Tài liệu Bản tóm tắt luận án chiến lược hội thoại trong một số truyện ngắn tiêu biểu của somerset maugham

  • Số trang: 26 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 75 |
  • Lượt tải: 0
thuvientrithuc1102

Đã đăng 15893 tài liệu

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN *********** NGUYỄN HÕA MAI PHƢƠNG CHIẾN LƢỢC HỘI THOẠI TRONG MỘT SỐ TRUYỆN NGẮN TIÊU BIỂU CỦA SOMERSET MAUGHAM Chuyên ngành: Lý Luận Ngôn Ngữ Mã số: 62220101 TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN TP. HỒ CHÍ MINH - 2015 Công trình được hoàn thành tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh) Người hướng dẫn khoa học: 1. TS. Nguyễn Hoàng Tuấn 2. PGS. TS. Đinh Điền Phản biện 1: Phản biện 2: Phản biện 3: Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp cơ sở đào tạo họp tại ………………………………………………… …………………………………………………………………. Vào hồi ………giờ…………ngày……tháng……..năm………. Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện: 1 MỞ ĐẦU 0.1. Lí do chọn đề tài Trong những thập niên gần đây, chiến lược hội thoại (conversation strategies) không chỉ được tiếp cận từ góc độ một hiện tượng giao tiếp thuần túy mà còn được nghiên cứu như một thành tố của diễn ngôn văn học, giúp soi sáng nhiều đặc điểm của tác phẩm văn học và phong cách của nhà văn. Hướng nghiên cứu này mở ra những triển vọng mới để giải mã văn bản văn học một cách khoa học hơn. Đặc biệt, trong bối cảnh ở Việt Nam, khi tình trạng biệt lập giữa ngôn ngữ học và văn học còn tiếp diễn thì việc ứng dụng phạm trù chiến lược hội thoại vào nghiên cứu văn bản văn học càng có ý nghĩa. Điều đó gợi ý chúng tôi lựa chọn hướng nghiên cứu chiến lược hội thoại trong sáng tác của Somerset Maugham (1874 – 1965) do ông được đánh giá là một trong những người viết truyện ngắn bậc thầy với lối hành văn dung dị, đã đưa nghệ thuật kể chuyện đến một sự mẫu mực khó ai sánh bằng. Các sáng tác của ông mang nhiều nét đặc sắc xét về phương diện chiến lược hội thoại. Các hội thoại trong các truyện ngắn của ông mang nhiều kịch tính, là ngữ liệu thích hợp cho việc nghiên cứu chiến lược hội thoại trong các tác phẩm văn học. 0.2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 0.2.1. Mục đích nghiên cứu Mục đích của luận án là áp dụng lí thuyết về hội thoại để làm rõ chiến lược hội thoại được Somerset Maugham sử dụng trong truyện ngắn của ông, đồng thời ứng dụng kết quả nghiên cứu vào lĩnh vực giảng dạy tiếng Anh và văn học Anh cũng như lĩnh vực nghiên cứu lí thuyết và thực hành dịch thuật từ tiếng Anh sang tiếng Việt. 0.2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu – Diễn giải các khái niệm thuộc lĩnh vực ngữ dụng học và phân tích hội thoại được dùng làm công cụ để xác lập và phân tích các chiến lược hội thoại trong truyện ngắn của Somerset Maugham. 2 – Xác lập và phân tích các chiến lược hội thoại trong truyện ngắn của Somerset Maugham dựa trên sự vận dụng các nguyên tắc hội thoại trong ngữ dụng học và phân tích hội thoại. Việc phân tích tập trung vào tác dụng, hiệu quả của các chiến lược hội thoại đối với cấu trúc, nội dung của hội thoại cũng như các mối quan hệ liên nhân giữa các nhân vật nhằm giúp người đọc thấy được các chiến lược hội thoại này có những đóng góp như thế nào đến diễn tiến của truyện kể, đến việc khắc họa tính cách nhân vật và không khí của câu chuyện được kể. – Làm rõ một số nét đặc trưng trong các chiến lược hội thoại trong truyện ngắn của Somerset Maugham bằng cách so sánh các chiến lược hội thoại trong truyện ngắn của ông với một số nhà văn khác. Do những hạn chế về ngữ liệu và cũng không phải là nhiệm vụ nghiên cứu trọng tâm của luận án, việc so sánh này chỉ ở mức độ hạn chế. 0.3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 0.3.1. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của luận án là chiến lược hội thoại trong những truyện ngắn tiêu biểu của Somerset Maugham. 0.3.2. Phạm vi nghiên cứu Luận án này chỉ tập trung khảo sát quá trình chọn lựa, sử dụng các phương tiện ngôn ngữ phù hợp với các mục tiêu giao tiếp trong những tình huống nhất định và những yếu tố thể hiện nổi trội nhất chiến lược hội thoại trong các tác phẩm tiêu biểu của Somerset Maugham. 