà hồi hộp căng thẳng không khác gì bầu tổng thống. Hồi đó mình chỉ 33 tuổi, cái tuổi ưa nổi danh thích được chứng tỏ, nhảy lên diễn đàn phát biểu ba bốn lần, được vỗ tay hoan hô càng ăn to nói lớn. Đại hội văn chương chẳng thấy bàn văn chương, chỉ toàn tranh cãi nhau ông này tham Nguyễn Quang Lập 61 ông kia hèn, ông này bất tài ông kia cơ hội. Anh Trần Dần ra khỏi hội trường, dập dập cái gậy chống, mắt trợn miệng nói tợn, đại hội tợn quá. Mấy bác Phùng Quán, Trần Dần, Hoàng Cầm, Lê Đạt... ba chục năm trở lại văn đàn, tưởng các bác sẽ đăng đàn nói những điều hệ trọng, té ra không. Các bác toàn rủ nhau ra căng-tin phía sau hội trường uống bia, uống say thì về. Anh Phùng Quán cứ đến chiều là chân nam đá chân chiêu trở về nhà. Chị Trâm vợ anh hỏi đại hội có chuyện gì vui, anh chỉ nhăn răng cười, nói ua chầu, cãi nhau như mổ bò. Cụ Hoàng Trung Thông khi đó đã già rồi, chẳng hiểu sao không thấy cụ vào ghế ngồi, chỉ đứng ở cửa trông vào. Tính mình ngồi không nóng chỗ, lúc lúc lại nhảy ra ngoài hút thuốc. Mỗi lần qua cửa cụ lại túm tay giật lại, nói sao rồi sao rồi. Mình cười, nói thì vẫn đang cãi nhau đó mà anh. Cụ cười cái hậc, nói đại hội với đại heo, Hội Nhà văn cãi nhau mấy chuyện này à. Mình chỉ cười hì hì chẳng biết nói sao. Khi đó mình nghĩ các cụ hết hơi rồi, viết lách không màng, hội hè cũng đã chán. Đến đại hội để tìm bạn uống ba chén rượu thôi. Bây giờ mới thấy các cụ có lý, nhà văn lại đi cãi nhau ỏm tỏi ba chuyện phi văn chương thật quá phí thời giờ. Đa phần các cụ đều dạt ra hết cho mấy anh trẻ tranh hùng, tóm lại cũng chỉ để tranh cái chân BCH. Các cụ đến đây chỉ để vui, vui bạn vui bè, vui nghề vui nghiệp, và đó mới đúng là đại hội nhà văn. Mấy thứ phi văn các cụ ớn lắm, sợ lắm. Nhớ Kim Lân 62 Bạn văn 2 Không nhớ gặp cụ khi nào, hình như ba bốn chục năm về trước. Có lẽ không lâu đến thế. Việc thấy cụ trên phim và gặp cụ ngoài đời làm mình lẫn lộn chẳng còn nhớ đích xác gặp cụ năm nào, ở đâu.  Chỉ nhớ năm 1988 mình dự trại viết Nguyễn Quang Lập 63 Suối Hoa ở Hà Bắc thì cụ đã mày tao với mình, thân thiết gần gũi lắm rồi. Mình ít khi gặp cụ, một năm đôi ba lần chứ không hơn. Riêng hai tháng ở trại viết Suối Hoa hầu như tuần nào cũng gặp cụ. Cụ từ Hà Nội về quê lần nào cũng ghé qua nhà anh Đỗ Chu, anh Đỗ Chu lần nào cũng rước cụ về trại viết Suối Hoa nơi anh làm trưởng trại, lần nào vào trại viết Suối Hoa cụ cũng vào phòng mình và Nguyễn Trọng Tín. Thằng Tín và anh Đỉnh (Trung Trung Đỉnh) là đệ tử của cụ, mình mặc nhiên là đệ tử của cụ luôn. Cụ đến chơi chủ yếu ngồi nghe tụi mình tán gẫu chứ chẳng nói gì. Ai hỏi gì thì cụ nói không thì thôi. Ngồi một lúc hút đôi ba điếu thuốc lào, một hai chén chè, phải chè ngon cụ mới uống, chừng như nghe vậy đủ rồi cụ phủi đít đứng dậy, nói thôi, tao về đây. Lần nào cũng vậy. Giống như ông anh ở quê tới thăm mấy thằng em, cụ chỉ quan tâm đến em út ăn ở thế nào, còn “văn chương là việc của chúng nó” cụ không quan tâm. Chưa bao giờ cụ hào hứng với chuyện văn chương, cũng chẳng thấy cụ khen chê ai bao giờ. Văn của cụ lại càng không. Cụ nghe người ta tán văn cụ như nghe chuyện thời sự nước ngoài, không 64 Bạn văn 2 mặn cũng chả nhạt. Cụ có một nhúm truyện ngắn, truyện nào cũng đặc sắc cả nhưng chỉ có một nhúm thôi, khen đi khen lại cũng từng đó ý, nghe lắm cũng ớn. Hễ thấy người ta nói nhiều về văn Kim Lân thể nào cụ cũng đánh trống lảng sang chuyện khác rồi tính bài chuồn. Riêng mấy thằng em thân thiết, nếu đứa nào nhỡ miệng khen văn Kim Lân thể nào cụ cũng trừng mắt lên, nói chúng mày hết chuyện rồi à? Chỉ khi nói chuyện phim ảnh cụ mới tươi tỉnh góp chuyện. Cụ hào hứng kể mấy giai thoại người ta phóng tác chuyện cụ đóng phim, nói đến khổ chuyện tao đóng Lão Hạc được trả 2000 đồng, con chó đóng Cậu Vàng được trả 3000 đồng, người nào gặp cũng hỏi tao chuyện này có hay không. Nói có cũng chẳng xong nói không cũng chẳng được. Mình gật gù chia sẻ, nói Việt Nam bỏ tiền ra thuê chó đóng phim trời sập cái đoàng. Nhưng em phục nhất cái xen cuối khi người ta ròng cổ Cậu Vàng, xen đó anh diễn cực tài. Người khác sẽ diễn theo thói quen, sẽ nhìn theo Cậu Vàng mắt rưng rưng, hoặc chạy đuổi theo Cậu Vàng mặt ngẩn ngơ cay đắng, đằng này anh đứng phắt dậy quay lưng đi ngay. Diễn thế mới thực, mới ra một nỗi đau. Tài quá! Cụ cười ha hả, nói đâu có đâu có. Khi đó tao sợ con chó quay lại đớp tao một phát nên vội đứng lên bỏ đi đó mày ơi. Ối giời là tài, ha ha ha. Nhiều năm rồi Kim Lân chỉ chơi hoa, chơi cây cảnh cá cảnh, chơi đồ gốm đồ cổ, chơi quan họ chứ không chơi văn.  Chuyện cụ bỏ chơi văn thiên hạ bàn tán cũng đã nhiều. Anh Đỗ Chu kể, nói ông chán thì bỏ có gì đâu, cũng giống mình đã chán vợ thì dù nó có cởi truồng gí vào mũi mình cũng Nguyễn Quang Lập 65 xin kiếu. Một hôm ông báo cáo lãnh đạo, nói từ nay các ông phân công việc gì cũng được, đừng bắt tôi viết văn nữa, tôi bí lắm rồi. Là ông nói vậy, bí đâu mà bí, thạo chữ như Kim Lân bí cái gì. Ông chán chữ, không muốn chơi chữ nữa, có thế thôi. Mình cũng thấy hơi lạ, viết lâu viết nhiều đến lúc chán chữ là chuyện thường chứ cụ viết được bao nhiêu đâu mà chán. Nếu cụ viết dở, văn veo chẳng ai quan tâm tất nhiên là phải chán, bỏ là phải. Đằng này cụ viết cái nào thiên hạ vồ lấy đọc cái đó, bàn tán xôn xao, nhà văn được vậy ai không hạnh phúc, sao cụ chán nhỉ? Mình hỏi cụ. Lần đầu cụ cười nhạt không nói. Lần sau cụ thở ra, nói đã viết là phải hay, biết mình không thể viết hay thì đừng có viết. Mày nhìn ra làng văn mà xem, mười thằng viết thì chín thằng rưỡi chỉ tổ tốn giấy mực, mất thời gian lại bị thiên hạ chê cười. Ngu gì theo chúng nó. Mình cười, nói thế thì tại sao anh lại xui tụi em viết văn? Cụ trừng mắt lên, nói tao xui bao giờ, chúng mày ngu cho chúng mày chết! Hi hi. Một hôm cụ gọi điện đến cơ quan, nói mày có trốn việc được không. Mình nói chuyện gì anh. Cụ bảo tao muốn uống rượu với mày. Mình vọt đến nhà, cụ lôi chai rượu dưới gầm bàn lên, nói rượu Vân thứ thiệt đây. Vân này mới gọi là Vân chứ Vân Văn Cao, Vân Nguyễn Tuân đếch phải. Mình nhấp một ngụm, nói em cũng thạo rượu nhưng rượu Vân thì em chịu, chẳng phân biệt được Vân Kim Lân với Vân Văn Cao là thế nào. Cụ cười không nói gì cứ uống tì tì. Cụ rót rượu cho mình, nói cái gì không biết thì đừng có chơi, nguy hiểm 66 Bạn văn 2 lắm. Tao ngày xưa còn trẻ ngu dại, cứ tưởng văn là món dễ, chẳng phải học hành gì cũng chơi được. Chơi một hai cái được khen lại càng tưởng bở. Nhưng càng viết càng thấy mình ngu, chẳng biết văn là cái con mẹ gì. Thế là tao rút, rút ngay lập tức. Đã chơi thì chơi thật, chơi tới số, không thì thôi, bỏ ngay. Chớ có giả đò chơi, giả đò thạo chơi, đéo vào. Mình nhìn cụ cười cười, nói anh cho em hỏi một câu nhé. Anh phải nói thật nhé, đừng có giả đò như anh vừa nói với em nhé. Nghe thế cụ trợn mắt lên nhìn mình rồi phì cười, nói a thằng này nom thế mà láu. Tao hiểu ý mày rồi. Cụ nâng ly rượu chạm ly cái cạch, ngửa cổ uống sạch ly rồi cười hì hì, nói mày đểu lắm, đi guốc trong bụng tao. Nói thật thì thế này: xưa tao viết văn hăng máu, hăng máu lắm. Vì khi đó điếc không sợ súng, coi mình như ông trời con thích gì viết nấy chả biết sợ ai, chả coi ai ra gì. Bây giờ chưa viết đã coi mình như con sâu cái kiến thì viết cái mẹ gì nữa. Thứ văn của con sâu cái kiến có ai trọng đâu, người ta khinh tạt. Thà không viết thì thôi, viết ra để thiên hạ gọi mình bằng thằng thì tao không thèm, ỉa vào! Cụ cười cái hậc, rót rượu đầy ly uống cạn, nhìn trừng trừng ra sân cả tiếng đồng hồ, không nói thêm một tiếng nào nữa. Năm 1998 thì phải, mình có biên tập cuốn Truyện ngắn Kim Lân, in vào Tủ sách vàng của NXB Kim Đồng. Mình ôm sách tới nhà, nói biết anh chán chơi văn nhưng các cháu vẫn thích văn Kim Lân nên em mạn phép anh in cuốn này cho các cháu. Cụ cảm động lắm, cho mình một bữa rượu say. Cuối buổi rượu cụ lấy cái bình cổ cho mình, nói mày cầm về chơi Nguyễn Quang Lập 67 cho vui. Biết của đắt tiền mình từ chối, nói em có biết chơi đồ cổ đâu anh. Cụ cứ đặt vào tay mình, nói có quí anh mới tặng mày, cầm lấy đi không anh giận. Mình cầm về, bày ở phòng khách, ai đến chơi cũng xuýt xoa khen cái bình cổ. Thằng Vân (đạo diễn Nguyễn Thanh Vân) thằng Cẩm (họa sĩ Hoàng Hồng Cẩm) mê tít thò lò, lần nào đến chơi cũng đứng trước cái bình thật lâu, xuýt xoa tấm tắc khen hoài. Chẳng may mình bị tai nạn nằm liệt giường. Vợ mình nghe ai nói cái bình cổ đó có vong, mình bị tai nạn cũng vì thế, liền giấu mình ôm cái bình gửi nhà chùa. Chẳng hiểu thế nào chuyện đến tai cụ, lập tức cụ đến nhà mình. Cụ ngồi xuống cạnh nhìn mình xót xa, nói anh nghe chuyện hãi quá, suốt đêm không ngủ được, chỉ mong đến sáng tìm đến nhà mày. Mình cười, nói chuyện mê tín tào lao của đàn bà, anh để bụng làm gì. Cụ lắc đầu xua tay, nói không không, cái bình đâu rồi đưa anh. Mình nói để làm gì, vợ em gửi nhà chùa rồi. Cụ nói lấy về cho anh để anh đập tan cái bình, sau này không có ai dùng đến nó nữa. Nguy hiểm quá. Cụ sụm xuống, ngồi dúm dó bên mình, nói đã bảo cái gì không biết thì đừng có chơi mà anh cứ chơi liều, lại còn xui mày chơi nữa. Thôi, từ nay anh không chơi đồ cổ nữa. Cụ cầm tay mình mắt rưng rưng, nói anh sai rồi, sai lắm rồi, xin lỗi em. Mình im lặng nhìn cụ hồi lâu và bật khóc. Nhớ Thu Bồn 68 Bạn văn 2 Thời sinh viên mình làm thơ, vẫn thường lai vãng mấy tờ văn nghệ ở Hà Nội, quen hết lượt các nhà văn lớp trước, riêng Thu Bồn là mình không dám quen.  Đứng xa xa thấy anh to đen như con gấu là sợ, chưa khi nào dám đến gần. Ba lần mình thấy Thu Bồn thì cả ba lần anh đều trầm ngâm Nguyễn Quang Lập 69 đi đi lại lại trước sân, mặt mày nghĩ ngợi rất lung như đang làm thơ vậy, muốn chào anh một tiếng nhưng đành tắc lưỡi đi qua. Về nhà lại tiếc không được nói chuyện với Thu Bồn, nhà thơ mình ngưỡng mộ từ bé. Một lần mình thấy anh Kha (Nguyễn Thụy Kha) đứng nói chuyện với Thu Bồn ở 51 Trần Hưng Đạo (Hà Nội), mình liều xông đến. Anh Kha giới thiệu với Thu Bồn, nói Nguyễn Quang Lập, thằng em. Thu Bồn à và bắt tay, nói ngồi đâu cũng nghe ông Tường (Hoàng Phủ Ngọc Tường) nhắc đến mày, tưởng mày già rồi, ai ngờ trẻ thế này. Chợt nhớ câu thơ Thu Bồn: “Anh già hơn em một cuộc chiến tranh”, mình nói em trẻ hơn anh một cuộc chiến tranh. Anh cười vỗ vai mình, nói một nửa cuộc thôi. Anh kéo tay mình chỉ cô bé đang đứng giữa sân, nói cô kia mới cả cuộc kìa. Mắt anh hấp háy, nói con nhỏ của thằng Tạo (Nguyễn Trọng Tạo) đó, ngon không. Sau câu nói đó tự nhiên mình thấy thân quen Thu Bồn đã nửa thế kỉ rồi. Từ đó anh em thân thiết nhau lắm, nhậu đâu anh cũng rủ đi. Hễ thấy mặt nhau là thèm rượu, trước sau cũng kéo nhau vào quán. Bất kì cuộc nhậu nào Thu Bồn cũng giành lấy việc 70 Bạn văn 2 trả tiền, coi như đó là việc đương nhiên, khỏi phải bàn. Thu Bồn đãi bạn đến mình cũng phát sốt. Năm 1992 mình vào Sài Gòn, anh rủ đến ở nhà anh, hình như ở số 6 Đặng Thái Thân thì phải. Ngày nào cũng giống ngày nào, cứ 9 giờ sáng anh nhét vào túi quần một bọc tiền đạp xe đạp chở mình đến quán bia 81 Trần Quốc Thảo. Chẳng phải rủ ai, chỉ cần ngồi một lúc là có chục người kéo đến bàn của Thu Bồn liền, có hôm đến vài chục người, trong đó quá nửa là dân nhậu ké chuyên nghiệp, chỉ chực Thu Bồn đến là sà tới ngay. Nhậu đến ba giờ chiều tan hội, ngủ đến 10 giờ đêm bò dậy đi ăn phở, về nhà đọc sách viết lách tán gẫu đến 3 giờ sáng, ngủ một lèo đến 9 giờ sáng, Thu Bồn lại nhét vào túi một bọc tiền chở mình đến 81 Trần Quốc Thảo nhậu đến 3 giờ chiều. Cứ thế ròng rã cả tháng trời mình ở nhà anh. Mình hỏi anh, nói anh chẳng làm gì ra tiền, ngày nào cũng khuân tiền đi đãi bạn, tiền đâu ra? Anh cười, nói lo bò trắng răng. Tao có hai cái nhà, nhậu hết một nhà rồi. Còn một nhà nữa đang nhậu dần, nhậu xong cái nhà này chết là vừa. Mình nói nhỡ không chết được thì sao. Anh cười to, nói mày ngu bỏ bà, sống cho ra sống mới khó, chớ chết đòm cái là xong, dễ không à. Thu Bồn nhậu thì tốn tiền, yêu thì mất thời gian. Ít ai yêu đương mất thời gian như anh. Hễ mê cô nào Thu Bồn đeo đến cùng dù có mất cả năm trời. Mình đã chứng kiến Thu Bồn đứng dưới cửa sổ nhà chị H. ròng rã ba tháng trời, bất kể nắng mưa xứ Huế. Đêm nào cũng vậy, cứ 6 giờ là anh đến, đứng khoanh tay ngửa mặt nhìn lên cửa sổ và đọc thơ, Nguyễn Quang Lập 71 đọc hết bài này sang bài khác cho đến 3 giờ sáng mới lủi thủi ra về. Tháng tám mưa Huế dai dẳng từ đầu hôm cho đến sáng, Thu Bồn cứ khoanh tay ngửa mặt giữa mưa hết đêm này sang đêm khác, thật sợ quá đi mất. Vụ tình ái này Thu Bồn thất bại thảm hại. Mặc kệ Thu Bồn ngửa cổ nhìn lên dưới mưa lạnh xứ  Huế, chị H. trùm chăn ngủ ngon lành, không một lần mở cửa sổ nhìn xuống nói với anh một câu, dù là câu chê trách mắng mỏ. Ít khi Thu Bồn thất bại đắng cay như vậy, anh không được một chút gì kể cả một nụ cười của chị H. Bù lại anh có bài thơ Tạm biệt Huế cực kì nổi tiếng. Nhiều người bảo bài thơ đó Thu Bồn viết tặng cô Châu, một người đẹp ở Huế. Không phải. Có thể Thu Bồn chép tặng cô Châu bài thơ Tạm biệt Huế nhưng bài này được ra đời sau vụ ái tình thất bại thảm hại của anh. Giống Trịnh Công Sơn, những bài hát tình hay nhất của anh Sơn đều là kết quả những mối tình đắng cay phần nhiều là thất bại; Thu Bồn chỉ có thơ hay với cô nào làm cho anh đau khổ. Yêu đương dễ dàng quá Thu Bồn chẳng có thơ, hoặc thơ cực dở. Chuyện yêu đương bồ bịch của Thu Bồn  người biết rõ nhất là Ngô Thảo. Chắc chắn Ngô Thảo có cả một cái list mấy trang tên những người tình Thu Bồn theo đuổi và theo đuổi Thu Bồn. Mình nói với Ngô Thảo, nói sao anh không công bố danh sách người tình của Thu Bồn? Khi Thu Bồn còn sống, Ngô Thảo nói đợi Thu Bồn chết đã. Thu Bồn chết rồi Ngô Thảo lại nói công bố bây giờ bà Huệ (vợ Thu Bồn) xẻo dái tao, không dại. 72 Bạn văn 2 Thu Bồn và Ngô Thảo là cặp bạn bè cực kì chí thiết, hiếm thấy cặp bạn bè nào hết lòng vì nhau được như cặp này. Mình hỏi Thu Bồn, nói Ngô Thảo là người nghiêm ngắn, vào trong đứng đắn ra ngoài chỉnh chu, chẳng hiểu sao lại gắn bó suốt đời với cái ông lấy chữ chơi làm căn bản như anh? Thu Bồn cười, nói bà Lộc (vợ Ngô Thảo) cũng hỏi tao vậy đó. Nhà anh Ngô Thảo ai cũng quí Thu Bồn, đặc biệt chị Lộc rất quí bạn chồng, Thu Bồn lại càng quí. Mỗi lần Thu Bồn từ trong Nam ra là chị bày hết mâm nhậu này đến mâm nhậu khác cho hai anh em Thu Bồn, Ngô Thảo tiếp khách. Nhưng chị chỉ thích họ ngồi nhậu ở nhà thôi, đi quán xá chị không thích. Thu Bồn thường xuyên kéo Ngô Thảo ra khỏi nhà, lắm khi về nhà mồm miệng mùi rượu áo quần mùi nước hoa, tất nhiên chị Lộc rất khó chịu. Cái ông Thu Bồn hễ thấy gái là mắt sáng lên hình viên đạn cứ rủ rê chồng chị chơi bời kiểu này nguy lắm, hi hi. Cuộc nhậu tại nhà Ngô Thảo tối hôm đó có mình. Vợ chồng Ngô Thảo cãi nhau, chẳng chuyện gì ra chuyện gì nhưng ai cũng hiểu lý do cơ bản là bởi Thu Bồn cố tình làm hư Ngô Thảo. Bực Thu Bồn lắm chị Lộc không dám nói, cứ đè anh Ngô Thảo ra mà mắng. Ngô Thảo chực cãi, Thu Bồn gạt đi, dơ nắm đấm hô to, nói đả đảo Ngô Thảo! Anh em hưởng ứng rần rần, nói đả đảo! Đả đảo! Đả đảo! Thu Bồn lại vung nắm đấm hô to, nói ủng hộ bà Lộc! Anh em lại hưởng ứng rần rần, nói ủng hộ! Ủng hộ! Ủng hộ! Tan cuộc nhậu, mình đi về với Thu Bồn, nói chị Lộc ghét Nguyễn Quang Lập 73 anh rồi đó, liệu thần hồn từ nay đừng có cù rủ Ngô Thảo chơi hoang nữa. Thu Bồn cười khì, nói đàn bà biết gì. Không có tao thằng Ngô Thảo đứng đắn từ lâu rồi. Tao phải kiên trì làm hư hỏng cái thằng họ Ngô kia cả chục năm mới được như vậy đó. Thu Bồn rất ớn đám đàn ông đứng đắn, đi làm đúng giờ, ngủ trưa đúng giấc, nói cười nhàn nhạt, chưa bao giờ nói sai cái gì, toàn nói đúng. Nói đúng đến phát rồ. Gặp mấy ông đó Thu Bồn tự nhiên tắt điện, nếu không chuồn được là anh ngồi im như thóc từ đầu buổi đến cuối buổi. Cuộc nhậu cuối năm 1996 ở quán cá Hàng Bông chẳng may lọt vào một ông nói đúng. Chẳng có ai mời, ông ngồi bàn bên bưng ly bia đi tới, tự kéo ghế ngồi. Chưa được hai hớp bia ông bắt đầu nói, nói lia xia. Ông khoe gặp ông này ông kia, ông này vừa gọi điện thoại, ông kia vừa xin ý kiến, toàn các ông to đùng. Ông chê đám nhà văn cấp tiến vừa ngu vừa dại, văn học phải đạo thì sao nào, không lẽ bọn này muốn làm văn chương vô đạo. Thu Bồn im lặng ngồi uống bia, lừ lừ nhìn ông này. Đến đoạn ông này uống cạn ly bia cẩn thận chùi mép, nói phải tri chỉ các ông ạ, không biết dừng mà nói càn viết càn có ngày khốn đấy. Cứ như tôi đây này, tôi tri chỉ bởi vì tôi tri túc. Ông ngửa cổ cười kha kha ra chiều đắc chí lắm. Thu Bồn cười nhạt, cầm ly bia xoay xoay rồi hất cả ly bia vào mặt ông này, nói đù má thằng chó cái. Anh không gầm lên, không hét lên, chỉ hắt ra mấy tiếng nhẹ như tiếng thở dài và bước ra khỏi bàn. Tưởng anh đi toilet, hóa ra anh đã về. Mình chạy tìm anh không thấy. Mãi trưa mới thấy anh ở ngã tư Bà Triệu - Trần Hưng Đạo. Anh 74 Bạn văn 2 đứng khoanh tay giữa nắng, tuồng như không biết đi đâu.  Mình đã thấy anh đã đứng như vậy nhiều lắm rồi. Bạn bè Thu Bồn cả ngàn người nhưng rất nhiều khi anh chẳng biết đi đâu. Nhà văn chơi blog Mình chơi blog từ năm 2007. Trước đó thì chẳng biết blog là cái gì. Vào mạng chủ yếu để check mail, xem qua loa vài tờ báo, thế thôi. Một hôm nghe đứa học trò chat với mình, nói thầy không lập cái blog cho vui. Mình hỏi blog là cái Nguyễn Quang Lập 75 gì, nó bảo đó là trang web cá nhân dùng để giao lưu với mọi người. Khi đó mình nghĩ chắc blog cũng na ná trò chơi điện tử, người ta bày ra cho tụi trẻ chat chit giết thời gian. Thế nên mới có câu: Mẹ ơi chớ đánh con đau/ Để con bắt ốc hái rau mẹ nhờ/ Thôi đừng có đánh bài lờ/ Dẹp ngay bờ lóc tao nhờ, được không? Thời đó còn Yahoo 360, mình thấy có mấy ông nhà văn cũng lập blog, nghĩ bụng mấy ông này buồn cười, khi không lại bờ lóc bờ leo, rõ là dở hơi chập mạch, hi hi. Thế rồi bỗng dưng mình nghiện blog từ khi nào không biết. Con gái học lớp 9 lập cho mình cái blog, nói ba viết đi. Nó giục năm lần bảy lượt, nể con quá mới viết đại một entry ngắn. Viết xong post lên xong rồi cũng quên đi, không để ý. Ba bốn ngày sau sực nhớ mới mở ra xem, có tới mấy chục cái còm (comments - phản hồi, nhận xét) đổ xuống không biết tự lúc nào, thật quá ngạc nhiên. Đa số các còm đều chào hỏi và bình luận, có những bình luận rất sâu sắc, chẳng khác gì một bài phê bình ngắn gọn súc tích của giới phê bình chuyên nghiệp. Không ngờ văn học mạng có tính tương tác hay đến vậy. Xưa có một truyện ngắn đăng lên, giỏi lắm có vài cái 76 Bạn văn 2 thư bạn đọc, vài ba cú điện thoại bạn bè động viên chia sẻ. Thường thì ít khi nhận được những bình luận từ bạn đọc, tác phẩm đăng lên cứ như lọt thỏm vào hư vô, chẳng biết thiên hạ có đọc không, người ta khen chê thế nào. Văn học mạng hoàn toàn khác, chỉ cần mình post bài lên, vài phút sau đã thấy vài chục người, vài trăm người, thậm chí vài ngàn người vào đọc. Chừng một giờ sau bắt đầu nhận được vài chục cái còm, nếu cái mình viết có chút gì đó thú vị thì còm đổ xuống rào rào, một ngày có tới cả vài trăm comments, đặc biệt có entry số còm đổ xuống cả ngàn, không thèm nói ngoa. Mình nhớ khi viết xong entry: “Kỷ niệm nhỏ với Võ đại tướng” đã một giờ sáng. Nghĩ bụng giờ này chắc chẳng có ma nào đọc nhưng mình vẫn post bài lên. Đi nằm chừng một tiếng, chợt nhớ ra có sai vài từ. Khó ngủ, mình dậy mở máy sửa lại. Chẳng ngờ đã có hơn ba trăm cái còm đổ xuống với rất nhiều chiều ý kiến khác nhau. Choáng. Vừa mừng vừa sợ, không thể tưởng tượng nổi thiên hạ quan tâm đến bài viết này đến như thế. Từ đó entry nào của mình cũng có từ một đến vài trăm còm. Hạnh phúc của nhà văn là được bạn đọc đón đợi và chia sẻ, hơn ba chục năm cầm bút chưa khi nào mình mới được tận hưởng hạnh phúc của nhà văn như thời này. Đã quá trời. Nhất là hoàn cảnh của mình, từ ngày bị nạn suốt ngày ru rú ngồi ở nhà. Vợ đi làm con đi học, rất nhiều khi mình đơn độc giữa bốn bức tường. May có blog, ngày ngày mình ngồi nghe tiếng lao xao của bạn đọc xa gần qua các comments, vui đáo để. Nhờ thế mình viết nhiều hơn, hay dở chưa bàn, nhưng 4 năm mình viết blog, số trang viết gấp đôi số trang viết 30 năm Nguyễn Quang Lập 77 cầm bút của mình cộng lại. Thật tuyệt vời. Bây giờ thì nghiện rồi, nghiện nặng. Lắm khi mệt mỏi quá cũng muốn bỏ nhưng không cách sao bỏ được. Nói ra dại mồm, bỏ vợ còn được chứ bỏ blog thì không thể. Đi đâu lâu lâu là nôn nao muốn về nhà để vào blog xem sao, xem được bao nhiêu còm, bao nhiêu page view (pv - lượt người truy cập). Thấy nhiều người còm, pv tăng vù vù, sướng cái lỗ rốn kinh khủng. Xưa mới mở blog, những ngày đầu thấy pv một, hai trăm đã sướng củ tỉ. Một ngày có một, hai trăm lượt người vào đọc cái của mình đâu phải chuyện đùa. Đến khi pv lên đến một ngàn/ngày thì tâm hồn treo ngược cành cây. Đến bây giờ pv mỗi ngày vài chục ngàn, hơn 10 triệu lượt người viếng thăm, thật còn hơn cả một giấc mơ. Sau một thời gian ú ớ mù mờ, coi mạng méo là thứ tào lao, văn học mạng là đồ vớ vẩn, đến bây giờ hầu hết các nhà văn đều đã thành thạo vào mạng. Ai cũng có một ngày vài giờ lướt mạng. Ngồi nhậu với nhau chỉ nói chuyện thông tin nhặt được trên mạng. Người nào không biết mạng tự nhiên bị chõi ra, cứ quê quê thế nào ấy. Nói thực các nhà văn xa rời mạng méo bị lạc hậu rất nhanh, nói chuyện gì cũng thấy quê quê cũ cũ, viết lách lại càng cũ mèm. May thay số này không nhiều, có lẽ chỉ chiếm 1% các nhà văn Việt đương thời. Các nhà văn có blog cũng nhiều lắm, chắc đến hơn một phần ba số hội viên Hội Nhà văn. Một thời gian dài các nhà văn không mặn mà với blog lắm. Cũng như mình ngày xưa, nhiều nhà văn cho blog là trò vô bổ của mấy ông đồ gàn, mấy lão dở hơi. Thậm chí có người cho là chỉ có bọn háo danh mới lập blog để khoe văn, nhà văn đàng hoàng không bao giờ 78 Bạn văn 2 chơi blog. Xưa Thùy Linh thấy mình, thằng Tiến (Phạm Ngọc Tiến), thằng Nguyên (Phạm Xuân Nguyên) chơi blog nó lườm nguýt bĩu môi, nói mấy ông này dở hơi, càng già càng hóa rồ. Ngồi nhậu đâu nghe tụi mình nói chuyện blog là nó vằn mắt lên, nói mấy ông hết chuyện để nói rồi à. Thằng Vinh (Nguyễn Quang Vinh) cũng thế, thấy mình chơi blog nó nhắn tin, nói để thời gian kiếm tiền nuôi vợ con anh ơi. Hi hi bây giờ cả hai đều là những con sâu nghiện blog. Thùy Linh mới lập blog được hai tháng nay. Lúc đầu thấy ít người vào cũng hơi buồn, đến entry “Sexy tất cả trừ lòng yêu nước” pv tăng vù vù là mê luôn. Ngày ngày đọc cả núi bản thảo kịch bản, thỉnh thoảng lại mò vào blog xem pv tăng bao nhiêu, có ai còm không. Rời công sở về nhà chưa kịp cơm nước gì, mò vào blog re còm (reply - trả lời comments). Ăn xong chưa kịp rửa bát, vội vàng thả mâm đó lại mò vào blog re còm. Nửa đêm “ru” chồng ngủ xong là lẻn dậy viết bài. Trước đây cả năm Thùy Linh cũng chỉ viết một hai bài, từ ngày có blog nó viết liên tù tì, tuần vừa rồi nó chơi bốn năm bài, bài nào bài nấy rất công phu kĩ lưỡng. Thằng Vinh thì khỏi nói, cứ post xong bài là nó nhắn tin loạn cả lên, nói vừa lên bài đấy, vào đọc đi, nhớ còm nhé. Nó phục còm và pv từ sáng đến tối. Một hôm mình đến chơi nhà nó, thấy nó nửa đêm vẫn còn ngồi thu lu phục còm. Mình cười, nói giờ này người ta ngủ hết rồi chẳng còn ai còm cho mày nữa đâu. Nó cười hì hì, nói không, còn thằng Thuận Nghĩa ở bên Đức, nó thường còm cho em giờ này. Thằng này còm dài, đã lắm. Rồi nó ngâm nga: Ai bảo chăn trâu là khổ/ Tôi chờ còm còn khổ hơn trâu. Hi hi nửa đêm nó gọi điện Nguyễn Quang Lập 79 cho mình thì thào rất nghiêm trọng, nói anh ơi hạnh phúc vô biên... năm ngàn năm ngàn. Mình tưởng nó kiếm được năm ngàn đô, té ra blog cu cậu hôm đó pv đạt năm ngàn, chết cười. Cũng chẳng bằng Phạm Ngọc Tiến. Đêm hôm rét mướt nó vẫn không chịu chui vào chăn ôm vợ cho ấm, cứ ngồi nhìn trân trân lên màn hình. Vợ nó ngạc nhiên, nói anh làm gì mà không đi ngủ. Nó lầu bầu, nói em ngủ trước đi, anh đang căng thẳng đây này. Vợ nó hỏi sao. Nó nói còn mười phút nữa là 12 giờ đêm, pv anh thiếu 2 khách nữa đầy 500, chờ mãi chẳng thấy ma nào vào, điên thế chứ. Vừa dứt lời thì có 4 khách vào, nó nhảy cẫng lên, nói a ha mơ được ước thấy, bố mày vượt mức kế hoạch rồi. Vợ nó ôm bụng cười rũ. Có đêm đến 3 giờ sáng nó gọi điện. Mình giật mình hoảng hốt tưởng nhà nó có chuyện gì. Nó rầu rĩ nói vợ ốm con đau tao chẳng thèm gọi cho mày đâu, nhưng chuyện này thì tao phải gọi. Mình nói chuyện gì, nó bảo vừa đổ về chục còm, sướng rêm nhưng toàn còm “phản động” mày ạ. Mình nói thế thì xóa đi. Nó thở ra, nói xóa dễ thế thì tao chẳng hỏi mày. Chờ mãi mới kiếm được chục còm, xóa cái còm nào tiếc đứt ruột cái đó, loại còm này bỏ thì thương vương thì tội, tức thế chứ. Nó hạ giọng rầu rĩ, nói người ta bảo cấm có sai: Bầm ra ruộng cấy bầm run/ Con chơi bờ lóc còn run hơn bầm. Hi hi. Gã ăn mày thi sĩ 80 Bạn văn 2 Hè năm 2002, mình đến Hội Văn nghệ Quảng Bình thăm cái Huế, thủ quỹ - văn thư của Hội. Hồi ở Huế, nó làm thủ quỹ - văn thư của Hội Văn nghệ Bình Trị Thiên, anh em đồng hương đồng khói rất quí mến nhau, coi nhau như anh em. Khi nào nhậu kẹt tiền mình đều a lô cho nó, trăm lần như một Nguyễn Quang Lập 81 nó đều lén lấy tiền Hội đem ra cho mình mượn. Quán rượu chị Phước phía sau Hội, mình nhậu kí nợ ở đó thường xuyên, lâu lâu không thấy mình trả nợ, chị Phước chẳng thèm hỏi mình, cứ hỏi cái Huế là nó đưa liền. Anh em chí thiết như thế nên khi nào về Đồng Hới, người đầu tiên mình tới thăm là nó. Hôm đó mình đến Hội Văn nghệ Quảng Bình, cái Huế đang bận đánh máy công văn, nói anh ngồi đó chờ em chút. Mình ngồi đợi, thấy tập hồ sơ xin kết nạp vào Hội bèn lấy xem qua. Chợt thấy cái tên Dương Ánh Dương, ông này thì mình biết, làm thơ cùng thời với mình. Chưa gặp ông nhưng đọc thơ ông nhiều, đa số đăng trên báo địa phương, nói như thằng Vinh (Nguyễn Quang Vinh) thơ Dương Ánh Dương đèm đẹp đường được ở đâu cũng có nhưng ở Quảng Bình thì thuộc diện quí hiếm. Nghe nói ông vừa đoạt giải nhất cuộc thi thơ hai năm của Hội Văn nghệ Quảng Bình. Thế là khá rồi. Té ra không phải, Dương Ánh Dương không đùa, anh hành nghề ăn mày đã mấy chục năm rồi. Thằng Vinh nói oa chà, chuyện ông này đúng là một bi kịch rất đặc biệt. Vinh khoa chân múa tay kể, nói ông này xuất thân là giáo viên cấp 3. Năm 1975 đói quá, ông bỏ dạy đem vợ vào Sài Gòn kiếm 82 Bạn văn 2 sống. Chưa đầy năm thì vợ bỏ anh theo bạn vượt biên. Buồn chán anh tìm về một làng chài ở Nha Trang làm thuê kiếm ăn qua ngày, làm được đồng nào thả vào hũ rượu đồng đó. Ngày đi đánh cá thuê, vá lưới thuê, xẻ mực thuê... tối về uống rượu làm thơ đọc thơ giải khuây. Có người thương lấy làm chồng, sinh được đứa con, vợ chồng sống đắp đổi qua ngày tạm gọi là hạnh phúc. Không ngờ anh đi tàu đánh cá, luýnh quýnh thế nào đó bị ngã cuốn vào chân vịt, gãy chân tay, chấn thương sọ não bán thân bất toại, nằm liệt giường hai năm. Sau vài năm ra sức chạy chữa cho anh, nợ nần chồng chất, bà vợ thấy cùng đường đành ôm con bỏ đi. Anh phải lê lết ăn mày từ đó. Có lẽ ở nước ta không ông nhà thơ nào xách bị đi ăn mày như Dương Ánh Dương. Ngày lê lết xách bị đi khắp hang cùng ngõ hẻm, đêm về chui gầm cầu uống rượu làm thơ. Dân trú ngụ gầm cầu có một cô tên là Thị Chuỗm cũng dân Quảng Bình, đêm đêm nghe anh ngâm nga thơ phú thấy hay hay. Lúc đầu nằm xa xa, sau dịch lại gần gần, dịch lại nữa dịch lại nữa... và trở thành vợ anh từ khi nào không biết. Họ kéo nhau về quê, dựng cái lều trên bãi cát làng Thị Chuỗm, sinh được hai đứa con. Chị buôn hàng vặt ở chợ quê, anh xách bị rời làng ăn xin, cứ vài tháng lại về nhà một lần. Người làng rất quí anh vì anh là nhà thơ, cả làng không ai làm thơ được như anh. Họ kháo nhau, nói ông này ghê lắm, thơ được đăng ở tạp chí Nhật Lệ, tờ báo của văn nghệ sĩ tỉnh không phải chuyện đùa, nhiều bài còn đăng ở báo Nguyễn Quang Lập 83 Quảng Bình, báo Đảng hẳn hoi, kinh. Hi hi. Chẳng ai gọi anh là thằng ăn mày, hết thảy dân làng gọi anh là ông đi tìm họa may. Chả là anh có câu thơ: Tôi đành xách gói ra đi/ Để họa may gặp những gì họa may... Nhà thơ ai lại đi ăn mày, họ đi trắc nghiệm xem cuộc đời xúi quẩy may mắn làm sao thôi mà, hi hi. Mỗi lần anh xách bị về làng, dân làng hồ hởi đón anh như nhà thơ tỉnh về làng vậy, người lớn có rượu, trẻ con có kẹo, tíu ta tíu tít rất vui. Trong khi anh ngồi uống rượu đọc thơ ngoài sân, Thị Chuỗm xổ mớ tiền lẻ trong bị ra đếm rồi le te đem tiền đi trả nợ. Hai đứa con anh cứ đinh ninh ba mình đi công tác về phép, chắc là làm to trên tỉnh, nếu không tại sao anh về dân làng kéo đến thăm hỏi đông thế. Hi hi. Mình bảo thằng Vinh, nói khi nào Vinh về làng ông ăn mày thi sĩ cho tôi đi với. Thằng Vinh nói ông ấy ở xã Hải Ninh huyện Quảng Ninh, phải lội bộ cả chục cây số cát, chân cẳng anh thế không đi được đâu. Mình nhắc với cái Huế, nói khi nào ông Ánh Dương đến Hội thì em ới anh nhé, anh muốn gặp ông này một lần xem sao. Sáng hôm sau mình Huế chạy tới báo tin, nói Ánh Dương đang ăn xin ở Đồng Hới, tối ngủ ở Cầu Dài. Tối mình mò tới liền. Ánh Dương đang nằm ngủ trong hốc cầu tối thui, chỉ có một chiếc chiếu rách, chẳng chăn màn gì. Nghe mình gọi, anh lồm cồm bò dậy, nói ai đó ai đó. Mình xưng tên, anh chụp lấy hai tay mình reo to, nói a Nguyễn Quang Lập - Tiếng Lục Lạc! Anh lấy cái nến nhỏ bằng ngón 84 Bạn văn 2 tay út, cháy gần hết chỉ còn chừng hai đốt, nói không mấy khi có khách phải đèn đóm cho đàng hoàng chơ. Rồi anh lôi trong bị ra chai nhựa Lavie lắc lắc, nói rượu đây rượu đây, may quá chiều ni tui vừa đổ thêm hai nghìn cho đầy be. Mình rủ anh ra quán nhậu chơi, anh lắc đầu, nói quán xá không phải chỗ của ăn mày. Lỡ người thấy mình ăn nhậu lại nghĩ mình đi lừa người ta lấy tiền, ai còn cho mình nữa? Anh lật nắp chai rót rượu, đưa cho mình, nói tui biết anh uống đủ loại rượu sang, ngồi với đủ loại khách sang, chừ ngồi với ăn mày, uống rượu ăn mày coi thử cảm giác ra răng. Mình uống với anh hết chừng nửa chai, nói sao anh không nghĩ kế gì kiếm sống, què quặt mà lang thang rày đây mai đó cực lắm. Anh cười hì hì, nói có cả ngàn người nói như anh rồi đó. Kể ra dựng quán rượu nhỏ bán chơi cũng kiếm sống được qua ngày, nhưng ngồi một chỗ răng làm thơ được. Tui nghiện đi tìm cảm giác rồi, không bỏ được. Nếu bỏ ăn mày thì thơ cũng tịt luôn. Mình gật gù, nói anh tìm cảm giác chi nói nghe coi. Anh uống một nắp rượu, nói cảm giác bị thương hại, bị ghê tởm, bị khinh bỉ, bị làm nhục... đủ hết, vui lắm. Anh uống một nắp rượu, khà một tiếng rõ to, nói anh biết kiếp ăn mày sợ nhất là gì không? Mình nói là gặp bạn bè. Anh lắc đầu xua tay, nói không không, bạn bè chúng nó lánh mình hết, mình có gặp đâu mà sợ. Mình nói cảm giác gặp người yêu cũ. Anh lại lắc đầu xua tay, nói cũng không. Đa số các nàng thấy mình đều đánh mặt làm ngơ, coi như không hề quen biết. Mình cười, Nguyễn Quang Lập 85 nói thế thì chịu. Anh uống thêm vài nắp rượu, chùi mép nhìn mình rất lâu, nói tui nói ri anh có tin không, sợ nhất là gặp người quá tốt. Khi mô gặp một người ngày mô cũng tìm mình cho tiền, ngày một nhiều hơn là mình phải bỏ trốn người đó, thậm chí muốn bỏ nghề ăn mày. Ăn mày cậy vào lòng tốt của thiên hạ chứ không phải lợi dụng lòng tốt thiên hạ, đó là nguyên tắc ăn mày. Ai vi phạm điều đó thì kẻ đó không phải ăn mày chuyên nghiệp. Mình bật cười vì cái nguyên tắc ăn mày của anh, nói thế thì dưới gầm trời này toàn ăn mày nghiệp dư, chỉ có Dương Ánh Dương mới là ăn mày chuyên nghiệp. Anh ngửa cổ cười kha kha kha, nói đúng đúng đúng, bởi vì Dương Ánh Dương là thi sĩ. Rồi anh rung đùi đọc câu thơ: Tôi đành xách gói ra đi để họa may gặp những gì họa may... Ăn mày thi sĩ là như rứa đó, đi kiếm họa may, chỉ kiếm họa may thôi Nguyễn Quang Lập à, thiệt đo thiệt đo. Hôm qua chợt nhớ đến anh, gọi điện cho thằng Vinh, nói Dương Ánh Dương dạo này thế nào rồi? Thằng Vinh nói chết rồi. Mình ngạc nhiên nói ôi, sao thế? Vinh nói em cũng không rõ lắm, chắc là đời hết họa may. Mai Văn Hoan say Mình quen Mai Văn Hoan từ năm 1980, hình