0.4. Phƣơng pháp nghiên cứu và nguồn ngữ liệu 0.4.1. Phương pháp nghiên cứu 0.4.1.1. Phương pháp miêu tả Phương pháp này được áp dụng để miêu tả các cuộc hội thoại nhằm làm nổi bật vai trò của các phương tiện ngôn ngữ trong việc kiến tạo nên các chiến lược hội thoại. Nó cũng giúp làm sáng tỏ một số phương diện ngữ dụng có liên quan đến 3 những phương tiện này như hành động ngôn từ, lượt lời, phương châm hội thoại, phạm trù thể diện và lịch sự. Đôi khi để làm rõ những nét đặc trưng của chiến lược hội thoại trong truyện ngắn của Somerset Maugham, luận án cũng so sánh với một số nhà văn khác. Tuy nhiên, so sánh không phải là trọng tâm của công trình này. 0.4.1.2. Phương pháp phân tích hội thoại Luận án sử dụng phương pháp phân tích hội thoại như một phần quan trọng trong khung lí thuyết của công trình nhằm tập trung vào sự tương tác có tính xã hội của giao tiếp ngôn ngữ trong đời sống hàng ngày. Do hội thoại văn học cũng chịu sự chi phối của cơ chế lượt lời, nguyên tắc cộng tác, lịch sự và thể diện, nên các công cụ phân tích như lượt lời và các biến liên quan đến lượt lời, các khái niệm như cộng tác, lịch sự và thể diện…được coi là những vấn đề mấu chốt của luận án. 0.4.1.3. Thống kê Luận án này về căn bản là một công trình nghiên cứu định tính nên thống kê chỉ được xem là thủ pháp để làm rõ một số đặc điểm có thể lượng hóa được của chiến lược hội thoại trong tác phẩm của Somerset Maugham. 0.4.2. Nguồn ngữ liệu Nguồn ngữ liệu nghiên cứu dựa vào những tác phẩm tiêu biểu của Somerset Maugham được tuyển chọn bởi các nhà xuất bản có uy tín. Các ngữ liệu được lựa chọn phải phản ánh rõ nét các mục tiêu giao tiếp và cách thức đạt đến những mục tiêu đó của các nhân vật, đồng thời thể hiện những nét đặc trưng trong phong cách ngôn ngữ của Somerset Maugham. 0.5. Dự kiến những đóng góp của luận án 0.5.1. Về phương diện lí thuyết Thông qua việc nghiên cứu về chiến lược hội thoại trong văn học, luận án sẽ góp phần vào việc tìm hiểu cơ chế vận hành của ngôn ngữ trong hành chức. Ở đây, hội thoại được đặt trong một kiểu diễn ngôn đặc thù là diễn ngôn văn học. Vì vậy, luận án cũng sẽ có những đóng góp nhất định vào việc nghiên 4 cứu ngôn ngữ văn học và phong cách của nhà văn. Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ giúp mở rộng và làm sâu sắc hơn hướng tiếp cận liên ngành trong việc nghiên cứu văn học. 0.5.2. Về phương diện thực tiễn Việc tiếp cận chiến lược hội thoại trong văn học theo quan điểm ngôn ngữ học sẽ giúp nâng cao chất giảng dạy và phê bình nghiên cứu văn học, giúp cho việc phân tích các tác phẩm văn học có cơ sở khoa học hơn, đồng thời còn có ý nghĩa tích cực trong thực tiễn giảng dạy và giao lưu văn hóa, ngôn ngữ giữa Việt Nam với các nước. 0.6. Cấu trúc luận án Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận án gồm có ba chương chính: Chương 1 trình bày tổng quan tình hình nghiên cứu và xác lập khung lí thuyết cho luận án thông qua việc diễn giải, phân tích các khái niệm hữu quan; Chương 2 phân tích các chiến lược tác động trực tiếp đến cấu trúc hội thoại; Chương 3 tập trung phân tích chiến lược chi phối nội dung hội thoại và mối quan hệ liên nhân giữa các nhân vật. CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ THUYẾT Chương này trình bày tổng quan tình hình nghiên cứu và lần lượt tìm hiểu những khái niệm liên quan đến đề tài. 1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Từ những năm 1970 trở lại đây, nghiên cứu về hội thoại trong văn học rất được quan tâm. Nhờ những thành tựu ngữ dụng học và phân tích hội thoại, các nhà nghiên cứu đã vượt qua khỏi giới hạn của những phát ngôn riêng lẻ để khảo sát hội thoại trong văn học như một hệ thống qua đó mối quan hệ xã hội của nhân vật được xác lập trong quá trình tương tác năng động. Theo hướng này, các nhà nghiên cứu chú trọng xem xét quá trình vận động hội thoại, đặc biệt là trong kịch bản sân 5 khấu, chẳng hạn như luân phiên lượt lời, những chỗ nói trùng lắp, cách tổ chức hội thoại theo các biến trong hệ thống luân phiên lượt lời, những trường hợp vi phạm phương châm hội thoại để tạo ra hàm ngôn, những trường hợp lệch chuẩn trong hành vi hội thoại thể hiện qua vi phạm các nguyên tắc cộng tác và lịch sự, các vấn đề về địa vị xã hội và các mối quan hệ quyền lực… thông qua các khái niệm như kiểm soát đề tài (topic control), điều hành lượt lời (turn management), hành động ngôn từ (speech act), nguyên tắc cộng tác (cooperative principle), nguyên tắc lịch sự (politeness principle) để tìm hiểu những vấn đề về địa vị xã hội và các mối quan hệ quyền lực. Đặc biệt, hướng nghiên cứu hội thoại văn học nhìn từ cấp độ tác giả – độc giả cũng được đề xướng từ những năm cuối thập niên 1970. Các lí giải ở cấp độ nhân vật – nhân vật cũng được đặt trong khuôn khổ tương tác giữa tác giả – độc giả. Gần đây, tuy các nhà nghiên cứu bắt đầu hướng đến khoa học tri nhận để tiếp cận văn học, nhưng đường hướng ngữ dụng học vẫn là công cụ hữu ích cho việc lí giải các vấn đề như hàm ngôn, chỉ xuất và lịch sự và từ đó đi sâu nghiên cứu cách thức mà ngôn bản văn học tác động đến đời thực. Ở Việt Nam, hướng nghiên cứu chiến lược hội thoại trong tác phẩm văn học chưa được quan tâm đúng mức. Tuy vậy đã có một số chuyên luận đề cập đến những vấn đề chung của phân tích hội thoại, phân tích diễn ngôn, phân tích cấu trúc của truyện kể, cùng với một số giáo trình ngữ dụng học. Những công trình này đóng vai trò quan trọng trong việc thu hút sự quan tâm của giới ngôn ngữ học ở Việt Nam nghiên cứu về hội thoại nói chung và hội thoại trong văn học nói riêng. Những nghiên cứu cụ thể về hội thoại trong tác phẩm văn học từ góc độ của ngôn ngữ học chủ yếu là các luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ. Những công trình này tập trung khảo sát một loại hành động ngôn từ trong tác phẩm văn học nhằm tìm hiểu đặc điểm ngôn ngữ và văn hóa ứng xử, hoặc nhằm xác định cấu trúc, ngữ nghĩa của biểu thức ngôn hành thể hiện hành 6 động ngôn từ đó. Việc nghiên cứu vấn đề chiến lược hội thoại chỉ mới dừng lại ở chiến lược thực hiện một loại hành động ngôn từ nào đó. Đặc biệt, gần đây, luận án tiến sĩ của Vũ Văn Lăng (2013) đã tập trung phân tích một số tác phẩm của Nam Cao dưới ánh sáng của phân tích diễn ngôn và ngữ dụng học. Do nghiên cứu từ nhiều bình diện của phân tích diễn ngôn và ngữ dụng học nên tác giả chưa có điều kiện khảo sát kĩ chiến lược hội thoại trong tác phẩm văn học. Nguyễn Thị Thái (2015) trong luận án Tiến sĩ Ngữ văn với đề tài “Đặc điểm ngôn ngữ nhân vật trong tiểu thuyết Chu Lai” cũng đã vận dụng lí thuyết hội thoại để tìm hiểu đặc điểm ngôn ngữ nhân vật trong tiểu thuyết Chu Lai qua từ xưng hô, từ thông tục, quán ngữ và thành ngữ. Các nghiên cứu được điểm qua trong phần này cho thấy đề tài luận án của chúng tôi là một vấn đề còn bỏ ngỏ. 1.2. Cơ sở lí thuyết 1.2.1. Chiến lƣợc hội thoại “Chiến lược hội thoại” (conversation strategies) là khái niệm cơ sở của đề tài. Trong lí thuyết dạy tiếng, thuật ngữ này được dùng để chỉ những phương tiện, biện pháp mà những người tham gia giao tiếp sử dụng để xử lí các điểm trục trặc (trouble spots) trong giao tiếp nhằm giữ cho cuộc thoại đi theo hướng mong muốn. Để có cơ sở lí thuyết thích hợp cho luận án này, quan niệm này về chiến lược hội thoại cần được bổ sung theo cách hiểu của Rodney Jones (2012). Jones cho rằng chiến lược hội thoại là những phương cách tạo lập hình ảnh bản thân trong mắt những người chung quanh cũng như tạo lập, duy trì các mối quan hệ xã hội qua quá trình thương lượng với đối ngôn về những gì ta đang làm và về hình ảnh ta lúc giao tiếp. Nhìn từ góc độ khoa học tri nhận, chiến lược hội thoại gắn với khái niệm thông tin tiền giả định về ý định, mục đích, ước muốn, sở thích, ý kiến, thái độ, ý thức hệ, tình cảm, cá tính của người nói. Cách hiểu này cho phép ta mở rộng sang mô hình đối thoại giữa tác giả và độc giả vì nó giúp ta thấy rằng 7 trong cách kể chuyện hay trong việc chọn hình thức tự sự, có sự tính toán các bước đi và có cả những điều chỉnh dựa trên những tiên liệu của nhà văn trước thái độ tiếp nhận của độc giả. Tác giả là người khởi xướng và duy trì chiến lược hội thoại dựa vào khả năng nắm bắt tâm lí, nhu cầu thẩm mỹ của đối tượng độc giả của mình. 1.2.2. Hội thoại trong đời sống và hội thoại trong văn học