như vào 86 Bạn văn 2 cuối tháng 8 thì phải, khi đó mình vừa tốt nghiệp Bách Khoa, nhảy tàu buôn chè từ Vĩnh Phú vô Huế, vẫn thường tới ngủ lại nhà thầy Lâm, thầy giáo dạy Văn lớp 10, người cùng làng với mình. Hồi đó đói lắm, được thầy cho ngủ nhờ là may lắm rồi, không dám ăn uống. Đến bữa mình thường vẫn tránh đi, nói phét người này mời cơm người kia mời rượu rồi tót ra Nguyễn Quang Lập 87 chợ Bến Ngự mua cân bún, vào quán rượu nhỏ cạnh đấy, quán này bán đồ mồi xì quách nên có nước xáo. Mua bát nước xáo trộn cân bún ăn mới no được, sức trẻ nếu ăn bún bò Huế phải ba bát, tiêu pha sang thế không dám. Mình vừa bưng bát nước xáo ra bàn chợt có người gọi, nói Nguyễn Quang Lập phải không, ngẩng lên thấy Mai Văn Hoan ngồi với Ngô Minh ở góc quán. Mình không biết cả Mai Văn Hoan lẫn Ngô Minh, đọc thơ họ nhiều rồi bây giờ mới thấy mặt. Hồi đó mình mới có hơn chục bài thơ đăng báo, tên tuổi chẳng ai biết, nghe ai gọi đầy đủ cái tên Nguyễn Quang Lập thì sướng rêm, lập tức sà đến ngay. Mình chưa biết uống rượu, chỉ ngồi hầu rượu hai đại ca để họ cho đọc thơ. Được các đại ca cho đọc thơ là mừng lắm rồi, lập tức mua cút rượu với đĩa xì quách đãi họ rồi rung đùi đọc thơ. Đọc xong bài thơ, ngoảnh lại thấy đĩa xì quách đã sạch bách. Ngô Minh không ăn miếng nào, chỉ thấy Mai Văn Hoan đang chấm chấm mút mút. Mình mua thêm đĩa xì quách nữa, lại cao giọng đọc thơ, vừa dứt thơ đĩa xì quách cũng vừa hết. Vẫn thấy Mai Văn Hoan đang chấm chấm mút mút. Trông anh ăn thật ngon, mắt sáng tai vểnh, mồ hôi đầy mặt, luôn 88 Bạn văn 2 luôn có hai giọt to ở hai đuôi mắt và một giọt to đùng ở chóp mũi. Anh vuốt mặt một cái, xỉ mũi một cái lại chấm chấm mút mút. Mồ hôi lại túa ra, hai giọt to ở hai đuôi mắt, một giọt to đùng ở chóp mũi, hi hi rất hay. Mình chực gọi thêm một đĩa xì quách nữa, Ngô Minh vội vàng ngăn lại, anh cười sật sật vỗ bụng Mai Văn Hoan cái bốp, nói thôi, mi không đủ tiền đổ mồi đầy bụng ông ni mô. Sau này mới biết anh có biệt hiệu “thằng phá mồi”. Thời đói rách, thấy Mai Văn Hoan phá mồi thì xót lắm, nhiều hôm rủ nhau nhậu còn dặn nhau, nói đừng kêu thằng phá mồi nha, đừng kêu. Hi hi. Phá mồi cũng phải thôi, anh to như con gấu lại phải ăn khẩu phần của chó con, bao nhiêu cơm canh phải nhường cho hai thằng con đang ở tuổi lớn. Anh có 4 đứa con, li hôn xong anh phải nuôi hai đứa. Ba cha con ở trong căn gác xép chừng chục mét vuông, một cái giường, một cái bàn, một cái bếp dầu, hai cái soong nhỏ, chấm hết. Soong nồi chỉ dùng trong nửa tháng, nửa tháng sau hết lương, ba cha con toàn ăn mì tôm. Một hôm mình tới chơi, thấy hai đứa con đang ngồi trước cái thau nhựa nhỏ xíu đầy mì tôm, xì xụp ăn. Mình hỏi sao anh không ăn. Anh nói chờ chúng nó ăn no rồi mình mới ăn. Tưởng chờ con ăn xong thau mì tôm đó rồi anh pha thau mì tôm khác. Ai dè hai thằng cu chùi mép đứng dậy, anh bưng cái thau lên húp hết nước, tùa nốt mì tôm còn thừa, tùa sạch không còn một sợi mì nào còn sống sót. Mình cười, nói nhà này nếu nuôi mèo chắc mèo chết đói. Anh cười cái hậc, nói Nguyễn Quang Lập 89 ông biết vì sao cả khu này chỉ có nhà tôi không có chuột không. Mình hỏi sao, anh nói đói quá chúng bỏ đi sạch. Mình cười, nói nhà thơ đói đến nỗi chuột cũng phải bỏ đi, thế giới này chắc chỉ có Mai Văn Hoan. Anh cười rất tươi, nói đói quá chuột còn ăn cả thơ tôi đấy. Anh lôi ra tập bản nháp thơ bị chuột cắn, nói đây này, chuột ăn thơ đây này. Vuốt mặt một cái xỉ mũi một cái, anh cao giọng đọc: Đêm nghe tiếng sột soạt/ Tôi lén dậy bật đèn/ Hốt hoảng nhìn bản nháp/ Thấy chẳng còn vẹn nguyên/ Bài thơ vừa mới viết/ Nói chuyện đời sâu, nông/ Chuột gặm mất đoạn kết/ Chừng đâu dăm sáu dòng/ Thế là tôi vội vội/ Giấu thơ vào ngăn bàn/ Chỉ sợ chú chuột đói/ Lại chén thêm đôi hàng. Đối với Mai Văn Hoan tóm lại một chữ say, say thơ say yêu và say rượu. Say thơ đến nỗi ra tòa li dị vợ, anh còn đọc thơ trước tòa, vừa đọc vừa khóc, vợ cũng khóc mà tòa cũng khóc. Nửa đêm làm được bài thơ tặng người tình cũ ở Nha Trang, anh liền chạy ra nhảy tàu đi 1.200 cây số đến Nha Trang đọc thơ cho nàng, xong, lại nhảy tàu về nhà. Mai Văn Hoan dạy chuyên văn Trường Quốc học cùng với thầy Lâm, học trò của anh không năm nào không đoạt giải văn toàn quốc, hết thảy coi anh như thánh chỉ vì anh dạy văn hay quá, hay nhất là giảng Kiều. Hiếm thấy học trò nào mê thầy như học trò thầy Hoan. Từ trẻ nhỏ cho đến khi già, bất kì lúc nào hễ đàm đạo văn chương họ đều nhắc đến thầy Hoan, nói thầy Hoan giảng thế này, thầy Hoan bình thế kia... Được làm một ông thầy như thế thật đã. Thằng Lê Thanh Hà phó tổng hay tổng biên tập chi đó 90 Bạn văn 2 của tờ Sinh viên, một lần ngồi nhậu nó đố mình, nói đố anh cái chữ quì trong câu Kiều: Mụ già hoặc có điều gì/ Liều công mất một buổi quì mà thôi, là thế nào? Cấm không được giải thích là quì lạy van xin nhé. Mình tịt. Thắng được nhà văn thằng Hà cười khoái chí lắm, nói thầy Hoan nói đó là cái quì của đàn ông khi yêu đàn bà. Chỉ một câu ấy thôi đủ thấy thằng Mã Giám Sinh đã nhiều lần phục vụ chuyện ấy cho Tú Bà. Cho nên nó mới nói với Kiều lỡ việc có bại lộ thì chỉ cần hắn quì một phát đã đời Tú Bà là Tú Bà cho qua ngay thôi. Mình gật gù, nói giỏi! Bình Kiều như thế thì nhà “Kiều học” Vương Trọng cũng phải chào thua. Chẳng riêng gì học trò Trường Quốc học, sinh viên Đại học Sư phạm Huế, Đại học Tổng hợp Huế còn cải trang học sinh Trường Quốc học vào dự giờ anh giảng văn. Đây là cái thư anh Ngô Minh tìm được trong cả ngàn thư học trò gửi cho Mai Văn Hoan, thư này chắc chắn của người đẹp: “...Thưa thầy, em đã nghe mọi người nói nhiều về thầy. Bên nhà trọ của em có một học sinh trường Quốc Học. Hôm qua, cô bé sang kể cho em: khi giảng Truyện Kiều thầy đã khóc. Nghe chuyện, em lại nhớ đến nhà thơ Bùi Giáng ngày trước cũng từng khóc cho cái chết của Từ Hải. Và em cảm kích vô cùng. Chính vì vậy em đã tìm cách đến nghe lén tiết giảng chiều nay của thầy. Có dự giờ thầy, em mới  hiểu vì sao cô bé đang học ở lớp 10.6 lại khen thầy đến như thế... Em... xin được giấu tên...” Mai Văn Hoan dạy văn như lên đồng. Tia mắt sáng dọi thẳng vào mắt người nghe, mỗi chữ mỗi câu như được ém chặt từ lâu trong lồng ngực bỗng bung ra, run rẩy đầu môi Nguyễn Quang Lập 91 run rẩy tóc, đến cả những giọt mồ hôi trên trán cũng run rẩy. Kinh. Hi hi cái cách dạy văn như vậy, nói như Nguyễn Khải, nếu mình là đàn bà thì mình cũng đã có chửa với anh từ lâu. Thế mới biết vì sao rất nhiều người đẹp không đợi anh tán tỉnh đã viết thư tỏ tình cho anh, vui sướng làm người tình của anh dù biết anh đã hai vợ sáu đứa con. Riêng cái khoản yêu, Mai Văn Hoan vô địch trong làng văn. Buổi sáng nhịn đói lên lớp dạy thông 6 tiết cho tới trưa, rời lớp gặp người yêu vẫn đèo xe đạp chở nàng vào rừng thông Thiên An yêu nàng hơn một tiếng, không kể thời gian chép đề. Sốt 39 độ, người yêu đến thăm vẫn xơi được hai nhát. Ra ga tàu đi Hà Nội, nhà ga thông báo tàu chậm một giờ, anh liền chạy về nhà tìm vợ làm một nhát, xong mới chịu lên tàu. Hi hi bái phục bái phục. Đến bây giờ khi lông mày đã bạc trắng anh vẫn không bỏ một cái say nào, vẫn say yêu, say thơ như tuổi ba mươi vậy. Rượu vẫn uống khỏe, tuổi 65 vẫn say tít mù. Tuổi ấy đa số đều hạ nhiệt giảm đô, anh vẫn uống tràn cung mây. Ngồi nhậu từ đầu buổi đến cuối buổi không nói câu nào, ai nói gì cũng cười cười gật gật, uống nhiều mà ăn cũng nhiều. Đến khi say là đọc thơ, đọc triền miên bài này sang bài khác không cho ai đọc. Say nữa là khóc, nói cả cái đất nước ni tau không thương ai hết, tau chỉ thương mạ tau với mạ Hải Kì thôi, thiệt đo. Anh ngồi ngửa cổ méo miệng khóc tu tu. Nhìn ông già 65 lông mày bạc trắng ngồi khóc như con nít khóc hờn rất buồn cười, cả hội cười rũ. Anh xỉ mũi một cái vuốt mặt một cái trợn mắt lên, nói tao thương mạ tau răng bay cười. Lại xỉ mũi một cái vuốt mặt một cái trợn mắt lên, 92 Bạn văn 2 nói cười cái con cu tau đây nì. Rồi anh lại méo miệng khóc tu tu, nói cả cái đất nước ni tau không thương ai hết, tau chỉ thương mạ tau với mạ Hải Kì thôi, thiệt đo... Hi hi. Ông ăn gan trời Mình quen Trần Chấn Uy từ năm 1988, thời nó võ vẽ làm thơ, mình võ vẽ viết kịch. Sở Văn hóa Phú Khánh (cũ) mở trại sáng tác kịch bản sân khấu, mình được mời tham dự, lần đầu mình biết Nha Trang, biết Đỗ Kim Cuông, Hoàng Nhật Tuyên, Đặng Minh Châu, Phạm Dũng và nó. Lâu ngày quá không nhớ nhà nó ở phố nào, chỉ nhớ đó là dãy nhà cấp Nguyễn Quang Lập 93 Phận hồng nhan 123 Mình kém chị Kim tám tuổi, ở cùng xóm với chị. Hai tuổi chị cõng đi bắt chuồn chuồn, đi hái lá me quanh những hàng rào lối xóm. Thỉnh thoảng chị bế xốc lên trợn mắt nhìn mình, nói cu Lập yêu chị không, mình nói yêu. Chị cười, hôn mình chùn chụt mấy cái liền. Bốn tuổi chị dắt ra bờ sông, chạy lon ton dọc bờ sông đuổi bắt những con còng gió bé xíu. Chị Kim hay hát lại hát hay, hội diễn văn nghệ của huyện năm nào cũng có mặt chị. Đêm nào có hội diễn chị đều dắt mình đi theo, cho ngồi ở cánh gà. Chị múa và hát, thỉnh thoảng còn đóng kịch, lấy nhọ nồi vẽ râu vẽ ria trông rất tức cười. Mỗi lần xong tiết mục chị lại chạy vào cánh gà bẹo má mình, nói răng không vỗ tay hoan hô chị hả hả? Rồi chiến tranh, nhà mình sơ tán lên làng Đông, nhà chị Kim chạy lối nào không biết. Từ đó không có ai dắt mình đi chơi nữa. Mình cũng quen dần chơi một mình, lối chơi 94 Bạn văn 2 thành nếp cho đến bây giờ. Đôi khi mình cũng nhớ chị Kim, thèm được chị dắt đi chơi nhưng chỉ thoáng qua chút xíu rồi cũng quên luôn. Nhiều đêm mình chiêm bao thấy chị, mừng hết lớn. Tỉnh dậy không thấy chị đâu, buồn ngẩn ngơ. Ngủ một giấc sáng mai thức dậy là quên. Năm mười hai tuổi, một tối mùa hè nghe tin có văn công về diễn ở làng Hướng Phương con nít trong làng kéo nhau đi xem, tất nhiên mình đi đầu tiên. Sân khấu ngoài trời có đến vài ngàn người xem. Tụi mình con nít, phải vất vả lắm mới len lên được hàng đầu để xem cho rõ. Len tới nơi, ngồi xem một lúc mới phát hiện ra hai cái vạt áo của mình bay đi đàng nào rồi. Tối đó múa hơi bị nhiều, nhiều người kêu ầm lên, mình thích múa vẫn ngồi xem say sưa. Đến điệu múa Bảo vệ biển trời, mình phát hiện cái cô múa đầu đàn rất giống chị Kim. Mình đứng vụt lên cốt để chị Kim trông thấy, xem chị có nhận ra mình không. Vừa đứng lên ba bốn người ngồi sau thi nhau túm áo kéo bắt xuống. Mình đành ngồi xuống, cứ nhấp nhổm không yên. Màn múa kết thúc mình vọt ra khỏi bãi, chạy vòng ra sân khấu mò vào khu vực hậu đài kiếm tìm xem có đúng chị Kim không? Chui qua tấm bạt che hậu đài, mấy cô đang thay phục trang trông thấy mình lập tức rú lên. Hai chú bảo vệ xách tai mình lôi ra, vừa lôi vừa chửi. Một chú còn đá đít một phát thật đau. Đúng lúc mình bị đá đít ngã dúi, phía sân khấu giới thiệu đơn ca nữ Lê Hoàng Kim. (Hồi này không ai giới thiệu Nguyễn Quang Lập 95 ca sĩ hay nghệ sĩ, có lẽ sợ nói vậy là không khiêm tốn, hi hi). Mình vọt về phía bãi ngay. Chị Kim đang hát bài Xa khơi. Đúng là chị Kim! Chị Kim trăm phần trăm! Chỉ khác bây giờ chị quá đẹp, hát quá hay. Mình đứng lặng ngắt, tự nhiên nước mắt dầm dề. Mình đứng chờ cho hết buổi diễn, mọi người về hết rồi mới mò về sân khấu, vừa lúc diễn viên lên xe ca hết rồi. Lượn vòng quanh xe mình vừa chạy vừa gọi chị Kim ơi chị Kim ơi! Chị Kim nhô đầu ra cửa xe kêu to, nói ôi ôi Lập Lập! Xe ca chạy. Chị Kim chỉ kịp hỏi em ở đâu? Mình nói em ở làng Đông. Chị reo lên, nói ôi rứa thì hay rồi. Mai chị còn diễn ở Pháp Kệ. Chiều mai mình về làng Pháp Kệ thật sớm, người ta đang làm sân khấu mình đã tới đứng ngóng rồi. Chừng như chị Kim cũng đoán mình sẽ đến sớm, chị ra cũng rất sớm. Mình đang đứng ngó quanh chợt có người bịt mắt mình, giật tay ngoảnh lại hóa ra là chị. Chị Kim ôm lấy mình cười rất tươi, nói ôi cu Lập của chị mau lớn khiếp hè, đẹp trai khiếp hè. Mình chỉ biết đứng cười, thực sự hãnh diện. Được cô văn công hai mươi tuổi xinh đẹp hát hay ôm lấy hỏi han thân thiết trước mắt mọi người, thật không gì hãnh diện hơn. Bây giờ mới để ý chị quá đẹp, không biết tả thế nào chỉ biết từ nhỏ đến giờ mình chưa thấy ai đẹp như chị. Chị Kim cứ ôm riết lấy mình không chịu bỏ ra, chị hỏi liên tù tì, hỏi đi rồi hỏi lại, tuồng như hỏi chỉ là cái cớ để chỉ ôm ấp mình. Lần đầu tiên trong đời mình cảm thấy hạnh phúc khi được một phụ nữ ôm ấp. Chán vạn người lớn ôm mình, chỉ có cái ôm của chị Kim mới khiến mình xao động, rưng rưng. 96 Bạn văn 2 Tối đó diễn xong chị em lại gặp nhau, chị Kim lại ôm riết lấy mình, nhét vào túi mình một đồng, nói học giỏi năm sau chị thưởng hai đồng. Mình nói tối mai chị diễn ở mô. Chị nói ở Quảng Trường, xa lắm, em đừng đi nữa. Tất nhiên mình không nghe, suốt cả ngay mai chỉ trông đến tối để chạy ù về Quảng Trường với chị. Lần đầu tiên mình nhớ một người phụ nữ, nhớ quay cuồng. Ở Quảng Trường văn công hát hò múa máy thế nào mình cũng không quan tâm, chỉ mong đến tiết mục của chị Kim. Chị tham gia một bài tốp ca nữ, một điệu múa và hai bài đơn ca. Tiết mục đơn ca của chị rất đặc sắc, lần nào cũng được mọi người yêu cầu hát lại. Mình ngồi giữa đám đông hãnh diện vô cùng, muốn hét to lên với mọi người, nói tui quen chị Kim! Tan diễn mình chạy ù ra phía sau sân khấu, tìm hoài không thấy chị Kim đâu. Khi đoàn văn công lên xe ca rồi cũng không thấy chị đâu. Xe ca chạy, mình lủi thủi bỏ về. Bỗng mình gặp chị Kim ngay lối vào sân bãi, chị đang cầm tay anh bộ đội nói cười líu lo. Mắt mình tối sầm, mặt mày nóng bừng. Lúc đầu mình định rẽ sang lối khác tránh mặt chị Kim, sau, mình quyết định cúi gầm mặt đi thẳng về phía hai người. Chị Kim thấy mình liền kêu to, nói Lập Lập, Lập ơi! Mình như điếc cứ cúi gầm mặt đi. Chị Kim đuổi theo, mình bỏ chạy. Chị Kim vừa chạy vừa gọi, mình vừa chạy vừa khóc. Từ đó đến mười năm sau mới gặp lại chị, lúc này mình đã là chàng trai hai hai tuổi. Mình đi Huế, xe đến phà Gianh mình thấy một người đàn bà rất giống chị Kim, ăn mặc nhếch nhác, tay ôm đứa con nhỏ tay xách túi du lịch Nguyễn Quang Lập 97 rách đang đi xuống phà. Xe dừng, mình nhảy xuống đuổi theo. Phà đã rời bến được một quãng, mình vẫn nhìn rất rõ chị Kim bèn vừa vẫy vừa gọi, nói chị Kim chị Kim! Chị giật mình ngoái lại, thấy mình chị vội vàng ôm con len lên phía trước. Mình không hiểu vì sao chị Kim lại tránh mặt mình. Một năm sau về quê gặp thằng bạn học thời phổ thông là thằng Đại Phúc, nó kể chị có chửa với ai đó, đoàn văn công kỉ luật đuổi chị về nhà. Chị ôm bụng về nhà cũng bị ba mạ chị đuổi ra khỏi nhà. Từ đó chị lang thang rày đây mai đó, rất khổ. Mình nói chị làm gì để sống. Thằng Đại Phúc cười, nói e hè, thứ đó chỉ có làm đĩ chứ làm chi. Khi đó mình tức thằng Đại Phúc lắm, chửi nó vô phúc, nói chị Kim mà làm đĩ à, đom đom cứt cứt! Không ngờ thằng Đại Phúc nói đúng, thế mới đau. Cuối năm 1986 mình đi tàu ra Hà Nội, tình cờ nhặt được tờ báo gói cơm đưa tin thành phố Vinh bắt được ổ mại dâm lớn. Mình không quan tâm lắm mấy cái tin này nếu báo không đăng hình chị Kim với chú thích: Chủ nhà chứa Lê Hoàng Kim. Cái thời trong sáng, thật không thể tả được mình bị sốc thế nào, suốt ngày mồm miệng đắng ngắt, ăn gì cũng thấy nhạt hoét. Mình gọi điện cho thằng bạn công an ở Vinh, nó cười hề hề, nói ôi bà Kim này ghê lắm, bỏ chồng làm đĩ rồi lại bỏ chồng làm đĩ ba bốn lần rồi. Bây giờ vừa làm má mì vừa làm đĩ, bốn chục tuổi rồi khách vẫn rất đông, kinh không? Thật mình không thể tin nổi! Mười năm sau, lại mười năm sau, sao nhịp thời gian này nhiều đắng cay đến thế? 98 Bạn văn 2 Năm 1996 mình được Care mời làm phim Gió qua miền sáng tối cùng với Thùy Linh, Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Quang Thiều v.v... Đây là một phim về HIV và AIDS, trong khi cả nhóm làm phim chẳng ai biết gì HIV và AIDS cả, Care phải mở lớp tập huấn một tháng. Cô Khánh ở Care hỏi mình, nói anh Lập đã gặp bệnh nhân AIDS lần nào chưa, mình nói chưa. Khánh bảo khi nào rảnh em đưa đi gặp gỡ họ. Mình ok liền. Đi để biết chứ gặp bệnh nhân AIDS cứ thấy ghê ghê, mặc dù mình làm phim tuyên truyền không nên sợ hãi xa lánh bệnh nhân AIDS, hi hi. Khánh có ô tô, cô lái xe đưa mình đến trại phục hồi nhân phẩm hay gì đó không nhớ nữa, ở tít cuối huyện Từ Sơn (Hà Nội). Đi dọc hành lang mình nhắc Khánh, nói chỉ gặp một hai người thôi nhé, gặp nhiều anh sợ lắm. Khánh cười hi hi, nói em biết rồi, chỉ gặp một người thôi, một hoa hậu miền Trung, chị bị AIDS giai đoạn cuối, cũng sắp đi rồi. Khánh kéo tay mình, nói vào đây anh. Cửa mở, phòng chỉ có một người đàn bà đang ngồi bó gối trên giường bệnh. Mình đứng sững sờ, không ai khác đó là chị Kim! Khi đó chị Kim chưa nhận ra mình, tới khi Khánh giới thiệu với chị, nói đây là nhà văn Nguyễn Quang Lập thì chị ối một tiếng thật to. Rồi hai tay ôm mặt chị ngồi khóc nức nở, khóc mãi, không nói được một câu nào. Nguyễn Quang Lập 99 4 xập xệ, khu tập thể giáo viên trường Cao đẳng Sư phạm, nhà nó chừng 20 chục mét chật ních, tối thui. Mình nhớ mãi cái bóng đèn tròn treo lủng lẳng đỏ đòng độc, lúc nào cũng ở tình trạng sắp tắt. Có ai xô cửa mạnh vào nhà là nó tắt phụt, thằng Uy lấy cán chổi đụng khẽ, nó lại sáng. Thằng Uy cười nhăn nhở, nói bóng đèn nhà thầy giáo thì thế thôi, đợi người ta thay bóng đèn hố xí mãi mà chẳng được, người ta vừa thay, mình chưa kịp thó đã có người khác thó rồi, tức thế không biết. Mình cười, nói cái bóng này ông cũng thó ở nhà xí tập thể à? Nó bảo sao ông biết. Mình nói bóng đèn nhà xí tập thể là bóng già, người ta mua bóng mới về, việc đầu tiên là thay bóng mới cho nhà mình, sau đó đem bóng cũ vào thay cho nhà xí, ở đâu cũng thế. Nó vỗ vai mình đánh bốp, nói thằng này khá, rất có thực tế, viết văn được! Vợ chồng nó xăng xái dọn mâm rượu, có hẳn một con gà đãi mình, đĩa gà chặt đầy vun, nồi cháo gà thơm điếc mũi. Mình cảm động lắm, nói đi nói lại, nói nhà ông không có tiền mua một cái bóng đèn lại đãi tôi cả con gà thế này. Nó kéo mình rỉ tai, nói ông nhỏ mồm thôi, nhà ngăn vách nứa người 100 Bạn văn 2 ta nghe thấy. Mình tưởng cũng như mọi nhà thời này, ai có con gà cân thịt đều phải giấu giếm sợ hàng xóm biết người ta khó chịu. Chẳng dè chục năm sau gặp nó ở Hà Nội, nhắc lại con gà thời đói rách nó cười khì, nói tôi làm gì có gà đãi ông, gà tôi ăn cắp nhà bên cạnh đấy, hôm đó ông cứ bô bô làm tôi sợ thót dái. Mình lắc đầu cười, nói ông đúng là gan trời. Nó nhăn răng cười, nói tôi ăn gan trời rồi đấy, ông không tin à. Tôi ăn gan trời lúc bảy tuổi. Nó kể nó là cháu nội đích tôn được ông bà nội rất cưng chiều. Ông nội nó giỏi lắm, trước 1945 làm ở Viện Viễn Đông Bác cổ, cái viện mà nhiều bác bây giờ nổi tiếng nhờ khéo thuổng tài liệu của viện này, gọi là nghiên cứu khoa học, hi hi. Hiếm có ông nội nào chiều cháu như ông nội nó. Năm nó sáu, bảy tuổi nhà nghèo rớt mồng tơi nhưng nó đòi ăn gì ông nội nó cũng chiều. Một hôm ăn khoai lang nó đòi đĩa đường trắng. Ông nội nó vét túi đi mua một lạng đường trắng mang về, nói mày chỉ thiếu gan trời là chưa ăn. Ngay lập tức nó bỏ ăn khoai chấm đường, đòi ăn gan trời cho bằng được. Ông nội nó lại phải ra chợ mua miếng gan lợn, buộc vào sợi dây treo đầu sào, trèo lên mái nhà giả đò chọc chọc lên trời rồi chìa đầu sào buộc gan lợn xuống sân, nói gan trời đây vơ cu Uy, ăn mau không trời đòi lại! Hi hi đứa cháu nội rách giời rơi xuống, ăn phải gan trời nghịch ngợm phá phách trời sợ. Nó học hành chẳng thua ai, đánh nhau cũng chẳng thua ai. Nó đánh hết lượt trẻ con trong vùng, bày đủ trò nghịch ngợm chọc phá người lớn. Nó còn cả gan chọc cả ông bố vợ tương lai. Ông là tỉnh đội trưởng, có con gái học Cao đẳng Sư phạm, chẳng dè bị ông thầy là nó Nguyễn Quang Lập 101 cưa đổ khi chưa học xong. Cô con gái nằng nặc đòi ông cho cưới nó làm chồng. Cực chẳng đã ông cho con gái đưa nó về nhà. Tính hay khoe con, ông gọi thằng cu út 5 tuổi ra, hỏi lớn lên con làm gì. Thằng cu đáp ngay, nói đi học và làm cách mạng. Nó bấm bụng cười. Đợi ông ra khỏi nhà, nó mới kéo thằng cu lại cho kẹo, nói em phải nói làm cách mạng và nuôi heo, cứ nói thế đi rồi anh cho kẹo. Nó dỗ thằng cu nói đi nói lại năm lần bảy lượt, cho ăn đầy một bụng keo, nói dõng dạc vào nhé, dõng dạc vào. Hôm sau ông mở tiệc, quan khách đến đầy nhà, ông lại gọi thằng cu 5 tuổi ra, nói lớn lên con làm gì. Thằng cu ưỡn ngực dõng dạc, nói làm cách mạng và nuôi heo. Mọi người cười vỡ bụng, số là chuồng heo nhà ông có tới mấy chục con. Ông đỏ mặt tía tai, biết ngay cái thằng ăn gan trời xúi con ông chứ không ai khác, ông liền cấm cửa nó bén mảng tới con gái ông. Ông không cấm được. Thằng này tài lắm, nó đã mê em nào thì em đó không chết cũng bị thương, có mà chạy đằng trời. Một năm sau nó cưới cô học trò con ông tỉnh đội trưởng, sống với nhau được hai đứa con gái thì bỏ nhau. Mình cũng hơi lạ, ngày mình đến chơi thấy vợ nó vừa xinh vừa ngoan, đối xử với bạn chồng niềm nở còn hơn bạn mình. Những năm đói rách nó tha về không biết bao nhiêu người bạn, có người ở nhà nó mấy tháng trời, vợ nó vẫn nhẹ nhàng như không, thật quí hóa quá. Mình hỏi nó, nói được cô vợ như thế là niềm mơ ước của nhiều người, sao ông lại bỏ. Nó chậc lưỡi, nói không sống được với nhau thì bỏ chứ sao. Ít lâu sau nghe nó cưới vợ, được chừng một hai năm lại bỏ. Hỏi, nó lại chậc lưỡi, nói không sống được với nhau thì bỏ 102 Bạn văn 2 chứ sao. Bây giờ nó cưới vợ thứ ba, cô bé thua nó hai chục tuổi, sinh cho nó đứa con trai, nó mừng húm. Thằng cu mới bảy tuổi đã cao 1,3m nặng 43 cân, hi hi tương lai thằng cu này cao to nhất nước. Mình mừng cho nó, nói đã chắc ba vợ chưa. Nó nhăn răng cười, nói già bố nó rồi, không muốn chắc cũng phải chắc. Nói thế thôi, già được nó còn khướt. Gần sáu chục tuổi vẫn to khỏe vâm váp, ăn nói bặm trợn, uống được hai chục lon bia, yêu được một đêm hai nhát thì ngay cả trai tơ cũng còn thua nó. Ít ai tuổi sáu mươi vẫn phơi phới niềm tin, yêu và viết, yêu càng ghê viết càng khỏe. Đến nay nó đã có 7 tập thơ, gần ba chục bộ phim tài liệu. Phim nó gân guốc vạm vỡ, thơ nó thì trái lại, ngọt và mềm, triền miên một nỗi đau đời và thương con. Có lẽ thơ là những gì khuất lấp sau bộ mặt phơi phới niềm tin của nó. Gặp nó đâu cũng thấy nó nói cười nhí nhố, chọc quê người khác chơi vui, chưa lần nào mình nghe nó than vãn một điều gì.  Hôm qua Ngô Xuân Hội và nó mò đến nhà mình chơi, ngồi chưa nóng đít đã nháy mình đi nhậu. Thằng Uy bắt tay vợ mình cười rất tươi, nói em dạo này trẻ thế, xinh ra bao nhiêu. Tối nay cho bọn anh mượn chồng em nhé. Xin được  quota rồi nó kéo mình đi ngay, nói đi mau không vợ ông đổi ý. Mình cười, nói ông làm như ông sợ vợ lắm. Nó nói không, tôi sợ vợ ông giùm ông, thứ một vợ như ông mới sợ vợ, tôi ba vợ sợ gì. Nói rồi nó xoa đầu mình cười, nói con bò có một cái u, những thằng một vợ còn ngu hơn bò. Nhưng mình biết một lần bỏ vợ là một lần tình và tiền tan Nguyễn Quang Lập 103 nát, một lần rơi xuống vực sâu. Riêng nó, một lần bỏ vợ là một lần nó tự nguyện chất thêm gánh nợ với con cái. Người ta nhất vợ nhì trời, nó nhất con nhì bạn. Thời đói rách, một lần nó thấy hai đứa con gái nó bóc cam chấm nước mắm ăn ngon lành, nó sững sờ. Từ đó hôm nào nó cũng lùng sục suốt đêm bắt mèo hoang làm thịt nuôi con. Cũng thịt mèo ấy nó làm giả cầy đãi bạn hết lượt từ Nam ra Bắc. Nhiều người không biết tưởng thịt heo cứ xuýt xoa khen, nói mẹ, thằng Uy giàu thật, vào nhà nó khi nào cũng mùi thịt heo thơm lừng. Hi hi. Nó sống với bạn hết lòng, chơi hết mình, sẵn sàng cầm dao rượt đuổi kẻ nào hại bạn nó nhưng cũng sẵn sàng đấm vỡ mặt ông bạn nào chơi đểu, ăn gian. Xong rồi thôi, rồi quên, chẳng để bụng làm gì. Nó sẵn sàng dốc túi vì bạn bè, bạn bè cũng sẵn sàng dốc túi vì nó. Luôn có bạn bè sau lưng, tuồng như nó chẳng cần phải lo lắng gì, suốt ngày uống và yêu, rong chơi và tán phét, hình như nó không có thời gian để buồn, để khóc, đối với nó nước mắt chẳng biết dùng vào việc gì.  Thế mà không. Một lần hay tin bé Diệu Linh con gái anh Tô Nhuận Vĩ bị tạt a xít, nó vội vã ra Huế. Anh Vĩ là bạn vong niên chí thân của nó, bé Diệu Linh hoa khôi trường Sư phạm từng ăn học trong nhà nó mấy tháng trời. Nhưng khi nó tới nhà, cô bé ngồi yên trong buồng không chịu ra, chỉ chuồi ra cho nó mảnh giấy, viết chú ơi cháu không gặp chú được đâu. Nó cầm mảnh giấy bật khóc. Một lần khác, đâu như năm 1979, nó gặp bà cụ già ngồi 104 Bạn văn 2 bên giếng, hỏi ra mới biết cùng đường sống bà định nhảy giếng tự tử. Nó đưa bà về, dựng cho bà cái quán nước chè, cho bà 5 đồng làm vốn, từ đó bà sống khỏe cho đến khi chết. Hay tin bà mất nó tìm về, cháu bà đưa cho nó 5 đồng, nói bà cháu chờ gặp chú để trả lại 5 đồng nhưng chờ không được. Nó úp mặt vào 5 đồng khóc òa, khóc như chưa bao giờ được khóc. Ông bán vé về tuổi thơ Tối qua nhậu về, mở mobile thấy tin nhắn của Ánh (Nguyễn Nhật Ánh) tới từ lúc nào: “Đang đọc lại bài Bạn bè một thuở giờ đâu tá của Lập, thấy chính xác đến mức rờn Nguyễn Quang Lập 105 rợn”, tự nhiên sực nhớ đã lâu lắm rồi mình chưa gặp Ánh. Mình biết Ánh, đọc thơ nó từ năm 1980, nhưng mãi đến năm 1998, khi nó viết cho Kim Đồng bộ Kính vạn hoa thì mình mới gặp, từ đó chơi với nhau cho đến bây giờ. Ánh giống mình, làm thơ từ năm 13 tuổi, đến năm 1984 mới chuyển sang viết văn xuôi. Thoạt kỳ thủy nó lấy bút danh: Hoài Mộng Diễm Thư, he he sến chảy nước, ý là mơ có những trang văn đẹp, ặc ặc. May có Nguyễn Văn Bổn, tức anh Tần Hoài Dạ Vũ, nó mới rũ sến đứng dậy sáng lòa, hi hi... Anh Bổn nói tao tên xấu mới bịa ra cái bút danh dài loằng ngoằng vậy chớ, cái tên Nguyễn Nhật Ánh hay bỏ bà, Hoài Mộng hoài meo, Diễm Thư diễm theo làm cái dzầy!  Từ đó nó mới chịu lấy bút danh tên thật. Ánh viết văn khỏe lắm, hồi làm bộ Kính vạn hoa, nó viết một tuần một tập sách, chưa thấy ai viết một tuần một tập sách được như nó. Mà có phải viết văn không đâu, nó còn phải viết báo. Tuần nào cũng có bài bình luận bóng đá với cái tên Chu Đình Ngạn trên báo Sài Gòn Giải  Phóng và mục Vườn hồng với cái tên Anh Bồ Câu trên báo Thanh Niên. Ngoài ra người ta đặt bài tứ tung, nó cũng viết tứ tung, ký đủ 106 Bạn văn 2 các tên Lê Duy Cật, Đông Phương Sóc, Sóc Phương Đông... Kinh hoàng! Đến nay Ánh viết trên trăm cuốn sách, nó cũng không nhớ là bao nhiêu cuốn. Mình hỏi Ánh, nói ông nói chính xác là bao nhiêu cuốn, nó nhăn răng cười, nói đại khái hơn trăm cuốn. Sách Ánh bán chạy khủng khiếp, tái bản liên tù tì, hiếm có cuốn nào in dưới vạn bản, làm nhà văn được như vậy thật sướng. Trẻ con bây giờ đứa nào không biết Nguyễn Nhật Ánh chắc chắn đó là đứa cực dốt văn. Xưa có Tô Hoài, Xuân Sách, Trần Đăng Khoa giờ có Nguyễn Nhật Ánh, chỉ mỗi Nguyễn Nhật Ánh không còn ai. Bảo Ninh có lần vỗ vai mình, buột miệng nói này, nói ra dại mồm chứ thằng Ánh mà chết thì nước Nam này chẳng còn ai viết sách cho bọn trẻ ông nhỉ. Mình cũng chẳng biết nói thế nào, nghĩ mãi không ra ai có thể thay thế được Nguyễn Nhật Ánh. Mình có ông bạn rất ngạo, sách trong nước không thèm đọc, sách viết cho thiếu nhi lại càng không. Một hôm nó xin mình mấy cuốn thiếu nhi cho đứa cháu. Mình đưa mấy cuốn của Nguyễn Nhật Ánh – Bàn có năm chỗ ngồi, Chú bé rắc rối, Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ, Thằng quỉ nhỏ. Tuần sau ông này gọi điện cho mình, nói tao đưa cho thằng cháu, nó bảo mấy cuốn này cháu đọc từ lâu, bác chưa đọc à. Tao bảo chưa. Nó xì một cái, nói xời, thế thì bác không biết đọc sách rồi. Tức chí tao nằm đọc một lèo cả bốn cuốn sách... Được, khá, hay! Thằng cha này đúng là ông bán vé về tuổi thơ mày ạ, người lớn không đọc thật phí. Mình nghiệm ra sách viết cho thiếu nhi mà người lớn đọc Nguyễn Quang Lập 107 thấy thích thì trẻ con nhất định mê li. Phải nói trẻ con mê Ánh như điếu đổ. Hễ nó đến giao lưu chỗ nào là trẻ con xúm đen xúm đỏ xin chữ ký. Phạm Ngọc Tiến khoe, một hôm thấy quá đông trẻ con vây quanh Ánh, nó đứng ra giữ trật tự, chỉ định từng đứa vào xin chữ ký. Lũ trẻ nhìn Tiến ngưỡng mộ lắm, thì thầm với nhau, nói bác này quen Nguyễn Nhật Ánh đấy. Tiến trừng mắt lên, nói không phải quen, tao là bạn, bạn thân, rõ chưa. Lũ trẻ lại càng ngưỡng mộ, Tiến sướng, cười tít mắt. Nguyễn Trọng Tín còn vui hơn. Tín đưa cuốn sách Ánh tặng cho thằng cu con, nói Nguyễn Nhật Ánh tặng mày đó. Thằng cu soi đi soi lại chữ ký của Ánh, nói thiệt hay giỡn ba. Tín cười, nói ủa, mày không tin tao quen Nguyễn Nhật Ánh à. Thằng cu trố mắt nhìn Tín, nói ba mà quen được Nguyễn Nhật Ánh à. Mình còn thảm hơn. Có lần mình và Ánh gặp lũ nhỏ, chúng nó ùa ra vây quanh Ánh, chẳng thèm để ý đến mình, đứa nào đứa nấy nhìn mình như nhìn cục đất. Ánh giới thiệu đây là nhà văn Nguyễn Quang Lập, bạn anh. Chúng nó trợn mắt há mồm, nói ủa vậy ta, bác này mà cũng bạn anh à, hi hi. Mình thua Ánh một tuổi, thế mà mỗi lần cùng với nó gặp mấy em u - chíp - hôi, mấy em gọi Ánh bằng anh, còn gọi mình bằng bác. Ưu tiên lắm chúng nó mới gọi bằng bác, nếu không chúng gọi bằng ông, hi hi, khổ thân ông bọ. Ánh có gương mặt búng ra sữa, gần sáu chục tuổi rồi vẫn trẻ trung như thanh niên mới lớn. Ánh trẻ cũng vì cái tính, chả biết ở nhà viết lách thì thế nào, ra đường lúc nào cũng phơi phới niềm tin, bạn bè với trẻ nhỏ, chơi bời nghịch 108 Bạn văn 2 ngợm, buồn buồn giận giận, cười cười nói nói rất vô tư. Lắm khi rượu say nó nhảy nhảy múa múa y chang thằng con nít. Chỉ duy nhất một lần mình thấy nó khác hẳn những ngày thường, là khi nghe tin anh Nguyễn Thắng Vu bị bạo bệnh. Khi đó đang hò hét tưng bừng ở Đo Đo, chợt nó đứng sững, rơi xuống ghế ngẩn ngơ, nói thiệt vậy ta. Anh Vu vốn là giám đốc Nhà xuất bản Kim Đồng, gắn bó với Ánh hơn hai chục năm, hiếm ai chăm sóc Nguyễn Nhật Ánh được như anh, nhờ thế 54 tập Kính vạn hoa, 28 tập Chuyện xứ Langbian và nhiều cuốn khác của nó mới có mặt giữa đời, có thể nói chắc như vậy. Nó ra Hà Nội thăm anh Vu, quay vào Sài Gòn gọi mình ra quán rượu, nói anh Vu chắc không qua khỏi đâu. Nói vậy rồi ngồi im cả giờ, uống hết chén này sang chén khác. Đến khi say, nó nhìn xuống đáy chén rượu thì thầm, nói ở đời hiếm ai được như anh Vu, văn học thiếu nhi hiếm ai được như anh Vu... Nó rưng rưng nhìn ra cửa sổ, nói Lập nói những người tốt thường hay chết, đúng không. Thôi từ này đừng nói thế nữa, sợ lắm... Khi đó mắt nó thẳm sâu một nỗi đau đời, chỉ những người chịu nhiều tủi nhục đắng cay mới có đôi mắt ấy. Ối tiền ơi! Bây giờ ti vi có nhiều kênh, tuồng như thời điểm nào cũng có một nghệ sĩ đang nói chuyện trên màn hình, không Nguyễn Quang Lập 109 kênh này thì kênh khác. Toàn nghe nói chuyện về nghề, về tình yêu nghề, sự khổ luyện, về cái tâm, về vân vân... tuyệt không thấy ai nói chuyện đứng đắn về đồng tiền. Làm nghề thì phải yêu nghề, tất nhiên. Phải khổ luyện, 110 Bạn văn 2 tất nhiên. Phải có cái tâm sáng... lại càng tất nhiên. Suốt ngày nói mấy cái tất nhiên đó thế mà cũng có lắm người nghe, mới hay thiên hạ cũng lắm kẻ cả tin. Chưa thấy ai nói về đồng tiền cho nó nghiêm chỉnh, về nhuận bút mình cần phải có, về cát sê mình cần phải thu. Nói thế ngượng lắm, đồng tiền được liệt vào diện xấu xa, ở ngoài tha hồ nâng lên đặt xuống còn lên ti vi nhất định chỉ nói cái tâm. Mà chẳng cần lên ti vi, đồng nghiệp với nhau cũng một mực nói đến cái tâm. Nghe nói lắm khi rớt nước mắt, cái tâm sáng tựa sao khuê không ai không cảm động. Chỉ khi động đến đồng tiền mới biết tay nhau. Ông Vương Đức xưa làm phim Cỏ Lau, tìm trợt mặt được một diễn viên đóng vai nữ phụ, mừng hơn cha chết sống lại. Cô này nói em từ chối nhiều vai rồi, nhưng vai này hay lắm, khổ mấy em cũng làm. Vương Đức như mở cờ trong bụng. Cô này lại nói Quảng Trị là chiến trường ba em sống và chiến đấu, bao nhiêu đồng đội của ba em hy sinh ở đó, giờ có cơ hội được đóng phim nơi ấy, chết em cũng đi. Vương Đức nghe suýt trào nước mắt. Nguyễn Quang Lập 111   Đến khi nói chuyện tiền nong, cô đòi một đống tiền cao ngất, gấp đôi vai diễn viên chính, Vương Đức cũng cắn răng nghe theo. Tưởng thế là xong xuôi, đến ngày vi hành cô gọi điện đòi thêm một đống tiền cao ngất nữa, nói tiền bảo hành cho bộ giò của cô. Vương Đức nghe suýt té xỉu, đành thank and bye người đẹp cùng với cái tâm nước bọt của cô. Một trăm anh đạo diễn nhận phim, có đến chín chục anh tính nhẩm xem quả này mình thu được bao nhiêu trước khi tính xem mình phải làm thế nào cho nó hay. Nhưng khi nói chuyện với nhà sản xuất thì hăng hái lắm, nói phim này dứt khoát phải hoành tráng, có phải bán nhà tôi cũng làm cho kì được. Khổ, đến bữa cơm cũng tính ăn bớt của anh em, nói gì đến phim với pheo. Nhưng vỏ quýt dày có móng tay nhọn, mấy ông bà diễn viên cũng không phải tay vừa. Mới nhận phim thì bắt tay cụng ly nói anh em mình làm với nhau một phim kỉ niệm thôi, tiền nong là cái gì, bao nhiêu cũng xong, đừng nói chuyện tiền nong mà mất tình mất nghĩa. Đến nửa phim mới làm reo. Mày không tăng cát sê thì còn khuya mới xong phim con nhé. Bố mày mà cáo ốm bỏ về một phát chúng mày tính sao nào. Tất nhiên số người đòi tiền trắng trợn cũng hiếm, đa số đều đem cái tâm ra để đòi tiền. Mới đây thôi, cái phim ti vi mấy chục tập, đạo diễn kiếm được người đẹp vào phim, cô này trả lời phỏng vấn cô làm phim vì cái này, vì cái kia, toàn mấy cái vì cao cả, nghe mà rưng rưng nước mắt. 112 Bạn văn 2 Đến một phần ba phim thì kêu mẹ ốm nặng, em không về mẹ em chết mất, vừa nói vừa sụt sùi khóc. Đạo diễn tăng cát sê lên gấp rưỡi là mẹ hết ốm liền. Đến quá nửa phim thì kêu bệnh, hết chóng mặt lại nhức đầu, em ráng không được nữa rồi anh ơi. Đạo diễn tăng cát sê lên gấp đôi thì nói cười phe phé, bệnh tất cũng sạch mất tiêu. Ôi giời là vui. Tiền bạc là thứ xấu xa, cho nên để có nó người ta phải nhân danh những gì cao cả, những gì tốt đẹp. Một ông trưởng đoàn hễ nhắc đến tình trạng sân khấu bao giờ ông cũng khóc, đau lắm các đồng chí ơi. Thế nhưng bất kì vở nào ông cũng đạo diễn, kiêm luôn tác giả, kiêm luôn âm nhạc, kiêm luôn họa sĩ thiết kế, kiêm luôn phục trang. Đến khi ra vở chỉ mỗi mình ông xem, ông khen hay chứ chẳng có ma nào xem. Ông lại khóc, lại nói đau lắm các đồng chí ơi. Cũng đau lắm các đồng chí ơi nhưng ông đạo diễn khác còn cao thủ hơn, ông nói được nửa câu thì nghẹn lại, cố ghìm không trào nước mắt, ông nói các đồng chí có biết không, chỉ cần một phần triệu số tiền bọn tham nhũng ăn cắp của nhà nước, chúng ta có thể dựng được nghìn vở kịch có chất lượng. Ông nói đến tiếng chất thì nghẹn lại uất hận, mãi sau mới trút được tiếng lượng. Mọi người nghe ông nói cứ lo ông uất quá, tăng xông mà chết. Ai biết nhiều lần dựng vở ông mang theo cả đống áo quần cũ của vợ con bán cho đoàn với giá gấp đôi, gấp ba giá mua cái mới, bởi vì ông là giám đốc sở, người cấp tiền dựng vở cho đoàn. Đã đành tiền bạc Nhà nước cấp cho nghệ thuật còn bèo Nguyễn Quang Lập 113 quá, thù lao cho văn nghệ sĩ không ra sao, đa số không nuôi sống được bản thân và gia đình bằng chính cái nghề của mình, nhưng núp bóng cái tâm, mạo danh cái tâm để bòn mót tiền bạc của Nhà nước, của đồng nghiệp thì thật không ra sao, vô cùng xấu hổ. Cho nên dạo này tôi rất ngại xem ti vi. Sợ chẳng may mình lại nghe mấy ông bà nghệ sĩ lại ngâm nga cái tâm. Người ta nói thiếu cái gì hay nói về cái ấy, khắp bảy ngành nghệ thuật không nơi nào các nghệ sĩ không ngâm nga về cái tâm, thật sợ quá đi mất. Ối tiền ơi, mày là cái gì mà làm cái tâm lao đao đến vậy, lao đao nửa thế kỉ rồi vẫn còn lao đao, và cũng chả biết bao giờ cho hết lao đao. Tô Nhuận Vĩ, một chút chấm than và chấm lửng Mình biết tên tuổi Tô Nhuận Vĩ từ thời mình còn học cấp III. Hồi đó tối nào mình cũng ngồi dưới loa truyền thanh của làng nghe đài, mấy chương trình Kể chuyện cảnh giác, Tiếng thơ, Đọc truyện đêm khuya là không thể bỏ qua 114 Bạn văn 2 được. Hai tập tiểu thuyết Dòng sông phẳng lặng của anh Vĩ  được Đài  đọc rền rĩ ba tháng trời trong chương trình Đọc truyện đêm khuya. Hồi đó cứ đến giờ đọc truyện Dòng sông phẳng lặng là có đến cả trăm người, cả bộ đội lẫn người làng Đông, ngồi quanh gốc cây vông đồng giữa làng, nơi có mắc cái loa truyền thanh.  