Nói chung, hội thoại trong văn học cũng có những đặc điểm như hội thoại trong đời sống, song nó là sự tinh tuyển từ nguồn chất liệu hội thoại trong đời sống, mang dấu ấn hư cấu theo ý đồ nghệ thuật của nhà văn. Những yếu tố thuộc về cấu trúc tự sự như điểm nhìn, ngôi kể, nhân vật trung tâm do chính tác giả lựa chọn sẽ có tác dụng điều khiển hệ thống lượt lời trong truyện kể. Nhà văn cũng thường tạo ra bất ngờ từ cấu trúc có thứ tự lớp lang của hội thoại. Những chỗ có thể tạo ra bất ngờ ấy thường rơi vào những điểm kết nối, chuyển tiếp giữa các lượt lời. Đó có thể là những khoảng lặng, những lượt lời bị cố tình bỏ qua hay cần phải hiệu chỉnh. Đó cũng có thể là những bất ngờ từ chỗ liên kết giữa các cặp kế cận hay chính từ những chọn lựa trong đơn vị kiến tạo nên lượt lời. Những chọn lựa đó có thể ở cấp độ từ, ngữ đoạn, câu, cấu trúc ngữ pháp… giúp tạo nên những trục trặc ở lời trao hay lời đáp. Tất cả những bất ngờ đó tạo ra sự biến động trong vận động hội thoại buộc người đọc phải chú ý đến cấu trúc hội thoại và những mong đợi về chuỗi cấu thành hệ thống lượt lời hiện diện trong văn bản. Trong tương quan với toàn bộ văn bản nghệ thuật, hội thoại trong văn học còn có chức năng đặc thù là làm nổi bật nhân vật và các mối quan hệ giữa họ, qua đó giúp độc giả hiểu về xã hội với những ứng xử, mối quan tâm trong xã hội đó. 1.2.3. Ngữ cảnh Ngữ cảnh trong tương tác xã hội không phải là một khái niệm tĩnh tại, mà là một hình thức năng động gắn với thế giới tri nhận, phản ánh quá trình chuyển biến tâm lí ở người tham gia hội thoại qua đó ta thấy được những đổi thay trong niềm tin, ý 8 định của họ khi tương tác. Sell (2000) cho rằng giao tiếp là quá trình qua đó các khác biệt về ngữ cảnh được thương lượng giải quyết, do đó không thể có ngữ cảnh giống nhau cho tất cả mọi người tham gia hội thoại. 1.2.4. Hành động ngôn từ Theo Austin (1962), khi nói một điều gì đó có nghĩa là thực hiện một hành động, gọi là “hành động ngôn từ” hay “hành động nói” (speech act). Austin phân chia hành động ngôn từ thành ba loại: hành động tạo lời (locutionary act), tức là phát ngôn như nó đã được tạo ra; hành động ở lời (illocutionary act), tức là những hành động người nói thực hiện ngay khi nói năng; và hành động mượn lời (perlocutionary act), tức là mượn các phát ngôn để gây một hiệu quả nào đó ngoài ngôn ngữ. Hành động mượn lời tạo ra hiệu quả về mặt tâm lí đối với người nghe, nó tác động đến suy nghĩ, tình cảm, hành động của người nghe hoặc đối với chính bản thân người nói, và điều này có thể tạo ra vì cố tình, có tính toán trước với mục tiêu nào đó. Nhận xét này của Austin (1962) rất hữu ích cho nghiên cứu chiến lược hội thoại trong văn học, đặc biệt là ở cấp độ tác giả – độc giả. Ở cấp độ này, tác giả cần nắm bắt tâm lí người đọc để chọn lựa hành động ngôn từ nào, với đích đến và cường lực nào cho phù hợp để tạo sức hấp dẫn cho truyện kể. Về phía người đọc cũng cần nhận dạng loại hành động ngôn từ nào được nhân vật sử dụng và những yếu tố nào cấu thành nên lực ở lời của hành động ngôn từ đó để biết được ý định của nhân vật, và qua đó ý định của tác giả. 1.2.5. Các nguyên tắc hội thoại 1.2.5.1. Nguyên tắc về lượt lời Nguyên tắc về lượt lời liên quan đến tổ chức hội thoại. Đó là tổ chức các chuỗi lượt lời (sequences), luân phiên lượt lời (turn taking), và hiệu chỉnh (repair). Đây là những hệ thống hoạt động được tổ chức một cách tự nhiên nhờ sự nối kết giữa những cặp kế cận (adjacency pairs). Thuộc tính của cặp kế cận là ràng buộc nhau, qui định lẫn nhau theo cơ chế tự động hóa, 9 cái này “gọi” cái kia. Thuộc tính này đảm bảo cho tương tác xã hội diễn ra theo trình tự nhất định nhờ điều được người này nói về cơ bản sẽ qui định điều mà người kế tiếp sẽ nói. Trong quá trình diễn tiến hội thoại chắc chắn sẽ có những “trục trặc” (troubles) nảy sinh trong khi nói năng, nghe hiểu. Đây là chỗ mà các nhà văn thường khai thác để tạo ra những bất ngờ trong dòng hội thoại. Một điều đáng chú ý khác là tính hệ thống của văn bản mà từ đó lượt lời xuất hiện. Tính hệ thống này thể hiện qua phương thức tổ chức các cuộc thoại có nội dung hoàn chỉnh xoay quanh một chủ đề nhất định. Ở đây, có thể xem cấu trúc tổng thể của hệ thống hội thoại trong văn bản văn học như một tập hợp nhiều ô trống được sắp xếp theo trình tự nhất định. Lần lượt các cuộc thoại sẽ được điền vào ô thích hợp theo cái cách giống như trong hệ thống điều hành cục bộ ở luân phiên lượt lời, nghĩa là cuộc thoại này sẽ “gọi” cuộc thoại kia, và chúng đan kết vào nhau, soi rọi cho nhau trong chuỗi mắc xích hợp lí. Trên cơ sở này, luận án sẽ khảo sát các cuộc thoại và cách chúng đan kết lại để từ đó hiểu được quá trình tương tác diễn ra trong truyện kể và nhận dạng được các chiến lược hội thoại mà tác giả sử dụng để tác động đến độc giả. 1.2.5.2. Nguyên tắc cộng tác hội thoại Grice (1975) giả định rằng khi giao tiếp với nhau người ta thường cộng tác để làm cho phát ngôn có thể chấp nhận được. Từ giả định này, Grice đề ra nguyên tắc gọi là nguyên tắc cộng tác (cooperative principle). Theo nguyên tắc này, người tham gia giao tiếp có thể đáp ứng được những mong đợi của đối ngôn về hành vi hội thoại, đó là mong đợi rằng điều nói ra là đúng sự thật, có liên quan đến đề tài đang trao đổi, được diễn đạt rõ ràng, không mơ hồ, và vừa đủ, không nhiều hơn điều cần nói. Tuân thủ nguyên tắc cộng tác và các phương châm hội thoại là việc làm hợp lí (reasonable/rational) vì nó có lợi cho người tuân thủ. Người nói có thể cố tình vi phạm nguyên tắc cộng tác và các phương châm hội thoại (flouting a maxim) để 10 tạo ra hàm ngôn hội thoại (conversational implicature), và đây cũng là trường hợp cần đặc biệt chú ý khi tìm hiểu về chiến lược hội thoại trong văn học vì nhân vật có thể cố tình vi phạm một hay nhiều phương châm hội thoại để đạt mục tiêu nào đó. Ở cấp độ tác giả – độc giả, phương châm hội thoại cũng có thể bị tác giả cố tình vi phạm để tạo nên yếu tố hài hước, mỉa mai trong truyện kể. 1.2.5.3. Nguyên tắc lịch sự Cơ sở của lí thuyết về lịch sự được xây dựng trên khái niệm “thể diện” của Goffman (1967). Theo Goffman, thể diện không nằm trong bản thân một cá nhân nào, mà nó chỉ xuất hiện trong quá trình tương tác xã hội. Điều này đòi hỏi những người tham gia giao tiếp, bên cạnh việc bảo vệ thể diện của mình, còn cần phải chú ý ứng xử sao cho không làm tổn hại đến thể diện của người khác. Brown & Levinson (1987) xem thể diện như là hình ảnh bản thân trong mắt công chúng mà người tham gia giao tiếp muốn duy trì trong sự kiện giao tiếp. Thể diện là điều được chú tâm về phương diện tình cảm, có thể mất đi hay được duy trì, hoặc tôn lên, và phải luôn được lưu ý trong quá trình giao tiếp. Khi giao tiếp, mọi cá nhân đều cần giữ thể diện hoặc tránh không làm phương hại đến thể diện của người khác, và điều này được thực hiện thông qua các chiến lược lịch sự. Eelen (2001) nhận xét rằng cốt lõi của lí thuyết lịch sự của Brown & Levinson nằm ở chỗ họ xem lịch sự là nền tảng của mọi cấu trúc xã hội, là thể hiện của những mối quan hệ xã hội và là phương thức giải quyết các xung đột trong giao tiếp liên nhân. Theo đường hướng hậu hiện đại (post-modern approach), lịch sự được xem xét như một quá trình năng động, thương thảo, ở cấp độ diễn ngôn và không đồng nhất vì còn tùy thuộc vào tình huống giao tiếp hay người nói. Theo đường hướng này thì người ta cần đến một khái niệm bao quát hơn khái niệm “lịch sự” để có thể đánh giá đúng đắn thế nào là hành vi lịch sự vốn bị chi phối bởi nhiều yếu tố văn hóa xã hội trong 11 các cộng đồng khác nhau. Những tiến bộ trong nghiên cứu về lĩnh vực này sẽ giúp cho việc khảo sát chiến lược hội thoại trong tác phẩm văn học thuận lợi hơn vì chúng cung cấp những góc nhìn và công cụ khác nhau để đánh giá một cách toàn diện hiệu quả của chiến lược lịch sự trong giao tiếp. 1.3. Tiểu kết Những khái niệm trình bày trong chương này chính là công cụ để nghiên cứu hội thoại theo hai cách tiếp cận: phân tích hội thoại và ngữ dụng học. Hai cách tiếp cận này không loại trừ nhau mà bổ sung cho nhau và cho ta những “ô cửa” khác nhau để nhìn rõ hơn các hiện tượng hội thoại. Theo đó, luận án sẽ khảo sát các chiến lược hội thoại trong các truyện ngắn tiêu biểu của Somerset Maugham trong hai chương: chương 2 tập trung vào các chiến lược vận dụng nguyên tắc về lượt lời; còn chương 3 tập trung vào các chiến lược vận dụng nguyên tắc cộng tác hội thoại và nguyên tắc lịch sự. Tên gọi cho hai chương này là xuất phát từ góc độ người đọc vận dụng lí thuyết về hội thoại để nhận diện, phân tích các chiến lược hội thoại mà Somerset Maugham đã xây dựng trong truyện ngắn của ông. CHƢƠNG II CÁC CHIẾN LƢỢC HỘI THOẠI VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC VỀ LƢỢT LỜI Chương này khảo sát các chiến lược hội thoại vận dụng nguyên tắc về lượt lời được Somerset Maugham sử dụng trong 50 truyện ngắn tiêu biểu. 2.1. Nhận xét chung về các chiến lƣợc vận dụng nguyên tắc về lƣợt lời Như truyện ngắn của nhiều tác giả khác, truyện của Somerset Maugham là một chỉnh thể có bắt đầu, có diễn tiến, có đột biến và có kết thúc. Hội thoại trong truyện cũng đảm bảo 12 tính hoàn chỉnh đó trong thế liên kết giữa các đơn vị hội thoại. Về mặt hình thức, sự liên kết này được thể hiện qua cách tác giả phân bố lượt lời dành cho nhân vật. Nhân vật nào nói trước, nói sau, bỏ qua lượt lời hay ngập ngừng… tất cả đều chịu sự chi phối bởi cách phân bố lượt lời chung cho cuộc thoại và làm nên cái mà ta gọi là “chiến lược hội thoại”. Chiến lược này được xây dựng trên nguyên tắc tâm lí chủ yếu của chiến lược giao tiếp, đó là “tác động mạnh đến người đọc”. Trong các truyện ngắn của Somerset Maugham, bước đầu, chúng tôi nhận dạng được hai nhóm chiến lược: (1) Tổ chức các cuộc thoại và lượt lời từ điểm nhìn trần thuật; và (2) Tạo ra những biến động trong dòng hội thoại (ở lời trao và ở lời đáp). 2.2. Tổ chức các cuộc thoại và lƣợt lời từ điểm nhìn trần thuật Là nhà văn trung thành với cách kể chuyện truyền thống, Somerset Maugham luôn bảo đảm sao cho mọi truyện đều có bắt đầu và có kết thúc theo một cốt truyện chặt chẽ. Tính chặt chẽ này được phản ảnh qua cách Somerset Maugham tổ chức hội thoại từ điểm nhìn trần thuật để từng bước hé lộ chủ đề tư tưởng của tác phẩm. 2.2.1. Tổ chức các cuộc thoại và lượt lời từ điểm nhìn trung tâm (đối với các truyện theo phương thức trần thuật từ ngôi thứ ba số ít) Ở cấp độ vĩ mô, các chiến lược hội thoại hướng đến việc tổ chức các cuộc thoại thành hệ thống theo diễn tiến cốt truyện và nhất quán với chủ đề chung của truyện kể. Xuất phát điểm của các chiến lược này là dựa vào một điểm nhìn trần thuật để từ đó xác định vai giao tiếp của nhân vật cùng với số lượng cuộc thoại, số lượng lượt lời cũng như loại hành động ngôn từ phù hợp với vai giao tiếp đó. Với cách tổ chức như vậy, Somerset Maugham đảm bảo được tính chặt chẽ, nhất quán trong hệ thống lời thoại, khác với cách Ernest Hemingway tổ chức lời thoại, như nhận xét của Lê Huy Bắc (2014: 334), “thường rõ về chủ thể, về cấu trúc nhưng lại mơ hồ trong logic 13 hội thoại”, mục đích của đối thoại (về cái gì) lại bị xóa mờ để buộc độc giả phải tham gia đồng sáng tạo. Trong khi đó, đối thoại trong truyện ngắn của Somerset Maugham luôn liền mạch, chặt chẽ, rõ ràng, không khuất lấp như tảng băng trôi. 2.2.2. Tổ chức các cuộc thoại và lượt lời theo phương thức trần thuật ngôi thứ nhất với nhân vật xưng “tôi” 2.2.2.1. Tổ chức các cuộc thoại và lượt lời từ điểm nhìn của người được trao quyền kể chuyện Chiến lược này được xây dựng trên nguyên tắc chọn điểm nhìn trần thuật từ nhân vật được giao quyền kể chuyện. Đây không phải là người thuật chuyện (tức tác giả), mà là nhân vật vốn đã quen biết, hay mới gặp gỡ tác giả, đảm nhận phần kể chuyện. Bằng cách phân vai như vậy, Somerset Maugham có thể phân bố lượt lời hợp lí giữa người nghe và người kể chuyện. Nhân vật tôi (hay tác giả) đóng vai trò người lắng nghe, do vậy các lượt lời thường ngắn, dưới hình thức câu hỏi hoặc câu thừa nhận, và nội dung mang tính đánh giá, gợi mở hoặc biểu hiện sự chú ý. Độ dài lượt lời ở đây thể hiện sự dẫn dắt, đưa đẩy giúp quá trình vận động hội thoại diễn ra đúng hướng của một người biết lắng nghe trên tinh thần cộng tác: chỉ đóng góp phần mình vào cuộc thoại theo như yêu cầu ở vào một thời điểm cụ thể. 2.2.2.2. Tổ chức các cuộc thoại và lượt lời theo điểm nhìn của người thuật chuyện là nhân vật tham gia vào câu chuyện do mình kể Người thuật chuyện