Đến hết tập 1 thì có đến mấy trăm người, ngồi tràn ra kín đặc ngã ba đường làng. Ai nấy ngồi bó gối, ngửa cổ nhìn loa. Đến đoạn hay, mọi người vỗ tay ầm ầm, xuýt xoa chậc lưỡi râm ran. Có anh bộ đội khoe đã gặp anh Vĩ hồi ở rừng, mọi người nhìn anh mắt tròn mắt dẹt. Anh Vĩ nổi tiếng như cồn, đi đâu cũng nghe người ta nhắc đến Tô nhuận Vĩ và Dòng sông phẳng lặng. Nhà văn được đông đảo công chúng ngưỡng mộ như anh Vĩ không nhiều, có thể nói rất hiếm, thời nào cũng hiếm. Bây giờ đọc lại mình không còn thích lắm, chuyện hay nhưng văn chương thời này không lên gân cũng bị sến, Dòng sông phẳng lặng cũng không thoát được. Dòng sông phẳng lặng không có chuyện thằng Xăm ăn thịt người, nhưng trai gái yêu nhau lâm li kiểu sân khấu, nói năng cứng nhắc, thời Nguyễn Quang Lập 115 này đọc rất mệt. Thời xưa văn thế mới thích, mới đáng đọc. Cái thời mà bì thư con gái gửi con trai thường vẫn đề: Em hậu phương gửi anh tiền tuyến thì văn vậy mới gọi là văn. Thời đó mình mê anh Vĩ cực kì. Nghe đài rồi chạy tìm mua sách không được, mò vô tận Đồng Hới tìm cũng không có. Nhờ ông anh cả ở Hà Nội mua cũng không nốt. Phát cuồng mà không biết làm sao. Không ngờ thầy Hiền dạy toán lớp mình lại có bộ sách ấy. Hỏi mượn thầy không cho nhưng thầy treo giải cho cả lớp, nói đứa nào thuộc hết công thức lượng giác lớp 9 thầy sẽ tặng bộ sách đó. Lượng giác mình cực ghét, vì bộ sách mình đã học thuộc lòng năm sáu chục công thức lượng giác chỉ trong một đêm. Thầy Hiền trao giải cho mình, có lẽ thầy tiếc bộ Dòng sông phẳng lặng nên đem Tuyển tập kịch Sếch - Xpia  dày 800 trang tặng mình. Điên tiết, mình vừa nhận kịch Sếch- Xpia vừa lẻn vào ăn cắp bộ sách Dòng sông phẳng lặng của thầy đem về đọc. Thầy Hiền tức điên, dọa nạt tùm lum, nói đứa nào lỡ dại lấy sách của thầy thì lo trả lại cho thầy, nếu không, phát hiện được chắc chắn bị đuổi học. Mình chả sợ, cứ thủng thẳng đọc đi đọc lại hai ba lần, đọc chán chê rồi mới lén trả lại cho thầy, hi hi. Đến năm 1985 mình về Huế làm việc mới gặp anh Vĩ, tất nhiên mình chẳng dám đấu khẩu, được anh cho ngồi hóng chuyện là may lắm rồi. Anh Vĩ cũng coi mình như đám con nít ranh làm thơ ngày đêm dập dìu quanh tạp chí Sông Hương mới ra đời do anh Điềm (Nguyễn Khoa Điềm làm tổng biên tập, anh Vĩ làm phó). Ở đâu chứ ở Huế thơ nhiều hơn bánh 116 Bạn văn 2 mì, nhà thơ nhiều hơn xích lô, xe ôm. Thêm một thằng nhà thơ quèn như mình chẳng mấy ai để ý, anh Vĩ cũng thế. Chỉ đến khi mình in truyện ngắn Người lính hay nói trạng, được anh Điềm khen, thì cái nhìn của anh thân thiết hơn, cái bắt tay cũng chặt hơn, ấm hơn. Mình viết cái truyện ngắn Tiếng lục lạc trong vòng hai tiếng, viết một mạch không sửa chữ nào. Bây giờ nghĩ lại không hiểu sao mình viết nhanh thế, khỏe thế. Cái kịch Mùa hạ cay đắng viết trong bốn ngày, tiểu thuyết Những mảnh đời đen trắng viết trong 20 ngày, chính xác là 20 đêm, ngày đi nhậu chán chê, tối mới kê bàn viết. Kinh. Đúng là chẳng có gì sánh  được với tuổi trẻ. Mình đưa cho anh Vĩ truyện Tiếng lục lạc buổi chiều, nghĩ bụng chắc vài ba ngày nữa anh mới đọc, chẳng dè vừa sáng sớm tinh mơ anh đã gõ cửa nhà mình. Anh bắt tay mình rất chặt, nói tôi chờ đến sáng để gặp ông đây, truyện quá hay. Lần đầu tiên được nhà văn đàn anh, người mà mình ngưỡng mộ, gọi mình bằng ông, thật sướng củ tỉ. Được khen hay đã mừng lắm rồi, lại còn quá hay, sướng ngây ngất con cà cưỡng, tâm hồn treo ngược cành cây cả tuần liền, hi hi. Sau mình biết anh đã cầm cái truyện ngắn của mình chạy khắp thành phố Huế suốt đêm qua. Anh chạy sang nhà Trần Thùy Mai, xuống nhà Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Khắc Phê, Thái Ngọc San, xuống tận Vĩ Dạ vào nhà Nguyễn Khoa Điềm, Trần Vàng Sao chỉ để xòe cái truyện ngắn ra, nói thằng Lập vừa có cái truyện hay lắm. Hiếm ai phát hiện được cây bút trẻ lại mừng rỡ được Nguyễn Quang Lập 117 như anh. Mấy thằng tre trẻ cỡ mình như Dương Thành Vũ, Phương Xích Lô, Mùi Tịnh Tâm... anh cũng chào đón vồ vập lắm. Một hôm nhận được chùm thơ của thằng Phương Xích Lô, anh cũng cầm chùm thơ chạy rong khoe khắp Huế. Tính anh vậy, khi nào cũng hừng hực khí thế chiến đấu. Gặp anh là gặp vấn đề, ít khi nghe anh đàm đạo văn chương thơ phú, toàn vấn đề. Gặp vấn đề gì là anh nói say sưa, ở đâu cũng nói, gặp ai cũng nói. Nói và làm, làm hùng hục, vừa làm vừa khoe. Có việc thất bại có việc thành công, việc thành công thì giả vờ khiêm tốn, nói thôi ông ơi nhắc làm gì, tôi có công gì lắm đâu. Việc thất bại thì lờ đi, coi như chưa có chuyện đó bao giờ. Nhưng được như vậy là quí hóa lắm rồi. Dựng nên tờ Sông Hương là anh Điềm, làm tờ Sông Hương nên nổi là anh Vĩ. Mỗi lần đi qua số 5 Đinh Tiên Hoàng thấy phục anh quá, không biết anh uốn lưỡi kiểu gì mà ông Vũ Thắng (Bí thư tỉnh ủy tỉnh Bình Trị Thiên) chịu cho tạp chí Sông Hương cái nhà to đùng, giá trị bây giờ cỡ chục ngàn cây. Chính anh khởi sự in thơ tiền chiến, mời Trần Dần, Văn Cao, Phùng Quán... vô Huế năm 1987. Trong khi sĩ phu Bắc Hà, nhiều kẻ gặp mấy người này còn đánh bài lờ, vẫn sợ bị vạ lây. Chính anh cho mở màn những cuộc hội thảo văn chương đổi mới cả trên tạp chí lẫn trong nghị trường, nổi tiếng khắp ba miền. Du lịch Huế bây giờ đỡ nhà quê hơn cũng nhờ có anh đóng góp. Tượng cụ Phan Bội Châu mười mấy năm trời lăn 118 Bạn văn 2 lóc giữa mưa gió, làm ổ cho chó gà ở phường Lò Đúc tội lắm, nay được đưa về khu vườn cụ xưa cũng nhờ có anh chạy đôn chạy đáo hết lên tỉnh ủy lại về sở văn hóa. Tất nhiên nhờ dàn đồng ca kẻ sĩ Huế mà anh Điềm, anh Tường, anh Xuân, anh Sơn, anh Huấn đứng đầu, nhưng công anh không thể coi là nhỏ. Tính anh vốn vậy, rất ghét bàn lùi. Hễ nói là làm, làm kì được. Năm 1985, cơn bão số 8 đổ bộ vào Bình Trị Thiên, tan nát tất cả. Đang khi mọi người đang sửa nhà dọn cây, anh Vĩ nảy ra sáng kiến làm một phụ trương về cơn bão kinh khủng này. Một mình anh, chỉ một mình anh thôi, vừa đặt bài, viết bài, biên tập bài vở và lên trang trong ba ngày là xong. Tờ phụ trương mấy vạn bản bán vèo trong một ngày. Dân Bình Trị Thiên nhận được giúp đỡ to lớn của bà con cả nước, phần lớn nhờ thông tin của tờ phụ trương. Chỉ riêng việc này đáng phong anh hùng cho anh Vĩ. Chẳng những anh hùng những việc như vậy, chuyện bồ bịch anh cũng “anh hùng” không kém, hi hi. Làm xong tờ phụ trương anh mò về cô bồ ruột ở Bệnh viện Huế, nằm lì ở đó cả tuần. Anh em tìm anh khắp nơi không thấy, tưởng anh bị lũ cuốn trôi. Anh Phan Tứ ở Đà Nẵng nghe tin, vội vàng đem cả vòng hoa ra viếng. Đến ngày nắng ráo anh mới chịu ló mặt ra. Anh Hải Bằng cười, nói Tô Nhuận Vĩ tổ cha mi/ chết mô không chết, chết vì cái ngao. Chuyện tình Vĩ nổi tiếng khắp phố Huế. Thậm chí Trần Thùy Mai còn dọa viết tiểu thuyết. Yêu đương mặn nồng lắm, dai dẳng lắm cuối cùng chẳng đi đến đâu. Chỉ vì anh vừa không muốn phá hỏng gia đình, vừa không muốn mất cô bồ Nguyễn Quang Lập 119 xinh đẹp. Anh gặp bồ thì hứa bỏ vợ, về nhà gặp vợ thì hứa bỏ bồ. Loanh quanh như thế hơn chục năm, cô bồ bỏ Huế ra đi, để lại cái thư có dòng chữ to đùng, viết Đời tôi chỉ căm thù hai kẻ: Đế quốc Mỹ và Tô Nhuận Vĩ! Hi hi. Hôm qua vợ chồng con Líp đón anh Tường, chị Dạ (Hoàng Phủ Ngọc Tường, Lâm Thị Mỹ Dạ) vào ở hẳn Sài Gòn cùng với nó, mình chạy đến nhà nó, tình cờ gặp cô bồ của anh Vĩ  ở đấy. Mình cười cười, nói tình hình Đế quốc Mỹ và Tô Nhuận Vĩ thế nào rồi. Chị nhăn răng cười, nói thôi thôi gác lại quá khứ hướng tới tương lai. Mình hỏi nếu cho yêu lại anh Vĩ chị có yêu không. Chị thè lưỡi rụt cổ lắc đầu, nói ua chầu chầu, không mô không mô. Mình già rồi mà răng ông ấy còn chắc lắm. Hi hi. Cu Vinh Nhà mình có tám anh em, cu Vinh (Nguyễn Quang Vinh) là con út. Cái tên của nó vốn là tên của mình. Lúc mình mới sinh, ba mình đặt tên Vinh, Nguyễn Quang Vinh, hình như để chào mừng Chiến thắng Điện Biên thì phải. Sau, thấy 120 Bạn văn 2 mình ốm yếu quá, ba mạ mình “bán” cho thầy. Ông thầy đổi tên Vinh ra tên Lập, ý là tự lập, từ đó mới có tên Nguyễn Quang Lập. Cái tên Nguyễn Quang Vinh thuộc phần thằng con út, là nó. Mạ mình kể khi có chửa cu Vinh bà ngượng lắm. Thời xưa năm mươi tuổi là lên lão rồi, tuổi ấy còn có chửa thật ngượng chết đi được, mỗi lần ra chợ bà phải lấy nón che bụng. Thế nhưng bà chẳng nhớ nó sinh năm con lợn (1959) hay năm con chuột (1960), tất nhiên ngày tháng sinh bà cũng chẳng nhớ. Cu Vinh tự ghi ngày sinh của nó rất hoành tráng: ngày 19 tháng 5 năm 1960. Sau biết 1960 là năm con chuột, nó sửa lại năm 1959, năm con lợn cho hoành tráng, hi hi. Cái máu hoành tráng của nó có từ thuở bé, vinh nhục cũng từ cái máu ấy mà ra. Nhà đông con quá, ba mạ mình lo kiếm đủ miếng ăn cho con cũng đã bạc mặt, chuyện học hành của con cái không mấy để ý. Mỗi năm một lần ba mình gọi đàn con đến, đằng hắng thật to, nói có lên lớp không con? Cả lũ dạ ran, nói có, có ba ơi. Hình như ba mình cũng chẳng biết đứa nào lên lớp nào, chỉ thấy ông cười rất tươi, nói giỏi giỏi. Rồi ông túc Nguyễn Quang Lập 121 tắc  giảng giải về việc đi học cần phải thế nào. Đại khái đi học thì phải cố gắng, phải chăm chỉ, phải tự giác, phải trung thực... năm nào cũng chỉ một bài đó thôi. May thừa hưởng gen của ba mình, tám anh em chẳng đứa nào học dốt, cu Vinh thuở nhỏ cũng học rất giỏi. Lớp 3 nó đã biết độc tấu sáo, lớp 5 độc tấu đàn bầu. Cứ mỗi lần hội diễn thôn xã, nhà trường thể nào cũng có màn độc tấu của nó. Thuở nhỏ nó nổi tiếng gấp vạn mình. Đúng hơn, khi mà mình chẳng biết nổi tiếng là cái gì thì nó đã biết làm thế nào để nổi tiếng. Năm 7 tuổi mình nhặt được chiếc bút máy Kim Tinh, đưa nộp đồn công an. Một giờ sau bảng tin đồn công an có thông báo viết rất đẹp, mình đọc đi đọc lại hàng trăm lần, đến nay hãy còn nhớ như in: Em Nguyễn Quang Lập học sinh lớp 1b trường cấp I Ba Đồn có nhặt được một chiếc bút Kim Tinh. Ai mất cây bút xin mời đến nhận tại đồn công an. Hoan nghênh tinh thần “được của rơi trả lại” của em Nguyễn Quang Lập. Ba mình đọc được thông báo đó, suốt bữa cơm chiều cứ xuýt xoa khen mình giỏi. Cu Vinh nóng mặt, nó thả bát cơm chạy đi lùng sục khắp nơi, kiếm ở đâu được một viên đạn súng trường, ba chân bốn cẳng đến nộp cho đồn công an. Các chú công an xoa đầu nó khen giỏi rồi ném viên đạn vào hộc bàn. Đứng chờ mãi không thấy các chú công an ghi thông báo, nó bỏ về nhà vừa đi vừa khóc. Mình nhăn răng cười trêu nó, nói lêu lêu đồ không được khen, lêu lêu đồ không được khen. Nó khóc rống lên, nói cha tổ mi vơ Lập nời, rồi vác thanh chống cửa sổ đuổi đánh mình. Có đến cả trăm lần nó vác gậy rượt đuổi đánh mình, chủ yếu là do mình 122 Bạn văn 2 trêu nó. Ở quê con út là nhất, nó đánh mình không sao, hễ mình cho nó một thụi là lập tức thành trọng án, chẳng cần roi vọt của ba mạ, các anh chị ai cũng bênh nó chầm chập, đem mình ra xử không thương tiếc. Thành thử mỗi lần nó đòi đánh là mình chạy, vừa chạy vừa cười, thỉnh thoảng còn ngoái lại thè lè lưỡi trêu nó, hi hi. Lớn lên nó lại làm người lớn trước mình. Mình yêu đương ba lăng nhăng mãi mới chịu lấy vợ, nó chỉ có một cô bạn học lớp 10, trước sau chỉ một cô ấy cho đến khi cưới nhau, tuyệt nhiên không có cô nào dự phòng. Mình thiên về chơi bời đàn đúm, nó chỉ mỗi việc là viết, viết và viết. Hình như nó chẳng có việc gì khác hơn là viết. Ai đặt cái gì viết cái đó, viết rất chăm rất nhanh. Nó viết báo nhanh như chớp, vừa viết vừa bịa chưa đầy hai giờ xong một phóng sự đăng 4 kì báo Dân. Viết tiểu thuyết cũng nhanh như chớp, hai chục ngày xong ngay một cuốn 400 trang. Rồi viết kịch viết phim viết gì cũng nhanh. Mình đánh máy còn chậm hơn nó sáng tác. Mình coi văn chương chỉ là chơi, viết được thì viết chả viết thì thôi, người khen kẻ chê cũng mặc kệ, không mấy quan tâm. Nó viết để kiếm sống, vừa thích nhiều tiền vừa thích được khen. Nó có khả năng ngồi lì một mạch 10 tiếng đồng hồ liên tù tì, viết sưng cả tay loét cả đít vẫn không nản. Một lần nó đang viết cuốn Đêm thức hay Tiếng gọi phía đất liền chi đó, viết được nửa cuốn thì gặp người của nhà xuất bản Lao động về Huế chơi (hình như anh Ma Văn Kháng thì phải), nó kể sơ qua câu chuyện cho người này, anh thích lắm bảo nó viết đi, viết nhanh lên. Nó quất một đêm xong cuốn sách, cho kịp sáng Nguyễn Quang Lập 123 mai gửi bản thảo cho anh ấy. Thất kinh. Có lẽ cả nước có ba người có số trang bản thảo xếp cao hơn đầu người là Nguyễn Khắc Phục, Nguyễn Mạnh Tuấn và nó. Chắc chắn số trang bản thảo của nó xếp cao nhất so với hai đại ca kia, nhưng trong khi tiếng tăm và uy tín văn chương của hai đại ca ngày một đầy lên, thì hình như nó càng viết càng hành nghề viết đời nó lại càng lụn bại đi. Nó bạc mặt vì văn và văn cũng nhếch nhác đi vì nó, tiền bạc chẳng thấy đâu, tiếng tăm tóm lại chỉ một túi hư danh, lắm khi nó cố thổi phồng lên để động viên nó mà thôi. Trăm sự cũng vì nó thương yêu vợ con quá. Chưa thấy ai hết lòng vì vợ con được như nó. Mình vẫn ba hoa người chồng nhân dân, người cha ưu tú, kì thực mình không bằng cái móng chân của nó. Thời bao cấp, tàu xe chật chội kinh hồn, mỗi lần về nhà nó tha hết túi nọ gói kia hết sọt khoai đến bị gạo. Nó chịu đựng đói khổ kì tài nhưng không thể chịu được khi thấy vợ con đói khổ. Lắm sự liều mạng của nó cũng chỉ vì vợ con. Thằng cu Cặng, đứa thứ hai, sinh ra có một cân bảy, không bế được phải đặt lên gối bê lên. Thằng cu bé đến nỗi 6 tháng tuổi mà miệng nó vẫn không vừa núm vú. Đặc biệt nó đau ốm triền miên, hầu như tháng nào cũng ít nhất một lần vào viện cấp cứu. Thằng Vinh ở Huế, hễ con ốm khi nào là nó chạy về khi đó, có tháng cả chục lần nó chạy về nhà, tốn kém vô cùng, nó đổ nợ kể từ ngày đó. Con cái lớn khôn, thoát được nợ nần tươi tỉnh được tí chút, sắm được cái ô tô làm dáng với đời, máu hoành tráng lại nổi lên, chủ yếu để khoe tài với vợ con thôi, khốn thay vì thế mà nó lại đổ nợ. Họa vô 124 Bạn văn 2 đơn chí, vợ nó bị ung thư, hai năm trời nó vật lộn chống chọi với căn bệnh của vợ, nợ lại chồng thêm nợ. Nhìn hoàn cảnh của nó ai cũng phát sốt. Giá rơi vào hoàn cảnh đó chắc mình phát điên. Thằng này thần kinh thép, bất chấp con nợ réo gọi, miệng thế người đời vây quanh như ong vò vẽ, nó vẫn hùng hục viết, hùng hục dựng và gom tiền điên cuồng chạy chữa cho vợ trong cơn tuyệt vọng. Chỉ riêng bốn tháng chầu chực bên giường bệnh của vợ, trước ngày vợ nó mất, với bao nhiêu sự cố bất thường của căn bệnh ung thư giai đoạn cuối, nó vẫn viết được 2 vở kịch, 2 bộ phim ti vi mỗi bộ vài chục tập, dựng được một show kịch ngoài trời về cụ Võ Nguyên Giáp. Không có thần kinh thép không thể làm được như thế. Sáng ngày 12 vừa rồi, nó gọi điện vào lúc mình đang ngủ, nói Mai sắp đi rồi anh ạ, sáng nay em đem Mai về quê. Vợ chồng mình hối hả chạy đến. Mai đang thở ô xi, lịm đi không biết gì. Thằng cu Cặng đứng bên mẹ. Phòng trong nó đang ngủ ngồi trước máy vi tính. Trên màn hình vi tính còn lưu mấy gạch đầu dòng: - Kế hoạch đưa Mai về quê; Hoàn thành đề cương phim Võ Văn Kiệt; Kế hoạch chôn cất đưa đám Mai thật đàng hoàng; Kịch Hồ Quý Ly, cố gắng thật hoành tráng... và một dòng chữ thật to: Trời ơi mình cần tiền quá! Nhìn dòng chữ đó, nhìn cái mặt gầy rộc già sụm đi của nó gục trên băng ca nó lấy làm bàn viết, lần đầu tiên mình đã khóc vì nó. Anh Hờ Hờ Nguyễn Quang Lập 125 Sáng nay hết tiền, lò dò ra cột rút tiền, vừa đẩy cửa cabin ATM thì gặp ngay một người đàn bà chừng năm mươi tuổi. Chị nhìn mình cười cười, nói chào nhà văn rồi cúi mặt bỏ đi. Nhìn mặt hơi quen quen nhưng không nhớ ra là ai, nghĩ bụng chắc là một blogger nào đó. Đỗ Trung Quân vẫn 126 Bạn văn 2 hay trêu mình, nói bác Lập có cả một trung đoàn fan hâm mộ tiền mãn kinh, đi đâu cũng gặp, ngồi đâu cũng gặp. Hi hi, nghĩ bụng chắc chị này cũng vậy. Về tới nhà mới nhớ ra đó là vợ anh Hờ Hờ. Ủa, vợ chồng anh Hờ Hờ vào Sài Gòn khi nào nhỉ? Gọi là anh Hờ Hờ là vì anh này hay cười hờ hờ, nói gì cũng cười hờ hờ rồi mới nói. Đầu câu cười hờ hờ, cuối câu lại cười hờ hờ, rất vui. Anh to cao đen thui, rất gấu. Người như võ sĩ hạng nặng, thơ phú thì ỏn ẻn như con gái, sến chảy nước. May là anh chỉ đọc thơ cho con gái nghe, chưa khi nào bắt mình nghe thơ anh cả. Hồi mình còn làm báo Văn nghệ trẻ, anh hay ghé qua tòa soạn chơi, rủ mình và Nguyễn Quang Thiều, Nguyễn Thành Phong đi nhậu. Tan cuộc tất nhiên anh dành lấy việc trả tiền và nhét vào tay tụi mình một chùm thơ. Thơ dở quá chẳng đăng được, lần sau anh lại đến, không hỏi vì sao không đăng thơ, lại kéo tụi mình đi nhậu, lại giành trả tiền, lại dúi vào tay một chùm thơ. Miết rồi cũng ớn, nhậu của người ta quá nhiều mà không in cho người ta được cái gì ngượng lắm. Những lần sau cả bọn thấy anh là trốn biệt. Nguyễn Quang Lập 127 Cộng tác viên như vậy khá nhiều, mình cũng không để ý. Về sau mới biết anh ở tận Sơn Tây, cách Hà Nội bốn chục cây mà ngày nào cũng về đánh đu với đám văn sĩ Hà Thành, thật phục quá. Một hôm mình với anh Nguyễn Khải đang ngồi uống nước chè ở hồ HaLe, bỗng thấy anh từ đâu xộc tới, vỗ vai mình đánh bốp, cười hờ hờ, nói chú mày mà dám quen Nguyễn Khải à, hờ hờ. Anh lại vỗ vai Nguyễn Khải đánh bốp, cười hờ hờ, nói đại ca ra khi nào không báo cho thằng em biết, tệ quá tệ quá, hờ hờ. Anh cố kéo mình với Nguyễn Khải vào quán nhậu cho bằng được nhưng cả hai đều khẩn khoản nói phét đang họp trong Hội Nhà văn, không đi được. Anh đi rồi, Nguyễn Khải mới nhìn theo, cười cái hậc, nói người ta mua danh ba vạn, thằng này mua danh  mười mấy tấn lúa, hơn chục con lợn rồi. Mình trợn mắt há mồm, nói thật thế hả anh. Nguyễn Khải gật đầu nhếch mép cười, nói tôi nói phét làm gì. Nhà văn thằng nào cũng hành vợ, tôi cũng thế, nhưng không thấy thằng nào hành vợ như thằng này. Kinh lắm. Để tôi kể cho nghe. Nguyễn Khải túc tắc kể, nói thằng này trước đây khá lắm, nhà nó thuộc loại giàu nhất làng, từ ngày nó đổ đốn làm thơ mới khuynh gia bại sản. Cứ mỗi lần nó đòi in thơ là vợ nó mặt xanh như đít nhái. Một tập thơ tiền in hết nửa tấn, tiền nhậu hết nửa tấn với một con lợn, kinh không. Thỉnh thoảng nó lôi bằng được một ông nhà văn nào đó ở Hà Nội về nhà, bắt vợ mổ lợn khao cả làng, khổ thế chứ. Nó đòi vào Hội Nhà văn cho bằng được, khổ nỗi thơ nó quá tệ, chẳng ai cho vào. Năm sáu năm liền, cứ đến mùa xét kết nạp Hội viên mới, nó 128 Bạn văn 2 lại bắt vợ mổ lợn, mời các ông nhà văn Hà Nội về nhậu để kiếm phiếu, sáu con lợn đi toi mà chẳng vào được. Tôi cũng được nó lôi về làng một lần. Khổ, nào tôi có biết nó là ai, thơ phú thế nào đâu. Chỉ vì tôi chơi với ông anh họ của nó thành ra phải quen nó. Thời tôi ở Hà Nội, ngày nào nó cũng chèo kéo tôi về làng, nể quá tôi đành tắc lưỡi về nhà nó một lần cho biết. Chẳng ngờ về tới làng, giật mình thấy cái băng rôn treo ở cổng làng: Nhiệt liệt chào mừng đồng chí nhà văn Nguyễn Khải..., thất kinh. Té ra thằng này làm trưởng thôn. Nó xui làng mổ bò khao “nhân sự kiện” tôi về nhà nó, chết mẹ thế. Đáng ra tôi chửi nó một trận về cái tội đã dùng tôi làm trò lố bịch, nhưng thấy con vợ nó chạy ngược chạy xuôi lo lắng bữa tiệc, thương quá nên thôi. Con vợ nó tội lắm ông ạ. Nghe nói ngày xưa đẹp nhất làng, vì nó mà héo quắt như cành củi khô... Mấy ngày sau, vừa bảnh mắt tôi đã nghe tiếng gõ cửa, rất ngạc nhiên. Mở cửa thì thấy con vợ nó đứng trước mặt, nói em về đây chỉ xin bác một điều thôi. Bác cho chồng em vào Hội Nhà văn đi bác. Mình kéo vợ nó vào nhà, nói tôi không là Ban chấp hành, chẳng quyền thế gì. Giả sử là Ban Chấp hành cũng không can thiệp được, dưới hội đồng người ta bỏ phiếu kín. Thơ thì khó lắm, mấy trăm người mới chọn được vài người, phải kiên nhẫn chờ thôi, chẳng biết làm thế nào. Vợ nó ôm mặt khóc òa, nói nhà em mất sáu con lợn tạ rồi bác ơi. Nghe Nguyễn Khải kể, mình đâm tò mò, định bụng thế nào cũng về nhà anh một lần xem sao. Mơ được ước thấy, Nguyễn Quang Lập 129 hôm sau gặp anh, chưa kịp mở mồm anh đã cười hờ hờ, nói chú mày nhất định phải về nhà anh, không anh không thèm nhìn mặt chú mày nữa, hờ hờ. Mình đi ngay. Anh không mổ lợn đãi mình nhưng cũng bày tiệc linh đình lắm. Chị vợ anh cứ vào vào ra ra, hết lấy cái này lại lấy cái kia, chèo kéo thế nào cũng nhất định không chịu vào mâm. Anh xua tay cười hờ hờ, nói chú mày không cần quan tâm, đàn bà chân đất mắt toét biết gì văn chương thơ phú, ngồi vào đây hỏng cả mâm rượu. Mình cười, nói anh nói anh tốn trăm bài thơ mới tán đổ chị cơ mà. Chị không biết văn chương thơ phú sao anh phải tốn thơ tặng? Anh cười hờ hờ kéo cổ mình thì thầm, nói ngày xưa đang tán nhau, mỗi lần tao đọc thơ mắt nó long lanh ứa lệ. Tao tưởng nó mê thơ tao thật mới cưới nó làm vợ. Chẳng ngờ nó khinh thơ tao như cỏ rác, nó chỉ mê con cu tao thôi, mê con cu tao thôi... bi kịch bi kịch, hờ hờ. Tháng sau anh chở một em mắt xanh mỏ đỏ tới tòa soạn, giới thiệu là bạn gái. Em này mắt lươn, tính hay cười, ai nói gì cũng cười tít mắt rất vui. Anh ôm vai cô bé cười hờ hờ, nói đây mới đúng là nữ thần tình yêu của tao, thuộc cả trăm bài thơ tình của tao rồi đấy. Cô bé cười he he he, nói một chăm mười chín bài cơ, bài lào em cũng thuộc nòng. Mình nói em thích thơ người yêu em lắm à. Cô lại cười he he he, nói vâng, bài lào của anh í em cũng thấy nâng nâng. Anh khoa chân múa tay, cười hơ hơ, nói hễ tao đọc bài nào em cũng khóc, em rất hiểu thơ tao. Con mụ vợ già của tao thì ngược lại, mỗi lần tao đọc thơ nó đều nhăn mặt che mũi như đang nghe mùi rắm, đúng là loại vô văn hóa. Cô bé lại cười he he he, nói chời chời, biết nòng dạ người ta ra xao 130 Bạn văn 2 mà anh lói vậy. Mình vỗ đùi đánh đét, nói em nói hay lắm, biết đâu anh đang đi với em thì ở nhà chị ấy lại đi theo nhà thơ khác. Anh cười hờ hờ, nói càng tốt, tao đang mơ có ai đó rước con vợ vô văn hóa đi cho tao nhờ, hờ hờ. Sáng nay sau khi gặp chị, chợt nhớ đến chuyện này, mình hỏi mãi mới tìm được số máy của anh, gọi điện cho anh, nói anh chị vô Sài Gòn rồi à. Anh cười hờ hờ, nói đâu có, vợ tao theo trai biến vô Sài Gòn, thả cả đàn con cho tao, hờ hờ. Mình nói cái cô bé ngày xưa thế nào. Anh cười hờ hờ, nói bé nào? Chả nhớ bé nào, tao có cả chục bé nhưng cũng biến sạch cả rồi, toàn loại vô văn hóa, chúng chỉ mê con cu tao thôi, hờ hờ. Nhớ Hải Kỳ Trong đời sống văn nghệ, có những người rất nổi tiếng nhưng không ai biết họ nổi tiếng vì cái gì, vì sao mà nổi tiếng. Chỉ biết họ rất nổi tiếng, còn bảo tác phẩm họ đâu thì chẳng ai biết. Anh Tường (Hoàng Phủ Ngọc Tường) vẫn hay ví von, nói mấy người đó như là mấy cục thịt thừa ngộ nghĩnh, ai Nguyễn Quang Lập 131 nhìn thấy đều nhớ ngay, có khi nhớ suốt đời dù biết nó chẳng có giá trị gì. Ngược lại, có những người tiếng tăm chẳng có bao nhiêu nhưng người trong nghề rất nể phục, ai từng biết tác phẩm của họ đều đinh ninh đó là người thực tài. Hải Kỳ thuộc loại này. Nếu hỏi 10 người Hải Kỳ là ai, cầm chắc 9 người không biết, người còn lại may ra mới biết anh là nhà thơ. Nếu hỏi kĩ hơn Hải Kỳ có tập thơ nào, cầm chắc người đó cũng chẳng nhớ. Lý do thật đơn giản, Hải Kỳ ít khi in thơ lên báo, nói chung anh chẳng quan tâm gì đến việc in ấn. Có bài nào mới, anh chỉ đọc cho bạn bè nghe chơi. Nhiều người khen hay, nói in đi in đi. Anh sướng lắm, nói in chơ in chơ, bài ni in ra thì chấn động đó nghe. Nói vậy nhưng anh chẳng bao giờ gửi in thơ. Một đôi bài anh in ở Tạp chí Sông Hương ngày xưa là do Ngô Minh, người bạn chí thân của anh cạy cục chép và đưa in. Rất lạ, Hải Kỳ có thể vật vã cả đêm để moi ra được một câu thơ, một chữ thơ, nhưng bỏ ra nửa tiếng chép bài thơ, nửa tiếng nữa để ra bưu điện gửi thơ thì dường như là việc quá sức của anh. 132 Bạn văn 2 Hoàng Vũ Thuật nói thằng Hải Kỳ ngơ lắm, làm thơ thì siêng, gửi thơ thì nhác. Quả không sai. Năm 1998 mình vận động Hải Kỳ vào Hội Nhà văn. Mình gọi điện vào, nói bác phải gửi một đôi chùm thơ ra báo Văn Nghệ, có đọc thơ bác thì người ta mới thấy bác xứng đáng vào Hội chứ. Hải Kỳ ừ ừ. Đợi cả tháng không thấy anh gửi thơ ra. Mình lại điện vào, anh lại ừ ừ, tóm lại chẳng gửi. Mình phải moi tìm trong giá sách tập thơ Đồng vọng của anh tặng mình, chép lại hai ba chùm thơ đưa in báo Văn Nghệ và một vài báo khác. Có thơ in báo, Hải Kỳ mừng lắm khoe khắp làng, nhưng bảo chép thơ gửi thì anh cứ lẩn như chạch, kì khôi vậy đấy. Chuyện vào Hội Nhà văn của Hải Kỳ rất vui. Anh là bạn học cùng lớp với Lâm Thị Mỹ Dạ, Ngô Minh. Làm thơ cùng thời với nhau, thơ phú chẳng kém cạnh gì hai người này, thế mà Ngô Minh, Lâm Thị Mỹ Dạ vào Hội từ tám hoánh anh vẫn chỉ là ông nhà thơ địa phương. Mình động viên anh nên vào Hội, nói thơ anh hay, xứng đáng vào Hội quá. Hải Kỳ sướng lắm, nói rứa à, thơ tao hay à. Mình đọc thơ anh - Biết là nhớ cũng bằng không/ Tôi ra cửa biển ngồi trông cánh buồm/ Tôi rơi vào cuối ngọn nồm/ Em rơi vào cuối nỗi buồn của tôi, nói thơ thế xứng đáng vào Hội quá chứ còn gì. Mắt anh sáng lên, nói rứa à. Tao vào Hội được à. Mình nói được chớ sao không. Anh nói rứa à, thiệt không thiệt không. Mình phải cam đoan, nói nếu anh làm đơn, chắc chắn vào ngay. Anh chụp lấy hai tay mình, nói rứa à. Mi mần răng cho tau vào với. Nhưng đến đoạn viết đơn làm hồ sơ thì nhác, nhắc hoài nhắc hủy chẳng được, sắp hết hạn rồi mình bèn viết quách cho xong. Làm xong đơn hồ sơ, mình gọi điện vào, nói em Nguyễn Quang Lập 133 gửi vào để anh ký nhé. Anh ậm ừ, nói kí xong rồi phải ra bưu điện gửi cho mi à. Mình cười, nói chứ sao nữa. Nghe nói vậy anh vội vàng khẩn khoản, nói thôi, mi kí lắc cha cho tau, không ai biết mô. Biết tính anh, mình cũng chỉ biết cười trừ. Ngày nhận thẻ Hội viên, anh chụp cái thẻ hôn chùn chụt, nói tau mà cũng hội viên Hội Nhà văn à bay. Lại hôn chùn chụt, nói tau mà cũng nhà thơ trung ương à bay. Nghe mình kể chuyện đó, Ngô Minh cười sật sật, nói đăng kí tên mình vào cái hộ khẩu mà hắn còn nhác, mấy chục năm không có tên trong hộ khẩu hắn cũng mặc kệ. Ông giáo Hải Kỳ này hơi bị kỳ, đối với anh tát cạn Biển Đông còn dễ hơn lên phường xin đóng dấu. Viết cái giấy xin nghỉ phép anh còn nhác, báo mồm một câu rồi cứ thế nghỉ, thà bị kỉ luật còn hơn ngồi viết cái đơn. Ngô Minh kể, thời bao cấp hộ khẩu quan trọng lắm, có nó mới có cái ăn, cái mặc, rứa mà hắn coi như không. Hỏi vì sao không có hộ khẩu thì hắn nhăn răng cười, nói cũng nỏ nhớ. Có lẽ ngày xưa tên mình cũng có trong sổ hộ khẩu tập thể của trường, nhưng mình ham thơ, ham chơi, không thích đến chầu chực nơi công quyền, nên không cắt về, rứa thôi. Quen Hải Kỳ gần ba chục năm, mình biết đời Hải Kỳ tóm lại mỗi chữ chơi. Đi học chơi nhiều hơn học, đi dạy chơi nhiều hơn dạy, đến khi già, không còn sức bay nhảy nữa thì suốt ngày chơi với cháu. Đến tuổi ngũ thập lục thập nhiều kẻ lo đánh bóng cái bao bì, vài cái huân huy chương, dăm cái giải thưởng, danh hiệu để khi chết có cái cho người ta đọc điếu văn. Anh không, chỉ chơi với cháu, chẳng quan tâm cái gì sất. Anh nghiện chơi với cháu đến nỗi một hôm mình đến 134 Bạn văn 2 nhà thấy anh ngồi bó gối bên đứa cháu đang ngủ, mình hỏi cháu làm sao, anh cười, nói có chi mô. Tau ngồi chờ hắn thức dậy để chơi. Lối chơi của Hải Kỳ là lối chơi của con nít. Nghĩa là chỉ thuần chơi không, chả vì một cái gì, cũng chả cần ý tứ, so đo chơi với ai không chơi với ai, cứ thế anh chơi tràn, vui đùa giận hờn tràn cung mây, y chang con nít. Đang muốn uống mà hết rượu, hễ thấy gia chủ chần chừ là anh về thẳng cánh, nói ẻ ẻ quẹt quẹt từ nay tao ẻ vô đến nhà bay nữa. Muốn đọc thơ mà không ai hưởng ứng anh cũng đùng đùng bỏ về, nói ẻ ẻ quẹt quẹt, ẻ vô chơi với tụi bay nữa. Nhưng chỉ cần đến ngày mai không có ai rủ đi chơi là anh lại gọi điện đến khẩn khoản, nói bay chơi mô cho tau chơi với, tội tau bay nờ. Có lẽ chỉ một lần duy nhất trong đời Hải Kỳ làm người lớn, đó là năm 25 tuổi anh đi hỏi vợ cho em trai. Ngô Minh kể em trai Hải Kỳ yêu con gái mẹ Suốt, người anh hùng sông nước thời chiến tranh. Cha mất sớm, Hải Kỳ phải thay mặt cha đem trầu cau đến nhà mẹ Suốt, anh đứng lên thưa gửi ngon lành. Ai cũng khen mới 25 tuổi đầu mà đã nói năng như lão làng. Ngoài lần đó ra, chưa lần nào anh chịu khó làm người lớn. Đến ăn mặc cũng rất chi là con nít, anh coi việc bỏ áo vào quần như là trời đày vậy. Đi dạy, đến cửa lớp anh mới nhét áo vào quần, ra khỏi lớp là tháo tung ra liền, mặt mày hân hoan như vừa thoát được ngục tù, chết cười. Người ta hay nói tâm hồn trẻ thơ trong các nhà thơ là nói  cái nhìn ngạc nhiên hồn nhiên trong trẻo của họ, chứ trong cuộc sống nhiều nhà thơ khôn tổ bố. Riêng Hải Kỳ thì đúng, tâm hồn anh đích thị là tâm hồn trẻ thơ. Trẻ thơ đến nỗi Nguyễn Quang Lập 135 anh đã làm thơ thắc mắc hệt như con nít thắc mắc với người lớn: Người ta xếp loại đạo đức tôi/ Đáng lẽ ở trong phòng, tôi lại lang thang/ Đáng phải ngồi nghe, tôi đi tìm bạn/ Đáng phải nghĩ suy thì tôi xúc cảm/ Đáng phải trả lời tôi lại lặng im. Có lẽ vì thế mà anh ứng xử với chị Lý (vợ anh) rất chi là con nít. Một hôm mình hẹn anh đi đâu đó, hình như ra Ba Đồn thì phải. Đến giờ không thấy anh đâu, mình chạy lên nhà, thấy anh đang giận giữ ném sách vở tứ tung, nói tau ẻ vô làm thơ, tau ẻ vô đi dạy. Hỏi sao, anh ngồi bệt xuống nền nhà, nói vợ tau không cho tau đi chơi. Rồi anh chồm tới níu áo mình, ngửa bộ mặt thiểu não, nói mi vô bếp xin chị Lý cho tau với. Mình cười khì trêu anh, nói sợ vợ như sợ mẹ thế gian chỉ có mỗi Hải Kỳ. Thực ra anh không sợ vợ, chị Lý sợ anh thì có, chỉ vì anh coi lời vợ dặn như lời mẹ dặn, không dám đơn sai. Thời trẻ anh yêu đương tán tỉnh tùm lum, tán được cô nào thì khoe ỏm tỏi. Mình nói anh phải kin kín chút, lộ thiên quá chị Lý biết thì chết. Anh cười, nói may quá vợ tao không dặn tao không được ngoại tình. Tưởng anh nói đùa, té ra thật. Chị Lý không chấp mấy vụ yêu đương lăng nhăng của anh, cũng chẳng ngăn cấm đe nẹt gì. Đến khi phải đi xuất khẩu lao động mấy năm ở Đức chị mới dặn anh, nói ở nhà chăm con, không được yêu đương bồ bịch nghe chưa. Quả nhiên suốt bốn năm chị Lý đi vắng, anh ở nhà cung cúc tận tụy nuôi con, tuyệt không yêu đương tán tỉnh ai. Đúng là thế gian chỉ có mỗi Hải Kỳ. Nhiều lần ngồi nhậu với anh, mình đã hô vang, nói sống và yêu theo gương Hải Kỳ vĩ đại, hi hi. Năm ngoái Hải Kỳ lâm bệnh ung thư lưỡi. Mình tất tả ngược xuôi, hết Sài Gòn đến Hà Nội lo mua bán nhà chuyển 136 Bạn văn 2 nhà, bận bịu quá không ra thăm anh được. Nghe Ngô Minh kể, anh vô bệnh viện Huế “đại phẫu” thành công, giờ đã đỡ đi nhiều, nghĩ bụng chắc dăm mười năm nữa anh mới chết, để khi nào thong thả ra thăm anh một chuyến. Chẳng ngờ 7 giờ tối qua thốt nhiên mình nhớ anh, gọi điện cho Ngô Minh, nói Hải Kỳ thế nào rồi. Ngô Minh nói đi rồi, vừa đi lúc sáu rưỡi. Mình ngồi trơ ra, ân hận vô cùng. Trần Tiến, kiếp du ca Hôm qua mình đến dự lễ 100 năm ngày sinh Lưu Trọng Lư gặp Trần Tiến, chưa kịp nói chuyện gì anh đã ghé tai mình, nói công tác nhậu của mày dạo này thế nào. Mình cười, nói yếu kém đi rất nhiều nhưng vẫn còn chơi được. Anh đập đùi vui vẻ, nói thế là hay rồi, xong cuộc này về nhà Nguyễn Mạnh Tuấn nhậu nhé. Tao hẹn với nó rồi. Mình nói anh cũng quen cụ Lưu Trọng Lư à. Anh nói chứ sao, tao có Nguyễn Quang Lập 137 một chương trình thơ Lưu Trọng Lư nhạc Trần Tiến rất ấn tượng, đến chết cũng không quên. Mình đến dự lễ vì tình đồng hương chứ không hề quen biết cụ. Nhà mình với nhà cụ đối diện nhau qua sông Gianh. Nếu vạch một đường vuông góc với sông Gianh từ nhà cụ thì đường đó băng qua nhà mình ở bên kia bờ. Cụ rời nhà đi làm cách mạng từ khi mình chưa đẻ làm sao mình biết được cụ. Mình rất tự hào được là đồng hương của cụ, dù cụ ở huyện Bố Trạch nhưng lúc nào mình cũng coi cụ cùng làng cùng xóm với mình. Anh Lưu Trọng Văn, con trai cụ, gọi điện cho mình, nói chết quá mày ạ, cuốn tuyển tập Lưu Trọng Lư in lộn huyện Bố Trạch quê tao ra huyện Quảng Trạch quê mày, dân Bố Trạch đang phản đối ầm ầm. Mình nhăn răng cười he he, nói rứa thì dân Quảng Trạch lời to. Thật sự nể anh em Lưu Trọng Văn quá, chả cần biết Nhà nước có nhớ hay không, tự mình tổ chức một lễ kỉ niệm cho cha thật sang trọng và ấm áp, khách dự toàn những người nổi tiếng nhất làng văn nghệ trong thành phố. Có cả cụ Phạm Duy, chị Trà Giang. Cụ Nguyễn Văn Tý đi đứng không còn vững nữa cũng cố lết đến, thật cảm động. Chẳng bù con cái 138 Bạn văn 2 những cụ khác, chết là hết, nhà nước có làm gì thì làm chứ họ chẳng bao giờ nghĩ tới. Có một nhà văn cực nổi tiếng, viết sách rất nhiều, nhưng khi cụ mất đi con cháu trong nhà không hề có ý thức thu gom bản thảo, sách vở của cụ để lưu giữ. Mình muốn tái bản một cuốn sách của cụ, khi hỏi các con cụ thì ai cũng lắc đầu cười trừ, họ chẳng biết cuốn đó giờ nằm ở phương nào. Thế mới biết anh em Lưu Trọng Văn thật có hiếu. Nhưng buổi lễ dài quá, có lẽ nó lẫn giữa hội thảo với lễ kỉ niệm, càng về cuối càng không biết cái lễ này sẽ kết ra làm sao. Trần Tiến bấm nháy mình chuồn, nói đi ra từng thằng một nhé, đừng để Lưu Trọng Văn thấy, nó buồn. Mình ngồi nghe cũng đã nản, nghe anh rủ là đi liền. Anh khoác vai mình ra xuống cầu thang, nói vẫn biết mình bỏ dở cuộc này là rất tệ nhưng cái tính tao thế, đứng đắn một lúc thì được chứ đứng đắn dài dài là chịu không thấu. Mình cười hì hì, nói anh em mình giống nhau. Mình quen Trần Tiến từ năm 1987, khi anh kéo băng nhạc Rock đen trắng ra Huế diễn hai đêm, đêm nào người xem cũng chật rạp. Diễn xong anh kéo mình với anh Tường (Hoàng Phủ Ngọc Tường) nhậu nhẹt thâu đêm. Chả hiểu sao đêm thứ hai Thanh Lan bỏ đoàn vào Sài Gòn, một mình Trần Tiến gánh cả chương trình hai tiếng đồng hồ, chương trình vẫn sôi động như thường. Khán giả vô cùng hào hứng, tuyệt không một ai bỏ về. Khả năng tự tung tự tác của Trần Tiến thật phi thường. Năm 1992, anh với Hồng Ngọc ghé qua nhà mình ở Quảng Trị, nói tao thấy cái xe Jeep ở Lao Bảo thích quá mà không Nguyễn Quang Lập 139 đủ tiền, mày bày trò cho tao kiếm tiền đi. Mình cười hề hề, nói xong ngay. Nhưng anh tính hát vo à. Anh nói chỉ cần mày kiếm cho tao cái ghi ta thùng là được. Mình ok liền, mượn ngay rạp hát Quảng Trị, rồi lên đài truyền thanh Thị xã loan báo, nói a lô a lô nhạc sĩ Trần Tiến và ca sĩ Hồng Ngọc rất cảm động khi đi qua Quảng Trị, mảnh đất 81 ngày đêm máu và nước mắt, đã quyết định dừng chân lại nơi đây, thực hiện một chương trình ca nhạc Tình yêu và Đất nước...hi hi. Bà con Thị xã Quảng Trị kéo đến chật kín rạp, chưa bao giờ rạp này khách đông đến thế. Với một cái ghi ta thùng, Trần Tiến và Hồng Ngọc chơi trọn một chương trình rất hấp dẫn, dân Quảng Trị sướng ngây ngất. Mấy năm sau hãy còn nhắc. Trần Tiến kiếm tiền rất dễ nhưng chưa bao giờ thấy anh giàu. Kiếm bao nhiêu anh nhậu bấy nhiêu, nhậu đến xu cuối cùng, chẳng cần biết ngày mai rồi sẽ sống ra sao. Hôm về Huế diễn, anh nhậu với mình đến sáng. Anh gọi bia rượu đồ mồi tơi tới cho hơn chục người nhậu nhẹt say sưa. Mình say, ngủ tới trưa mới tỉnh thì nghe nói anh bắt xe tải vô Sài Gòn rồi. Chả hiểu sao anh không đi tàu lại đi xe tải, mình đoán chắc ông này lãng tử thích đi xe tải vi vu thỏa chí tang bồng, đâu biết anh vét hết tiền nhậu đêm đó, đến nỗi không có tiền mua một cái vé tàu. Năm sau gặp, hỏi thì anh cười khì, nói khổ thân tao, đã không tiền phải xin đi nhờ xe tải, vào đến Bình Thuận xe tải đâm phải một xe tải khác, thằng tài xế gãy chân, tao nằm đói một ngày trời mới xin được xe khác vô Sài Gòn. Năm 1996 anh sang Nga, du ca khắp nước Nga. Lúc về gặp mình ở Hà Nội, chỉ thấy anh đứng nói suông không hề 140 Bạn văn 2 kéo mình vào quán như mọi lần. Mình trêu anh, nói bác bây giờ khẳm tiền rồi, chắc đang ở tình trạng thiếu năm phân đầy trăm cây, tiết kiệm ghê quá. Anh moi ra một rúp, nói thu nhập chuyến du ca của tao đây này. Mình chả tin. Anh cười, nói người ta du ca, tao du côn ca. Kiếm được đồng nào nhậu và yêu đồng đó, bò về tới đây được là phúc. Cái kiếp du côn ca của tao thật chán mớ đời. Hi hi... nghĩ cái số kiếp Trần Tiến cũng hay. Thuở bé nhạc nhẽo chả quan tâm, chỉ chúi mũi học giỏi cả toán lẫn văn, thế rồi bỗng trở thành nhạc sĩ. Trần Tiến học cấp 2 trường Trưng Vương Hà Nội, trường này trước 1962 toàn con gái, sau mới tuyển cả học sinh nam. Anh khoe, nói tao là lứa đầu tiên vác cu về trường Trưng Vương đấy nhé. Cấp 2 anh giỏi văn nổi tiếng trường, đã giỏi văn lại hát hay, mấy em học cùng trường mê tít. Lên cấp 3 lại học giỏi toán cực kỳ, giải nhất toán Miền Bắc năm 1963 hay 1964 chi đó. Anh nói chiến tranh đã biến số kiếp tao thành kiếp du côn ca, nếu không có chiến tranh rất có thể tao làm toán giỏi như Ngô Bảo Châu, hèn ra cũng viết văn được như mày. Đúng vậy. Tốt nghiệp phổ thông vừa lúc chiến tranh phá hoại Miền Bắc bùng nổ, Trần Tiến đi Thanh niên xung phong (TNXP) vào tận Bố Trạch, Quảng Bình “phá đá mở đường Trường Sơn”. Từ đó mới tòi ra bài hát TNXP ra tiền tuyến, sau sang Lào anh có thêm bài Cô gái Sầm Nưa. Trần Tiến trở thành nhạc sĩ lừng danh từ khi nào không biết. Hồi bé mình nghiện bài Cô gái Sầm Nưa, hát đi hát hát lại cả trăm lần nhưng chả biết tác giả là ai. Một hôm rượu say với anh, Nguyễn Quang Lập 141 mình trương gân cổ hát rống lên mấy câu, sai nhịp lạc phách tùm lum. Anh trợn mắt lên nhìn mình, nói này thằng kia, đừng có xúc phạm bài hát của tao. Khi đó mới biết Trần Tiến có những bài hát rất nổi tiếng từ tuổi hai mươi. Phục lăn. Năm 1979 chiến tranh biên giới Trung - Việt, khi đó mình đang học năm cuối Bách Khoa, có một nhóm ca khúc chính trị biểu diễn ở sân trường. Ba cô gái rất xinh ôm ghi ta hát bài Những đôi mắt mang hình viên đạn xúc động đến nỗi mình đã bật khóc, cả ngàn sinh viên đêm ấy đứng lặng ngắt, nước mắt rưng rưng. Chả hiểu sao mình cứ đinh ninh bài ấy là của Phan Nhân, mới hôm qua đây thôi mình ớ người, té ra là của Trần Tiến. Cuộc nhậu ở nhà Nguyễn Mạnh Tuấn kéo dài tới ba giờ chiều, nói Đông nói Tây cuối cùng cũng quay về câu chuyện Biển Đông đang nổi sóng. Trần Tiến có khá nhiều ca khúc chính trị nổi tiếng nhưng anh rất ghét phải ngồi nghe chuyện chính trị. Ngồi nhậu đâu hễ người ta bàn chuyện chính trị là anh kiếm cớ chuồn liền. Có lẽ duy nhất buổi nhậu hôm qua là anh không bỏ về. Anh ngồi im nghe anh em bàn tán, mặt mày buồn xo. Bất chợt Trần Tiến cất tiếng hát. Anh hát bài Những đôi mắt mang hình viên đạn. Lúc đầu còn hát nhỏ sau anh hát to, rất to. Sự bùng nổ cảm xúc cố kìm nén hiếm hoi của Trần Tiến: Đoàn quân lặng im, nhìn đàn em bé, từng đôi mắt đen xoe tròn, từng đôi mắt mang hình viên đạn, từng đôi mắt sáng lên cháy lên như ngàn viên đạn, từng đôi mắt quê hương trao cho đoàn quân/ Người chiến sĩ hãy giữ lấy... Anh đột ngột 142 Bạn văn 2 dừng lại giữa chừng, ngồi rũ ra không nói gì. Rất lâu sau anh ngước lên rưng rưng nhìn mình, nói Biển Đông đang nổi sóng mà tao già mất rồi mày ạ. Khốn thế. Một lần diễn kịch Mình diễn kịch không tồi, thậm chí giỏi nữa, he he, nhưng giọng mình hơi bẹt, nói lại hơi nhanh và lắp nên mình đã tránh làm nghề diễn viên. Thuở bé thì mê đủ thứ, mê lái xe tải, mê làm thợ mộc, mê múa, mê vẽ tranh, diễn kịch thì quá mê. Vở kịch mình được xem lần đầu trong đời là vở Đêm Nguyễn Quang Lập 143 tháng bảy năm 1970. Khi đó mình đang học lớp 7, đoàn kịch nói Trung ương về dựng rạp ngay sân trường mình ở làng Pháp Kệ diễn kịch cho bộ đội và dân xem. Chỉ nghe giới thiệu thế thôi chứ không biết rõ thực là đoàn nào. Ngày xưa thì bất cứ ai từ Hà Nội về đều gọi là trung ương hết. Việc một đoàn kịch trung ương về làng là sự kiện có một không hai, trong đời chỉ thấy đúng một lần, dân các xã lân cận đến xem đông nghịt, cả vạn con người chật kín sân trường, còn leo lên cây, trèo lên nóc nhà để xem. Xem kịch còn đỡ, xem xiếc mới kinh hồn, năm 1974 đoàn xiếc Trung ương về diễn ở làng Quảng Long, gần ba vạn người chen lấn xô đẩy nhau hòng kiếm một chỗ, từng đợt sóng người tràn lên cả sân khấu. Thế cùng người ta chỉ diễn được mấy trò bay lượn trên không, trèo lên cây cao để diễn rất đáng sợ. Hình như đêm đó là đêm Noel thì phải, vì mình nhớ là hơi lạnh, thường thì dịp Noel hay Tết mới ngừng bom đạn một hai ngày, người ta mới dám dựng rạp diễn kịch. Cả đời mới biết kịch nói là thế nào, lâu nay toàn nghe kịch trên đài, mấy ai được mục sở thị, mình cũng thế. Bây giờ chả nhớ kịch của ai, câu chuyện như thế nào, chỉ nhớ nhất màn mấy 144 Bạn văn 2 ông lính cộng hòa tung hứng chai rượu rất điệu nghệ. Lại còn mấy ả lính Cộng hòa mặc váy ngắn đi lại ưỡn ẹo, ngực to đùng, đùi trắng phau, thẳng ro, ai nấy lịm sườn. Con nít mê nhất màn ngậm xăng phun lửa. Để làm khói lửa người ta ngậm xăng phun qua mồi lửa, một khối lửa đỏ hồng bay vụt lên, rất đã. Hôm sau đứa nào cũng kiếm xăng ngậm phun lửa. Thằng cu Lợi ngậm xăng, chuẩn bị phun thì cười sặc, xăng tràn khắp mặt, lửa bám nhanh, cái mặt nó thành một khối lửa đỏ rực. Nó chạy hoảng loạn, va phải cột rơm, lửa bén rơm cháy bùng. May người lớn kịp thời nhảy ra cứu, đưa đi viện. Nó thoát chết nhưng bị hai khối sẹo lớn tràn từ mép xuống cằm. Từ đó nó có tên là Lợi râu. Chỉ sau một đêm diễn kịch ấy người ta biết kịch là gì rồi, làng nào xã nào cũng bày trò diễn kịch. Làng Đông bé tí hin, có 3 đội sản xuất thế mà có cả 3 đội kịch, mở hội diễn ở làng xôm trò cả mùa hè 1971. Quanh đi quẩn lại cũng chỉ Lòng dân với Nổi gió vì kịch bản có in trong sách giáo khoa, sau anh Thắng nhà mình mò đâu ra hai kịch bản nữa là Mỹ cút đi và Chiếc va li, chỉ mấy vở ấy thôi diễn đi diễn lại năm này sang năm khác người xem vẫn đông nghịt. Nhà mình hồi đó chỉ có anh Thắng (Nguyễn Quang Thắng) nổi lên có khiếu văn thơ, nổi tiếng khắp làng. Hôm chợ làng Đông bị bom Mỹ chết mấy trăm người, anh làm bài thơ Nhớ lấy thù này, thằng cu Tỏa ngâm, cả làng khóc rưng rức. Anh còn làm bài hát, nhạc lý nhạc leo chẳng biết, chỉ lẩm nhẩm thành bài rồi đem ra tập cho thanh niên trong Nguyễn Quang Lập 145 làng, nghe cũng êm tai ra phết. Ca từ đại loại Ôi làng Đông yêu thương/ với truyền thống quật cường... nhưng dân chúng nghe mê man, trên hát dưới há mồm lắc lư lắc lư như say thuốc phiện. Hồi đó anh Thắng oách lắm, đang học cấp III thôi nhưng chỉ huy thanh niên cả làng ngày làm thủy lợi, đêm tập văn nghệ. Ở trường anh cũng oách, phó bí thư Đoàn trường, vào Đảng năm học lớp 9, đứng trước cả ngàn học sinh cấp III hô một tiếng ai nấy làm theo răm rắp. Ba mình khi nào cũng đem anh Thắng ra nêu gương cho cả nhà, anh là niềm tự hào vô bờ bến của ba mình, khi nào ông cũng nói thằng Thắng nói thế này thằng Thắng làm thế kia, nghe sốt cả ruột. Ba mình đã về chín suối, nếu ông nghe tin anh Thắng bây giờ nổi tiếng sợ vợ khắp huyện chắc ông không thể tin nổi, hi hi. Mình sợ anh lắm, thèm diễn kịch muốn chết nhưng không dám nói. Anh Thắng làm đạo diễn kịch Nổi gió, hôm nào mình cũng mò ra sân kho hợp tác xã xem anh tập kịch, trương mắt nhìn anh khẩn thiết, chỉ mong anh gọi vào cho đóng một vai nhưng anh lờ tịt. Chỉ một vai thằng mật thám giả danh Việt cộng ra sân khấu nói đúng một câu: Chị Vân chị Vân, đúng 12 giờ đêm nay... Thế mà anh cũng không cho đóng, tức kinh. Thằng cu Á diễn dở òm, chỉ được cái to xác lại được anh chọn. Nó đóng vai thằng mật thám giả danh Việt cộng, tối nào diễn lại đeo cái kính râm to đùng, nhảy ra nói có một câu thế mà quên ngược quên xuôi. Có lần vừa ra sân khấu, vừa mở mồm nói Chị Vân chị Vân... Chợt nó đứng khựng lại trố mắt 146 Bạn văn 2 nhìn xuống khán giả nơi chị Du ngồi. Nó mê chị Du (chuyện này mình đã kể trong Kí ức vụn), bất kể lúc nào có chị Du là mắt nó không sao bỏ đi chỗ khác được. Nó thấy chị Du ngồi trên hai bàn chân của một chú bộ đội, hai ngón chân cái chú bộ đội đang ngo ngoe ngo ngoe... Nó đứng trợn mắt há mồm nhìn hai ngón chân cái chú bộ đội đang ngo ngoe ngo ngoe, người ngợm cứng đơ như Từ Hải chết đứng. Mọi người cười ầm. Chị Hòa đóng vai chị Vân thấy nó cứ đứng trơ không nói, tức, vỗ đít nó một phát, nói thằng tê, nói đi để tau nói, câm à. Nó sực tỉnh nói đại xong câu rồi nhảy ào xuống chạy thẳng xuống chị Du, lôi cổ chị ngồi chỗ khác, vừa đi vừa mắng chị Du, nói có l. không biết giữ, ngu ngu! Hôm đó làng xóm được bữa cười no. Mình tưởng anh Thắng sẽ đuổi thằng Á không cho nó diễn kịch nữa nhưng anh không đuổi, đêm đêm vẫn cho nó lên sân khấu chỉ vì nó khỏe như trâu, làm thủy lợi cực giỏi, hôm nào cũng được nêu gương. Một hôm mình bắt được quả tang nó ăn trộm dứa chín vườn nhà anh Đố, nó sợ lắm kéo tay mình khẩn khoản, nói tau lạy mi đừng méc anh Đố rồi tau cho mi đóng kịch thay tau. Tất nhiên mình ok liền, lập tức lấy cái kính râm to đùng của nó, tám giờ đêm diễn, bốn giờ chiều mình đã lấy nhọ nồi vẽ râu xong xuôi, đi đi lại lại sau nhà, nói đi nói lại một câu Chị Vân chị Vân, đúng 12 giờ đêm nay... đến thuộc như cháo chảy. Mạ mình bắt gặp, nhìn cái mặt đầy nhọ nồi của mình bà trố mắt đứng sững, nói mần chi rứa con, thằng ni e điên. Nguyễn Quang Lập 147 Hi hi... Tối đó mình đến cực sớm, vênh vênh váo váo đi lại sau hậu đài, nôn nao chờ đến giờ diễn. Anh Thắng trông thấy, nói mi mần chi đứng đây, mình nói thằng Á cho tui đóng vai của hắn. Anh Thắng trợn mắt xua tay, nói không được không được, mi còn nhỏ đóng răng được vai mật thám. Rồi anh đuổi mình xuống sân khấu, gọi thằng Á vào thủ vai. Mình bỏ về, vừa đi vừa khóc, tức quá bỏ ăn đúng một ngày, ai hỏi gì cũng không nói. Bụng nghĩ thầm từ nay cạch đến già, ẻ vô kịch với cót. Chẳng ngờ mười tám năm sau mình trở thành nhà biên kịch. Vở Mùa hạ cay đắng là vở kịch đầu tay của mình bảy, tám đoàn dựng, đoàn kịch nói Bình Trị Thiên cũng dựng, anh Xuân Đàm đạo diễn vở này rất hay, có thể nói ăn đứt bảy, tám đoàn kia. Mình nhớ năm 1987, một chiều diễn ở Sở Giao thông (Huế), chuẩn bị mở màn thì thằng Bình (Ngọc Bình) đóng vai Hoàng lên cơn đau thận phải đi cấp cứu. Nó đóng vai chính, nói lia xia từ đầu đến cuối, trong đoàn không ai thuộc được lời vai Hoàng trừ mình. Mình là tác giả, xem đi xem lại cả trăm lần nên vai nào cũng thuộc. Không thể hoãn diễn, mình nhảy đại lên diễn liều thế mà trót lọt, lại được khen. Cái Hoa (Tiểu Hoa) vợ Ngọc Bình đóng vai Thùy Linh rất lo khi phải đóng cặp với mình trong vai Hoàng người yêu của Thùy Linh. Hết lớp một ra hậu đài, nó đấm mình một phát cười hi hi, nói anh bỏ viết đi diễn kịch cho rồi, không ngờ anh diễn ngon cực. 148 Bạn văn 2 Mình càng diễn càng bốc, nhiều phen khán giả vỗ tay khen ngợi, sướng mê đi. Hết nửa vở mình ra hậu đài thấy ba bốn người đứng xúm lại thì thầm mặt mày lấm lét, thỉnh thoảng lại nhìn trộm mình. Mình đi tới hỏi chuyện chi rứa, mọi người nói không không rồi tản đi. Bỗng anh Thắng từ đâu chạy tới ôm mình khóc òa, nói Lập ơi ba chết rồi. Mình đứng trơ, nghẹn đắng. Mình ở tình thế tiến thoái lưỡng nan, bỏ đi không được ở lại diễn không xong. Tiểu Hoa cầm tay mình run run, nói em lạy anh đừng bỏ đoàn lúc ni. Mình chạy vào phòng vệ sinh đứng khóc một hồi rồi rửa mặt nhảy ra nghiến răng diễn tiếp. Chẳng ngờ mấy lớp cuối tâm trạng của Hoàng giống tâm trạng của mình lúc đó, mình diễn xuất thần đến nỗi anh em trong đoàn hết thảy đều trợn mắt há mồm. Hết kịch chào khán giả xong, không đợi nhận hoa hoét mình chạy ào đi. Mình với anh Thắng ra Cầu Mới xin đi nhờ xe, xin từ 6 giờ chiều đến 8 giờ tối mới có xe cho đi nhờ. Về đến nhà đúng 5 giờ sáng, khi đó người ta đã đóng nắp quan tài mất rồi. Nghĩ cái số kiếp của mình sao mà giống y chang anh Kép Tư Bền trong truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan đến thế, giống cho đến tận bây giờ, hu hu. Sự tích chiếc xe trâu của Phùng Quán Nguyễn Quang Lập 149 Những  năm tám mươi mình ở quê, mỗi lần ra Hà Nội mình thường trọ hai nơi, một là nhà Phạm Xuân Nguyên, hai là nhà Phùng Quán. Chỉ hai nơi đó là mình cảm thấy hoàn toàn tự do như ở nhà mình. Nhà thằng Nguyên bằng cái lỗ 150 Bạn văn 2 mũi, chưa đầy chục mét vuông. Vợ chồng nó còn trẻ, có mình chúng nó như  bị cấm đoán chuyện vợ chồng, rất khổ nhưng chúng nó vẫn vui vẻ. Mình cũng ái ngại lắm. Thường trước khi ngủ mình nốc rượu thật say, một là để ngủ cho ngon, khỏi phải tưởng tượng lung tung, hai là ngầm thông báo cho chúng nó là mình say rồi, “chết” rồi, muốn làm gì thì làm, hi hi. Lúc đầu cứ ra Hà Nội là mình tấp vào nhà thằng Nguyên. Một hôm anh Quán đến chơi nhà thằng Nguyên gặp mình ở đấy. Tàn cuộc anh kéo mình ra ngõ, nói mày vô nhà lấy đồ anh chở lên nhà anh. Mình ngạc nhiên, nói răng rứa anh. Anh cười, vỗ nhẹ vai mình, nói mày có vợ rồi mà tồ lắm. Mày nằm chềnh ềnh ra đó, tụi nó biết mần ăn ra răng. Mình ok liền, vui vẻ theo anh về nhà. Bây giờ mình mới để ý chiếc xe đạp của anh Quán, nó to quá cỡ, trông thô kệch kinh hồn, chưa bao giờ mình thấy chiếc xe đạp nào to kềnh càng và thô kệch như xe này, ống tuýp khung xe to hơn cổ tay, nan vành xe chiếc nào chiếc nấy to bằng đầu đũa, không thèm nói ngoa. Anh Quán nói đó là xe trâu, người Nga dùng nó làm xe thồ, chở vài tạ vẫn chạy tốt. Mình hỏi sao anh mua xe này. Anh cười cái hậc, nói tiền đâu mà mua, có tiền cũng chẳng Nguyễn Quang Lập 151 có mà mua, xe này khắp Hà Nội bói không ra một chiếc. Mình nói ủa, rứa răng anh có. Anh nói người ta tặng. Mình hỏi ai tặng, anh nói Lê Nin. Mình cười phì, nói anh không biết nói trạng. Lê Nin chết năm nào, anh sinh năm nào mà bảo Lê Nin tặng anh chiếc xe đạp này. Anh cười hì hì, nói rứa mới tài. Mình không hỏi nữa vì biết thế nào anh cũng kể, tính anh thích kể có đầu có đuôi, ít khi kể gọn lỏn một câu. Anh hay kể mấy chuyện liên quan đến sự viết của anh. Anh kể cái truyện Vượt Côn Đảo tất nhiên anh bịa, hồi đó nghe người ta kể lại một phần anh bịa ra chín phần. Cho đến ngày anh ngồi kể cho mình nghe, khoảng năm 85 - 86 chi đó, anh vẫn chưa biết Côn Đảo méo hay tròn. Trong đó có mấy câu anh tả con đường từ nhà tù ra  bãi dương (trường bắn) được lót xương của các tù nhân bị án tử hình. Là anh bịa ra thế để nâng cao lòng căm thù Đế quốc thực dân chứ xương người làm sao lót được đường. Chẳng ngờ trong hồi kí của một ông ở tù côn Đảo về (ông này nổi tiếng lắm, không dám nêu tên, hi hi) khi viết về con đường này cũng tả y chang như anh tả, cũng con đường lót xương các tù nhân, he he. Cũng chuyện tù Côn Đảo, trong Trường ca Võ Thị Sáu (thực ra là bài thơ dài, in nguyên một trang báo Tiền Phong) anh viết tuổi 16 chị Sáu vẫn  hái hoa Lêkima cài tóc. Buổi sáng ngày bị hành hình, chị đã ngắt một nhành hoa Lêkima cài lên mái tóc, trên đường ra pháp trường chị vừa đi vừa hát. Anh đâu biết Lêkima là cây gì, nghe cái tên đẹp thì tưởng hoa của nó chắc đẹp lắm. Sau này mới biết Lêkima thực ra là cây Quả trứng gà, hoa đã xấu lại đầy nhựa, “ngắt một nhành hoa cài mái tóc” có mà dở hơi. Ai dè bác Nguyễn Đức Toàn 152 Bạn văn 2 lấy cảm hứng từ bài thơ của anh để viết bài Biết ơn Võ Thị Sáu (chắc khi đó bác Toàn cũng không biết cây Lêkima là cây gì): Mùa hoa lê-ki-ma nở ở quê ta miền đất đỏ/ Thôn xóm vẫn nhắc tên người anh hùng/ Đã chết cho mùa hoa lê-ki-ma nở... Chị Sáu đã hi sinh rồi,/ Giọng hát vẫn như còn vang dội vào trái tim... Anh Quán cười khà khà, nói sau này hễ viết về chị Võ Thị Sáu thì người ta lại bê nguyên chi tiết này vào, vui quá là vui. Đến ngày thứ ba anh Quán mới kể sự tích chiếc xe trâu. Bữa đó trời mưa, anh đi đầu về, chạy rật rật vào nhà, miệng nói tay chỉ, nói Lập Lập mày bê chiếc xe đạp vào nhà cho anh. Mình chạy ra, vừa nhấc lên đã lè lưỡi, nặng quá là nặng. Mình vừa thở vừa nói xe này đúc bằng sắt hay sao, nặng như chiếc xe máy. Anh Quán cười nhẹ, nói thì bằng sắt chứ sao, có tí nhôm nào đâu, có rứa mới gọi là xe trâu. Anh lôi chai rượu vừa kiếm đâu về  rót ra hai ly, nói uống đi. Xe này anh kiếm được thời viết văn chui đấy, chuyện hay lắm. Anh kể đâu như năm 69 - 70, bé Đỗ Quyên, con gái đầu của anh, đang học cấp I. Mùa hè thì không sao, cứ đến mùa đông là nó thường xuyên đi học muộn. Trời rét mướt cả nhà ngủ khì trong chăn ấm, đến khi tung chăn vùng dậy đã bảy, tám giờ rồi. Con gái bị cô giáo phê bình liên tục, anh xót lắm, nghĩ bụng không biết làm thế nào kiếm được cái đồng hồ báo thức. Đồng hồ báo thức Liên Xô hồi đó bán phân phối giá 20 đồng, đối với anh Quán là cả một món tiền to. Nhưng giá có kiếm được 20 đồng cũng chả đến lượt anh, sổ gạo còn hồi hộp sợ có ngày bị cắt mất, anh đâu dám mơ được phân phối đồng hồ. Nguyễn Quang Lập 153 Đến chơi nhà Trần Dần, anh thấy có tờ họa báo Phụ nữ Liên Xô, vừa lật vài trang chợt thấy thông báo thể lệ cuộc thi viết về Lê Nin. Ngó xuống phần giải thưởng, giải khuyến khích là đồng hồ báo thức, bút máy và một vài thứ khác. Lập tức anh về nhà viết ngay, quyết giành cho được cái giải khuyến khích. Chừng hai ngày anh viết xong cái truyện Như con cò vàng trong cổ tích. Tất nhiên anh không lấy tên thật. Anh thư vào Nghệ An cho chú em họ đang làm công nhân lâm trường gì đấy, xin phép được lấy tên anh ấy. Sở dĩ anh lấy tên chú em họ, vì chuyện thi cử anh không dám mượn tên mấy ông bạn nhà văn anh vẫn mượn tên, hơn nữa lấy tên một người thuộc giai cấp công nhân chắc người ta sẽ ưu tiên hơn. Mới gửi thì thấp thỏm lắm, thỉnh thoảng có bưu tá gọi ra ngõ lấy thư, trống ngực đập to hơn trống làng, cứ tưởng bở thư chú em họ báo tin giải thưởng. Hơn nửa năm vẫn biệt vô âm tín, tuyệt vọng luôn. Trách mình to đầu mà dại, tự nhiên đơm đó ngọn tre, đấu với các anh tài của cả 12 nước Xã hội chủ nghĩa, cái giải rút cũng đừng có mà mơ. Một hôm rượu say anh ngủ như chết, chị Trâm, vợ anh, véo cho cái rõ đau. Anh giật mình mở mắt, chị Trâm cầm tờ giấy báo trúng giải chú em họ vừa cầm ra đưa qua đưa lại trước mắt anh, ối cha mẹ ơi giải nhất! Anh tự véo đùi mình hai ba cái để xem mình tỉnh hay mơ. Chú em họ mặt nhăn như bị, nói anh mần ri chết em rồi. Anh hỏi sao. Chú em họ kể giấy thông báo về buổi sáng, buổi chiều đã ồn khắp lâm trường, một ngày sau thì ồn ra cả tỉnh. Một ông công nhân ở nơi khỉ ho cò gáy bỗng nhận cái giải nhất của Liên Xô, lại giải 154 Bạn văn 2 nhất viết về Lê Nin thế mới kinh. Đài lâm trường, đài huyện, đài tỉnh đua nhau nói râm ran. Các nhà báo kéo nhau về lâm trường ầm ầm, chú em họ hãi quá, nửa đêm nhảy tàu ra nhà anh. Chuyện nghiêm trọng. Việc này nếu lộ ra chẳng những anh mất toi cái giải nhất mà việc viết văn chui của anh hơn chục năm qua nhất định bị lật tẩy, khéo không tù tội như chơi. Anh lạy lục chú em họ đã thương thì thương cho trót, cố làm sao đừng để chuyện này lộ ra. Anh diễn giải phân tích cái truyện, đặt ra đủ loại câu hỏi rồi trả lời, để chú em họ đối phó với đám nhà báo. Chú em họ cay đắng ra về, thôi thì đâm lao phải theo lao, nếu lộ ra anh Quán chết thì anh cũng chết theo, chẳng phải chuyện chơi. Được hơn một tuần, nửa đêm chú em họ lại mò ra, lôi trong bị ra cái đồng hồ báo thức và 50 chục đồng đưa cho anh Quán, nói của anh đó, anh cầm đi rồi tha cho em, hai ba tuần nay vợ chồng em mất ăn mất ngủ, kiểu này rồi cũng “tăng xông” đứng tim mà chết, chẳng sống được đâu. Hỏi thì chú em họ kể, hết lâm trường mít tinh biểu dương đến huyện, sở hội họp khen ngợi. Lại còn Tỉnh ủy gọi lên chiêu đãi, tặng 50 đồng; Ủy ban tỉnh gọi lên chiêu đãi, tặng đồng hồ báo thức. Hai vợ chồng chú em họ sợ hết hồn, cứ mỗi lần có trát gọi là tim họ nhảy lên sau gáy, mặt mày xanh như đít nhái. Rồi cũng qua. Ngày anh Quán đưa chú em họ đến Đại sứ quán Liên Xô nhận chiếc xe đạp là ngày cuối cùng trong suốt ba tháng trời căng thẳng hồi hộp. Anh nấp sau gốc cây bên kia đường, đối diện cổng Đại sứ quán, căng thẳng đến Nguyễn Quang Lập 155 độ mồ hôi đầm đìa toàn thân, ướt sũng cả áo quần, chỉ sợ đến phút chót mọi việc bị lật tẩy. Chờ suốt ba tiếng đồng hồ mới thấy chú em họ đẩy chiếc xe đạp đi ra. Anh ôm chầm lấy chú em họ nghẹn ngào không nói được. Hồi lâu mới nấc lên, nói em ơi, ơn em đời đời kiếp kiếp. Anh theo Vệ quốc quân vào sống ra chết không biết bao nhiêu lần, chưa lần nào anh sợ như lần này. Nghe đến đây tự nhiên mình muốn khóc. Nổ và nổ, he he Thói khoe khoang ba hoa bốc phét được lớp trẻ gọi là nổ. Cái từ nổ này hình như mới xuất hiện ở thế kỉ 21, trước đây chưa nghe ai nói. Nghĩ cũng hay hay, ngôn ngữ hiện đại bây giờ đang tếu táo hóa những khái niệm đạo đức vốn dĩ đạo mạo và nghiêm trọng, ví dụ hoắng huýt, tinh tướng chẳng hạn. Người bị phê tiếp nhận mấy từ đó cũng dễ dàng hơn. Cái sự nổ thiên hình vạn trạng, nhiều cấp bậc, nhiều trạng thái nhưng chung qui lại cũng chỉ hai loại, một thứ nổ để 156 Bạn văn 2 đùa chơi, vô hại, nếu có hại thì cũng chỉ hại mình chứ chẳng hại ai. Loại thứ hai là để trau chuốt cái bao bì bản thân đặng kiếm chác hư danh thu thêm lợi lộc. Mấy ông văn nghệ sĩ cũng chia làm hai loại. Loại ồn ào, hễ có rượu vào là nổ vang trời, bốc phét cho vui, có chết thì chỉ chết mình chứ chẳng chết ai. Loại này đa số là thực tài, chỉ bốc phét nơi chiếu rượu thôi, còn khi làm việc thường rất nghiêm túc chỉnh chu. Đạo diễn Xuân Huyền là một trong năm đạo diễn thuộc thế hệ vàng sân khấu Việt Nam, thế hệ đã làm nên một giai đoạn sân khấu rực rỡ 1985 - 1990 vô tiền khoáng hậu. Giai thoại về cái sự nổ của anh rất vui. Anh nói đạo diễn cái nước ni thứ nhất là tui, thứ 5 là Doãn Hoàng Giang, không có thứ 2 thứ 3 thứ 4. Tôi trêu đạo diễn Xuân Đàm, nói anh Xuân Huyền nói thế thì anh xếp thứ mấy, không lẽ thứ 6. Anh Xuân Đàm cười hì hì nói, không không, tao thuộc đội ngoại hạng, đời nào trò dám xếp thầy vô ngồi cùng một chiếu. Cái cách nổ thẳng tưng của Xuân Huyền không làm ai ghét, người ta thêm mến anh mà thôi. Một lần đem vở đi Nguyễn Quang Lập 157 hội diễn, vở của anh đạo diễn không được giải vàng, mọi người xuýt xoa tiếc cho anh, anh cười hề hề, nói è he, tui đem vở ni đi để lấy huy chương kim cương, huy chương vàng không lấy. Đạo diễn Quốc Trọng - ông này xưa là diễn viên xịn, từng nổi tiếng với vai Xuân Tóc đỏ - khi uống rượu say vẫn khua chân múa tay, nói phim này tôi sẽ, phim kia tôi sẽ... rồi cười hề hề, nói ối giời ơi sao mà tôi ưu điểm thế. Nhà thơ Trúc Cương rượu say còn không nhớ mình là nhà thơ, cầm chén rượu gật gà gật gù, nói tao đếch nhớ tao làm gì nhưng tao thừa nhận tao tài. Loại thứ hai  ngược hẳn, họ đóng vai khiêm cung, nói năng vô cùng khiêm tốn, ra cái điều mệt mỏi hư danh, kì thực háo danh như trẻ con háo sữa. Bỏ qua loại đi tiếp thị bản thân, gặp gỡ các doanh nghiệp thì khôn khéo PR khiến các đại gia nhiều ông còn mắc lỡm. Ở đây chỉ kể mấy cái ông hồn nhiên khoe mình, thổi phồng mình để kiếm mấy cái danh hão mà thôi. Một ông nhà thơ ra tập thơ, in có 500 cuốn thôi, đem tặng biếu hết lượt vẫn còn thừa cả trăm cuốn. Nhìn cái số lượng đề cuối sách là 5000 cuốn ai cũng trợn mắt há mồm, phục lắm. Ai hỏi thì bảo bán sạch rồi, đang tính xem có nên nối bản không, bạn đọc gửi thư về hỏi mua kinh quá. Có đạo diễn đem phim ra nước ngoài, người ta hỏi ở Việt Nam còn có đạo diễn tài năng nào nữa không. Ông vờ gãi đầu bứt tai, suy nghĩ rất lung, thở vô thở ra, nói thực ra không còn ai, chỉ có ông thôi, đấy là điều ông vô cùng đau khổ. Ua chầu chầu, PR giỏi quá ta. 158 Bạn văn 2 Ông nhà thơ XYZ ở nhà thì vô cùng khiêm tốn, ngồi đâu kiệm lời, ai khen thì cười ngượng nghịu, nói cảm ơn nhưng tôi không dám nhận đâu. Khi sang Mỹ mới biết tay ông, ông trả lời phỏng vấn ông là nhà dân tộc học số 1, người duy nhất có thể biết rõ, hiểu rõ, nghiên cứu rõ dân tộc của ông. Rồi ông đi đọc thơ, không thèm giới thiệu mình là nhà thơ, cũng không thèm nói thi sĩ như vài ông hoắng huýt khác cứ tưởng thi sĩ thì sang hơn nhà thơ đua nhau tự xưng là thi sĩ, ông này ghê hơn, gọi mình là thi bá. Tiếc thay cái ông phiên dịch chẳng biết thi bá là cái đếch gì, cứ dịch ông là poet cho nó tiện. Thật phí công soạn “từ điển” PR  ngay từ ở nhà. Có anh ra tập thơ, chẳng ai nhắc đến một câu, bèn viết phê bình khen thơ mình, kí tên là Chân lý, nói tập thơ là một bước tiến dài của tác giả, nó đóng đinh vào lịch sử thơ ca Việt Nam hiện đại như một cái mốc sáng chói. He he. Vẫn không ăn thua, có ông nhà thơ VZL còn dụ được một ông bạn nối khố viết về ông đại ý như thế này: Xét trong toàn bộ lịch sử thơ ca Việt Nam, tôi chỉ thấy có đúng 4 nhà thơ, đó là Cao Bá Quát, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du và VZL, họ đúng là tứ trụ thơ Việt Nam vậy. Thất kinh.  