có thể tham gia vào câu chuyện do mình kể với vai giao tiếp thụ động hay chủ động. Khi ở vai giao tiếp thụ động thì phần lớn số lượng lượt lời dành cho người thuật truyện thường rơi vào các ô trống dành cho hồi đáp và các lượt lời này cũng hạn chế cả về số lượng lẫn độ dài. Với cách chọn nhân vật nào sẽ đóng vai chủ động trong giao tiếp, Somerset Maugham có thể tổ chức lượt lời để làm nổi bật vai chủ động của họ. Ở một số truyện, Somerset Maugham tổ chức cuộc thoại và lượt lời từ điểm nhìn của người thuật chuyện với vai trò trung gian cho hai tuyến nhân vật đối lập. Anh ta đi lại 14 tiếp xúc với các nhân vật, kết nối họ lại với nhau. Do vậy ta có lần lượt những cuộc thoại giữa người thuật chuyện với từng nhân vật. Cách tổ chức cuộc thoại và lượt lời tùy theo vai giao tiếp là để đảm bảo tính hợp lí về mặt cấu trúc truyện kể. Westbrook (2002) nhận thấy lời thoại ở các tác phẩm của Somerset Maugham là phiên bản của lời thoại trong kịch bản sân khấu vì Somerset Maugham đã lăn lộn trong lĩnh vực sân khấu nhiều năm trước khi viết truyện ngắn. Điều này làm nên khác biệt trong phong cách sáng tác của Somerset Maugham với Anton Chekhov và với các nhà văn cùng thời theo hướng cách tân. Khác với lời thoại trong tác phẩm của Anton Chekhov vốn thiên về miêu tả, phân tích tâm lí nhân vật, ít dựa vào cốt truyện, lời thoại trong truyện ngắn của Somerset Maugham gắn liền với cốt truyện, được tổ chức theo trình tự các cuộc thoại nối tiếp nhau trong mối quan hệ thời gian hay nhân quả phản ánh kết cấu cốt truyện truyền thống theo tuyến tính. Tuy tổ chức hội thoại theo cách truyền thống, nhưng điều đó không có nghĩa là thiếu tính bất ngờ để lôi cuốn độc giả. Điều này có thể lí giải qua các chiến lược tạo biến động trong dòng hội thoại của Somerset Maugham. 2.3. Tạo ra những biến động trong dòng hội thoại Ở cấp độ vi mô, Somerset Maugham sử dụng các chiến lược hội thoại để tạo ra những biến động trong dòng hội thoại. Những biến động này có được không phải do ngẫu nhiên mà dựa vào khả năng có thể phát sinh trục trặc trong cơ chế luân phiên lượt lời. Những trục trặc đó gây ra một sự hụt hẫng trong mong đợi của người tham gia giao tiếp. Để làm cho sự hụt hẫng ấy giàu kịch tính, Somerset Maugham tạo ra sự dồn nén, bức bối trong lòng nhân vật đến mức cần được giải tỏa, đồng thời, ông sử dụng cặp kế cận không được chuộng, im lặng và hiệu chỉnh ở lời đáp để tạo ra một độ vênh cần thiết trong việc đáp ứng mong đợi đó. Độ vênh đó tạo ra những biến động trong dòng hội thoại, làm người đọc phải dừng lại, ngẫm nghĩ để giải 15 mã các dấu hiệu ngôn ngữ xuất hiện một cách bất thường trên văn bản. 2.3.1. Chiến lược tạo ra những biến động ở lời trao Ở lời trao, Somerset Maugham tạo ra sự dồn nén, bức bối trong lòng nhân vật đến mức cần được giải tỏa qua giao tiếp, thông qua những công thức ngữ dụng thường dùng như “Anh có biết X không?”, “Bà có nghe gì về Y chưa?”…. Đây là cách Somerset Maugham để cho nhân vật tự tạo ra lượt lời để có được quyền kể ra những nỗi niềm chất chứa trong lòng. Dường như nhà văn không bận tâm lắm với chuyện tìm tòi cách tân. Ông cứ đơn thuần dùng một từ cốt lõi là “suddenly” (“thình lình, đột nhiên”) mà trong giao tiếp hàng ngày vốn vẫn thường được dùng để chỉ một điều gì đấy bất ngờ, đột biến, hoặc các từ đồng nghĩa trong lời dẫn thoại hoặc trần thuật, và đôi khi dùng động từ chỉ hành động đột ngột đi kèm, để lưu ý độc giả về những bất thường trong luân phiên lượt lời. 2.3.2. Chiến lược hội thoại tạo ra những biến động ở lời đáp 2.3.2.1. Sử dụng cặp kế cận không được chuộng Với chiến lược này, Somerset Maugham buộc độc giả phải dừng lại đặt dấu hỏi vì sao nhân vật không dùng cặp kế cận được chuộng. Và khi tìm kiếm câu trả lời, độc giả buộc phải chú ý đến đường dây liên kết giữa các lượt lời. Đường dây liên kết này luôn chặt chẽ mang tính nhân quả, lượt lời này soi rọi cho lượt lời kia, chúng mang trong đó những dấu hiệu ngôn ngữ giúp lí giải cho những bất ngờ mà chúng tạo ra. Nó không giống như hình thức luân phiên lượt lời của kiểu đối thoại rời rạc như từng mảnh vụn (fragmentary dialogue) ở đó các cặp kế cận dường như hoạt động tách