Làm một cái bìa sách, được bao nhiêu hội mình tham gia thì bê vào hết, giải thưởng tất nhiên là không bỏ sót cái nào, kể cả giải xã giải huyện cũng bê vào, cuối một lô giải còn khéo léo để ba dấu chấm lửng. Chết cười. Mấy năm trước có tổ chức tào lao nào thường viết thư gửi hết lượt những ai có chút đỉnh danh tiếng, nói gửi cho họ 1 nghìn đô thì sẽ có tên trong Từ điển danh nhân thế giới. Nguyễn Quang Lập 159 Nhiều bác tưởng bở gửi ngay nghìn đô. Cuốn từ điển đánh trống ghi tên ấy giá một nghìn đô, thật đúng là mua danh ba vạn. Nhiều anh biết thế cứ mặc kệ, nghìn đô thì nghìn đô, danh hão còn hơn vô danh. Mua xong rồi mấy ông làm cái bìa 4 sách của mình, thế nào cũng ghi một dòng: có tên trong Từ điển danh nhân thế giới. Ôi giời ơi, khổ ơi là khổ. Nhà văn... nhà hàng Mình thường không thích đến nhậu ở các nhà hàng của các văn nghệ sĩ. Đến đấy thường gặp người quen, nội mỗi chuyện chào hỏi cũng đủ mệt. Nhưng như người ta nói ghét của nào trời trao của ấy, muốn tránh cũng chẳng được. Bạn vào đấy ngồi rồi hú mình, vô lẽ vì cái quán ấy là của văn nghệ sĩ mà mình không tới. Vả, nhiều quán là anh em bạn bè thân thiết nhất thiết phải tới để ủng hộ anh em, chẳng hy vọng có mặt mình quán có thêm khách nhưng tới để anh em 160 Bạn văn 2 chúng nó vui. Mình nhớ hồi trước có lần ngồi nhậu với Trịnh Công Sơn, được vài ly anh liền nhổm dậy, nói mấy ông ngồi đây nha, tôi viếng qua nhà hàng mấy đứa em chút rồi tôi quay lại ngay. Cuối buổi anh quay lại đã say mềm, nói khổ rứa đó, mấy đứa em mới mở nhà hàng mình phải tới đó ngồi chào khách. Đi quán này không đi quán kia em út chúng nó trách, thành thử phải đi hết cả ba quán. Một quán vài ba khách, năm bảy khách, đi hết ba nhà hàng đã cả lít vào bụng rồi. Kiểu này e rồi mình cũng chết non. Cái khổ nhất của các quán văn nghệ sĩ là chỗ đó, vì cái name mà mở nhà hàng, hy vọng vì cái name mà đông khách, rõ ràng đông khách thật nhưng cũng vì cái name mà chết khổ. Bỗng nhiên mình biến thành cái hũ rượu để thiên hạ đổ rượu vào, hi hi thế có khổ không. Mình nhớ đâu như năm 1996, Nguyễn Huy Thiệp kết hợp với ai đó mở nhà hàng Hoa ban ở bên kia cầu mới (chả nhớ là cầu gì) phía Gia Lâm. Thiệp thì tiền bạc có đâu, chắc là góp vốn bằng cái name. Mấy ngày đầu nhà hàng đông khách nghìn nghịt, ngồi chật kín cả nhà sàn, tràn cả xuống Nguyễn Quang Lập 161 dưới đất. Thiệp không biết uống rượu nhưng ngày nào cũng phải đến, ngồi bàn này mấy phút lại nhảy sang bàn kia ngồi mấy phút, đang ngồi bàn này người của bàn kia tới kéo cổ áo lại phải đứng lên, đang nói cười với người này người kia đến bắt tay lại phải nói cười với người kia, loanh quanh như thế từ sáng đến tối, mệt bã người. Khách đến tìm Thiệp để bắt tay để chào hỏi để chụp ảnh không nói làm gì, có làm phiền cũng chỉ dăm bảy phút, sợ nhất là mấy ông khách muốn chứng tỏ, thích lấy le với người khác. Giữa cái quán ồn như vỡ chợ mấy ông cứ nhất định nói chuyện văn chương cho kì được, khen truyện này mấy câu chê truyện kia mấy câu ra cái vẻ ta đây nếu không thầy Thiệp cũng đàn anh của Thiệp. Lắm ông bốc máy gọi vợ gọi con, nói em à... con à... Em nói chuyện với thằng Thiệp bạn anh nhé... con nói chuyện với chú Thiệp bạn bố nhé. Nếu là mình thì mình chối phắt ngay lập tức nhưng Thiệp không chối được, lại cầm máy à ơi vài ba câu nhạt nhẽo, chán mớ đời. Lắm hôm mình thấy bộ mặt thất thần của Thiệp mà thương, hết người này kéo áo người kia túm tay, nó nói cười ngơ ngẩn, tuồng như nó chẳng biết cười gì nói gì. Mình vỗ vai nó, nói đã khiếp nhà hàng chưa. Nó lắc đầu cười cái hậc, nói sai lầm sai lầm. May nhà hàng Hoa ban chơi độc, ra giá cực cao, món nào món nấy đắt điếc tai, hình như họ tưởng thiên hạ vô đây nhậu là vì có Nguyễn Huy Thiệp, thấy được Nguyễn Huy Thiệp là sung sướng lắm rồi, đắt rẻ không xá. Nguyễn Huy Thiệp có truyện ngắn Kiếm sắc, ít lâu cái quán Hoa ban có 162 Bạn văn 2 tên là quán Kiếm sắc, thiên hạ đến quán ít dần đi, Thiệp cũng mệt mỏi bỏ rơi cái quán. Quán Hoa ban đóng cửa từ đó. Mình nói may là vì nếu Hoa ban còn đến bây giờ và Thiệp vẫn đánh đu với cái quán thì rất có thể nó đã bị hóa vàng từ lâu rồi. Mình cũng đã từng mở nhà hàng. Hồi làm báo Cửa Việt ở Quảng Trị, đói quá mình mới làm cái nhà sàn trước cửa tòa soạn, gọi là Diêu bông quán, chuyên thịt cầy bảy món, giúp cho anh em trong tòa soạn có thêm tiền ăn trưa. Mở được ba tháng, khách đông phết, chị Dạ (Lâm Thị Mỹ Dạ) từ Huế hớt hải chạy ra, nói em ơi không được mô không được mô. Mình hỏi sao, chị Dạ nói thầy Chiêm nói đất ấy còn nhiều xương cốt, mở quán thịt chó dễ hại đến gia chủ. Thầy Chiêm ở Đà Lạt là thấy bói tử vi nổi tiếng miền Nam, nghe nói ông Thiệu muốn đi đâu làm gì nhất nhất đều vời thầy vào bắt quẻ. Thầy rất thân anh Nguyễn Quang Hà, anh Hà kể nhiều chuyện bói toán của thầy làm mình phục sát đất. Mình là thằng vô thần chẳng coi bói toán là cái gì nhưng nghe anh Hà kể thì hãi lắm, có dịp mình sẽ kể sau. Nghe chị Dạ yêu cầu khẩn thiết quá, dù rất tiếc nhưng mình đành phải dẹp bỏ món thịt cầy bảy món, chuyển sang quán nhậu bình thường. Từ khi bỏ món thịt cầy chẳng ma nào đến nữa, được một hai tháng nữa thì dẹp. Mấy năm sau anh Tường (Hoàng Phủ Ngọc Tường, chủ bút tờ Cửa Việt) bị tai biến, liệt cứng toàn thân đến nay chỉ ngồi một chỗ, mình bị tai nạn chấn thương sọ não liệt nửa người. Nhớ đến chuyện chị Dạ nhắc mình thấy sợ và ân hận quá. Không rõ còn nhà văn nào mở quán nữa không, riêng Nguyễn Quang Lập 163 mình thấy có hai quán nhậu nhà văn tồn tại được rất lâu, đến bây giờ vẫn còn đông khách, đó là quán Đo đo của Nguyễn Nhật Ánh và quán Ruốc của Mường Mán. Cả hai quán đều là quán bình dân, các món nhậu là đặc sản miền Trung vừa ngon vừa rẻ. Quán lại không ồn ào, khách đông mấy cũng không ồn ào. Dân có chữ thường hay chọn quán này, các em chân dài cũng hay đến. Chân dài hay viếng qua thế nào đại gia cũng mò tới. Đại gia bây giờ chỉ thích mấy món tép xào, bánh tráng đập, cá lẹp kẹp lá mưng vậy thôi, các món cao sang họ đã ngấy đến tận cổ, thành thử hai quán này đâm trúng mánh, hi hi. Hai ông chủ quán rất ít khi xuất hiện. Mường Mán thấy người quen tới bắt tay rồi lui ngay, ai thân quen lắm mới ngồi lại một chút, chỉ ngồi một chỗ chứ không chạy lăng xăng bàn này bàn nọ. Nguyễn Nhật Ánh thì định ra bàn số 13, cứ mỗi tuần một lần vào tối thứ tư lại mò đến tiếp bạn bè. Ánh có quầy sách Kính vạn hoa cạnh nhà hàng, các cháu cứ đúng tối thứ tư là đến mua sách và xin chữ kí của Ánh, rất tiện. Nhà hàng Đo đo đã nuôi cả nhà Nguyễn Nhật Ánh gần chục năm nay rồi, thật sướng. Nhưng mấy ai may mắn được như Mường Mán và Nguyễn Nhật Ánh. Có thể nói mười người mở nhà hàng may ra được một, hai người trụ lại được. Dân nghệ sĩ chuyện buôn bán lại càng ú ớ, có đến vài trăm người mở nhà hàng, rốt lại chỉ được vài ba người, năm bảy người trụ lại được. Bây giờ nói chuyện nhà hàng Ziều đỏ của Đỗ Trung Quân. Gọi là nhà hàng của Đỗ Trung Quân thực ra giống Nguyễn Huy Thiệp nó cũng chỉ góp vốn bằng cái name. Cu 164 Bạn văn 2 Fil vốn kinh doanh dược phẩm một hôm rủ Quân mở nhà hàng, Quân rửng mỡ lên, nói ừ làm ông nhà thơ chán rồi, thử làm ông doanh nhân cái chơi. Quân và cu Fil bỏ hết việc lao vào mở cái nhà hàng Ziều đỏ thật hoành tráng. Hôm khai trương đông nghìn nghịt, Quân sướng rêm, nói cứ thế này có khi mình thành triệu phú he he. He he được chục hôm, sau đó thì hè hè, cuối cùng thì hẹ hẹ. Cả cu Fil và Quân đều mệt bở hơi tai. Tiền lời chưa thấy đâu, cu Fil thì huy động cả nhà trực suốt ngày đêm, không làm ăn gì được cả. Quân thì kiệt sức vì phải hầu khách ngày ba buổi. Cũng giống Nguyễn Huy Thiệp nó nhảy choi choi bàn này sang bàn khác, từ lầu 1 lên lầu 2, từ sáng sớm đến khuya. Ngồi chưa nóng chỗ bàn này đã nghe bàn kia réo Quân đâu. Vừa lên lầu 2 ngồi chưa kịp thở đã nghe lầu 1 réo Quân đâu. Xuống lầu 1 vừa nâng ly bia lầu 2 đã réo Quân đâu. Mệt quá nhảy về nhà ngủ chút lấy sức, lại nghe điện thoại réo Quân đâu. Đúng là voi cũng phải đổ đừng nói cái ông 37 cân hơi cả áo quần dày dép như Đỗ Trung Quân. Được ba tháng Quân đổ bệnh, bây giờ chỉ còn 34 cân hơi, dắt cái xe máy không nổi, mỗi ngày phải truyền một hai bình đạm. Anh em thân thiết đều hò hét nó, nói dẹp quán ngay dẹp quán ngay, thà chết ở sa trường chớ có chết nơi quán nhậu. Cu Fil thấy thế hãi quá, nó đóng cửa Ziều đỏ cái rụp. Mình đến thăm Quân. Nó đang truyền đạm, mắt lờ đờ miệng phều phào, nói tôi phát hiện ra chân lý rồi... nhà thơ không phải nhà hàng... không phải đâu, đừng có mà tưởng Nguyễn Quang Lập 165 bở. Hi hi. Chuyện thằng Trọc Ngày mình từ Ba Đồn sơ tán lên làng Đông, vào học lớp 3 mình ngồi cùng bàn với thằng Trọc. Tên nó là Đình, con trai cả lớp đứa nào cũng cạo trọc đầu riêng nó có tên là Trọc, kể cũng hơi lạ. Mình vừa ngồi xuống nhét cặp vào hộc bàn, nó liền lôi cái cặp của mình ra, nói có chi không? Mình giật cái cặp lại, nói có chi mô! Nó cười hiền lành, nói tưởng 166 Bạn văn 2 có chi ăn được.  Ngồi gần thằng Trọc lâu ngày mình phát hiện ra thằng này có cái tật lạ nữa, nếu nó chăm chú nhìn lên bảng chừng nửa tiếng thế nào nó cũng ngủ gật. Thành ra suốt buổi học nó toàn cúi gầm mặt nhìn vào sách. Tai nghe cô giáo giảng, mắt theo dõi sách giáo khoa chỉ thỉnh thoảng nó mới ngước lên bảng. Lúc đầu cô giáo buộc nó phải nhìn lên bảng, sau thấy hễ nó nhìn lên bảng là nó ngủ gật nên cô cũng không ép nó nữa, mặc nó muốn làm gì thì làm. Thằng Trọc học với cái hộc bàn, nó chúi mũi trong hộc bàn suốt buổi, lục soát cặp của mấy đứa cùng bàn xem có gì ăn không, gạ gẫm hết đứa này đến đứa kia chơi cờ ô rô với nó, không có đứa nào chơi thì nó chơi ô rô một mình. Cứ thế nó lúi húi duới hộc bàn cho đến khi tan học. Gần tết anh Mỹ mình đi học Liên Xô về cho mình nhiều thứ, thích nhất là cái thắt lưng nhỏ. Cái thắt lưng nhựa mềm mại trắng tinh, viền bằng hai đường màu hồng phớt, rất vừa bụng. Sau này ra Hà Nội thấy người ta bán đầy loại thắt lưng nhựa này, có đồng mốt một chiếc, rất rẻ. Nhưng khi đó Nguyễn Quang Lập 167 nghe nói thắt lưng Liên Xô mình sướng rêm, mũi phồng to để lọt hai quả cà. Bảo đảm cả huyện này không có đứa nào có thắt lưng Liên Xô như mình.  Quê mình thắt lưng gọi là nịt. Chỉ khi đi học mới được mặc quần dài, chỉ khi mặc quần dài mới thắt lưng bằng cái nịt Liên Xô. Hôm nào cũng vậy, mình chỉ mong sáng để mặc quần đeo nịt. Rất muốn bỏ áo vào quần để khoe cái nịt nhưng sợ chúng nó trêu đĩ trai, con nít giả đò làm người lớn, thành thử cứ phải buông áo ngoài quần. Ngồi trong lớp lâu lâu mình lại cúi xuống vén áo ngắm cái nịt. Thằng Trọc phát hiện ra cái thắt lưng, nó trợn mắt há mồm nói oa chà oách rứa bay. Suốt buổi nó cứ cúi gầm mặt vén áo mình lên xem cái thắt lưng, lâu lâu lại ngẩng lên hỏi, nói ai cho mi ri? Mình vênh mặt nói anh tao, anh tao học trường Lô mô nô xốp tề, ở Liên Xô tề. Thằng Trọc chẳng quan tâm Liên Xô ở đâu, Lô mô nô xốp là cái gì, suốt buổi nó chỉ chúi mũi vào cái thắt lưng của mình. Nó nhìn cái thắt lưng với vẻ thèm khát bốc cháy, nước dãi chảy ra ướt cả cổ áo. Lâu lâu nó lại hỏi ai cho mi ri nhưng hỏi chỉ để mà hỏi, nó không cần có câu trả lời. Cuối buổi học nó nhìn mình van xin, nói cho tao đeo thử cái coi. Nó năn nỉ nhiều lần, mình động lòng tháo ra đưa cho nó đeo thử, nói tan học trả lại cho tao nghe chưa. Nó nói ừ, tất nhiên rồi. Tan học ngoảnh lại không thấy thằng Trọc đâu. Mình vọt ra sân thấy nó đã chạy trên đường làng. Mình ráng sức đuổi theo vừa chạy vừa gọi, nói vơ Trọc nời, trả cái nịt cho tao. Nó ngoảnh lại nhìn mình tươi cười, nói rồi rồi, mai 168 Bạn văn 2 tao đưa cho. Nói xong nó vọt rất nhanh về ngõ nhà nó. Mình nghĩ mai đòi lại cũng được, bèn quay lui về nhà mình. Sáng mai gặp thằng Trọc ở sân trường, mình nói cái nịt của tao mô rồi? Nó vén áo lên chỉ cái thắt lưng, nói đây nì, mi sợ tao giấu mất à? Mình nói tháo ra trả cho tao. Nó cười tươi, nói chi mà nôn rứa hè, tí tao trả cho. Vào buổi học, cứ lúc lúc mình lại cấu nó, nói trả cái nịt cho tao. Nó nhăn mặt nhìn mình, nói thằng ni chi lạ rứa hè, đang học làm chi ồn ào mất trật tự. Sợ cô mắng mình cũng thôi không đòi nữa. Tan học nó lại biến đâu mất tiêu. Mình vọt ra sân nó đã chạy trên đường làng. Lần này không nhân nhượng nữa, mình rủ thằng Diệp đuổi theo thằng cu Trọc về tận nhà nó. Thằng Diệp rất nhiệt tình, nó bỏ cả buổi thả trâu cùng đi với mình về nhà thằng Trọc. Thằng Trọc không trốn đi đâu, cứ ngồi ăn thản nhiên mặc kệ mình và thằng Diệp chạy vòng quanh mâm đòi nó cái nịt, nói đưa cái nịt cho tao... đưa cái nịt cho tao. Thật lạ, thằng Trọc như điếc cắm cúi ăn như là không nghe ai nói gì, nó cũng như thằng mù như là chẳng thấy mình với thằng Diệp đang vè vè quanh nó. Lạ quá lạ quá!  Lạ nhất là bọ thằng Trọc, ông cũng như mù như điếc, cứ thản nhiên ăn cơm, mặc kệ mình với thằng Diệp đang xấn xổ bên con ông. Nếu ông trừng mắt lên, nói chuyện chi thì tụi mình sẽ kể đầu đuôi cho ông nghe, đằng này không, ông nhìn hai thằng mình như nhìn hai con ruồi vậy. Ông ăn xong phủi đít quần vào buồng ngủ. Thằng Trọc cũng phủi đít quần vào buồng ngủ với ông. Mình và thằng Diệp đứng trơ giữa Nguyễn Quang Lập 169 nhà, hai thằng hò hét một lúc mỏi mồm rồi lủi thủi bỏ về. Mình bàn với thằng Diệp, nói để mai tao lên báo cáo thầy hiệu trưởng. Thằng Diệp cười nhạt, nói è he, không ăn thua chi mô, để hắn đó tao trị cho. Rồi thằng Diệp rủ mình  phục ngay cổng trường, đè cổ thằng Trọc ra lấy cái thắt lưng. Thằng Trọc chống cự rất dữ chửi cũng rất dữ, cứ như tụi mình ăn cướp cái thắt lưng của nó không bằng. Khi cái thắt lưng được tháo ra thằng Trọc khóc rú lên chạy ù vào phòng giám hiệu khóc lóc tùm lum với thầy Khuông.   May thầy Khuông không phải con nít, mười phút sau thầy đã làm cho cu Trọc đuối lý, nó thừa nhận cái thắt lưng của mình, nó chỉ mượn đeo chơi thôi. Vui nhất là nó nói bạn Lập hứa cho em mượn một tháng, chưa được một ngày đã đòi lại. Mình với thằng Diệp tức nhưng chẳng biết nói sao, chỉ nhao nhao lên, nói ê ê nói láo... nói láo!  Thằng Trọc ra khỏi phòng giám hiệu mặt vác lên trời, nó nhìn mình cười cười, nói tao cho mi mượn tạm cái nịt đó nha, mai mốt tao đòi lại. Mình trương gân cổ lên, nói đòi cu tao... nịt tao chứ nịt mi à. Nó cười nói như không, nói nịt tao chớ, thầy hiệu trưởng nói rồi. Sôi máu lên mình lao vào tính sống mái với nó. Thằng Diệp ngăn lại, nói mi để thằng Trọc tao trị cho, không cần nghe nó nói thối tai. Vừa vào lớp, tụi nó xúm lại hỏi răng rứa răng rứa. Mình không buồn kể ngồi yên. Thằng Trọc cười tươi, nói có chi mô, thằng Lập đòi mua cái nịt của tao, tao không bán, nó rủ thằng Diệp đập tao. Thầy hiệu trưởng xử huề, bảo tao cho 170 Bạn văn 2 nó mượn một tháng. Mình lại điên lên xông vào cấu chí nó, nói cha tổ mi đồ nói láo. Thằng Trọc vẫn bình tĩnh ngồi yên cười rất tươi, như là chân lý thuộc về nó rồi không phải bàn cãi. Tức thế chứ. Thuở bé đến giờ mình mới hiểu thế nào là sự trơ. Chẳng ngờ nửa thế kỉ sau lại gặp lại cái sự trơ ấy, vẫn là thằng cu Trọc không ai khác, chuyện này kể sau. • Năm 1996 mình ra Hà Nội, về làm báo Văn Nghệ Trẻ với bọn thằng Phong (Nguyễn Thành Phong), thằng Thiều (Nguyễn Quang Thiều). Cuối năm mình đi công tác Sơn La về, chị Thu ở phòng tài vụ nói mày có ông bạn ở quê ra đây tìm đấy, ông í vòng đi lượn lại mấy hôm rồi. Mình hỏi ai, chị Thu nói ông í giới thiệu ông í là thi sĩ Lưu Ly. Chị Thu cười rích rích, nói nhà thơ thì nói bố đi cho xong còn bày đặt thi sĩ thi séo. Mình cũng cười, nói mấy ông nhà thơ vườn hay bày đặt vậy đó. Có ông đi Mỹ, giới thiệu mình là nhà thơ nổi tiếng thấy không an tâm mới xướng to mình là thi bá, chẳng may thằng phiên dịch nó chẳng biết thi bá là cái đinh gì, cứ đực như ngỗng ỉa. Hi hi. Hôm sau mình đến cơ quan, chị Thu đưa mình cái thư, nói thi sĩ Lưu Ly gửi mày đó. Mình không mặn xem lắm. Nếu bảo ông bạn cùng lớp cùng khóa gửi thư mình còn hào hứng, đằng này thi sĩ gửi thư, chưa đọc đã biết cái thư viết gì rồi. Thì cũng giống như bất kì thư của cộng tác viên lần đầu gửi thơ đến tòa soạn, đầu thư khen ngợi tờ báo, giữa Nguyễn Quang Lập 171 thư khen ông biên tập, cuối thư nhờ đăng bài, thư này chắc cũng thế. Chắc là thư của ông cộng tác viên nào đó ở mấy tỉnh miền Trung mình có gặp quán nhậu nào đó, mấy ông này tiền không có một xu thơ lúc nào cũng đầy hai bị, hãi lắm. Thôi, quan tâm làm gì, cho qua luôn. Mình tắc lưỡi bỏ ngay cái thư vào cặp. Chị Thu nói không mà, ông í bảo thân mày lắm, xưa ngồi học sát ngay chỗ mày. Mình cười, nói chị ơi, em có 15 năm đi học, khi nào em cũng bị sắp ngồi giữa bàn, 15 chỗ ngồi có ba chục đứa ngồi hai bên, biết là ông nào. Chị Thu cười to, nói ui ui quên quên, ông í bảo tao, nói cứ nhắc đến thằng Trọc là mày biết, mấy hôm búi việc chị quên mất. À, tưởng ai, té ra là thằng cu Trọc. Chuyện cái thắt lưng thời con nít cho qua luôn, mấy chục năm rồi giờ nhận được thư nó thực sự mừng, mình vội vàng bóc thư đọc ngay. Thư chẳng có gì, vài dòng hỏi thăm sức khỏe, chủ yếu là lối tán tỉnh “tôi đọc ông rất nhiều”, “phục ông lắm”... mình nghe đã quen tai. Cuối thư tất nhiên nó gửi cho mình bài thơ Bữa cơm chiều 30/4 có chua thêm mấy câu “Bài thơ tâm huyết nhất của mình viết sau ngày 30/4 tại dinh Độc lập”. Cộng tác viên gửi thơ cả tấn mình chả bao giờ đọc vì không phải việc của mình, nhận được là mình bắn thẳng cho thằng Phong, thằng Thiều. Nhưng thơ thằng Trọc thì mình đọc, đọc xem bạn bè viết lách thế nào. Tưởng phải ngáp vài ngáp mới đọc xong bài thơ, té ra bài thơ thấy hay, đọc một lèo rất hào hứng - Màu xanh – sân cỏ xanh mải miết/ Quây quần đồng đội đến vui chung/ Hàng 172 Bạn văn 2 cây so đũa cùng ta đó/ Ăn bữa cơm ở đích cuối cùng... Mình nghĩ bụng không ngờ thằng cu Trọc lại làm được bài hay thế, chộp được khoảnh khắc bữa cơm chiều 30/4/1975 tại dinh Độc Lập thật không phải tay vừa. Mình lên tòa soạn đưa bài thơ cho thằng Phong, nói thơ thằng bạn học tôi đấy, không ngờ thằng này viết được phết. Nhác thấy bài thơ thằng Phong cười phì, nói thơ bạn ông à? Mình ừ, bạn học thời con nít, in được thì in cho nó. Thằng Phong cố nín cười đưa cho thằng Thiều, nói thơ bạn ông Lập hay phết ông ạ, quyết đi số này ông nha. Thằng Thiều cầm bài thơ cười ha ha, nói quyết quyết. Mình thấy hơi lạ, thái độ hai thằng có cái gì đó nghi nghi nhất là thái độ thằng Phong, có vẻ như là nó đang diễn kịch. Thằng Phong chua dưới bài thơ: “Kính gửi anh HT. Đây là bài thơ của bạn anh NQL. Tụi em thấy rất hay, mong anh duyệt cho để kịp đăng số này.” Xong, thằng Phong đưa bài thơ cho mình, nói ông chịu khó đưa lên Hữu Thỉnh giùm tôi. Số này đã nộp cả lên anh Thỉnh rồi. Mình đọc lời trình của thằng Phong thấy hơi lạ lại càng nghi. Xưa nay chưa bao giờ nó ghi trong tờ trình bài này bài kia là của bạn của ông này ông nọ kia, rồi thì “tụi em thấy hay”, “mong anh duyệt cho”... thứ ngôn ngữ lạ hoắc không có ở tờ Văn nghệ trẻ thời của tụi mình.  Mình cầm bài thơ ra khỏi phòng được vài bước bỗng nghe hai thằng cười khoái chí. Mình khựng lại, chẳng hiểu trời xui thế nào mình bỗng nhớ ra đây là bài thơ Bữa cơm chiều trong dinh Độc Lập của Hữu Thỉnh. May thế không biết. Nguyễn Quang Lập 173 Cái ông Hữu Thỉnh là chúa đa nghi, việc mình đưa bài thơ của ổng trình ổng kí rất có thể là một trận lôi đình sau đó, dù khi đó ông vẫn nói cười rổn rảng, vẫn tốt tốt tốt như thường. Mình nhảy vào phòng chửi thằng Thiều, thằng Phong một chặp, bạn bè với nhau lại bày kế ác, suýt nữa nát một đời công chức. Hai thằng khoái chí ôm bụng cười rú lên, thi nhau chửi mình ngu. Trong cái chuồng báo Văn nghệ này, thơ Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Cao Bá Quát... có thể không biết nhưng thơ Hữu Thỉnh mà không biết thì thật quá to gan. Hi hi. Mình kể chuyện thằng Trọc cho thằng Phong thằng Thiều nghe, nói chẳng biết thằng Trọc đạo văn hay nó bày trò đểu chơi mình. Chúng nó cười, nói chắc là đạo văn thôi, chứ nó có biết ông Hữu Thỉnh méo hay tròn mà chơi đểu ông. Vừa lúc chị Thu gọi điện lên ban Văn nghệ trẻ, nói thằng Lập xuống nhà có khách. Mình hỏi ai đấy. Chị cười, nói mày tưởng mày lắm khách lắm à. Còn ai vào đấy nữa, thi sĩ Lưu Ly! Mẹ khỉ, thằng này thiêng thật.  Thằng Trọc, à quên, tên nó là Đình siết chặt tay nhìn mình âu yếm, nói ông gầy đi nhiều quá. Suýt nữa mình bật cười, từ thuở “cái thắt lưng” đến giờ nó có gặp mình đâu mà biết béo hay gầy. Hết lớp ba nhà nó đi kinh tế mới, hay đi đâu đó mình không biết, nói thật mình cũng không mấy quan tâm. Giờ gặp nó đây, kể như hơn ba chục năm rồi. Mình cũng diễn, vì nó diễn nên mình cũng chẳng dám thật thà, nói cảm ơn ông. Tôi nhận được thư ông, bạn bè ba bốn chục năm hãy còn nhớ nhau, quí hóa quá. 174 Bạn văn 2 Nó đưa mình cái “carvidit”, khoe cái chức phó tổng giám đốc, nói thằng tổng bị ung thư giai đoạn cuối sắp chết rồi, chắc cuối năm nay tôi thay hắn. Rồi nó lôi mình ra quán, ở đấy có mấy thằng lính của nó đang ngồi chờ, xem chừng tụi nó kính cẩn sợ hãi thằng này lắm. Được một tuần rượu thằng Đình vỗ vai mình, nói ông thấy thơ tôi được không. Mình trợn mắt hỏi thơ nào? Nó bảo thì bài Bữa cơm chiều 30/4 tôi gửi cho ông đấy. Có mấy thằng lính của nó mình không dám nói thật, chỉ ngồi cười trừ. Nhưng nó cứ ép mình, nói bạn bè với nhau ông cứ nói thật đi. Tụi này là đệ tử của tôi, không có ai đâu mà ngại. Mình vẫn diễn, nhìn thằng Đình vẻ chân thành hết mực, nói bài thơ ông gửi tôi hình như ông chép lộn thơ Hữu Thỉnh. Mình thoáng thấy đám đệ tử thằng Đình cụp mắt xuống rất nhanh. Thằng Đình mở to mắt nhìn mình vẻ ngạc nhiên hết cỡ, nói Hữu Thỉnh là thằng nào? Mình nói ổng là sếp tôi, bài đó có tên Bữa cơm chiều trong dinh Độc Lập, đăng đi đăng lại nhiều lần rồi, ai cũng biết. Thằng Đình vẫn mở to mắt nhìn mình, nói a thế à, không lẽ có sự trùng hợp ngẫu nhiên đến thế. Mình nói ừ, chuyện đó xảy ra cũng nhiều. Đôi khi mình thích thơ ai đó, thuộc lòng đến nhập tâm, lâu ngày đinh ninh là thơ của mình. Thằng Đình vỗ đùi đánh bốp, nói đúng đúng đúng... có thể, có thể. Mình suýt cười nhưng nín được, nói ông Thỉnh sinh năm bốn hai, hơn anh em mình một giáp, ông không nên gọi bằng thằng, khó nghe. Nó cười cười xoa đầu mình, nói mày cũng biết thờ chủ đấy nhể. Rồi nó hất mặt lên với đám đệ tử, nói Nguyễn Quang Lập 175 chúng mày phải học ông này, bất luận trường hợp nào cũng đứng về phía chủ. Mấy đứa đệ tử thằng Đình đứa dạ đứa vâng đứa gật gù, có đứa còn chồm tới bắt tay mình ra cái điều kính nể khâm phục lắm. Mình hơi bị nóng mặt, cảm giác như bị làm nhục bèn tính bài chuồn. Ngồi với thứ bạn bè như thằng Đình chỉ tổ mất thời gian, thêm bực mình chứ chẳng được cái gì. Thằng Đình biết ý, nó kéo mình ngồi dí xuống, nói bạn bè mấy chục năm mới gặp nhau, gì mà ông nhấp nhổm thế. Mình vẫn đứng lên, nói thôi để khi khác. Nó bảo khi khác là khi nào. Mình cười, nửa đùa nửa thật, nói khi ông phân biệt được thơ ông với thơ Hữu Thỉnh.  Thằng Đình không hề đổi sắc mặt, nó vỗ vai mình cười rất tươi, nói thì cũng giống như ông đã không phân biệt thắt lưng của ông với thắt lưng của tôi thôi, cuộc đời mà... cuộc đời mà. Mình chưa kịp phản ứng ra sao thằng Đình đã ngửa cổ cười ha ha ha, tiếng cười đắc chí nghe rợn tóc gáy cho đến bây giờ. Đỗ Chu, ông chủ trại văn Tối nay vào blog Trần Nhương thấy mấy cái ảnh Đỗ Chu, không ngờ anh đẹp lão nhanh quá. Mới đó đã chục năm không gặp anh, quay đi quay lại anh đã gần bảy chục tuổi rồi, nhanh thật. 176 Bạn văn 2 Mình quen anh từ năm 1988, khi đó anh phụ trách Trại viết văn Suối Hoa. Đọc văn anh từ thuở bé, phục lắm. Lại nghe các anh lớp trên khen Đỗ Chu thiên kinh vạn quyển, đọc anh thấy đó là thứ văn “mật ngọt chết ruồi” lại càng phục. Nguyễn Quang Lập 177 Nghe anh phụ trách trại viết văn vừa mừng vừa sợ, mừng vì gặp được ông thầy giỏi, sợ cũng vì thế. Hôm ấy mình  và  mấy anh em miền Trung, miền Nam ra sớm, trại chưa có ai đón, cứ đứng lơ ngơ ở cổng, chẳng biết hỏi ai. Anh đạp xe từ nhà đến, nhà anh ngay thị xã Bắc Ninh, gặp tụi mình anh chẳng dừng xe, cũng chẳng thèm nhìn đứa nào, nói chúng mày vào cả đây. Cả hội lúc cúc theo vào phòng của anh ở tầng trệt. Anh ngồi túc tắc xoi nõ hút thuốc lào. Tụi mình đứa đứng đứa ngồi, anh mặc kệ, chẳng buồn kéo ghế mời ai ngồi... Giống ông chủ trước đám học trò đến học việc, anh chẳng nhìn ai cho trọn một cái nhìn. Làm liền mấy điếu, ngửa cổ thong dong nhả khói, anh chỉ mặt từng đứa, nói thằng này tên gì, con này tên gì. Tụi mình lần lượt xưng tên, mặt anh lạnh tanh chẳng hề ư hử, như vừa nghe tên tuổi một đám vô dụng. Anh chỉ cái ấm, nói uống nước đi, chè mới pha. Tụi mình tự rót nước uống, im lặng nghe anh nói. Chỉ mình anh nói, vừa hút thuốc lào vừa nói, chẳng cho ai chen vào một câu. Xoi nõ, nói. Tra thuốc vào nõ, nói. Lấy đóm châm lửa, nói. Nói mãi cho đến khi đóm tắt, lại châm lửa 178 Bạn văn 2 vào đóm, lại nói. Cứ thế anh nói cho hết buổi sáng. Nhưng mà vui, chưa thấy ai một mình độc thoại từ đầu đến cuối mà người nghe không biết chán như anh. Chuyện gì anh nói cũng buồn cười, cười xong thì nghĩ ông này sâu cay thật. Cái kiểu nói chẳng hề đãi bôi khách sáo cũng chẳng thật thà chất phác, nửa thật nửa hư, nửa nạc nửa mỡ, nửa đùa nửa thật, rất vui. Anh lừ lừ nhìn cả hội, nâng điếu cày vếch mày rít một hơi, nói nghe nói chúng mày đều là văn tài cả, có văn tài tao mới nhận làm trưởng trại, không thì có các vàng tao cũng thèm vào. Tao có biết chúng mày viết lách thế nào đâu, thời giờ đâu mà đọc bài của chúng mày. Viết gì thì viết, miễn hay là được. Chợt anh trợn mắt lên như kẻ muốn gây sự, nói đừng hỏi tao thế nào là hay nhé, hỏi thế là hỏi đểu đấy. Văn chúng tao là văn nịnh. Nếu hỏi văn nịnh thế nào là hay thì tao dạy cho. Còn văn chúng mày đến bố tao cũng chả biết nữa là tao. Trần Thùy Mai cúi mặt cười phì. Anh trợn mắt chỉ tay, nói con này cười cái gì. Chúng mày viết văn để thành nhà văn, chúng tao viết văn để được tăng lương, được vào Đảng, vào Ban chấp hành. Khác nhau một trời một vực như thế, dạy nhau thế quái nào, hả? Tất nhiên văn anh không phải văn nịnh rồi. Ai bảo Phù sa, Cỏ mật, Mùa cá bột, Thung lũng cò, Ráng đỏ là văn nịnh. Có điều nghe anh mắng anh xơi xới cứ buồn cười, chẳng biết anh mắng anh hay mắng ai nữa, mắng rất kinh. Hình như chữ nghĩa chật cứng trong đầu anh, hễ mở mồm là tuồn ra ào ào, không cưỡng được. Đức Ban cười, nói bác nói rứa chứ em đọc bác thấy bác có nịnh chi mô, bác nỏ biết nịnh làm Nguyễn Quang Lập 179 răng viết được văn nịnh. Anh lại trợn mắt chỉ tay, nói thằng này ngu. Mày đọc tao được bao nhiêu mà bảo tao không nịnh. Mày không biết trước đây cứ tết đến là tao có một tùy bút to bằng cái mẹt. Cả hội cười. Anh nói cười cái gì, tao đâu có bịa. Có năm tao ốm không viết được, ra tết cụ Trường Chinh điện xuống hỏi ngay, nói năm nay không thấy tuỳ bút Đỗ Chu nhẩy. Nhục thế chứ. Anh kêu nhục nhưng mặt lại vênh lên, rất buồn cười. Anh nói đùa vậy thôi, sướng lên cứ nói vung tí mẹt chứ chẳng để làm gì, nói xong rồi quên, lại bày chuyện khác ra nói. Ở văn phòng Hội nhà văn gần hết đời, chưa khi nào anh làm một chức gì dù nhỏ, kể cả tổ trưởng tổ ba người. Anh nói tao ghi trong lý lịch ở cái mục Những chức vụ đã kinh qua: Đàn anh khối đứa. Mình cười, nói bác vinh dự nhỉ. Anh cười cái hậc, nói chúng nó vinh dự, đâu phải tao. Mình kể ở mục Đã đi nước ngoài mấy lần?, anh Lê Văn Thảo ghi: Dễ gì! Anh cười, nói thằng Thảo ngu, tao ghi: Tại sao lại phải đi. Việt Nam là số 1, còn đi đâu! Anh ăn ngủ tại Trại sáng tác, nhà anh gần có một đoạn nhưng anh chẳng về, có lẽ anh sợ tụi mình bỏ đi chơi chẳng viết lách gì. Sáng sớm, anh đi từ đầu đến cuối hành lang tầng 2 khách sạn, qua phòng nào anh cũng gõ cọc cọc cọc, nói rất to Viết! Viết! Viết! Rồi anh đi về phòng mình nằm ngửa đọc Kinh thánh. Được khoảng hai tiếng, anh lại vùng dậy ra khỏi phòng, đi dọc hành lang tầng 2 gõ cọc cọc cọc - Viết! Viết! Viết! Khi đó anh mới đi uống bia. Uống no bia, chừng 2 giờ chiều, anh mắt nhắm mắt mở, ngật ngà ngật ngưỡng đi dọc hành lang tầng 2, gõ cọc cọc cọc - Viết! Viết! Viết! Thế là 180 Bạn văn 2 xong, anh về phòng mình đánh một giấc đến 6 giờ tối. Thỉnh thoảng anh gọi Thuý Cải và các cô trong Đoàn quan họ Bắc Ninh đến chơi, hát hò “Cho mấy ông nhà văn trẻ thư giãn để viết cho nó hay.” Các cô vừa sợ vừa nể Đỗ Chu, anh bảo gì hát nấy, không dám ho he. Đến Bắc Ninh mới biết anh Chu rất được dân ở đây nể trọng. Không chỉ Đoàn quan họ Bắc Ninh, cán bộ Thị xã cũng vậy, hễ anh a lô đề nghị việc gì là đáp ứng ngay không hề chậm trễ. Hôm nhà khách Suối Hoa đang đêm mất điện, anh a lô chính quyền Thị xã cấp ngay 30 chục cây đèn bão: “Nhanh lên, các nhà văn đang hứng, đừng làm cụt hứng sáng tạo của họ”. Nửa giờ sau có liền. Thời bao cấp, chính quyền đáp ứng nhanh như thế mới biết Đỗ Chu có uy đến thế nào. Hi hi qua mồm Đỗ Chu văn chương quá quan trọng. Một hôm anh vào chơi phòng mình. Vừa nhấp ngụm trà anh đã nhăn mặt như khỉ phải mắm tôm, nói chúng mày uống chè này à, không được không được. Rồi anh gọi điện cho ai đó, nói các anh không được để các nhà văn uống chè đó. Người ta viết văn, viết văn chứ không phải nấu cám lợn. Sáng hôm sau có ngay chè ngon, loại hảo hạng, chưa khi nào mình kiếm được loại chè ngon như thế. Đỗ Chu còn gọi cả ông Quát (họ gì quên mất rồi) Bí thư tỉnh uỷ đến tận Trại nói chuyện thời sự “cho anh em nhà văn nắm được tình hình viết văn mới hay được”. Cũng để “anh em nắm vững tình hình” anh còn lôi được ông cả ông Lê Quang Đạo, lúc đó là Chủ tịch Quốc Hội, phó chủ tịch Hội đồng bộ trưởng, từ Hà Nội về nói chuyện. Mình nhăn nhó, nói anh Chu cứ bắt tụi em “nắm vững tình hình” thế này, thời giờ đâu mà viết văn. Anh trợn mắt, nói mày Nguyễn Quang Lập 181 ngu lắm. Không có mấy ông ấy đến thăm Trại, tao lấy đâu ra tiền quyết toán với thằng Thỉnh. Hi hi. Được một tháng, Đỗ Chu gọi cả hội đến, nói thằng Thỉnh mới gọi điện hỏi tao, chúng mày viết được cái cứt gì thì kê ra để tao báo cáo cho nó. Mình hỏi anh, nói anh không đọc cho tụi em xem hay dở thế nào để  còn chỉnh sửa. Anh cười cái hậc, nói ngu sao tao đi đọc văn chúng mày. Thằng Thỉnh thích văn chúng mày hay thì tao bảo hay, rõ chưa. Hi hi. Chợt nhớ một hôm anh tóm cổ mình trốn trại đi tán gái, anh hỏi mày đi đâu, mình nói đi tìm tài liệu. Anh cười khì, nói chúng mày nói phét giỏi, anh yên tâm. Tổng kết trại, ngựa xe như nước, quan khách to nhỏ đến ầm ầm. Đỗ Chu lên nhận xét tổng kết các tác phẩm của anh em. Anh cầm danh sách tác phẩm nói vanh vách cứ như là anh đã đọc rồi, đọc kĩ lắm. Đại khái cuốn nào cũng có tầm tư tưởng, văn chương thanh thoát, có tính khái quát cao... Tất cả anh em ở trại đứa nào cũng lộ sáng một tài năng. Anh nhìn tụi mình rất chân thành, nói cảm ơn các nhà văn trẻ đã cho tôi niềm hy vọng sáng ngời về tương lai văn học nước nhà. Tụi mình cúi mặt cười chết thôi. Hết tổng kết, vào cuộc nhậu. Anh uống rượu say bét nhè, ôm cổ mình hỏi nhỏ, nói mày nói thật tao nghe, chúng nó viết lách thế nào. Mình nói cũng được anh ạ. Có vài cuốn hay lắm. Anh lại cười cái hậc, nói cứt, chúng mày mà viết hay thì tao biến thành con bò. He he. Thời tiết Tạ Vũ 182 Bạn văn 2 Chiều này đứng tựa ban công nhìn xuống bờ kè, chợt thấy một người đàn ông áo quần xơ xác, chân nam đá chân chiêu, đi đi giật giật... y chang Tạ Vũ khi say. Bỗng nhớ từ ngày mình bị tai nạn đến giờ không gặp anh lần nào, mới đó đã hơn chục năm. Chả biết anh có còn nhớ mình nữa không, có khi quên rồi. Anh là nhà thơ lớp trước. Hồi anh ra tập thơ Vừng sen hàm rồng mình mới 20 tuổi. Đọc những câu thơ vạm vỡ, chắc khỏe của anh cứ hình dung anh nghiêm trang đạo mạo Nguyễn Quang Lập 183 Vẩn vơ phố cổ Mình có mười năm sống ở phố cổ Hà Nội. Nhà mình ở phố Lò Sũ, con phố chỉ chừng vài trăm mét, từ đó ra hồ Hoàn Kiếm cũng chỉ vài trăm mét. Sáng nào mình cũng chạy ba vòng quanh Bờ Hồ rồi lững thững vòng quanh các phố quanh đây hưởng cái tinh mơ Hà Thành hoặc đi bộ chừng vài trăm mét đến phố Lý Quốc Sư rủ Lê Thiết Cương đi ăn phở, ở đấy có quán phở ngon nổi tiếng. Xong lại đi bộ chừng vài trăm mét nữa đến phố Nhà Chung rủ Nguyễn Việt Hà ra góc sân Nhà Thơ Lớn uống cà phê tán phét. Phố cổ Hà Nội như một ngôi làng cổ, nhà này đến nhà kia chỉ cần đi bộ, xa lắm cũng chỉ một cuốc xích lô. Đôi khi mình cùng cùng Phạm Xuân Nguyên đi bộ đến Cà phê Lâm phố Nguyễn Hữu Huân, quán cà phê nổi tiếng Hà Thành ngày xưa, nơi danh sĩ Bắc Hà vẫn thường tụ bạ. Cà phê Lâm bây giờ vẫn ngon, cái ngon xưa cũ, ai sành cà phê mới thấm. Mình chẳng sành cà phê, ngồi ở đấy chỉ để 184 Bạn văn 2 nhớ ngày xưa Văn Cao, Bùi Xuân Phái, Dương Bích Liên… đã từng ngồi ở đấy. Vào quán Cà phê Lâm không phải để nói, một người một ly cà phê phin, một điếu thuốc cứ thế mà trầm ngâm, chẳng ai nói với ai. Từ nhà mình đến Cà phê Lâm chỉ vài trăm mét, hầu như ngày nào mình cũng đến Cà phê Lâm ngồi một mình cả tiếng đồng hồ, chỉ ngồi im thế thôi, chẳng nghĩ ngợi gì. Ấy là cái thú của những ai có tâm trạng như Thi Hoàng: “Có những buổi chiều không biết cất vào đâu”. Có lần mình gặp Trịnh Công Sơn ở đấy, anh cũng cà phê một mình. Anh nói mỗi lần ra Hà Nội lần dù bận rộn thế nào mình cũng tới Cà phê Lâm, chỉ đến một mình không cùng ai. Không phải để nhớ các danh sĩ Bắc Hà như Lập, chủ yếu để hưởng cái thú trầm ngâm của dân phố cổ Hà Thành. Bây giờ mình mới để ý nhiều đến những gì gọi là cá tính dân phố cổ, ấy là tĩnh, thong thả và trầm ngâm. Dân phố cổ vốn là dân Kẻ Chợ xưa, ra mặt ngoài xởi lởi ồn ào, chạy ngược ngước xuôi, nói năng bặm trợn, khi thu vào phía trong ngõ phố người ta thèm biết bao nhiêu cái tĩnh cái thong thả, và trầm ngâm cũng từ nỗi thèm khát ấy mà ra. Mình đọc được một tài liệu nào đó nói rằng kiến trúc phố cổ bắt đầu từ kiến trúc ba gian, bố trí thành nhiều lớp cách nhau bằng một sân nhỏ. Khi con cái lớn lên, ngôi nhà ấy phát triển theo chiều cao và chiều sâu, có nhà sâu tới hàng trăm mét. Sau này các ngôi nhà lớn ấy trở thành một Nguyễn Quang Lập 185 xóm dân cư, mỗi ngõ là một xóm. Cái xóm thiếu sáng thiếu khí ấy tuồng như nằm dưới đáy cuộc sống, tĩnh lặng và bí mật. Cái sân nhỏ xưa trở thành giếng trời, dân trong xóm chung nhau cái giếng ấy như ở thôn quê dân trong xóm chung nhau một cái giếng làng vậy. Ấy là nơi giao tiếp của cả xóm, rồi ai nấy thu về góc riêng nhà mình, tĩnh lặng và bí mật. Phố cổ Hà Thành mặt ngoài là phố thị, mặt trong là làng quê. Vào ngõ thấy yên tĩnh là thường, ai nấy khép kín trong ngôi nhà nhỏ của mình, đi nhẹ nói khẽ. Người trong xóm ít ai nói chuyện ồn ào, chào nhau bằng nụ cười bằng mắt, thế là quá đủ. Ở phố cổ nhiều xóm không có ngõ. Muốn vào nhà phía trong phải thông qua nhà ngoài. Khách khứa đi qua nhà ngoài cứ thế mà đi, khỏi cần chào hỏi. Người nhà cũng ít ai hỏi đi đâu đấy, vào đấy làm gì. Nếu khách đi qua nhà người ta cứ nhìn ngắm lung tung, chào hỏi linh tinh thế nào cũng bắt gặp cái nhìn khinh khỉnh khó chịu. Có lẽ những va chạm do chật chội, những giao tiếp nặng tính xã giao không thích hợp với văn hóa làng vốn là hồn cốt của phố cổ nên người phố ghét sự vồn vã đãi bôi dù hàng ngày họ phải dùng nó mỗi khi nháo ra mặt ngoài kiếm sống. Tạo hóa đã cho phố cổ một khoảng lặng lớn ấy là Bờ Hồ. Dân phố cổ ra đấy để ngồi mình ngắm mặt hồ phẳng lặng, chẳng ai ra đấy để tụm năm tụm ba nói chuyện ồn ào, cái đấy dành cho khách vãng lai. Nhiều người đi lại thong thả quanh hồ, chỉ đi một mình với vẻ trầm ngâm rất chi là dân phố cổ, ít ai cặp đôi cặp ba vừa đi vừa nói chuyện như 186 Bạn văn 2 khách vãng lai. Thế mới biết dân phố cổ thèm yên tĩnh biết nhường nào, thèm và sợ mất đi yên tĩnh và thong thả ngàn năm tạo hóa đã dành cho họ. Cho nên nhiều khi mình cứ nghĩ vẩn vơ, rằng giá phố cổ Hà Thành không có ô tô xe máy, cả xe đạp xích lô cũng không, sự nháo nhác ồn ào người và xe chen chúc chẳng những chèn ép tâm tính phố cổ mà còn phá vỡ kiến trúc tĩnh ngàn năm ông bà mình để lại. Mình cứ nghĩ vẩn vơ, rằng mình và hầu hết những ai bây giờ về phố cổ không phải muốn về nơi phố xá ồn ào mà muốn về ngôi làng - phố chợ, một siêu thị cổ xưa, ấm áp và thân thiện. Dân Việt cổ xưa đi chợ cũng là đi chơi, bán mua là phụ rong chơi là chính, vậy thì tại sao chính quyền lại đổ lên lên phố cổ trách nhiệm của một trung tâm thương mại? Ép cũng chẳng được. Cùng với thời gian phố cổ đã dần tước bỏ tính thương mại để lấy lại vẻ đẹp văn hóa ngàn năm của nó. Hàng Than chẳng còn than, Hàng Tre chẳng còn tre, Hàng Bạc Hàng Gai Hàng Chai Hàng Thùng… chẳng còn dấu vết hàng hóa mang tên chúng. Không bán mua không ra chợ nhưng mình cứ nghĩ vẩn vơ, rằng chợ Đồng Xuân chắc rồi cũng sẽ rủ bỏ nốt trách nhiệm thương mại để trở thành cái chợ làng cổ xưa, nơi người ta đi chợ như đi hội. Ừ, mình cứ nghĩ vẩn vơ rằng bảo tồn phố cổ là trả về cái tĩnh cái thong thả cái trầm ngâm đất Thăng Long ngàn năm trước, bên một Hà Nội hiện đại ồn ào náo nhiệt và gấp gáp. Sao cho khi đã mệt mỏi với những ồn ào náo nhiệt của Nguyễn Quang Lập 187 Hà Nội hiện đại, người ta có thể về với Thăng Long xưa, yên tĩnh và thong thả trên những nẻo đường thiêng, đất tiên tổ nghìn năm trước. Cho tất cả những ai chưa có điều kiện trở về ngôi làng cũ của mình để hưởng thụ cái tĩnh cái thong thả cái trầm ngâm ngàn vàng khôn chuộc, người ta có thể rảo bước về phố cổ. Mình nghĩ vẩn vơ vậy đó, chẳng biết có đúng không? 188 Bạn văn 2 lắm, đến khi gặp anh thất vọng quá trời. Hôm đó chẳng biết có việc gì mình với thằng Phong (Nguyễn Thành Phong) đi đến vườn hoa Hàng Đậu, đang  định vào quán nước chè thì có tiếng người gọi to tên thằng Phong, gọi rất to y như gọi xích lô, xe thồ. Mình quay lại thấy một người nhanh nhẹn đi tới. Thằng Phong mặt biến sắc miệng lẩm bẩm, nói chết cha... Tạ Vũ. Nó chưa dứt lời anh đã a tới mặt mày phấn khởi nói oang oang, mồm nói tay đẩy, nói vào đây vào đây, chúng mày mời anh chén rượu, tất nhiên rồi, phải không? Mình nhìn anh, mặt mày sần sùi, tóc tai râu ria lởm chởm, áo đứt cúc, quần rách đít, mồ hôi đọng ở ức ngực giọt nào giọt nấy đen thui, cảm tưởng cả nghìn năm anh không tắm. Thằng Phong giới thiệu với mình, nói đây là anh Tạ Vũ. Nó chực chỉ mình giới thiệu, anh đã nói oang oang, biết rồi biết rồi, Nguyễn Quang Lập chứ gì, Phùng Quán khen mày lắm. Thằng Phong lưỡng lự tính bài chuồn nhưng anh đã tóm cổ cả hai thằng vào quán cùng anh. Anh  ồn ào gọi rượu trắng lạc rang, cứ như đang mở tiệc lớn. Bà chủ quán thấy anh vào mặt mày nằng nặng, vẻ không ưa. Anh cũng cứ mặc kệ, Nguyễn Quang Lập 189 nói này chị, tôi gọi còn hai thằng này trả tiền, yên tâm nhé. Hóa ra đây là quán quen của anh, chắc anh “cắm” đây cũng đã nhiều. Chừng như anh vửa ngửi thấy rượu đã say, nói cười hỉ hả, chẳng nghe ai nói cũng chẳng cần biết mình nói có ai nghe không. Anh uống ít, lâu lâu mới nhấp một ngụm nhỏ, thế mà anh say nhừ, y như người vừa uống cạn cả chum rượu. Và anh đọc thơ, đọc lia xia, đọc cực to làm mình và thằng Phong cứ giật mình thon thót, nhìn trộm khách trong quán xem họ có phản ứng gì không. Anh gãi gãi cổ, nhấp ngụm rượu khà một tiếng, đầu lắc tay khua, đọc oang oang Trăng thu sáng thế/ Rượu Vân ngon thế/ Các nhà thơ nâng cốc cùng trăng/ Ai cũng thấy bạn mình là Lý Bạch. Chẳng cần chờ nghe khen chê, lại đọc tiếp, lại gãi gãi cổ, nhấp ngụm rượu khà một tiếng, đầu lắc tay khua, đọc oang oang Tôi đầy đủ lý do/ để bạn bè ghét và yêu/ như ghét yêu thời tiết! Khách trong quán lúc đầu khó chịu lắm, có người ném cái nhìn khinh bỉ vào chỗ tụi mình, nhưng sau đó đều thay đổi thái độ, lẳng lặng ngồi im nghe anh đọc thơ. Vài ba người kéo ghế đến ngồi chung mâm, nhìn anh rất trân trọng và ngưỡng mộ. Mình về làm báo Văn nghệ, nghe anh Trực (Võ Văn Trực) kể Tạ Vũ làm công nhân đường sắt, rồi công nhân cầu đường. Lao động cật lực quá, bị đau ngực, xin về. Làm việc hơn mười năm mà không được vào biên chế, lúc về không có lương hưu, chỉ được một ít tiền mất sức. Chị Điều vợ anh cuốn thuốc lá cuộn còn anh làm đủ nghề, hết thợ hồ đến thợ quét sơn, quét vôi, đói vẫn hoàn đói. Chưa thấy ai đói nghèo thê thảm như anh, “luôn luôn trong túi một nghìn cũng 190 Bạn văn 2 không”, áo quần cũ rách, bếp núc lạnh tanh. Lắm khi cứ nghĩ không biết anh sống bằng gì, không lẽ uống rượu trừ bữa. Chưa thấy khi nào nghe anh kêu ca về hoàn cảnh của anh, bạn bè kêu giùm anh còn anh hình như coi chuyện đói nghèo là lẽ đương nhiên, không việc gì phải bàn. Đối với anh chỉ có hai chuyện đáng quan tâm nhất, đó là rượu và thơ, “Bà Điều” và Đất nước. Hễ uống rượu là đọc thơ, rượu vào là say, say là khóc, khóc vì thương “Bà Điều” và Đất nước. Hiếm có một bà vợ nào tận tụy hầu chồng như chị Điều. Anh say sưa suốt ngày, khi say chẳng biết sạch bẩn là thế nào, cứ lăn bừa ra ngủ, đái ướt quần, nôn ướt áo, chị vẫn nhẫn nhục hầu anh không một lời ca thán. Chuyện say sưa của anh quá nhiều giai thoại kinh dị. Anh đến Nông trường Cồn Tiên (Quảng Trị) đọc thơ, thơ anh hay, ai cũng thích, mọi người ngưỡng mộ anh lắm. Đến bữa Nông trường chiêu đãi, anh say, lăn ra nong phơi ớt khô cứ thế ngủ, khiến ai nấy thất kinh hoảng hồn. Anh đến ăn giỗ ở nhà người bạn (nghe nói nhà anh Hữu Thỉnh). Người ta trân trọng mời anh lên mâm trên ngồi với các bô lão. Lúc đầu còn nói năng lịch sự lắm, sau say rồi, anh vừa ngất ngưởng đọc thơ vừa đái ra quần. Khổ nỗi cái phản gỗ gụ, nước đái không thoát đi đâu được, cứ tràn ra lênh láng. Các bô lão một phen khiếp vía. Cho nên bạn bè văn nghệ ai cũng thương anh, mến tài anh nhưng hễ gặp anh ở đâu đều lẩn như chạch. Chẳng may bị anh túm được đều vội vã rút tiền đưa anh, nói thôi thôi, ông cầm tạm mấy ngàn mua rượu, tôi bận quá, bận quá. Nói rồi mắt trước mắt sau chuồn thẳng. Mình cũng thế, bị anh túm Nguyễn Quang Lập 191 cổ hai ba lần, sợ quá. Hồi ở báo Văn Nghệ, hễ nghe tiếng anh oang oang ở cổng tòa soạn là lập tức lẻn ra cửa sau chuồn thẳng. Có hôm đang chuồn thì bị anh tóm cổ, mình nhăn nhó nói anh ơi em có cái hẹn phải đi ngay. Anh cười kha kha kha, nói tao có ăn thịt mày đâu mà mày sợ thế. Mày đã nghe tao kể Phạm Văn Đồng mời tao đến nhà chưa. Mình trố mắt nhìn anh, nói thật a. Anh vênh mặt lên, nói chứ sao, ra quán tao kể cho. Vốn háo chuyện, mình ra quán cùng anh liền. Té ra chuyện anh theo tốp thợ sơn đến quét sơn cổng nhà cụ Phạm Văn Đồng từ năm cà cuống, hi hi. Có một địa chỉ luôn luôn sẵn sàng đón Tạ Vũ, đó là nhà Phùng Quán. Anh Quán chị Trâm rất hiếu khách, chưa khi nào anh chị tỏ ra khó chịu hay mệt mỏi khi khách đến nhà, bất kể đó là ai. Chẳng riêng gì Tạ Vũ, cả dòng họ “Văn Sĩ Say” khi không còn chỗ nào đều mò đến nhà Phùng Quán. Mình đã đôi lần uống rượu với Tạ Vũ ở Chòi ngắm sóng của anh Quán. Khi say Tạ Vũ khóc như mưa, nói hỏi trên thế giới này có ai thương bà Điều bằng tôi không. Phùng Quán cười cười, nói vợ ông, ông không thương thì ai thương. Anh trợn mắt lên, nói chứ sao, bà Điều là nhất, chân lý đấy. Rồi anh khóc tu tu, nói tôi cũng thương Đất nước lắm, thương vô cùng. Anh Quán cười cười, nói thôi, uống đi. Biết rồi, biết ông thương bà Điều nhất, thương Đất nước thứ nhì. Anh lại trợn mắt lên, nói bậy nào, Đất nước là nhất, chân lý đấy. Mình và anh Quán cười to. Anh khóc ầm lên, nói cười cái gì, đất nước là ai các ông biết không, là Tạ Vũ, là Phùng Quán, là Quang Lập, là bà Điều. Vừa lúc chị Bội Trâm bước vào, anh chỉ chị Trâm mếu máo vừa khóc vừa nói Đất nước có thêm bà Bội Trâm nữa! 192 Bạn văn 2 Nhớ mãi một tối trên đường Phùng Hưng, mình gặp Tạ Vũ đang khi anh đã say lắm. Anh đứng ở vỉa hè bặm môi trợn mắt ra sức đấm gió về mấy tòa nhà trước mặt, vừa đấm vừa quát, nói đồ đều, đồ ăn cắp, đồ lưu manh, đồ bán nước. Anh đấm gió vùn vụt và ngã chỏng khoèo. Mình chạy đến đỡ anh dậy, nói để em chở anh về nhà. Anh không chịu, khóc thút thít, nói tao không đi đâu hết, tao ngồi đây. Mình nói ơ kìa, khuya rồi, ngồi đây làm cái gì. Anh nói không, tao ngồi đây, tao thương Đất nước lắm. Rồi anh ôm mặt khóc òa. Vợ và thơ Hôm  8/3 mình ngồi gần bàn nhậu của đám chị em, họ làm đủ nghề, đông nhất là nhà giáo, ít nhất là nhà báo. Mình không quen họ, chỉ ngồi nghe lỏm thôi. Một cô hỏi phụ nữ dũng cảm nhất là ai? Người bảo đó là người không chịu lấy chồng, người bảo đó là người chịu làm vợ lẽ. Họ tranh cãi tùm lum. Một cô đứng dậy tuyên bố, nói tao thấy có hai loại phụ nữ cực kỳ dũng cảm, đó là phụ nữ lấy thương binh, hai là phụ nữ lấy nhà thơ. Họ lại ồ lên cãi nhau tùm lum. Mình ngồi tủm tỉm cười, cái cô vừa nói thật chí lí. Mình đã quen quá nhiều vợ các nhà thơ Việt, nếu có danh hiệu vợ Việt Nam anh hùng thì đảm bảo vợ các nhà thơ phải đứng đầu bảng. Đúng là để lấy các nhà thơ các cô chẳng những Nguyễn Quang Lập 193 dũng cảm mà phải anh hùng, anh hùng thứ thiệt, thật đấy, hi hi. Tự nhiên mình chợt nhớ những mối tình thất thểu của anh bạn lính nhà thơ của mình hồi đóng quân ở Mông Dương (Quảng Ninh), đó là thằng Đình Kiểm. Đầu năm 1981 mình được quân chủng điều về Quảng Ninh học chuyển loại tên lửa. Tuần đầu về sư bộ được ăn chơi nhảy múa suốt ngày. Rỗi việc mình có làm bài thơ Nhớ về đỉnh gió đăng báo tường sư đoàn bộ. Thơ đăng hôm trước hôm sau có ông thiếu úy mặt non choẹt tìm mình, nói ông là Nguyễn Quang Lập à. Mình nhìn ông thiếu úy chỉ gật đầu không nói gì, bụng nghĩ mẹ thằng nào mà ra vẻ cha bố người ta thế này. Ông thiếu úy giới thiệu mình, nói tôi là Đình Kiểm, bút danh là ĐK hoặc Đi Ki hoặc Ka iểm, phụ trách báo tường sư bộ. Mình bắt tay nó, bụng nghĩ chú mày mới phụ trách báo tường sư bộ mà trịnh trọng như ông tổng biên tập báo Nhân dân, mẹ khỉ. Hình như thằng Kiểm cũng đoán được mình đang nghĩ gì nhưng nó không chấp. Nó bắt tay mình thật chặt, nói ở nơi sơn cùng thủy tận này kiếm được thằng biết làm thơ như ông thật quí lắm quí lắm. Thằng này nói năng 194 Bạn văn 2 thì tinh tướng nhưng cái nhìn và cái nắm tay thật ấm áp chân tình, cũng lạ. Sau quen thằng Kiểm rồi mới biết trịnh trọng là bản tính của nó, nó làm cứt gì cũng trịnh trọng, đi vào toilet cũng trịnh trọng luôn. Thật đấy, hi hi. Là cái vẻ ngoài vậy thôi chứ nó hiền lành nhu mì, trừ thơ phú ra chuyện gì nó cũng nhường nhịn người khác. Nó vốn là sinh viên sư phạm văn tốt nghiệp cùng năm với mình, đi bộ đội cùng tháng, phong quân hàm cùng ngày, cũng đăng được dăm ba bài thơ như mình. Có lẽ anh em thân nhau được vì mấy cái thứ cùng ấy. Chỉ khác một chút, thơ phú mình chỉ làm khơi khơi vậy thôi chứ không mấy hứng thú, thằng Kiểm thì đắm đuối vì thơ, đối với nó trên đời này thơ là nhất, mọi thứ còn lại đều số hai trở đi. Nó thuộc thơ nhiều kinh hồn, bất kể thơ ca cổ kim Đông Tây nó đều thuộc, thơ Mai-a (Maiakovski) trục trà trục trặc, câu nào câu nấy dài cả cây số nó cũng thuộc lòng. Kinh. Thằng Kiểm đọc thơ thật hay, hôm nào sư bộ có liên hoan văn nghệ hôm đó nhất định có tiết mục đọc thơ của thằng Kiểm. Nó ôm cây đàn ghi ta, giọng nó vang và ấm, ngắt nghỉ cực chuẩn, cùng với ngón vẩy ghi ta thần sầu của nó, bài thơ bỗng hay kinh hồn, ai nghe cũng phải xuýt xoa tấm tắc. Mấy em ở sư bộ tất nhiên là mê tít thò lò. Các em đứng bíu lấy nhau mắt sáng long lanh ngước nhìn nó, miệng mồm chóp chép, chỉ đợi nó đọc xong bài thơ là đua nhau chạy lên tặng hoa cho nó. Có cô còn ôm đầu nó hôn đánh chụt giữa ba quân thiên hạ rồi vừa cười vừa ngoe nguẩy đít chạy. Rất vui. Nguyễn Quang Lập 195 Tưởng là thằng Kiểm cua được nhiều em lắm, hóa ra không. Tối thứ bảy nào cũng thấy nó ngồi nhà ôm đàn đọc thơ, chẳng thấy đi đâu. Hỏi thì nó thở hắt cười hiền lành ngâm nga lẩy Kiều, nói trăm năm trong cõi người ta/ chữ thơ chữ vợ khéo là ghét nhau. Mình cười, nói thì cứ yêu đại đi đã, vợ con tính sau. Thằng Kiểm lại cười hiền lành, nói biết vậy nhưng yêu mà không cưới xin khác gì uống rượu nửa chén làm thơ được nửa bài, mà muốn cưới xin thì phải biết chắc cô vợ tương lai có chấp nhận yêu thơ như yêu mình hay không đã chứ, khổ thế đấy. Mình cười hì hì, nói khổ cái dzầy, tại ông tính xa quá. Nó hỏi tính thế nào thì không xa? Mình nói tôi nghĩ khác, cô nào yêu mình tất nhiên phải yêu luôn cái mình có. Mình chỉ có thơ thôi, yêu thì yêu chả yêu thì thôi. Thằng Kiểm vỗ đùi đánh bốp, nói đấy, tôi cũng nghĩ như ông đấy nhưng cuối cùng vẫn hỏng bét. Rồi thẳng Kiểm thủng thẳng kể, hi hi đúng là bi hài. Cô bé xinh nhất khu Mông Dương, một hôm vào sư bộ xem văn nghệ, thấy thằng Kiểm đọc thơ thích quá, chủ động tấn công nó ầm ầm. Thằng Kiểm đổ cái rầm. Đêm đầu tiên tình tự, thằng Kiểm ôm cô bé vào lòng, nói lính tráng nghèo, lính nhà thơ càng nghèo, em chịu nổi không? Cô bé thỏn thẻn nói em nhờ có thơ mới biết anh, có yêu thơ mới yêu anh... anh không cần phải nói nhiều. Thằng Kiểm sướng rêm, tuyên bố với cả Ban chính trị nó đã có người yêu lý tưởng. Nhiều người cười, nói mày xem lại có hoang đường không, thuở bé đến giờ tụi tao chưa thấy cô nào lấy chồng vì thơ cả. Thằng Kiểm vênh mặt lên, nói thời các bác khác, thời chúng em khác... 196 Bạn văn 2 Yêu nhau đến kì mặn nồng tất nhiên phải nói chuyện cưới xin. Đám cưới lính tráng thường được đơn vị bao cho cả nhưng chí ít cũng phải có năm trăm đồng sắm nhẫn cưới và đồ sính lễ cho họ nhà gái. Năm trăm đồng đối với anh thiếu úy lương tháng sáu lăm đồng quả là con số khổng lồ. Thằng Kiểm nói thiệt với cô bé, nói anh đã nói với em rồi, anh chỉ có thơ thôi. Cô bé cười he he, nói thơ cũng là tiền chớ bộ. Em nghe mấy ông nhà báo nói một bài thơ mua được cả yến gạo. Thằng Kiệm nói trung bình mỗi bài hơn chục đồng, nếu in báo tết có thể lên đến trăm rưỡi, hai trăm đồng đó em. Cô bé nhảy lên vỗ tay, nói ui ui, chỉ cần một ngày anh làm một bài thơ, một năm có 365 bài, mỗi bài chỉ cần chục đồng, vậy là gần bốn ngàn đồng, một chỉ tám chục đồng, bốn, năm cây vàng đó anh ơi. Thằng Kiểm cười như mếu, nói được vậy chỉ cần vài năm thơ anh đã thành triệu phú, đâu khổ như bây giờ. Cô bé hỏi một ngày anh làm được một bài thơ không? Thằng Kiểm nói thừa sức, một ngày anh làm được cả chục bài. Cô bé lại nhảy lên vỗ tay, nói ui ui giàu thật rồi, hai đứa mình giàu thật rồi. Cưới xong rồi, anh khỏi phải làm gì hết chỉ ngồi làm thơ thôi. Không cần ngày chục bài, chỉ cần ngày một hai bài vợ chồng mình cũng đủ giàu, hi hi hi. Thằng Kiểm ngồi đực ra, mặt mày méo xẹo. Cô bé hỏi sao, nó nói làm thơ thì dễ in thơ thì khó em ạ. Cô bé hỏi mỗi năm anh in được mấy trăm bài thơ? Thằng Kiểm nói anh làm thơ hơn chục năm... cả chục năm nay anh gửi đi các báo cả ngàn bài... tóm lại người ta chỉ in cho anh được có bốn bài. Nguyễn Quang Lập 197 Cô bé há hốc mồm không biết nói sao. Một tuần sau không thấy cô bé vãng lai. Nghe nói bố cô bé dắt đến nhà ông chú họ, người đói rách nhất khu Mông Dương, nói đây là nhà thơ số một xứ Mông Dương đó con. Cô bé suýt té xỉu, lát sau đứng ôm mặt khóc hu hu giữa nhà ông chú họ. Thằng Kiểm ráng hẹn gặp cô bé ba bốn lượt không được, không hiểu vì sao nó bèn viết thư trách. Một tối cô bé hẹn nó ra cổng. Thằng Kiểm vừa ra cô bé đã ôm chầm lấy thằng Kiểm khóc hu hu, nói em yêu anh nhưng em không dám yêu thơ nữa. Dứt lời cô bé hôn thằng Kiểm túi bụi, nói vĩnh biệt anh... vĩnh biệt anh... Và cô bé ù té chạy... hớt ha hớt hãi như chạy giặc. Thằng Kiểm đuổi theo chụp lấy cô bé ôm ghì lấy, nói thơ không có tội, chỉ tại anh bất tài... Nếu em yêu anh, nhất định anh sẽ cố gắng in thơ được nhiều hơn. Cô bé vừa khóc vừa cố đẩy thằng Kiểm ra, nói buông em ra... em chừa thơ rồi... chừa thơ rồi... hu hu...  Hi hi. • Ở Mông Dương được hơn một tháng mình được điều ra đảo Cái Bầu. Thằng Kiểm thỉnh thoảng vẫn gọi điện cho mình, chủ yếu khi nào viết được bài ưa ý nó lại lẻn vào tổng đài sư bộ đọc cho mình nghe. Đọc xong tất nhiên nó hỏi thế nào, hay chứ hả, tất nhiên mình nói ừ, hay. Hi hi, bố ai chê dở trước mặt nhà thơ bao giờ. Đôi khi mình có chê câu nọ câu kia, chữ nọ chữ kia cho có vẻ khách quan, thế thôi, còn 198 Bạn văn 2 lại thì khen tất. Chẳng phải do mình khen mà thằng Kiểm tưởng mình là thiên tài, đối với nó mình chỉ là ông nhà thơ nghiệp dư không đáng kể. Nó đã đọc thơ cho các nhà thơ nổi tiếng, các ông đều khen, không khen cũng gật gù, chẳng có ông nào chê. Có ông khen đểu, nói thơ chú mày thuộc về tương lai, sang thế kỉ 21 nhất định mọi người sẽ hiểu. Mặc kệ, thằng Kiểm đinh ninh nó sẽ là nhà thơ lớn, trời sinh ra để nó làm nhà thơ lớn, nhất định thế. Một hôm nó gọi điện cho mình, vẫn cái giọng trịnh trọng nhà quê, nói buổi Tiếng thơ đêm nay Đài tiếng nói Việt Nam giới thiệu thơ Đình Kiểm đấy nhá, mày chú ý nghe đài, bút danh là Đi Ki, nhớ đấy. Mình hỏi sao mày biết. Nó bảo tao gửi cả tấn thơ lên đài không thấy đăng, sốt ruột quá mới gọi điện lên hỏi, người ta bảo tối nay có điểm thơ Đi Ki. Xuân Diệu điểm hẳn hoi nhé. Mình khiếp quá, làm thơ mà được Xuân Diệu điểm thì còn gì bằng! Nhất thằng Đình Kiểm, phục nó quá. Đến chừng 8 giờ, mình chuẩn bị lên tiểu đoàn nghe nhờ đài thì thằng Kiểm mò tới. Mình trợn mắt há mồm, từ Mông Dương về đây hơn ba chục cây số, lại còn đi phà vượt biển, dò dẫm đường rừng... đi bộ cực bỏ bà, thằng Kiểm đến đây làm gì? Thằng Kiểm mặt mày nghiêm trọng, nói lần đầu Đài tiếng nói Việt Nam giới thiệu thơ mình đâu phải chuyện chơi. Trong sư đoàn mày là thằng hiểu thơ tao nhất, không đến đây thì đến chỗ nào? Khiếp, chẳng ai như nó. Tối đó hai thằng căng thẳng nghe Tiếng thơ, đài ngâm hết bài này sang bài khác chẳng thấy thơ thằng Kiểm đâu. Té ra còn năm phút cuối Nguyễn Quang Lập 199 người ta điểm thơ bạn đọc, chẳng phải do  Xuân Diệu điểm, bài điểm là của biên tập viên Quang Khải hay Quang Đại chi đó thôi.  Đại khái tuần này bạn này bạn kia đã gửi thơ về cho chương trình, bạn này có câu thơ hay, tiếc rằng... bạn kia có khổ thơ ý vị, tiếc rằng... thằng Kiểm cũng được nhắc đến trong bài Cửa Ông của nó, nó hơn những người khác là đài dẫn ra cả khổ thơ để khen rồi mới tiếc rằng... hi hi. Mình tưởng thẳng Kiểm thất vọng lắm, tính động viên nó mấy câu, không ngờ nó nắm chặt tay mình rưng rưng, nói vậy là đêm nay cái tên Đi Ki vang khắp đất nước. Nó ngước lên nhìn trời, hai mắt mở to long lanh, hai cánh mũi phập phồng, nói đúng là vang khắp đất nước Lập ạ, thật tuyệt vời. Thằng Kiểm xúc động thật sự, hình như nó đinh ninh cả nước đang nín thở ngồi nghe thơ nó. Hi hi. Thằng Kiểm lặn lội về ngay trong đêm. Trưa hôm sau gọi điện cho mình giọng rất phấn chấn, nói nhiều người trong sư đoàn nghe đài đọc bút danh của tao, đặc biệt cô bồ tao nghe nhắc đến hai tiếng Đi Ki đã vật vã khóc cả đêm. Mình ngạc nhiên cắt ngang lời nó, nói mày có bồ rồi à, hay là cô bồ cũ? Nó cười, nói quên báo cáo mày, cô bồ mới còn xinh hơn cô bồ cũ. Đặc biệt cô này cũng làm thơ, ngày nào cũng tặng tao một chùm tứ tuyệt. Mình hơi bị tò mò, muốn biết nàng thơ của thằng Kiểm ra sao, nhân có chuyến xe về sư đoàn mình xin đi theo ngay. Té ra là cô chủ quán nước chè trước cổng sư đoàn. Gọi là quán nước chè chứ nó bán đủ loại, kẹo bánh, nem chả, 200 Bạn văn 2 mì tôm, rượu lạc... đủ cả. Cô bé trắng trẻo mũm mĩm, má bồ quân mắt lá răm, khi cười mắt kéo thành sợi chỉ, ngực nở giật giật má rung rung rất hấp dẫn. Thằng Kiểm kéo mình ra quán của nàng, cùng nàng uống rượu với lạc rang và thi nhau đọc thơ. Gì chứ rượu và thơ thì nàng chẳng thua kém thằng Kiểm, nó cạn ly nàng cũng cạn ly, nó đọc thơ nàng cũng đọc thơ, thứ thơ “nói vè” ứng khẩu lúc nào nàng cũng có sẵn, đại loại: anh ở trong sư em ngoài sư/ đêm đêm hai đứa vẫn tương tư/ bao giờ anh được đi ra quán/ ta lại bên nhau rượu và thơ.  Thơ như thế cô nàng hơn nghìn bài, chép đầy bốn cuốn sổ dày cộp. Mình hỏi thằng Kiểm, nói mày mê nàng thật à. Nó khẽ gật đầu rất nghiêm trọng, nói ừ, không có nàng tao không sống nổi. Mình cười khì, nói sao đến nỗi thế. Thằng Kiểm vẫn mặt mày nghiêm trọng, nói chứ sao. Chưa ai thuộc thơ tao như nàng, chưa ai say đắm thơ tao như nàng, cũng chưa ai gọi tao là thi sĩ, thi sĩ nhé, không phải nhà thơ đâu. Mình cười chẳng biết nói sao, chỉ biết bắt tay nó, nói thôi thì chúc mày hạnh phúc. Nó siết tay mình, nói mày phải học tập tao đi, ráng kiếm được một nàng thơ như nàng thơ của tao đi, tuyệt cú mèo luôn, bảo đảm hạnh phúc trăm phần trăm, thật đấy. Mình quay lại đảo Cái Bầu được một tuần thì nhận lệnh về quân chủng nhận tài liệu đổi mới khí tài, đi học chuyển loại khí tài mới rồi đi bắn đạn thật ở Trũ, hơn ba tháng sau mới về đơn vị. Về tới nơi đã thấy thư thằng Kiểm nằm chờ hơn ba tháng rồi. Tiểu đoàn trưởng nói thằng Kiểm ở sư bộ gọi mày liên tục, tao nói mày đi công tác rồi nó vẫn không tin, gọi Nguyễn Quang Lập 201 suốt ngày. Mình bóc thư thằng Kiểm ra xem:  Tao cần tiền để in tập thơ, bảo đảm tập này ra thì các nhà thơ đương đại nước ta sẽ chết như dán. Tao quyết định hoãn cưới vợ để dành tiền in tập thơ. Mày có tiền cho tao mượn 3 - 5 ngàn, nếu mày không có thì mượn ai đó giùm tao. Gấp đấy nhé. Từ khi đi học rồi đi lính, tiền là một cái gì rất xa lạ với mình. Vài trăm đồng cũng chả có đừng nói vài nghìn đồng. Tuy vậy mình cứ gọi điện cho thằng Kiểm xem thế nào. Thuở bé đến giờ mình mới nghe nói lấy tiền cưới vợ để in thơ. Thời này tiền cưới vợ là cái gì đó rất nghiêm trọng, thiêng liêng nữa. Nhiều anh vì không tiền cưới vợ mà phải chịu cảnh ế vợ. Thằng Kiểm cũng một lần thế rồi, nó còn lạ gì nữa. Chả hiểu thằng này nghĩ thế nào mà liều thế. Suốt tuần không gọi được, chủ nhật mình lọ mọ về sư đoàn. Tới nơi mới biết thằng Kiểm đã được về trung đoàn bộ ở Hòn Gai. Cái quán nước chè của cô bồ nó cũng biến mất tiêu. Mình hỏi mấy ông cảnh vệ, họ bảo cô bé lấy chồng rồi, nhổ quán đi theo chồng. Mình thở phào nhẹ nhõm, nghĩ bụng thằng Kiểm đã cưới vợ rồi chứ không điên rồ lấy tiền cưới vợ in thơ nữa, thôi thì cũng may cho nó. Tháng sau mình có lệnh về sư 375 Đà Nẵng, khoác ba lô bám ô tô về Hòn Gai, từ đây bắt ca nô về Hải Phòng rồi mới đi tàu hỏa về Hà Nội được, đi lại ngày xưa vất vả phức tạp thế đó. Đang ngồi uống nước chè dưới chân núi Bài Thơ chợt thằng Kiểm lù lù xuất hiện, nó vỗ vai mình một cái cực mạnh, nói giời ơi ông đi đâu tới đây! 202 Bạn văn 2 Anh em vào quán rượu nhỏ làm đôi chén rượu suông. Mình hỏi vợ ông đâu rồi? Nó bảo vợ nào. Mình nói thế không phải ông tính cưới cô bé thơ tứ tuyệt à. Nó khẽ gật đầu cười nhạt, nói ừ cũng tính thế nhưng bây giờ khác rồi. Mình hỏi khác thế nào. Nó kể cô bé đưa tiền cưới cho nó, cả thảy hơn chục nghìn chứ không ít, nói chừng này tiền cưới em có đủ không. Nó ôm cô bé suýt khóc, cảm động quá không biết nói sao. Vừa lúc thằng Kiểm gặp ông nhà thơ tỉnh, ông này tán thế nào mà nó dám bỏ cả đống tiền  cưới ra in chung tập thơ với ông đó. Cô bé cũng nhất trí lấy tiền cưới in ba ngàn cuốn thơ, cô còn tính nhanh như chớp, một cuốn lời 5 đồng, ba ngàn cuốn lời 15 ngàn, buôn trầm cũng lời đến thế thôi. Mình hỏi thằng Kiểm, tập thơ đâu rồi? Nó thở dài, bảo tao tặng mãi cũng chỉ hết 500 cuốn, còn hai ngàn rưỡi cuốn bỏ xó nhà chẳng biết làm gì cả. Mình hỏi thế còn cô bé? Thằng Kiểm ngồi im không nói, mình hỏi đi hỏi lại nó mới thở hắt ra, nói lấy chồng rồi. Mình hỏi lấy ai, nó bảo lấy cái ông cho cô bé mượn tiền cưới tao. Tiền hết, không cưới được tao, bắn súng không lên phải đền đạn, tội nghiệp cô bé phải chấp nhận làm vợ lẽ ông chủ nợ. Thằng Kiểm ngửa mặt nhìn trời, hai mắt mở to long lanh, hai cánh mũi phập phồng y như cái đêm nó nghe đài nhắc thơ nó. Thốt nhiên thằng Kiểm bật khóc, nó cứ ngồi thế khóc tu tu. Lát sau nó gạt nước mắt nốc cạn ly rượu, nói tao cũng bỏ thơ rồi, từ nay ỉa vào thơ phú nữa. Tết văn nhân Nguyễn Quang Lập 203 Văn nhân ở đây là giới văn nghệ, không riêng gì nhà văn. Mình từ bé đến giờ kiếm sống bằng nhiều món, văn có báo có kịch có phim có, nên quen biết anh em trong giới khá nhiều. Tết nào cũng đánh đu với họ, rất vui. Văn nhân thường ăn Tết... trước Tết và sau Tết. Trước tết chừng mươi ngày, việc văn đã vãn, tiền nhuận bút, tiền thù lao thu gom cũng đã xong, đám văn nhân thường kéo nhau vào quán ăn nhậu đàn hát thơ phú say sưa, có khi một ngày ba hiệp sáng trưa chiều tối. Ba ngày tết mải miết đi thăm hỏi, đi lễ lạt, cúng bái, chạy rong suốt ngày ngoài đường. Sang ngày mồng 4 mồng 5 tết mới kéo nhau về nhà, lại đàn hát, thơ phú trắng ngày thâu đêm, hết nhà này lại kéo nhau sang nhà khác. Mấy ông văn nghệ sĩ thường ngày mỗi anh mỗi nết, vào công việc kẻ chỉnh chu người quấy quá, giao tiếp với người 204 Bạn văn 2 ngoài kẻ kín đáo người xởi lởi nhưng hễ ngồi với nhau là ra sức nổ. Người ngoài không biết cứ tưởng mấy ông này bản tính ba hoa chích chòe chẳng ra sao, kì thực không phải. Quanh năm cung cúc làm ăn, làm anh công chức khiêm tốn mút mùa, năm hết tết đến gặp nhau nổ chút cho vui, gọi là xả stress. Cũng chẳng đợi đến hết năm, nhiều người hễ sà vào mâm rượu là nổ vang trời, bốc phét cho vui, có chết thì chỉ chết mình chứ chẳng chết ai. Đạo diễn Xuân Huyền là một trong năm đạo diễn thuộc thế hệ vàng sân khấu Việt Nam, thế hệ đã làm nên một giai đoạn sân khấu rực rỡ 1985-1990 vô tiền khoáng hậu. Nếu hỏi mình đạo diễn thế hệ này mình phục ai nhất, tất nhiên mình sẽ nói đó là Xuân Huyền. Mình nhớ anh dựng vở Quỉ ám của mình, 11 đoàn dựng, chỉ có vở do anh dựng là ấn tượng nhất.  Sân khấu chỉ có ba cái ghế khi đứng khi đổ, khi chồng cao khi dàn hàng ngang khi chổng ngược... đã chứa đựng hết mọi hỉ nộ ái ố của vở kịch. Khán giả vỗ tay ầm ầm, chưa có vở kịch nào của mình mà cứ hai, ba phút khán giả lại vỗ tay ầm ầm như vở này. Thời bốn năm mươi tuổi Xuân Huyền còn sung sức, lên sàn hét ầm ầm, vào mâm rựợu chén trước còn khiêm Nguyễn Quang Lập 205 tốn, chén sau đã nổ tùm lum, vui lắm. Anh nói đạo diễn cái nước ni thứ nhất là tui, thứ 5 là Doãn Hoàng Giang, không có thứ 2 thứ 3 thứ 4. Mình trêu đạo diễn Xuân Đàm, nói anh Xuân Huyền nói thế thì anh xếp thứ mấy, không lẽ thứ 6. Anh Xuân Đàm cười hì hì nói, không không, tao thuộc đội ngoại hạng, đời nào trò dám xếp thầy vô ngồi cùng một chiếu. Anh Xuân Huyền cười khì, không nói gì. Thực ra anh Xuân Đàm là thế hệ đàn anh của Xuân Huyền thôi, chả phải thầy bà gì. Nhưng hiểu tính nhau chẳng ai trách, phàm là nghệ sĩ phải biết đùa, ông nào không biết đùa thì chán chết. Nói thật mấy ông không biết đùa thì tài cán chẳng đến đâu. Cái cách nổ thẳng tưng của Xuân Huyền không làm ai ghét, người ta thêm mến anh mà thôi. Một lần đem vở đi hội diễn ngày giáp tết ở Sài Gòn, đêm diễn xong ngồi bù khú ở chợ Bến Thành đến hai, ba giờ sáng. Vở của anh đạo diễn không được giải vàng, mọi người xuýt xoa tiếc cho anh. Anh tợp ngụm rượu cười hề hề, nói è he, tui đem vở ni đi để lấy huy chương kim cương, huy chương vàng lấy mần chi. Giới nghệ sĩ Hà thành nổ kinh nhất, ngày thường vào ra khiêm tốn, họp hành càng khiêm tốn. Nhưng hễ vào cuộc rượu chẳng ai chịu nhường phần nổ cho ai. Đạo diễn Quốc Trọng, ông này xưa là diễn viên từng nổi tiếng với vai Xuân Tóc đỏ, khi uống rượu say vẫn khua chân múa tay, nói phim này tôi sẽ, phim kia tôi sẽ... rồi cười hề hề, nói ối giời ơi sao mà tôi ưu điểm thế. Nhà thơ Trúc Cương rượu say còn không nhớ mình là nhà thơ, cầm chén rượu gật gà gật gù, nói tao đếch nhớ tao làm gì nhưng tao thừa nhận tao tài. Nghệ sĩ xứ Huế ít khi nổ, rượu say cũng nói năng thanh 206 Bạn văn 2 nhã, ai khen thì cảm ơn rồi đánh trống lảng sang chuyện khác. Ngày xuân vào chiếu rượu nếu có khoe cũng chỉ dùng tác phẩm mình để mà khoe thôi, ít ai nói năng vung tí mẹt tao tài như thế này, tao tài như thế kia. Năm 1976 mình hai mươi tuổi,  lần đầu vào Huế ăn tết với vợ chồng anh Tường, chị Dạ (Hoàng Phủ Ngọc Tường và Lâm Thị Mỹ Dạ). Đó là cái tết suốt đời không quên, không phải vì được cơm no rượu say mà vì được gặp rất nhiều người nổi tiếng, những người mà trước đó có cho kẹo cũng không dám mơ được gặp một lần. Chiếu rượu nhà anh Tường lúc nào cũng đông vui, chiếu rượu tết càng vui. Hôm đó có Trịnh Công Sơn, Tô Nhuận Vĩ, Trần Vàng Sao, Nguyễn Khoa Điềm, Ngô Minh, Trần Thuỳ Mai. Có Trịnh Công Sơn tất nhiên là rượu và hát, anh Sơn hát rồi mọi người hát bài của anh. Có anh Đính (Trần Vàng Sao) tất nhiên là rượu và thơ. Không có rượu dù ai cạy miệng cũng không moi được nửa câu thơ của anh, hễ rượu vào là anh đọc thơ, đọc hết bài này sang bài khác. Ai nói chuyện gì mặc, cứ xong chén rượu anh lại đọc một bài thơ. Anh Điềm cũng đọc thơ, có hôm đọc rất hăng đến ba bốn bài. Nhưng anh chỉ đọc khi chiếu rượu toàn dân văn, lạc vào một người ngoài thì anh chỉ ngồi tủm tỉm cười chứ không khi nào chịu đọc. Anh Sơn hoạt khẩu, anh cầm đàn hát, hò hét uống, hò hét bắt người này người kia hết hát đến đọc thơ, cuộc rượu nào có anh cũng rất vui. Mình chưa ăn Tết ở Sài Gòn khi nào nên không biết dân văn ở đây ăn tết ra sao. Sài Gòn khác với những nơi khác, đa phần dân văn về đây làm ăn, tết thường tản mát về quê Nguyễn Quang Lập 207 cả, ít ai ăn tết Sài Gòn. Nhiều người sống và làm việc ở Sài Gòn vài ba mươi năm nhưng chưa một lần ăn tết ở Sài Gòn. Đỗ Trung Quân là một trong rất ít văn nhân bám trụ suốt mùa tết nhất ở Sài Gòn. Mẹ anh quê ở Hàng Đào - Hà Nội, di cư vào Sài Gòn, lấy chồng Sài Gòn. Biết Hà Nội là quê ngoại mình đấy nhưng bà con cô bác chẳng còn ai, tết nhất chỉ biết ngoảnh mặt ngóng ra phương Bắc chứ chẳng biết đi đâu. Quân kể, tết nào cũng thế, toàn nhậu nhẹt để chia tay anh em về quê. Tiễn anh em lên xe lên tàu về quê xong, anh ngồi buồn thiu ở ban công ngóng ra đường. Chiều ba mươi tết ai cũng chộn rộn vui vẻ, riêng anh đó là buổi chiều trống rỗng nhất trong năm. Thi Hoàng có câu thơ Có những buổi chiều không biết cất vào đâu. Với Đỗ Trung Quân, chiều ba mươi tết là buổi chiều không biết cất vào đâu. Xóm nhỏ Quê mình ở Thị trấn Ba Đồn, xóm nhỏ của mình ở khúc giữa Thị trấn, men sông Gianh. Cái xóm khá hiền hòa, có chục nóc nhà, chưa thấy khi nào cãi nhau, vẫn thường qua lại mượn nhau gạo tiền, xin nhau mắm muối. Nhà mình ở cạnh ba nhà. Phía trước là nhà ông Đái Lùn chuyên nghề ăn xin ở chợ. Ông lùn tịt, cực xấu, mũi to bằng quả cà, da mặt sần sùi trông gớm chết. Ở cạnh nhà ông đúng 7 năm, chỉ nghe ông Đái Lùn nói đúng một tiếng: Bình! Ấy là khi ông gọi con Bình. Mỗi ngày ông gọi con Bình ba lần, sáng 208 Bạn văn 2 sớm đi học và hai bữa cơm. Nghe quen đến nỗi mỗi lần nghe tiếng “Bình!” là mình thấy đói bụng liền. Vợ ông tên gì quên rồi, chỉ nhớ rất đẹp, tức đẹp hơn ông rất nhiều. Mạ mình, bác Thông gái cũng không đẹp bằng bà. Không hiểu sao bà lại lấy ông Đái Lùn, đã xấu lại ăn mày quanh năm ở đình chợ. Con Bình thì cực đẹp, nghe nói vừa Nguyễn Quang Lập 209 Phùng Quán khi yêu Đã viết chuyện Phùng Quán nhiều rồi, định bụng không viết gì thêm nữa. Sau ngày anh mất, bác Ngô Minh và chị Bội Trâm (vợ Phùng Quán) đã cho xuất bản nhiều cuốn sách về đời anh và các sáng tác chưa công bố của anh, ai đọc hết sẽ thấy cuộc đời Phùng Quán, khỏi phải nói gì thêm. Chiều nay vào trang web người quen cũ, nữ nhà văn Phong Điệp, mình đã từng làm việc với cô ở tờ Văn Nghệ Trẻ, tình cờ thấy  bài: Đi tìm Như của Phùng Quán của một người mình không quen, tên là Thu Dịu, đọc xong ngồi ứa nước mắt. Lại nhớ anh. Mình chơi thân với Phùng Quán hơn mười lăm năm, anh vẫn hay đùa, nói thằng Lập chơi với tui từ thời hắn hỉ chưa sạch mũi. Thực ra khi đó mình cũng gần ba chục tuổi rồi, có điều mắc bệnh viêm mũi, cứ se lạnh là nước mũi lòng thòng như con nít. Mỗi lần mình ra Hà Nội, anh lại dắt mình đi các tòa soạn báo, các nhà xuất bản cho mình làm quen, 210 Bạn văn 2 sau này có chỗ gửi bài. Đến đâu anh cũng vỗ vai mình cười cười, nói đây là thằng nhà văn hỉ chưa sạch mũi, dân bọ gộc. Mau làm quen đi, sau này hắn thành nhà văn lớn còn có cớ để mà khoe. Một hôm anh đưa mình đến Nhà xuất bản Văn hóa, vào phòng chị Q. Chị Q. lúc này cũng đã trên bốn mươi nhưng hãy còn giòn lắm, xinh nữa. Anh Quán vào phòng không gõ cửa, chị Q. thấy anh cũng không chào, chỉ chào mình không thôi. Anh Quán đến bàn chị kéo cái hộc bàn ra, chị trừng mắt lên đập tay anh, nói hộc bàn của người ta, tìm cái gì. Anh cười cười, nói em có cất thuốc lào của anh đây không. Chị lại trừng mắt lên, đẩy anh ra, nói em dư hơi đi cất thuốc lào cho anh à. Cút đi, vô duyên. Nói thế nhưng chị ném cho anh một bọc thuốc lào to tướng, nói thuốc lào Vĩnh Bảo thật  đấy, em vừa đi Vĩnh Bảo về. Xem thế là biết hai người có tình ý với nhau rồi. Mình hỏi anh Quán, nói chị Q. là anh đang yêu hay đã yêu. Anh thong thả tra thuốc lào vào nỏ, mồi lửa rít một hơi dài, ngửa cổ nhả khói, nói đã yêu, đang yêu. Anh dừng lại nhấp một ngụm nước, nghĩ ngợi gì lung lắm, rất lâu sau anh mới nói rồi chắc cũng sẽ yêu. Mình biết cái sự ngập ngừng của anh, vì khi đó anh đang yêu cô N. ở Huế, cô N. và chị Q. đang có “xung đột” mạnh vì bài thơ Phùng Quán tặng cô N. Bài thơ này được in lên có lời đề tặng cô N. của Phùng Quán. Chị Q. nói đó là bài thơ anh Quán tặng chị hơn chục năm trước. Cô N. nói chị Q. nhận xằng. Chị Q. tức mới trưng bản gốc lên, thế là cãi nhau, hi hi. Nguyễn Quang Lập 211 Mình nhăn răng cười hỏi anh Quán, nói răng rứa răng rứa. Anh cười khì, nói kẹt thơ chơ răng. Yêu nhiều rứa mần thơ răng kịp. Thừa nhận anh Quán có nhiều người yêu, người yêu một ngày người yêu một đời, rất nhiều. Thời trẻ anh cực đẹp trai, lớn lên một chút thì tiếng tăm nổi như cồn, anh đi tới đâu có người theo anh ở đó. Ngay cả khi anh đóng vai ông già, để râu dài, mặc áo quần bà ba, đi guốc mộc thì vẫn có người yêu anh. Anh không khoe chuyện yêu đương cũng chẳng giấu giếm, ai biết chuyện mà hỏi anh là anh thừa nhận liền, không hề chối cãi quanh co, kể cả vợ anh. Năm 1990, sau chuyện lình xình giữa cô N. và chị Q. anh thấy nhức đầu mới rời Huế ra Quảng Trị ở nhà mình cả tháng. Anh em tối tối ngồi uống rượu với nhau, chuyện văn chương thơ phú chán rồi thì quay sang chuyện gái gú. Mình nói em hỏi thiệt anh nha, anh còn làm ăn chi được nữa không. Anh cười phì, nói thằng ni chủ quan. Mình không tin lắm, thấy anh đi đứng không được nhanh nhẹn hoạt bát, mấy chuyện sexy không còn mặn nữa, đụng sự thì đánh trống lảng thì dù anh có kể thế nào mình cũng không tin. Một hôm mình nói chuyện này với Ngô Minh, nói anh Quán có làm ăn chi được nữa mà yêu đương hè. Ngô Minh cười sật sật, nói lúc đầu tao cũng nghĩ như mi, té ra không phải. Đêm ngủ với anh, tao sờ anh, oa chà… cứng ngắc. Từ đó mình mới tin, không dám coi thường anh nữa, hi hi. Anh ít khi kể chuyện yêu đương, chuyện trong buồng tối lại càng không. Nhưng một hôm đang cao đàm khoát luận đột nhiên anh hỏi mình, nói mi yêu đương lăng nhăng rứa, có mối tình mô tử tế không. 212 Bạn văn 2 Mình kể anh nghe mối tình đầu bảy năm của mình, chuyện qua lâu rồi mà thỉnh thoảng mình vẫn bị nghẹn giọng, rưng rưng. Nghe xong anh cười cái hậc, nói chuyện thường, mối tình đầu của tao hay hơn.  Rồi anh vừa nhấp rượu vừa thong thả kể chuyện. Phùng Quán rất có tài kể chuyện, bất kì chuyện gì anh cũng đều có thắt nút mở nút, có cao trào, có vĩ thanh, đặc biệt cái kết lúc nào cũng bất ngờ. Anh nói anh yêu đương nhiều nhưng có ba người đàn bà đến chết anh cũng không bao giờ quên, đó là chị Bội Trâm, chị Q. và bà Nhủ (không phải Như), người mà nửa thế kỉ sau cô Thu Dịu bôn ba đi tìm và tìm được. Chị Bội Trâm thì tất nhiên rồi, đó là người đàn bà vô cùng tuyệt vời, khi khác mình sẽ kể. Chị Q. vừa là người tình vừa là bạn vừa là ân nhân của anh. Những năm bị án “treo bút”, rượu chịu cá trộm văn chui, nếu không có chị Q. thì nhà anh sẽ rơi vào túng quẫn, nếu không muốn nói là chết đói. Khi đó chị Q. làm biên tập ở Nhà xuất bản Văn hóa đã đặt hàng cho anh viết lời cho hàng chục tập truyện tranh, mười mấy cuốn văn xuôi, tất nhiên là lấy tên người khác. Đây là việc cực kì nguy hiểm, nếu lộ ra chẳng những chị bị mất việc mà có thể chị bị rơi vào vòng lao lý. Nhưng chị Q. không sợ, suốt ba chục năm chị luôn tạo điều kiện cho anh Quán làm văn chui, bất chấp mọi sự dè bỉu đe nẹt của người đời. Chị làm việc đó vì yêu, vì thương và vì cảm phục Phùng Quán, có một lần chị đã nói với mình như vậy. Tiếc là thiên tình sử của chị với anh Quán mình chỉ biết đến đó thôi, không biết được nhiều hơn. Nguyễn Quang Lập 213 Anh Quán cũng không kể nhiều về chuyện tình với chị Q., khi nào hỏi đến thì anh nói khi thì Q. hay lắm khi thì Q. ngon lắm, tuyệt tuyệt, vậy thôi. Riêng mối tình với cô Nhủ thì anh kể với mình suốt đêm, kể khi say, kể đi rồi kể lại, đôi khi bật khóc. Những khi kể chuyện cảm động thì anh không mày tao nữa, anh xưng mình. Anh nói hồi đó mình mới 22 tuổi, là phóng viên quân đội, đi xuống Sầm Sơn đón tù Côn Đảo, hỏi chuyện và viết báo. Chẳng ngờ chuyện tù Côn Đảo hay quá, mình quyết định viết hẳn một cuốn sách, gọi là Vượt Côn Đảo. Cô Nhủ hồi đó mới 16 tuổi, là con gái nhà mình ở trọ, tối nào cũng kéo đội Chim hòa bình, như kiểu đội thanh niên xung kích bây giờ, của thôn cô đến nhà cô nghe mình kể chuyện. Nghe mình kể chuyện các cô thích lắm, mắt trố miệng há hết lượt. Vài cô trong đội Chim hòa bình cố ý với mình, mình biết nhưng lờ đi, kỉ luật quân đội hồi này nghiêm lắm, tơ lơ mơ là bị cạo trọc đầu. Nhưng rồi mình cũng không trốn được ái tình. Mình đã yêu Nhủ, yêu nồng nàn, trong khi cô chuẩn bị lấy chồng. Đến chết cũng không quên nụ hôn đầu của mình. Tối đó cả nhà đi vắng. Mình đang hí húi viết thì Nhủ đến bịt mắt, mình quờ tay ra sau vô tình chạm ngực Nhủ. Rứa là tối tăm mặt mũi, rứa là hôn vày hôn vò em. Hôn xong rồi ngồi ngẩn ngở, không biết mình vừa hôn vô chỗ mô. Chỉ một lần hôn đó thôi mà nhớ nhau suốt đời. Anh dừng lại mắt rưng rưng, nói mình nhớ như in buổi chiều mình trốn Nhủ ra đi. Trốn là vì không thể cưới Nhủ được, yêu một cô gái sắp cưới chồng là trọng tội, chẳng những đơn vị trừng trị mà làng xóm cũng không tha. Mình 214 Bạn văn 2 khoác ba lô tìm đường về Hà Nội. Ra đến giữa cánh đồng bỗng nghe Nhủ gọi thất thanh, nói anh Quán ơi đừng đi đừng đi. Nhủ chạy đến, ôm chầm lấy mình, nói để em trả lễ cho nhà trai rồi em theo anh, anh đi đâu em cũng đi. Và Nhủ gục mặt vào ngực mình nấc lên, nói anh ơi đừng bỏ em… tội nghiệp. Kể đến đây thì Phùng Quán nghẹn lại, trong giây lát mặt anh đầm đìa nước mắt. Nguyễn Quang Lập 215 mới lọt lòng nó đã có hai bím tóc xinh xinh, giống Hỉ Nhi trong phim gì đó của Trung Quốc, cả thị trấn chạy đến xem. Vợ ông Đái Lùn hát rất hay, khi nào rửng mỡ hai vợ chồng tu chừng nửa lít rượu, bà cất tiếng hát líu lo Rượu ta nấu nó cho rượu lậu/ muối ta làm nó bảo muối gian... Ông Đái Lùn lấy đũa gõ soong queng queng queng, thỉnh thoảng lại hét rống lên, nói oa chà, cha tổ đế quốc thực dân. Mọi người cười, nói Đái Lùn chửi chi chửi lắm rứa hè. Ông cười khơ khơ khơ, nói oa chà, ăn mày ăn xin không chửi Đế quốc thực dân thì chửi ai. Phía sau bên trái nhà ông Đái Lùn là nhà ông cu Hoi. Ông có tật run, tay run, miệng run, chẳng nói gì làm gì mà mồm miệng tay chân cứ run bần bật. Mình bốn tuổi, ngồi há mồm há miệng nhìn cái tay ông gắp thức ăn chao qua chao lại, cứ sợ thức ăn văng đi mất. Vì tật run ông cu Hoi chẳng làm gì, chỉ nuôi bò, cứ mỗi lần 4 con, bán lứa này nuôi lứa khác, chỉ thế thôi nhưng nhà ông sống ung dung. Ông Cu Hoi có tài đặt vè, lại rảnh rỗi nên ngày nào ông cũng có vè, bất kì ai quen biết ông đều có vè,  mình nhớ như in bài vè ông làm cho mình: Vè vẻ vè ve/ nghe vè thằng Lập/ 216 Bạn văn 2 mạ thì đòi đập/ ba thì đòi la (mắng)/ ăn rồi không chịu đòi ga (đuổi gà)/ đi nhà ngườì ta mà nhởi (chơi)/ cơm thì đang xới/ về hỏi cơm đã chín chưa/ mi mới ăn cơm trưa/ răng đã kêu đói bụng. Ông có bài tổng kết những đàn ông trong xóm hồi đó, ai cũng nhớ: Cu Tư giỏi vẽ, Cu Lễ giỏi ăn, Cu Tăng giỏi cãi, Cu Lại giỏi bơi, Cu Cời giỏi đ. Chuyện gì xảy ra trong Thị trấn hay dở tốt xấu ông đều có vè hết, đến nay người nhớ bài này, người nhớ bài kia, nếu có ai kì công sưu tầm cho đủ, bảo đảm không dưới chục vạn bài, không thèm nói ngoa. Bên trái là nhà ông Dương Mạnh Tuyển. Ông làm thợ may, may giỏi, khi nào cũng đông khách. Con cái ông Tuyển đều đẹp trai xinh gái học giỏi, đặc biệt hai anh con trai Dương Toàn Thắng và Dương Mạnh Đạt nổi tiếng khắp huyện. Anh Dương Mạnh Đạt thì hết chê. Anh hát hay, đàn giỏi, lại biết sáng tác nhạc nổi tiếng khắp huyện. Hồi anh học lớp 10 đã làm bài hát Như những cánh chim bay, thành bài trường ca, bốn chục năm rồi học sinh Trường cấp III Bắc Quảng Trạch vẫn hát. Ai hỏi mình ở đâu mình đều nói ở gần nhà anh Mạnh Đạt là người ta biết liền. Xưa Ái Vân nổi tiếng đẹp nhất nước, hát hay, đóng phim Chị Nhung đẹp như tiên sa, coi như một siêu sao. Tụi mình chỉ dám đứng ngước lên ngưỡng mộ, không khi nào dám nghĩ sẽ được gặp Ái Vân một lần. Thế mà (năm 1978) anh Mạnh Đạt đem Ái Vân về nhà mấy ngày, lượn đi lượn lại khắp Thị trấn. Một vạn dân Thị trấn suốt ngày nức nở. Mình ỷ thế gần nhà anh, được nhìn Ái Vân rất gần, có lần Ái Vân còn nhờ múc nước giếng cho chị rửa chân, sướng rêm người. Nguyễn Quang Lập 217 Còn một nhà nữa là nhà anh Quách Mạnh Lân ở cuối xóm. Anh thoát li đi văn công từ năm 17 tuổi nên mình không gặp anh lần nào, chỉ thấy anh trên sân khấu thôi. Anh nổi tiếng như cồn khắp tỉnh. Anh sáng tác rất nhiều bài hát tỉnh ca. Mình nhớ bài hát gì đó có câu Năm trăm chiếc máy bay rơi trên đất Quảng Bình bà con ta ơi. Anh Lân là niềm tự hào của Thị trấn Ba Đồn, ông Phổ chủ tịch Thị trấn gọi anh là đứa con ưu tú của quê hương. Thầy Phan Xuân Hải cũng là đứa con ưu tú của quê hương, nhà thầy sát sau nhà mình. Thầy cao to như vận động viên bóng chuyền, đẹp trai cực, dạy văn rất giỏi, vẽ truyền thần nổi tiếng khắp tỉnh. Thầy chuyên vẽ Bác Hồ, hầu hết các tranh Bác Hồ trong huyện trong tỉnh đều do thầy vẽ. Đời thầy là cả một thiên tiểu thuyết, chuyện này nói sau. Con nít trong xóm quanh đi quẩn lại chỉ mấy đứa, con Bình con ông Đái Lùn, con Tiểu Hoa con thím Mơ, thằng Dương Toàn Thắng con ông Dương Mạnh Tuyển và thằng Dương Viết Hoà con ông cu Mại. Nhà thằng Hòa ở sát nhà ông Dương Mạnh Tuyển, thằng này hay lắm, làm thơ lia xia, chỉ thấy đăng báo tường chứ chả có báo nào đăng cả, thế mà nó khoe loạn cả lên. Có hôm nó nói tối qua Xuân Diệu bình thơ tau trên đài, ông nói: Về tình yêu đất nước, nhà thơ Dương Viết Hòa đã viết... Tụi mình châu lại nhao nhao, nói cứt cứt đom đom, nhà thơ Xuân Diệu mà thèm biết mi. Nhưng nó rất có khiếu âm nhạc, học Trường âm nhạc Huế rất được bạn bè nể trọng. Thầy giáo dạy nhạc của nó là một người Nga, tên gì quên mất rồi, nói tôi dạy nhạc hai chục năm chưa thấy sinh viên nào tài hoa như Dương Viết Hòa. 218 Bạn văn 2 Chẳng hiểu sao năm cuối nó đi vệ sinh viết khẩu hiệu đả đảo linh tinh trong hố xí bị tống tù mấy năm, nó cũng tàn đời từ đó. Hi hi cái xóm nhỏ xíu vậy mà toàn dân văn nghệ. Vui nhất là ba ngày tết, năm nào xóm cũng liên hoan văn nghệ Mừng xuân mừng Đảng. Trang trí sân khấu là thầy Hải, thầy vẽ đôi bồ câu hoà bình cắp khẩu hiệu Mừng Xuân mừng Đảng bay giữa trời xanh. Tụi mình đứng nhìn thầy cắt cắt dán dán, mồm miệng xuýt xoa, nói đẹp hè đẹp hè. Anh Dương Mạnh Đạt cầm đũa chỉ huy dàn hợp ca mấy chục người hát bài Ba Đồn niềm tin và hy vọng. Anh Quách Mộng Lân kéo đàn accordion cho tốp nữ hát bài Quảng bình quê ta ơi. Bạn của anh Lân là anh Nguyên Nhung ở làng Quảng Hòa về chơi cũng lên hát bài Đàn môi, anh chỉ hát một lần mà mấy chục năm rồi mình vẫn nhớ như in: Em ơi đàn môi đây đàn môi này... gửi gắm ngàn niềm tin, dù xa xôi lòng em vẫn đợi chờ. Hay nhất là màn văn nghệ xóm. Vợ ông Đái Lùn lấy nhựa hạt mồng tơi bôi má thay son, đu đưa đu đưa, tay múa miệng hát Rượu ta nấu nó cho rượu lậu/ muối ta làm nó bảo muối gian...Ông Đái Lùn ngồi cánh gà gõ nhịp queng queng queng, thỉnh thoảng lại hét rống lên, nói oa chà, cha tổ đế quốc thực dân. Màn độc diễn của ông cu Hoi thì tuyệt chiêu. Ông chống gậy bước lên sân khấu, tay chân mồm miệng run lẩy bẩy trông đã buồn cười, bà con vỗ tay nói rồi rồi, cu Hoi lên rồi. Ông vung cái gậy, trợn mắt nói lớn huơ này bà con, bữa hôm ni cu Hoi xin kể chuyện... Mọi người vỗ tay rào rào, sướng ngây ngất. Nguyễn Quang Lập 219 Tụi mình nhìn nhau xuýt xoa, nói hay hè hay hè. Mấy chục năm rồi bây giờ nhớ lại vẫn còn xao xuyến. Chẳng ngờ sau này mình trở thành nhà văn, Tiểu Hoa là diễn viên gạo cội của Đoàn kịch nói Bình Trị Thiên, sau này là Đoàn ca kịch Huế. Nó tham gia phim Đời cát và Trái tim bé bỏng, vai nào nó đóng cũng đạt. Thu Bình là nghệ sĩ đàn tam thập lục Đoàn Tuồng Huế. Dương Toàn Thắng là nhà thơ và nhà phê bình, chỉ tiếc nó mất sớm quá, chưa đầy 40 tuổi. Chỉ có thằng Dương Viết Hòa bỏ nhạc bỏ thơ, suốt ngày cặm cụi phê bình triết học, hết khen Platon đến chê  Socrates, rầu đời. Bây giờ cái xóm nhỏ không còn nữa, ngôi nhà duy nhất còn mãi đến giờ là nhà thầy Phan Xuân Hải nhưng thầy cũng đã mất, nhà thầy cửa đóng then cài. Người ta xây lên ở đấy Đài truyền thanh huyện, loa truyền thanh bền bỉ nói suốt ngày đêm. Buồn. Bạn bè một thuở giờ đâu tá? 1. Hôm nay có hai ông bạn ở quê đến chơi. Chúng nó nghe tin mình vào Sài Gòn mừng lắm, mình biết chúng nó làm ăm ở Sài Gòn cũng mừng lắm, hẹn hò mãi giờ mới gặp. Nhưng ngồi với nhau chừng một giờ thì chẳng biết nói gì nữa. Chuyện mình quan tâm thì chúng nó chẳng buồn nghe, chuyện chúng háo hức thì mình chán ngắt, nghe sốt 220 Bạn văn 2 ruột kinh khủng. Thuở bé mình thân chúng nó lắm, không khi nào rời nhau. Đi học ngồi cùng bàn, về nhà cùng lên rừng hái củi, cùng mò cua bắt ốc, tối tụ tập chơi trò đánh du kích, ù muỗi cho tới khuya. Ngủ cũng không rời nhau, hết ngủ với nhau hầm nhà thằng này lại mò sang hầm nhà thằng khác. Thế mà bây giờ sau phút mừng vui gặp gỡ, lòng vẫn yêu quí nhau thôi nhưng nhu cầu ngồi với nhau không còn nữa. Chẳng phải hai đứa này, bạn bè hồi học phổ thông, hồi đại học, hồi ở lính... mình cũng lâm vào tình trạng này. Gặp nhau mừng quá là mừng, ôm vai hót cổ cảm động lắm. Nguyễn Quang Lập 221 Nhưng ngồi với nhau sang đến buổi thứ hai tự nhiên thấy oải, phần giao thoa ít ỏi cũng không còn, chỉ còn chút gượng cười cho vừa lòng nhau thôi. Tại sao thế nhỉ? Chịu. 2. Nhớ ngày xưa cứ mỗi mùa World Cup, mùa Euro, cả hội bạn bè lăn lê với nhau suốt đêm, khi thì nhà thằng này khi thì nhà thằng khác, tuyệt không biết vợ con là gì, vừa xem vừa uống vừa cãi nhau ỏm tỏi. Chuyện đó giờ đây tuồng như đã chấm dứt. Một hôm thằng Nguyên (Phạm Xuân Nguyên) bảo đến nhà nó xem trận chung kết Euro, nói bạn bè đến đầy đủ cả, mày nhớ đến nhé. Mình lo đến thật sớm, thằng Nguyên lo một mâm nhậu to, chờ mãi mới thấy Bảo Ninh, Trung Trung Đỉnh lò dò đến. Chẳng còn ai đến nữa, lần đầu mâm nhậu thằng Nguyên bị ế. Mặt thằng Nguyên vẻ buồn buồn, ngường ngượng. May có em An, con gái anh Điềm (Nguyễn Khoa Điềm), đến chơi, nó chọc ghẹo chú chú anh anh không thì buồn chết. 222 Bạn văn 2 Xem bóng đá chỉ có ba thằng. Ngồi chưa nóng chỗ Bảo Ninh đã nhổm đít ra về, nói tao phải về nhà kẻo mẹ tao buồn, mụ vợ đi vắng, nhà không có ai. Việt Hà không đến được, nghe nói có chuyện gì vợ nó cho tan cái mobile. Chả biết trúng trật thế nào, hay nó chán cái sự đời, ngày nào cũng mấy cái mặt mẹt chán ngắt nhìn nhau. Mấy thằng em làm báo, viết văn máu bóng đá lắm, tự chúng nó rủ rê trước, đến giờ không thấy mặt thằng nào. Lâu lâu lại gọi, chúng nó dạ vâng rối rít, nói em đến đây em đến đây, tóm lại là không đến. Mấy thằng bạn quan chức buổi chiều hỏi có đến xem không, chúng nó hồ hởi nói đến chứ đến chứ. Bảo nhớ khuân đến một két rượu tham nhũng của chúng mày nhé, chúng nó cười hì hì, nói xong ngay thôi, chuyện nhỏ như con thỏ. Đến giờ bóng lăn gọi thì ờ ờ rồi rồi. Lát sau chúng nó gọi lại, hốt hoảng như nhà sắp cháy, nói ông ơi chết tôi rồi, các cụ lại gọi đi hầu rượu, xin lỗi nhé, tôi không đến được. Nghe như chúng nó vừa đi đái vừa gọi điện thoại. Không đến được thì thôi, sao phải dối nhau nhỉ? 3. Ngoảnh đi ngoảnh lại đã mấy chục năm, thằng nào thằng nấy tóc bạc da mồi, danh phận chẳng khá lên được chút nào, trong khi sức tàn lực kiệt đã thấy rõ. Bạn bè vẫn đấy cả, vẫn thăm hỏi nhau, có việc gì cũng chạy đến lo lắng cho nhau, nhưng vẫn thấy cứ khang khác thế nào a. Thằng Tiến (Phạm Ngọc Tiến) bây giờ mới lấy lại phong độ, nhậu nhẹt tưng bừng, chứ cách đây một năm buồn thảm Nguyễn Quang Lập 223 lắm. Từ ngày bị tiểu đường nó trầm xuống hẳn, nhậu nhẹt coi như tiệt luôn. Biết nó sợ, giữ gìn là phải, em trai nó chết vì bệnh tiểu đường sao lại không sợ được, nhưng thấy nó ngồi vào cuộc nhậu như cố ngồi cho bạn bè khỏi trách, chứ không còn là một nhu cầu, tự nhiên vừa thương nó vừa chán nó. Bạn bè già cả rồi, không mệt mỏi cũng ốm yếu, chẳng ra làm sao. Ngày xưa nhậu nhẹt không có mấy thằng hoạt khẩu thì chưa ra nhậu nhẹt. Bây giờ bày mâm nhậu, có ai hỏi đã gọi thằng nọ thằng kia chưa thì thế nào cũng có người nói thôi, gọi làm gì, nó có uống được nữa đâu. Viết đến đây bỗng nhớ Hải Kì. Xưa không rượu không thơ không ra Hải Kì, vui lắm. Hễ anh ngồi vào mâm rượu nào là làm chủ ngay mâm rượu đó, nói cười ồn ào vui như tết. Gần chục năm vừa rồi, anh ngồi im lặng ngắm người ta uống chứ chẳng nói năng gì. Bảo uống thì giật mình, nói uống đây uống đây, nhấc chén rượu lên là đặt xuống. Gọi điện khi nào cũng bảo tôi đang bận trông cháu. Gặp nhau, bắt tay cái, ngồi uống chưa được nửa ly đã vội cáo lui, nói thôi tôi về với cháu. Hình như cuộc của chơi tụi mình sắp tàn rồi. 4. Ngày xưa chưa viết đã khoe, viết xong thì chạy khắp làng bắt mọi người đọc. Ai khen được một câu thì sung sướng lâng lâng suốt ngày. Bây giờ thằng nào viết cứ viết, có khoe cũng chẳng ai quan tâm. Có ai hỏi dạo này viết được không, dù đang viết chết xác thì cũng chỉ cười nhạt, nói ờ cũng đang chút chút. Chẳng phải khiêm tốn, chỉ vì không còn hào hứng tí gì về nghiệp văn của mình nữa. 224 Bạn văn 2 Đã đến lúc mình nhận ra nghiệp văn thật nghiệt ngã, cả vạn thằng bỏ ra cả cuộc đời, đổ mồ hôi sôi nước mắt viết viết viết, tóm lại chỉ còn lại vài mống. Đó là người ta châm chước cho văn nước nhà chậm tiến, thật sòng phẳng với thế giới chắc chẳng còn mống nào. Nguyễn Du hai trăm năm hãy còn người nhớ tới và yêu mến, mình có được hai chục năm sau khi chết không, chắc không. Nguyễn Trọng Tín nói các ông đừng nhắc đến văn tôi nữa nhé, đừng có mà in đi in lại văn tôi. Tôi đang cố quên đi, sai lầm một thời nông nổi, càng quên thật nhanh càng tốt. Tín có thơ Mười sáu cuộc chiến tranh, tiểu thuyết Bè Trầm, mình có cái gì nhỉ, than ôi. 5. Cái xứ chi kì, quan tâm đến bao bì là chuyện thường nhưng thiêng liêng hóa bao bì thì có lẽ ở đây chỉ có một. Mỗi lần sang nhà anh Mỹ (Nguyễn Quang Mỹ) chơi, anh cứ nhắc mày làm cái tiến sĩ đi em, mày có mấy trăm giờ dạy rồi, thế nào cũng được phó giáo sư. Ôi giời! Giáo sư giáo seo, nhà văn nhà veo, nhân dân nhân deo... chẳng qua trời hành mà đeo lấy thôi, sung sướng cái gì mà giành giật. Có thẳng chỉ đau đáu không biết cha Thỉnh (Hửu Thỉnh) có cho mình cái giải Hồ Chí Minh, giải Nhà nước không. Mồm thì chửi mấy cái giải thối inh, bụng thì nơm nớp lo không đến được phần mình. Có thằng chầu chực chuyện đi Tây, chuyến nào cũng lo không biết báo Tây, đài Tây, ti vi Tây có nhắc đến mình không. Mốt bây giờ hễ được Tây nhắc thì mới sang, tây nhắc rồi thì thích lắm, lưu hình lưu báo y chang lưu bảo vật. Nhưng hễ có ai nói tôi nghe đài này đài nọ, báo này báo nọ phỏng vấn ông đấy thì làm bộ uể oải nói thế à, ừ cũng Nguyễn Quang Lập 225 có mấy thằng nó đến hỏi, mất thời giờ với chúng nó quá. Có biết đâu thứ Tây mà mình vẫn giao du, đa phần cũng chỉ là lũ cowboy1. Đại hội nhà văn lần thứ mấy không nhớ nữa, anh Phan Vũ khi đó đã 75, 76 tuổi, nói tụi bay chơi đâu cho tao đi với. Mình hỏi bạn anh đâu cả rồi, anh nói chết hết trọi... đú má. Mình biết bạn anh còn nhiều, chết sao hết được, nhưng rặt chỉ bao bì không thôi, còn lại thì rỗng không. Bao bì thì tính làm gì, chơi làm gì, phí. Sắp đến cõi rồi, mười ông thì có đến chín ông ngồi lo bao bì sao cho hoàn hảo, hễ ai động đến cái là lồng lên như sói. Ừ nhỉ, bây giờ ngoảnh đâu cũng thấy toàn bao bì, bạn bè một thuở đâu rồi tá? Chuyện sợ vợ Chả hiểu sao mấy hôm nay ngồi đâu cũng nghe kháo chuyện sợ vợ. Đi Bến Tre về nhà Tâm Chánh, uống rượu sâm Ngọc Linh nói chuyện Biển Đông chán chê lại quay sang chuyện sợ vợ. Về nhà Võ Đắc Danh tán chuyện sợ vợ cho tới khuya. Sáng mai uống cà phê, Huy Đức nhìn mình cười cười, nói tối qua bác say, hát hò ghê quá. Mình hỏi cái gì. Huy Đức nói mỗi bài ca sợ vợ mà bác hát đi hát lại đến nỗi tôi thuộc làu. Nói rồi Huy Đức ngâm nga: “Nằm chung thì bảo... chật giường/ nằm riêng lại bảo... tơ vương em nào/ Lãng mạn 1 Cao bồi. 226 Bạn văn 2 thì bảo... tào lao/ Đứng đắn lại bảo... người sao hững hờ/ Khù khờ thì bảo... giai tơ/ Khôn lanh thì bảo... hái mơ bao lần.” Hi hi. Có lẽ ai cũng có ít nhất dăm bảy chuyện sợ vợ, mình cũng thế. Nhớ nhất cái Hội sợ vợ thời mình làm việc ở Huế. Thời trai trẻ nghe người ta kháo nhau chuyện sợ vợ cứ nghĩ họ chọc nhau chơi vậy thôi chứ vợ có gì đâu mà phải sợ. Mấy anh lớn nghe mình nói thế thì xoa đầu mình cười Nguyễn Quang Lập 227 cười, nói lấy vợ đi rồi biết em ơi. Mình chả tin. Chẳng qua đàn ông hay đem chuyện sợ vợ ra để trêu nhau, chọc quê nhau vậy thôi, dần dà mới biết té ra chuyện đó thật. Hôm mình mới về Sở Văn hóa Thông tin Bình Trị Thiên, làm việc ở Phòng Quản lý xuất bản, anh Vĩnh Nguyên cười khà khà, nói thằng này gia nhập Hội sợ vợ rồi. Mình nhăn răng cười, nói thiệt hả anh, phòng em toàn dân sợ vợ à. Anh Vĩnh Nguyên nói cả thành phố Huế này đều là dân sợ vợ, trừ tao. Mỗi tao không sợ vợ, răng mà tao đơn độc rứa không biết. Mình hỏi Văn Lợi, nói Vĩnh Nguyên nói vậy đúng không. Văn Lợi cười phì, nói đúng một nửa. Phải nói thế này mới đúng: cả thành phố Huế đều là dân sợ vợ mà Vĩnh Nguyên là ông sợ vợ nhất. Mình gặp Vĩnh Nguyên nhắc lời Văn Lợi, anh cười bẽn lẽn, nói không không, Văn Lợi vẫn không nói đúng sự thật. Tao sợ vợ thứ nhì thôi, Văn Lợi mới là ông sợ vợ nhất. Văn Lợi là hội trưởng hội sợ vợ của chúng mày đó. Hồi đó phòng quản lý xuất bản có 5 anh em, mình chưa có vợ, còn lại các anh Bính Văn, anh Hải Bằng, Văn Lợi, Dương Toàn Thắng đều nổi tiếng sợ vợ cả. Nói anh Văn Lợi sợ vợ cũng hơi oan, anh hâm mộ vợ thì đúng hơn. Chị Tùng 228 Bạn văn 2 rất đẹp, quản gia nội trợ ngon lành, anh Văn Lợi làm về chỉ có việc ngồi vểnh râu pha trà uống chứ chẳng phải làm gì. Đụng có việc gì chị đều đưa ra ý kiến rất xác đáng. Chị Tùng đã không nói thì thôi hễ nói ra điều gì chỉ có đúng trở lên. Văn Lợi hâm mộ vợ là phải, nói chuyện gì cũng Tùng nói thế này, Tùng nói thế kia. Mọi người vì thế có cớ chế anh sợ vợ, nói với Văn Lợi trên đầu có trung ương, dưới bụng có bà Tùng. Mình cũng trêu anh như vậy, anh trợn mắt lên, nói tôi có đội vợ lên đầu đâu, tôi đặt vợ dưới bụng, sao bảo tôi sợ vợ. Anh Mai Văn Tấn còn viết hẳn một truyện cổ tích Sự tích cái ống bương nước để trêu Văn Lợi. Đại khái ngày xửa ngày xưa có anh Văn Loi hiền lành tốt bụng cưới một cô gái rất xinh đẹp tên là A Tung. Vì quá yêu vợ, Văn Loi không để cho A Tung làm gì cả. Một hôm Văn Loi vào rừng săn bắn tối mịt vẫn chưa về. Ở nhà hết nước, A Tùng không đợi Văn Loi về lấy nước như mọi khi, đành quảy gánh xuống suối. Lâu ngày không quen gồng gánh, đêm tối dốc trơn, A Tung bị ngã, chết thảm dưới chân dốc. Văn Loi ôm lấy vợ kêu khóc thảm thiết, nói ôi A Tung ơi, không có A Tung thì đời Loi còn nghĩa lý gì nữa, nói rồi ôm vợ lao xuống thác, chết nốt. Từ đó dân Vân Kiều bỏ tục gánh nước, chỉ lấy nước bằng ống bương. Truyện này in trong tập Truyện cổ Vân Kiều hẳn hoi, ghi dưới truyện là ghi theo lời kể của cụ này cụ kia, thực tế là Mai Văn Tấn bịa ra tất, hi hi. Anh Bính Văn là họa sĩ, anh bỏ vợ hay bị vợ bỏ chi đó, mình không rõ. Mỗi lần mình hỏi vì sao bỏ vợ, anh làm bộ quan trọng kéo tay mình rỉ tai, nói phải bỏ thôi, nếu không Nguyễn Quang Lập 229 đời tao tuyền sống trong sợ hãi. Mình nói gì mà kinh thế. Anh nói mày chưa vợ con biết cứt gì, kinh lắm. Mình nói anh không nộp đủ thuế à, sao mà sợ thế. Anh trợn mắt lên, nói đâu có, tao nộp cả gốc lẫn lãi vẫn cứ sợ vợ như thường. Có lẽ anh Bính Văn nói thật. Nhiều người cứ bảo đàn ông sợ vợ đa phần vì không nộp đủ thuế cho vợ, chả phải. Một hôm mình nghe ba ông anh, anh Điềm (Nguyễn Khoa Điềm), anh Tường (Hoàng Phủ Ngọc Tường), anh Vĩ (Tô Nhuận Vĩ) ngồi kháo chuyện định kì nộp thuế. Anh Điềm nói tôi đăng báo Dân (Ba ngày một số), anh Tường nói tôi đăng báo Văn Nghệ ( Bảy ngày một số). Anh Vĩ nói các ông kém thế nhỉ, tôi đăng báo Nhân dân (Một ngày một số), ngoài ra còn đăng thêm vài phụ trương nữa. Anh Điềm, anh Tường đều trợn mắt thè lưỡi, gọi anh Vĩ là sư phụ. Nhưng anh Vĩ sợ vợ nhất trong ba anh, giống anh Văn Lợi luôn mồm nói Cúc nhà mình nói thế này, Cúc nhà mình nói thế kia. Ngồi đâu hễ chị Cúc réo một phát là ba chân bốn cẳng vọt về ngay. Phòng mình hồi đó vợ anh Dương Toàn Thắng đẹp nhất. Chị Hải đẹp nhất trường Đại học Ngoại Ngữ, về làm việc ở Ủy ban tỉnh Bình Trị Thiên được một tuần cả thành phố Huế đều nức tiếng chị. Anh cũng là dân Ba Đồn với mình. Mỗi lần anh đem vợ về quê, con nít chạy rật rật cả đoàn sau lưng chị. Người ta bảo ồn như chợ, thế mà mỗi lần chị Hải xách làn vào chợ y chang hoàng hậu vi hành, đi tới đâu là ở đó bỗng lặng ngắt, ai nấy mắt tròn mắt dẹt, thì thà thì thầm. Mình thuộc loại con nít không dám tơ tưởng, anh Văn 230 Bạn văn 2 Lợi trưởng phòng tốn cả trăm bài thơ tình về biển (Hải là biển mà) chẳng được cái xơ múi gì, anh Thu Bồn cả tháng mưa Huế đứng trước cửa sổ nhà chị cũng không hề được chị để mắt tới, cuối cùng đành để lại bài thơ Tạm biệt Huế, bài này rất nổi tiếng, con gái Huế thuộc làu “Tạm biệt Huế với anh là vĩnh biệt/ anh trở về hóa đá phía bên kia”. Nghe tin Thu Bồn về Đà Nẵng, anh Thắng sướng lắm, nói lão Thu Bồn về Đà Nẵng tao nhẹ cả người, bây giờ tao mới yên tâm hóa đá ở trong bia, khơ khơ. Anh Thắng kéo mình đi nhậu, nói chúng nó bảo Văn Lợi là hội trưởng hội sợ vợ, sai bét, tao mới là hội trưởng. Mình nói em thấy chị Hải hiền thế, sợ gì nhỉ. Anh kéo tay mình chỉ về ông phó chủ tịch tỉnh đang ngồi nhậu ở góc xa, nói mày biết ông đó không. Mình cười, nói lạ gì, ông đó tán chị Hải suốt hai nhiệm kì không đổ, đúng không. Anh Thắng gật đầu cái rụp, nói ông ấy còn sợ vợ tao, tại sao tao không sợ. Uống bia say nhừ tử, mình hỏi anh Thắng, nói trong phòng mình chắc chỉ có anh Hải Bằng là không sợ vợ thôi, anh nhỉ. Em thấy Hải Bằng hơi bị gia trưởng, chưa thấy Hải Bằng sợ ai bao giờ, đến bí thư tỉnh ủy mà Hải Bằng còn dám to tiếng giữa hội nghị, chắc ổng thuộc diện vợ sợ chứ không phải sợ vợ. Anh Thắng cười cái hậc, nói mày biết đéo gì. Hải Bằng sợ vợ thảm lắm. Mình hỏi sao, anh Thắng nói Hải Bằng sợ vợ hiếp. Mình cười rũ, nói phét phét. Anh Thắng lại trợn mắt lên, nói tao phét mày làm gì. Hải Bằng già cả ốm yếu, bà vợ thì xinh đẹp trẻ trung như thế, sợ là phải. Một tối đang tán chuyện với tao, nghe tiếng vợ đi xem phim về ngoài ngõ là ổng vọt lên giường đắp chăn rên ầm ầm. Hải Bằng chuyên Nguyễn Quang Lập 231 môn trốn thuế kiểu đó, có thảm không. Mình cười phun cả bia. Anh Thắng không cười, anh tu cạn ly bia rồi túc tắc đọc như đọc kinh thánh, nói Kính vợ đắc thọ/ Sợ vợ sống lâu/ Nể vợ bớt ưu sầu/ Để vợ lên đầu, là trường sinh bất tử... Thế mà anh Thắng không trường sinh bất tử, anh mất năm 42 tuổi, để lại hai đứa con gái và người vợ xinh đẹp tuyệt trần, tha hương tận trời tây. Quán rượu chị Phước Hè vừa rồi mình về Huế chơi, tìm về góc phố có quán rượu chị Phước, góc đường Trương Định, cạnh quán xôi thịt hoong. Quán xôi thịt hoong vẫn còn, vẫn y chang như ngày nào, lụp xụp nhếch nhác nhưng rất đông khách. Quán rượu chị Phước không còn nữa, hình như người ta đã dẹp các quán vỉa hè, dẹp luôn quán chị. Mình đứng tựa gốc cây hồi lâu, tự nhiên thấy bồi hồi. Bao nhiêu bạn bè của mình đã từng ngồi đây giờ đâu hết rồi? Một cái quán che bằng tấm áo mưa cũ, chống ba bốn cọc tre nhỏ, cái thùng gỗ đựng rượu nem thuốc lá, chỉ ba thứ ấy thôi, không hề có thêm thứ khác, năm sáu cái đòn ngồi cái méo xệch, cái gãy chân... Thế mà không khi nào vắng các nhân vật nổi tiếng, từ Trịnh Công Sơn đến Nguyễn Khoa Điềm, từ Xuân Đàm, Kim Quý, Lê Anh... đến Hoàng Phủ Ngọc Tường, Ngô Minh, Nguyễn Trọng Tạo... Từ đó anh tài khắp nước lần lượt vào quán này, đủ hết không sót một ai. 232 Bạn văn 2 Những năm 80 thế kỷ trước, anh em văn nghệ Huế mỗi khi rủ nhau đi uống rượu thường chỉ đến hai nơi, một là quán chị Hiếu, hai là quán chị Phước. Quán chị Hiếu rượu ngon, chị tự nấu lấy, rượu gạo trăm phần trăm, đối với anh em văn Nguyễn Quang Lập 233 nghệ chị bán giá gốc rất rẻ. Nhưng quán chị Hiếu hơi xa, ở tận dốc Phú Cam, hơi trái đường nên anh em vẫn tụ bạ ở quán chị Phước, sát ngay 26 Lê Lợi là trụ sở Hội văn nghệ. Nhà mình gần ngay đấy, ở 24 Lê Lợi, thành thử mình thường trú nửa phần đời tại quán chị Phước. Chẳng biết chị Phước mấy tuổi, ở đâu. Nghe nói chị vốn dân Quảng Nam ra đây làm ăn, người bảo có chồng con, người bảo không. Lại có người nói chị là vợ ông Đại úy cộng hòa. Năm 1980, ông này vượt biên sang Mỹ, chị không đi, ở lại nuôi con. Chẳng biết thế nào nhưng nhìn tướng chị mình biết chị có học hành tử tế, con nhà dòng dõi, thế cuộc đổi thay chị mới chịu ra vỉa hè bán rượu mà thôi. Rượu chị Phước thua rượu chị Hiếu nhưng chị cho nợ thoải mái, chẳng ghi sổ, chẳng hỏi nợ, ai nhớ thì trả, không thì thôi, chẳng bao giờ chị càm ràm. Ngồi ở quán chị nói năng thoải mái, không sợ chị nghe được đi kể lại với người khác. Anh em cãi nhau, chửi nhau, nói xấu nhau... chị đều bỏ ngoài tai hết, không hề để bụng. Ngồi ở quán chị như ngồi nhà mình, chỉ có ba thứ: rượu, thuốc lá và nem, ai muốn lấy gì thì lấy. Nhiều lần bận việc chị thả quán cho khách tự tung tự tác. 234 Bạn văn 2 Uống xong, có tiền nhét tiền dưới cục gạch chị đã làm dấu, không tiền thì cứ thế phủi đít về, chẳng sao. Ngồi nhiều nhất, lâu nhất vẫn là đám nhà thơ. Buổi sáng đến công sở, uống trà nói phét chừng một tiếng, vờ vào bàn làm việc chừng một tiếng, đến 10 giờ chẳng ai bảo ai đều viện cớ đi chỗ này chỗ nọ, gặp người này người nọ, rồi vọt ra quán chị Phước cả lũ. Vài ba chén đầu còn tâm sự hỏi han, đến chén thứ tư bắt đầu màn đọc thơ. Nếu thơ được khen tất nhiên còn đọc nữa, tranh nhau đọc cho tới chiều. Nhưng nếu ai đó chê thơ ai đó thì thể nào cũng có cãi nhau, có rượu vào chuyện bé xé ra to, văng đủ thứ, thề độc không bao giờ nhìn mặt nhau, rốt cuộc sáng hôm sau lại có mặt cả lũ, không sót một ai, hi hi. Một hôm mình ngồi với anh Tạo (Nguyễn Trọng Tạo), anh Ngô Minh. Anh Tạo nói tình hình nghiện đọc thơ đã trở thành quốc nạn. Khéo không chị Phước nghe đọc thơ nhiều quá, điên lên chị nhổ quán bỏ đi thì bỏ mẹ. Từ nay thằng nào đọc thơ phải “nôn” tiền ra gọi là nhuận nghe. Không ai tốn rượu mất thời giờ nghe thơ chúng mày. Vừa nói xong thì Lý Hoài Xuân lò dò tới, nói tôi mới có bài thơ, đọc cho anh em nghe. Anh Tạo nói vừa ra nghị quyết rồi, thằng nào muốn đọc thơ phải bỏ tiền ra, mỗi bài ba ngàn. Lý Hoài Xuân lẳng lặng móc túi bỏ ra ba ngàn. Đọc xong, ai cũng khen, Lý Hoài Xuân lại lẳng lặng móc túi bỏ ra sáu ngàn. Nói tôi đọc thêm hai bài nữa. Hi hi. Anh Phùng Quán vào Huế ngày trước ngày sau đã biến quán chị Phước thành “cơ quan thường trú” của anh. Anh Nguyễn Quang Lập 235 Quán ngồi đâu ở đó có thơ. Anh đọc thơ không tiếc tiền, mỗi bài ba ngàn, anh đọc cả trăm bài trong mấy tháng anh ở lại Huế. Thực ra anh lấy cớ để ủng hộ chị Phước. Anh nói tụi mình uống chịu nhiều rứa, cụt vốn chị Phước, tội nghiệp. Bày ra cái luật nhuận nghe rất chi là hay, tụi mình có rượu uống mà chị Phước không bị cụt vốn. Có hôm xong cuộc uống rượu đọc thơ, cộng lại được 90 ngàn, còn thiếu của chị Phước 6 ngàn, anh Quán xung phong đọc thêm hai bài. Phải cái bài Trăng hoàng cung của anh dài quá, mọi người nhao nhao, nói bài ni dài bằng 6 bài. Anh vuốt râu cười kha kha kha, nói sáu bài thì sáu bài, rồi bỏ ra đúng 30 ngàn. Lại thừa tiền, lại uống, rất vui. Chị Phước ít nói đến nỗi ai không quen cứ tưởng chị bị câm. Ai cũng như ai, hễ vào quán chị là mắt chị ánh lên một nụ cười. Chỉ cười vậy thôi chứ chẳng nói gì, cũng không vồn vã chào mời. Khách tự kéo đòn ngồi, gọi rượu gọi nem, chị lẳng lặng đưa. Có lần mình đưa vợ chồng Xuân Quỳnh, Lưu Quang Vũ vào quán thấy chị suốt buổi không nói một tiếng nào, gọi gì đưa nấy chứ tuyệt chị không một lần lên tiếng. Hai người ngạc nhiên lắm, kéo tay mình thì thầm, nói bà này câm sao tai thính thế nhỉ? Hi hi. Lúc đầu mình tưởng tụi con nít vô danh như tụi mình chị mới không thèm nói. Chẳng ngờ Trịnh Công Sơn, Nguyễn Khoa Điềm, Hoàng Phủ Ngọc Tường vào quán chị cũng thế, Lưu Quang Vũ hồi này khét tiếng ba miền chị cũng thế, chị chỉ có cười bằng mắt. Mãi rồi mới biết chị coi anh em văn nghệ Huế như người nhà, chẳng cần phải chào hỏi xã giao gì, vào quán tự kiếm lấy chỗ ngồi, muốn uống rượu thì tự rót, thế thôi. 236 Bạn văn 2 Duy nhất có Văn Cao là khác. Thấy Văn Cao chống gậy đi tới, chị hơi sững lại. Hình như chị không ngờ có ngày Văn Cao vào quán chị, thật quá hạnh phúc, mặt chị tái đi. Chị lật đật sang quán xôi hoong cạnh đấy mượn cái ghế nhựa nhỏ, cái mâm gỗ về bày ra, lật đật đỡ tay anh Văn Cao, nói mời chú ngồi đây. Anh Văn Cao nói gì, hỏi gì chị đều dạ rất to. Đôi câu anh nói chị không nghe, chị sợ không dám hỏi lại, đưa mắt cầu cứu mình, nhờ mình nhắc lại. Mình cười chỉ Văn Cao, nói chị biết ông ni là ai, răng sợ rứa. Mắt chị cười tươi, nói thuở nhỏ đến chừ chỉ mơ được gặp Văn Cao, đúng là trời thương, mơ được ước thấy. Đó là câu nói duy nhất mình nghe chị Phước nói trong vòng sáu năm ngày nào cũng ngồi quán chị. Trước Văn Cao nhiều danh sĩ Nam Bắc cũng đã tới quán chị rồi, Trần Dần, Hữu Loan, Lê Đạt, Hoàng Cầm thì quá quen thuộc quán chị, cứ về Huế là tìm về quán chị, coi đây là một địa chỉ văn hóa của làng văn. Hôm anh Văn Cao vào Huế bị ốm phải đưa vào viện. Ngày ra viện anh đi một mạch từ viện Trung ương Huế tới quán rượu chị Phước, chị Băng (vợ anh) bảo anh đi đâu anh cũng không đi, cứ ngồi vậy cho đến lúc say. Sau này mỗi lần mình ra Hà Nội gặp Văn Cao, lần nào anh cũng hỏi đúng có hai câu: anh Tường khỏe không và quán chị Phước có còn không? Anh Trịnh Công Sơn cũng vậy, anh rời Huế từ năm 1983, năm lần mình gặp anh ở Sài Gòn thì cả năm lần anh chỉ hỏi đúng một câu, nói anh em có còn ngồi quán chị Phước không? Sau chia tỉnh anh em văn nghệ tản mác chín phương Nguyễn Quang Lập 237 trời, quán chị Phước cũng không còn. Hình như vì vậy mà văn nghệ Huế dạo này nhạt hẳn, không còn đằm thắm sôi nổi như xưa nữa. Mình ngồi tựa gốc cây nhớ những người đã từng say ở đây, mỗi người mỗi nét rất vui. Phùng Quán say thì nhúng râu vào rượu, Trần Dần say thì ngồi thổi chén rượu phù phù như thổi cháo nóng, Mai Văn Hoan say thì khóc, Ngô Minh say thì chạy đi đóng cửa sổ, Nguyễn Trọng Tạo say thì đập chén, Trần Vàng Sao say thì hát, Trịnh Công Sơn say thì đọc thơ... trong số đó quá nửa đã về trời, nửa còn lại đã sức tàn lực kiệt, tim đập chân run, hồn xiêu phách lạc... Nghĩ vậy mà rưng rưng. Nhớ chị Bội Trâm Bữa trước mình ra Huế, anh Ngô Minh nhắc mình, nói mi mần chi thì mần, cố sắp xếp thời gian viếng mộ anh Quán chị Trâm. Anh Ngô Minh nhắc hơi thừa, mình đã viếng mộ anh Quán chị Trâm cách đó mấy ngày, trước khi bù khú với anh em văn nghệ Huế. Nhờ sáng kiến của Ngô Minh, những người yêu mến Phùng Quán đã nhiệt tình hưởng ứng, khu mộ vợ chồng nhà thơ Phùng Quán đã được cất lên phía tây làng Thủy Dương (quê Phùng Quán) phía Nam thành phố Huế, đã trở thành một địa chỉ văn hóa của thành phố Huế cho khách thập phương, thật tuyệt vời. 238 Bạn văn 2 Mình nhớ năm 1995, ngày đưa anh Quán về trời, an táng ở quê chị Trâm thuộc Nhổn huyện Từ Liêm. Đám tang giữa mưa xuân. Từ khi đầu đám cho đến khi hạ huyệt mình không khóc. Nhưng khi hạ quan tài, thấy cái huyệt ngập nước, quan tài lún dần trong nước mình đã bật khóc. Chị Bội Trâm cũng xỉu đi, có lẽ chị không chịu nổi khi thấy anh Quán phải nằm trong nước. Liền mấy năm sau đó, ngày giỗ anh Quán nào Nguyễn Quang Lập 239 chị Trâm cũng nói chuyện với mọi người ước nguyện của chị là đưa anh Quán về Thủy Dương quê anh. Chị nhắc đi nhắc lại hoài nghe thật sốt ruột. Từ khi anh Quán mất, chị mỗi ngày mỗi héo đi. Gặp mình lần nào cũng nói chuyện anh Quán, chỉ nói chuyện anh Quán không nói chuyện nào khác. Chị nói anh Quán đã cho chị sống như chị muốn, giờ anh mất rồi, chỉ một ước nguyện cuối cùng là đưa anh về Thủy Dương, mai mốt chị về trời, chị cũng muốn về Thủy Dương với anh Quán. Rồi ngước lên bàn thờ rưng rưng nhìn anh Quán, chị chép miệng nói biết hoàn cảnh mình không nhờ con được, chị đành trông cậy hết vào bạn bè. Hai chục năm sau ước nguyện của chị Bội Trâm mới thành. Thực ra việc đưa anh Quán về quê không khó. Họ hàng nhà anh Quán đã xin làng Thủy Dương một mảnh đất làm khu mộ, bất kì khi nào chị Trâm muốn anh Quán về quê họ cũng sẵn sàng. Nhưng khi chị Trâm còn sống không ai nỡ đưa anh Quán về quê, chị ở Hà Nội anh nằm ở Huế sao đành. Ngày giỗ tết chị phải về Huế thắp hương, đường xá xa xôi rất vất vả cho chị. Hơn nữa khi chị Trâm còn sống, nếu 240 Bạn văn 2 đưa anh Quán về quê thế nào chính quyền cũng ra tay giúp đỡ, điều mà anh Quán không muốn. Cho nên hai năm sau ngày chị Bội Trâm về trời, anh Ngô Minh mới bàn với họ hàng anh Quán đưa anh chị về Huế. Anh Ngô Minh là người có công rất lớn trong việc đưa chị Trâm anh Quán về Huế, tạo nên khu mộ vợ chồng nhà thơ đầu tiên của cả nước. Vợ chồng về trời được xây mộ bên nhau thì nhiều nhưng đó là do con cái dựng nên, việc vợ một nhà thơ được bạn bè và họ hàng nhà thơ kính cẩn rước về quê ở trong khu mộ của nhà thơ là chuyện xưa nay hiếm. Có lẽ chị Bội Trâm là người duy nhất được hưởng cái phúc này, bởi vì chị là vợ nhà thơ xưa nay hiếm. Chị Trâm bằng tuổi anh Quán, năm 23 tuổi chị là cô gái xinh đẹp phố Hàng Cân, là giáo viên văn trường Chu Văn An, trường học danh giá ở Hà Thành. Năm 1955 chị gặp và yêu anh Quán ngay trong năm đó, năm mà anh Quán vừa mang cái án Nhân văn giai phẩm. Anh Quán bị đuổi ra khỏi quân đội, năm trước vừa về Văn nghệ quân đội ở 4 Lý Nam Đế năm sau đã bị buộc phải rời khỏi 4 Lý Nam Đế. Cuốn sách Vượt Côn Đảo được giải thưởng, nổi tiếng như cồn khắp cả nước cũng không cứu được anh, Hội Nhà văn khai trừ anh khỏi hội. Từ nhà văn quân đội danh giá Phùng Quán bỗng trở thành kẻ vô gia cư, một homeless1 hưởng trợ cấp của Hội Nhà văn mỗi tháng 25 đồng, tiền cơm bụi cho loại nhà văn bị treo bút. Thế cũng gọi là may, nhiều người bị tù đày, bị đuổi ra khỏi thành phố và không một xu trợ cấp. 1 Người vô gia cư. Nguyễn Quang Lập 241 Chuyện chị Bội Trâm yêu Phùng Quán gian nan thế nào có thể viết cả một cuốn sách. Chị Trâm không kể cho ai nghe, lần nào mình hỏi chị cũng chép miệng nói cực lắm em à, nhắc lại thêm buồn. Nhưng anh Quán thì kể, kể rất nhiều, cứ mỗi lần hai người cãi nhau, giận nhau vì chuyện gì đó anh Quán thường đem chuyện chị Trâm quyết lấy anh kể cho mọi người như là lý do vì sao họ không thể chia tay nhau được. Thời đó nghe mấy tiếng “bọn nhân văn” ai nấy đã dựng tóc gáy nổi da gà, việc chị Trâm quyết yêu anh Quán đúng là chuyện lạ. Nhà trường kiểm điểm, gia đình ruồng bỏ, họ hàng bà con ai ai cũng phản đối. Mẹ chị uất quá, vừa khóc vừa mắng chị, nói lấy chồng như thế thì thà nhảy xuống giếng cho xong. Chị Trâm vẫn không nao núng, nói con đã yêu anh Quán nên con không thể yêu người khác. Nếu bố mẹ không cho con lấy, con xin vâng lời, nhưng con sẽ không lấy người đàn ông nào khác nữa. Cuối cùng bố mẹ chị cũng phải xuống thang cho cưới. Thực ra anh Quán chị Trâm được đăng kí kết hôn thôi còn lễ cưới đã không xảy ra. Trăm sự vì cái tên Phùng Quán. Họ sợ cái tên Phùng Quán có trong thiệp cưới liệu có mấy ai dám đến dự? Bạn bè anh Quán hầu hết đã cắt đứt quan hệ, lặn một hơi không sủi tăm, anh này chê anh kia hèn nhưng hễ gặp anh Quán anh nào cũng mắt trước mắt sau chuồn lẹ. Bạn bè văn nghệ vẫn gần gũi với anh Quán trong những ngày hoạn nạn như nhà thơ Tạ Vũ, nhà báo Xuân Đài, họa sĩ Lê Huy Quang, nhà báo Xuân Trung... thật là hiếm. Phông chính đám cưới thời đó thường có đôi bồ câu 242 Bạn văn 2 cắp mỏ nhau, tên cô dâu chú rể được treo lên đấy. Nếu đám cưới xảy ra, bà con hai họ thấy cái tên Phùng Quán, “phần tử chống Đảng”, liệu có ai dám bước vào hôn trường nữa không? Hơn nữa đang khi chính quyền phê phán bọn nhân văn mà một phần tử nhân văn lại tổ chức đám cưới ngay trước mũi chính quyền, khác nào thách đố nhau. Nghĩ vậy nên họ không làm đám cưới, chỉ gửi trầu cau báo hỉ, cũng chỉ báo hỉ tên chị Trâm: “Trầu cau chạm ngõ của cô Trâm”, ngay cái từ cưới cũng không dám dùng, chỉ dám nói “ra riêng”. Anh Ngô Minh tìm được cái thiệp báo hỉ do họa sĩ Lê Huy Quang vẽ, “mặt trước là hai bông hoa do bạn thân, họa sĩ Lê Huy Quang vẽ, mặt sau có đôi chim bồ câu và mấy chữ của Phùng Quán viết tay. Đây là thiếp báo tin gửi cho cô giáo Mai Thị Từ của chị Trâm: “Chúng em đã ra ở riêng ngày 12-1-1962. Chúng em nhờ những bông hoa này mang tin vui đến với cô. Mong cô chia vui và mừng cho hạnh phúc của chúng em”. Anh Ngô Minh đã nói về đám cưới anh Quán chị Trâm thế này: “Chị Vũ Bội Trâm có lẽ là người con gái Việt Nam duy nhất lấy chồng không có lễ tơ hồng, không đám cưới, không được mặc áo cưới, không lên xe hoa, không có đưa dâu, không có phòng tân hôn sang trọng, không chụp ảnh, quay phim... như các đám cưới bình thường khác...”. Nghe mà ứa nước mắt. Vợ chồng Phùng Quán tổ chức tiệc cưới tại nhà bà Tưởng Dơi, mẹ nuôi của Phùng Quán. Bữa tiệc có vợ chồng Tạ Vũ và hai nhà báo Xuân Đài, Xuân Trung. Anh Ngô Minh kể Phùng Quán ra chợ mua hai con gà, ra Hồ Tây câu trộm ít cá, cùng với mấy lít rượu kí nợ nhà bà Hai Hạnh... Nguyễn Quang Lập 243 thế là thành bữa tiệc. Mình hỏi anh Quán, anh cười, nói đâu có, mọi việc do bà mẹ nuôi lo cả. Sau này mới cá trộm rượu chịu văn chui chứ khi đó chẳng dám làm gì, chỉ biết trông vào 25 đồng trợ cấp của Hội Nhà văn, cực lắm. Sau bữa tiệc là đêm tân hôn. Nhà bà Tưởng Dơi nhỏ hẹp, chỉ hơn chục mét vuông chỉ có hai cái giường đơn, loại giường tập thể hồi đó rộng chừng một mét, dài chừng mét sáu, anh Quán một giường, bà Tưởng Dơi một giường. Bữa đó Tạ Vũ say, phải ngủ lại không về được, bà Tưởng Dơi phải nhường giường cho họ, bà nằm võng. Vì nhà chỉ hơn chục mét vuông, để có khoảng không mắc võng, hai cái giường phải xếp lại gần nhau. Đêm tân hôn vợ chồng Phùng Quán nằm sát giường vợ chồng Tạ Vũ. Họ nằm im bên nhau, không dám ôm nhau, không dám hôn nhau dù là cái hôn rất khẽ. Họ nằm ngửa, tay nắm chặt tay thở đều cố làm như mình đang ngủ ngon, kì thực trắng đêm không ai chợp mắt. Đó là đêm tân hôn có một không hai khắp thế gian này. 2. Mình kể chuyện chị Bội Trâm làm vợ cho nhiều cô, bà nghe. Ai cũng cảm phục tấm lòng của chị nhưng khi hỏi họ: nếu rơi vào hoàn cảnh như chị Bội Trâm thì cô, bà có làm được như chị không, đa số đều trả lời không, không dám và không muốn. Mình cho chị Trâm biết, chị cười, nói chị cũng không dám và không muốn, chẳng qua trời khiến thì chị phải sống thôi. Mình hỏi nhỏ chị, nói em hỏi thật chị nhé, sống với anh Quán chị có thấy hạnh phúc không. Chị im lặng hồi lâu rồi thì thầm, nói nhiều lần anh Quán hỏi chị vậy, lần nào chị 244 Bạn văn 2 cũng chỉ một câu trả lời: nếu không hạnh phúc em đã bỏ anh lâu rồi. Mình cũng đã nghe nhiều cô, bà nói với mình như vậy, bà xã nhà mình cũng nói với mình như vậy, hi hi... Nhưng làm được như chị Bội Trâm khó có ai dám. Suốt cả cuộc đời ngụp lặn trong túng thiếu (cả tình cảm lẫn vật chất) để tìm kiếm hạnh phúc, trong số phụ nữ mình quen biết chắc chỉ có chị Bội Trâm, không còn ai. Cưới xong anh Quán phải đi lao động cải tạo ở Thái Bình, Thanh Hóa, Việt Trì. Chẳng ai buộc anh phải đi cải tạo cả, Hội Nhà văn, Bộ Văn hóa muốn Phùng Quán trở thành nhà văn tốt nên động viên anh đi thôi, hi hi. Thời đó nó hồn nhiên như thế, nhà văn tài không quan trọng bằng nhà văn tốt, nhà văn tốt là nhà văn biết ba cùng với nông dân. Bác Tô Hoài kể Phùng Quán trở thành “vua phân bò” từ đó, những ngày ba cùng ở Thái Bình anh nhặt phân bò tài đến nỗi hố ủ phân vừa đào xong đã đầy, dân không kịp đào hố ủ cho Phùng Quán. Mọi người phong Phùng Quán là “vua phân bò”, anh phấn khởi lắm, nói nhờ rứa mà văn Phùng Quán khỏi bị thối như phân. Anh còn xung phong lên rừng núi Thái Nguyên suốt ba năm liền, một mình canh mấy hecta ngô khoai sắn của cơ quan. Mình hỏi anh Quán, nói anh xung phong thiệt à? Anh cười cái hậc, nói người ta gợi ý mình xung phong thì mình xung phong chớ răng. Chẳng ai ép mình, chỉ nói tùy đồng chí thôi, nhưng thời đó cái chữ tùy dễ sợ lắm. Nguyễn Quang Lập 245 Trong suốt mười năm sau ngày cưới, chị Trâm ở nhà mẹ phố Hàng Cân, anh Quán đi cải tạo lao động thỉnh thoảng về nhà mẹ nuôi là bà Tưởng Dơi, vợ chồng lại gặp nhau ở đấy, bí mật lén lút như đang yêu vậy. Ngay cả khi có hai mặt con, cái Quyên và thằng Quân anh chị cũng chỉ dám hẹn hò gặp nhau ở nhà bà Tưởng Dơi, chưa dám công khai cho mọi người biết. Trong suốt mười năm anh Quán đi cải tạo chị Trâm một mình nuôi hai đứa con, đến khi anh Quán trở về, chị còn phải nuôi thêm anh Quán. Nuôi thêm anh Quán tức là nuôi thêm bạn bè của anh Quán nữa. Từ khi trường Chu Văn An thương tình cho vợ chồng anh Quán ở tạm nơi chứa đồ mộc thí nghiệm của nhà trường, có chỗ chui vào chui ra, nhà chị không khi nào ngớt khách, luôn luôn có ít nhất một bạn anh Quán ăn ở trong nhà anh chị. Lương giáo viên cấp 3 chỉ dùng được một tuần là hết, thỉnh thoảng anh Tuân Nguyễn, anh Xuân Đài lấy một phần lương của họ đưa cho chị Trâm nhưng cũng chỉ như muối bỏ bể, không ăn thua. Nhiều lần tan lớp chị Trâm đứng ở cổng trường, ngẩn ngơ không biết phải đi đâu, làm gì có được một, hai đồng đi chợ. Tất cả những gì bán được đều đã bán, tất cả những ai vay được đều đã vay, phòng tài vụ đã cho ứng trước mấy tháng lương rồi, không thể ứng thêm được nữa. Khi đó chỉ có khóc, trông chờ ông Bụt hiện ra hỏi vì sao con khóc, chẳng có cách nào khác. Chị Trâm không khóc, ông Bụt cũng không hiện ra, nhưng lần nào cũng vậy, cái số “có quí nhân phù trợ” đã giúp chị qua được cơn bĩ cực. Thế nào rồi 246 Bạn văn 2 cũng có người đi qua, khi thì bạn chị khi thì bạn anh Quán, nói đứng làm gì đó hả con kia, sao trông cái mặt như mặt mất sổ gạo thế hả? Rồi người đó dúi cho một hai đồng, rất nhiều lần như thế. Cũng rất nhiều lần cầm một hai đồng về nhà chị thấy trong nhà vài ba người khách, bữa cơm rượu hèn lắm cũng phải mất năm sáu đồng. Chị cứ xách giỏ đi liều ra chợ, hy vọng cái số “có quí nhân phù trợ” sẽ giúp chị. Nếu hỏi lỡ chẳng ai giúp thì sao, chị cũng chỉ biết cười trừ, chị hoàn toàn không có câu trả lời. Trời đã trả lời giúp chị, đúng vậy, trời đã giúp chị, chưa khi nào chị phải xách giỏ không trở về. Một lần bà hàng cá thấy chị đứng tần ngần trước mớ cá chép, lật đi lật lại cái đầu cá mà không dám hỏi giá, hỏi làm sao khi túi chị chỉ còn có hơn một đồng. Mãi rồi chị cũng phải đứng dậy bỏ đi. Bà hàng cá liền gọi giật hỏi nhỏ, nói vợ Phùng Quán phải không? Và rồi con cá chép hai cân có người mua bốn đồng rưỡi không chịu bán đã lọt vào cái giỏ nhựa rách của chị. Chị xách con cá ra khỏi chợ không biết mơ hay thực nữa, lâu lâu lại nhìn vào giỏ, chỉ sợ con cá tự dưng biến mất. Anh Quán nghe chị Trâm kể cảm động lắm, quyết ra Hồ Tây câu trộm một con cá chép hai cân trả ơn bà hàng cá. Không câu được cá chép hai cân, bù lại anh câu được sáu con cá mè và hai con cá chuối, con nào con ấy cỡ một cân. Chị mang hết ra tặng lại bà hàng cá. Bà hàng cá mừng lắm, trả chị mười hai đồng, nói ơn nghĩa là đây, em giúp chị có cá bán buôn là may cho chị lắm rồi. Từ nay chị em mình dựa vào Nguyễn Quang Lập 247 nhau mà sống. Nghề cá trộm của Phùng Quán bắt đầu từ đó. Còn văn chui thì thế nào? Chị Bội Trâm mỉm cười, nói cũng nhờ bác Thanh Tịnh cả đấy. Trước đó anh Quán chẳng dám nghĩ đến cái nghề văn chui đâu, nhờ bác Thanh Tịnh bày cho đấy. Chuyện là thế này. Xưa làm ở Văn nghệ Quân đội, Phùng Quán vẫn hay hầu rượu hầu trà Thanh Tịnh. Sau vụ Nhân văn giai phẩm, Thanh Tịnh là người duy nhất trong Văn nghệ quân đội vẫn quan hệ với Phùng Quán (là nói thời kì đầu, về sau còn có Tào Mạt), ông vẫn hay đến nhà Phùng Quán chơi, thân thiết cả hai vợ chồng. Một hôm chị Bội Trâm đạp xe về phố Hàng Cân, dọc đường gặp Thanh Tịnh đang đi bộ trên vỉa hè, bác vẫy chị dừng xe, nói tao nghe nói thằng Quán rượu chè ghê lắm, tiền rượu chịu lên bạc nghìn có phải không? Chị ngạc nhiên nói đâu có anh, anh Quán có rượu chịu nhưng chỉ năm bảy chục một trăm đồng là anh í trả thôi mà. Thanh Tịnh lắc đầu nhăn mặt, nói cô còn bao che cho chồng nữa. Chúng nó bảo tiền rượu lên tới ngàn hai, có bán nhà cô chú cũng không đủ trả. Chị Trâm thất sắc chạy về nhà bà chủ hàng rượu, cái cột nhà vạch vôi chi chít, cứ một lít là một vạch, có đến hàng trăm vạch như thế, tính ra chừng bốn trăm đồng. Chị thở phào nhẹ nhõm, bốn trăm còn hy vọng trả được chứ nghìn hai thì chắc chết. Bà chủ chỉ cho chị Trâm ba cột khác đầy vạch, nói còn ba cột năm ngoái đây nữa cô Trâm ơi. Chị hoa 248 Bạn văn 2 mắt, suýt té xỉu. Chị về nhà ngồi khóc một mình không biết ngỏ cùng ai. Anh Quán hiếu khách. Hễ có khách là có rượu, ngày nào cũng vài ba khách, tích tiểu thành đại giờ lên đến ngàn hai trăm đồng. Thất kinh. Cái nhà mặt tiền phố Huế lúc đó cũng giá nghìn hai trăm đồng chứ bao nhiêu đâu. Vừa lúc Thanh Tịnh đến chơi, thấy chị khóc ông mắng át đi, nói khóc có ra tiền ra bạc được không? Lôi đống bản thảo thằng Quán cho tao xem may ra có thể in được cái gì. Chị Trâm càng khóc to hơn, nói anh ơi anh Quán bị treo bút, ai cho in mà in. Thời buổi nhất thân nhì quen này lấy tên người lạ người ta không in cho đâu. Anh Tịnh cốc đầu chị Trâm, nói vợ chồng chúng mày ngu lắm, không cho lấy tên thằng Quán thì lấy tên bạn bè thằng Quán, ít nhất cũng có tên tao. Tao cho nó mượn tên cả đời. Anh Quán về nhà, chị Trâm kể cho anh nghe, anh nhảy lên hú mấy tiếng, nói sáng kiến sáng kiến, Thanh Tịnh muôn năm! Hôm sau anh Quán ôm chồng kí sự Vĩnh Linh đất lửa đến nhà Thanh Tịnh, nói chọ ni được mấy trăm đồng? Thanh Tịnh ngắm nghía gật gù, nói chọ ni được chừng tám trăm. Mày về viết thêm cuốn Nghệ thuật viết tấu và đọc tấu nữa, ráng bôi ra hơn trăm trang cũng được bốn trăm đồng, vừa đủ trả nợ tiền rượu. Anh Quán nói cuốn ấy có đặt người ta mới in, mình tự viết không ai in cho đâu. Anh Tịnh cú đầu anh Quán, nói ngu lắm. Mày không nhớ tao là cây tấu nổi tiếng à. Nhà xuất bản văn hóa đặt tao viết cả năm rồi nhưng tao nhác chưa viết được, mày viết đi. Mấy tháng sau hai cuốn sách lấy tên Thanh Tịnh ra đời, Nguyễn Quang Lập 249 Thanh Tịnh tự đến Nhà xuất bản lấy nhuận bút đưa cho chị Trâm. Anh Quán bày biện mâm rượu nhỏ đội đến nhà Thanh Tịnh, anh quì sụp xuống vái Thanh Tịnh ba vái, nói sư huynh đã chỉ cho em con đường sống, đội ơn sư huynh suốt đời. Cái nghề văn chui của Phùng Quán cũng bắt đầu từ đó, cũng từ đó anh Quán chị Trâm sống trong nơm nớp lo sợ. Lo bà chủ hàng rượu đòi nợ bất ngờ, chưa bao giờ bà đòi nợ anh Quán cả nhưng phàm đã mắc nợ không thoát được sự lo. Lo nhất vẫn là lo trộm cá bị bắt, văn chui bị phát hiện. Ba chục năm sống trong nơm nớp, nghe tiếng chó sủa lạ cũng giật mình thon thót, khổ thân anh Quán chị Trâm. Sau ngày anh Quán mất, mình nghĩ chị Bội Trâm sẽ khó khăn về kinh tế nên cố tìm mọi cách tái bản sách anh Quán để chị có thêm đồng vào đồng ra. Bộ Tuổi thơ dữ dội được Nhà xuất bản Kim Đồng in thành 6 tập rất đẹp, nhuận bút tính kịt tường, mình mừng lắm vội vàng đem lên cho chị. Chị Trâm ôm bộ sách đặt lên bàn thờ, nói anh ơi, nhà Kim Đồng vừa in Tuổi thơ dữ dội đẹp chưa này. Mình đưa nhuận bút cho chị, chị đặt lên bàn thờ, nói Lập nó đưa nhuận bút đây anh, nhiều thế này em tiêu làm sao hết. Vừa nói xong chị bật khóc, ngồi run rẩy bên bàn thờ không nói được câu nào nữa. Sau rồi chị tâm sự, nói ngày anh Quán mất, anh em bạn bè cúng rất nhiều tiền, đến mấy chục triệu chứ không ít. Một mình chị Trâm chỉ tiêu hết 5 ngàn một ngày, lương hưu tiêu hãy còn thừa, chị không biết làm gì với mấy chục triệu tiền cúng. Mình cười, nói chị lo bò trắng răng, lo gì lại lo thừa tiền. Chị xua tay, nói không không, ý chị không phải vậy. Mình hỏi 250 Bạn văn 2 sao. Chị ngồi thừ hồi lâu rồi khẽ thở dài, nói mấy chục năm sống với anh Quán không một ngày nào chị không mơ có được nhiều tiền nhưng không bao giờ có. Bây giờ có nhiều tiền rồi anh Quán lại bỏ chị mà đi. Chị ngồi run rẩy bên bàn thờ, ngước nhìn anh Quán, nước mắt giàn giụa. Nhớ Tố Hữu Một hôm mình đọc bài của Nguyễn Quang Thiều viết về Tố Hữu, thấy nó viết hay kinh. Những chuyện nó kể mình đều biết cả nhưng chưa bao giờ dám viết ra. Thế mà nó viết ngon trớt, đọc nghe êm ru, lại còn cảm động nữa. Đọc bài nó xong, mình ngồi thừ, thấy tiếc. Thằng Thiều cũng gặp Tố Hữu loáng thoáng như mình thôi, thậm chí chẳng bằng mình thế mà nó có bài ngon lành, còn mình thì không. Mình cú, định viết bài đấu lại nó, nhưng lại nghĩ xưa ông sống thì không viết, giờ ông chết rồi có viết kiểu gì người ta cũng cho mình nói phét, nên thôi. Nhưng sáng nay tự nhiên muốn viết về ông quá, định bụng 5, 6 giờ chiều mới viết, nhưng mót viết chịu không nổi. Thế là viết luôn. Mình có tính cục bộ, phàm ai là người Quảng Bình hoặc yêu quí Quảng Bình mình đều quí mến cả. Thời chiến tranh Tố Hữu còn quá người Quảng Bình, ăn dầm ở dề trong bom đạn với dân Đồng Hới, dân Bảo Ninh có khi cả năm trời. Tiếng là ngựa xe chứ chỉ xe U oat thôi, xe volga đường chiến Nguyễn Quang Lập 251 tranh làm sao đi được. Thứ xe U oat bây giờ có đem cho tụi trẻ chúng nó còn mắng cho. Còn yến tiệc thì nói cho sang, thực ra mấy miếng thịt lợn, thịt bò kho kho xào xào, trẻ con nhà mình dỗ mãi chúng nó mới chịu ăn. Vì thế dù ai nói Đông nói Tây mình vẫn quý Tố Hữu như thường. 252 Bạn văn 2 Thời chiến tranh dượng Thành (Cổ Kim Thành) làm chủ tịch tỉnh,  mỗi lần vào Đồng Hới mình đều đến nhà dượng chơi, vì nhà dượng gần nhà chú Lình, chú ruột mình, và cũng vì có thằng Vượng là bạn học cũ. Nó là con thứ 3 của dượng Thành, học cùng lớp 1 với mình. Sau dượng vô Đồng Hới làm chủ tịch tỉnh nó cũng vô theo. Một hôm đến nhà dượng Thành, mình thấy một người đang ngồi với dượng nói chuyện gì đó rất hăng. Cả nhà đi lại cứ nem nép. Mình kéo thằng Vượng ra sân hỏi nhỏ, nói ai đó. Nó bảo Tố Hữu. Mình lạnh người, đứng lặng ngắt. Quá vinh hạnh thấy được Tố Hữu bằng xương bằng thịt. Mình đứng nép trong buồng nhìn ra, ngắm ông say sưa cho đến khi ông đi rồi vẫn đứng lặng ngắt. Mình về Ba Đồn khoe gặp Tố Hữu với tụi bạn, bốc phét nói Tố Hữu ôm mình, cho ngồi lên đùi dặn này nọ, tụi bạn ngưỡng mộ mình lắm. Thực ra có gặp cóc khô đâu, chỉ nhìn trộm ông thôi, hi hi. Gần ba chục năm sau về làm báo Văn Nghệ mình mới thực sự gặp ông. Báo Văn Nghệ có tục cứ đến 28, 29 tết là tổ chức ăn tết toàn cơ quan. Vị khách số 1 không bao giờ vắng là Tố Hữu, vì ông là sư tổ của báo. Thực ra trước đó Nguyễn Quang Lập 253 mình cũng đã thấy ông nhưng chỉ thấy xa xa. Những lần đại hội nhà văn, vài ba hội nghị văn học ông đều là yếu nhân. Ông chưa đến cuộc họp chưa bắt đầu. Tố Hữu đứng đâu người ta đều chỉ trỏ thì thầm, nói Tố Hữu đó kìa Tố Hữu đó kìa. Ông bắt tay người nọ, vỗ vai người kia rất vui vẻ. Lên diễn đàn nói chuyện cũng vui, không lý luận cao siêu gì, cứ như đứng kể chuyện chơi vậy thôi nhưng thỉnh thoảng đá ngang vài câu làm ai nấy lạnh sườn. Chương trình đón tết báo Văn Nghệ bao giờ anh Quốc (Bế Kiến Quốc) cũng chủ trò, đôi khi có anh Duật (Phạm Tiến Duật) nữa nhưng chủ yếu vẫn anh Quốc. Mình hỏi anh Quốc cụ Tố Hữu có đến không, anh nói đến chứ, năm nào cụ chả đến. Anh cười cười vỗ vai mình, nói mày thích ngồi với cụ hả, để rồi anh bố trí. Mình cười không nói gì nhưng trong bụng thì mừng lắm, được nói chuyện với Tố Hữu còn gì bằng. Chương trình có ba phần, năm nào cũng giống năm nào, đầu tiên là nhậu nhẹt, sau đó nghe Tố Hữu nói chuyện, cuối cùng là chơi trò đố vui có thưởng. Hồi đó Tố Hữu đã rời chính trường, nghe nói phụ trách ban chiến lược quốc gia gì đó. Nhậu nhẹt bao giờ cũng vui, ăn uống chẳng có gì nhưng đám văn ngồi đâu tất ở đó rôm rả. Nhìn đi nhìn lại không thấy ai, ông đi đến mâm mình, khi đó cũng chỉ mình và vài người. Mấy người này kính cẩn “dạ anh” rồi cũng lẹ làng biến đi, chỉ còn mình trơ khấc. Ông không hỏi mình tên gì mà hỏi mình quê đâu. Mình nói thưa chú cháu quê Quảng Bình. Mắt ông sáng lên và ông bắt đầu nói. Ông nói về Đồng Hới, về Quán Hàu, về Mẹ Suốt, chị Lý (anh hùng Trần Thị Lý), về Lệ Ninh, về Nhật Lệ, về Đào Duy 254 Bạn văn 2 Từ... đủ thứ chuyện. Ông nói nhỏ, đều đều, hết Đông sang Tây, hết chuyện Quảng Bình sang chuyện thế sự. Ông nói chuyện thế sự hệt mấy ông hưu trí phường nói chuyện thế sự, đại khái ngày xưa thế này thế kia, bây giờ mấy ông trên kia... ông chỉ ngón tay chỉ chỉ lên trời, lắc đầu, rồi dừng lời. Bảo Ninh thấy mình chịu trận, đứng nép ở cửa cười thích chí, dẩu mồm nói thầm cho mày chết cho mày chết! Tức khí mình nhảy ra kéo Bảo Ninh vào, nói dạ thưa chú đây cũng là nhà văn Bảo Ninh, người Quảng Bình, con bác Hoàng Tuệ. Tố Hữu bắt tay Bảo Ninh, nói à Bảo Ninh... à, Hoàng Tuệ! Mình tót lẹ ra cửa đứng nép nhìn Bảo Ninh chịu trận, cười khoái trá. Bảo Ninh khúm núm nghe, à dạ vâng rồi tranh thủ ông không để ý, ngoảnh về phía mình chửi thầm sư bố mẹ mày rồi vội vàng ngoảnh lại à dạ vâng. Bất kể Tố Hữu đang nói gì, có khi ông chưa nói xong câu nó đã à dạ vâng rồi lại ngoảnh về phía mình chửi thầm sư bố mày! Nó càng chửi mình càng sướng he he. Mãi sau, nó vừa à dạ vâng vừa chắp tay giấu dưới gầm bàn lạy mình như tế sao, xin mình cứu cho. Cuối cùng mình cũng đi vào nói thưa chú anh Hữu Thỉnh đang đợi chú rồi dìu ông vào phòng Hữu Thỉnh. Hửu Thỉnh đang ngồi đọc cái gì đó, vò đầu bứt tai (cái anh này lúc nào cũng đọc được, rảnh phút nào là nhảy vào phòng đọc bài ngay), thấy Tố Hữu vào anh vụt đứng dậy reo to: A, anh! Tiếng reo mừng hồ hởi phấn khởi như lâu rồi mới gặp. Hi hi. Năm sau vẫn vậy, đầu tiên là nhậu nhẹt, sau đó Tố Hữu Nguyễn Quang Lập 255 nói chuyện, cuối cùng là đố vui có thưởng. Món đố vui có thưởng anh em rất thích, ai cũng muốn mình kiếm được giải thưởng tranh Thành Chương về treo. Nhưng Tố Hữu đang nói. Mặc dù Hữu Thỉnh đã nhắc khéo, nói anh Tố Hữu đang rất rất bận, anh chỉ nói chuyện với anh em có 10 phút thôi. Nhưng Tố Hữu đâu có thèm chấp, ông cứ nói. Đã gần 10 giờ rồi mà còn một tiết mục nữa. Trương Vĩnh Tuấn đi vào đi ra mặt nhăn như bị, nói ông Thỉnh sao không nhắc cụ một tiếng nhỉ, chết chết. 256 Bạn văn 2 Nguyễn Quang Lập 257 Mục Lục Võ Lão Nông, tình anh bán chiếu 5 Nhớ Trúc Cương 12 Niệu liệu pháp 17 Ông Sơn Nam đời mới 22 Nguyễn Đình Toán, khổ vì yêu 30 Trọc phú 36 Rượu Tết của người đẹp 44 Tuấn cơm có thịt 49 Tạ Duy Anh, Lão Khổ 55 Nhà văn nhà veo 61 Nhớ Kim Lân 67 Nhớ Thu Bồn 73 Nhà văn chơi blog 79 Gã ăn mày thi sĩ 85 Mai Văn Hoan say 91 Phận hồng nhan 123 97 Ông ăn gan trời 103 Ông bán vé về tuổi thơ 109 Ối tiền ơi! 114 Tô Nhuận Vĩ, một chút chấm than và chấm lửng 118 Cu Vinh 124 Anh Hờ Hờ 130 Nhớ Hải Kỳ 135 Trần Tiến, kiếp du ca 141 Một lần diễn kịch 147 Sự tích chiếc xe trâu của Phùng Quán 154 Nổ và nổ, he he 160 Nhà văn... nhà hàng 164 Chuyện thằng Trọc 170 Đỗ Chu, ông chủ trại văn 181 Vẩn vơ phố cổ 187 Thời tiết Tạ Vũ 192 Vợ và thơ 197 Tết văn nhân 208 Phùng quán khi yêu 213 Xóm nhỏ 219 Bạn bè một thuở giờ đâu tá? 225 Chuyện sợ vợ 231 Quán rượu chị Phước 237 Nhớ chị Bội Trâm 243 Nhớ Tố Hữu 256
- Xem thêm -