biệt, không quan tâm gì đến môi trường chung quanh chúng, như có thể thấy trong hội thoại của các nhà văn theo hướng cách tân khác. Các cặp kế cận theo cấu trúc không được chuộng dù có tạo bất ngờ nhưng vẫn phản ánh một cấu trúc hội thoại được tổ chức theo kiểu truyền thống, lượt lời này nối lượt lời kia trong một chuỗi móc xích tự động thành một hệ thống nhất quán từ đầu đến cuối. 16 2.3.2.2. Sử dụng sự im lặng Chiến lược này nhằm tạo ra sự bất thường trong kênh phản hồi. Nhân vật có khi im lặng, bỏ qua lượt lời của mình, và sự bỏ qua ấy tạo ra một sự khác biệt mang ý nghĩa chiến lược trong luân phiên lượt lời. Hiệu quả đạt được qua chiến lược này là: (i) tạo ra những gián đoạn trong mạch hội thoại nhằm khắc họa một cách sinh động tâm trạng của nhân vật; (ii) tạo sự căng thẳng, đồng thời thu hút sự chú ý của độc giả về phía nhân vật. Somerset Maugham có cách lưu ý riêng dành cho độc giả như sau: khi nhân vật chưa xuất hiện thì các cuộc thoại trước đó diễn ra rất trơn tru, thông suốt. Nhưng từ khi có nhân vật đó tham gia giao tiếp thì bắt đầu có nhiều trục trặc. Độc giả liên tục nhận được tín hiệu của người thuật chuyện cho biết nhân vật đang sử dụng triệt để chiến lược giữ im lặng qua các cách biểu đạt trong lời thuật như “Once more Millicent said nothing.” (Lại một lần nữa Millicent chẳng nói gì.), “Millicent shrugged her shoulders.” (Millicent nhún vai.)… Đây là những dấu hiệu mà các nhà văn thường dùng để cho biết nhân vật im lặng. Somerset Maugham cũng theo thông lệ đó, nhưng ông đưa những hành động im lặng riêng lẻ vào trong hệ thống lượt lời để chúng đan kết với nhau thành chiến lược hội thoại. 2.3.2.3. Hiệu chỉnh Theo cơ chế hiệu chỉnh thì người đang nói có cơ hội trước tiên để nêu ra và hiệu chỉnh bất cứ trục trặc nào ở lượt lời của mình khi đang nói giữa chừng hoặc ngay khi hoàn tất lượt lời. Nhưng trong văn học thì để tác động mạnh đến tâm lí đối ngôn, người đó có thể bỏ qua cơ hội hiệu chỉnh dành cho mình, hoặc có thể dùng hiệu chỉnh khi muốn làm cho đối ngôn phải chú ý đến điều họ nói. Somerset Maugham dùng hiệu chỉnh để tạo ra những biến đổi trong cấu trúc hội thoại từ đó đạt tới những hiệu quả sau: (i) tạo ra những đoạn đứt khúc ở lời thoại buộc người nghe lẫn độc giả phải dừng lại đặt dấu hỏi về mối quan hệ gia đình, xã hội gia đình của nhân vật được đề cập; (ii) làm cho dòng hội 17 thoại bị thay đổi đột ngột thu hút sự chú ý của độc giả vào tâm trạng của nhân vật đang kể chuyện; (iii) điều khiển dòng hội thoại đi về hướng mục tiêu giao tiếp mà nhân vật cần đạt tới; (iv) làm tăng mức độ căng thẳng, hồi hộp, đồng thời cho thấy tính chất nghiêm trọng của vấn đề liên quan đến nhân vật; (v) tạo tiếng cười. Nhìn chung, việc dùng các chiến lược hội thoại nhiều hay ít không quan trọng bằng việc dùng chúng như thế nào và vào lúc nào. Có chiến lược chỉ được sử dụng có một lần trong truyện kể, nhưng đó là lần quan trọng, không có nó sẽ không thành truyện. Có những chiến lược được sử dụng nhiều lần theo chiều tăng cấp để tác động mạnh đến đối thể giao tiếp và quan trọng hơn là để tác động mạnh đến người đọc. Thời điểm thực hiện chiến lược hội thoại có thể rơi vào những tình huống căng thẳng, kịch tính trong diễn tiến cốt truyện, hoặc có thể rơi vào lượt lời kết của nhân vật (thường là nhân vật chính) khi truyện khép lại để tạo dư âm trong lòng độc giả. Tùy theo mục tiêu giao tiếp mà Somerset Maugham sử dụng chiến lược hội thoại theo một mức độ phù hợp để tạo ra hiệu quả cần thiết. 2.4. Tiểu kết Các chiến lược hội thoại nêu trên đều có những mục tiêu cụ thể, song chúng không đứng tách biệt, riêng lẻ mà phối hợp với nhau để tạo ra một hiệu quả chung về mặt tâm lí, đó là lôi cuốn độc giả vào những tình tiết bất ngờ, thú vị trong quá trình tương tác giữa các nhân vật. CHƢƠNG III CÁC CHIẾN LƢỢC HỘI THOẠI VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC CỘNG TÁC VÀ LỊCH SỰ Chương này nhận diện và phân tích các chiến lược chi phối nội dung hội thoại và mối quan hệ liên nhân giữa các nhân vật trong truyện ngắn của Somerset Maugham. Tổng cộng có sáu chiến lược hội thoại được gọi tên theo tác dụng, hiệu quả của chúng. 18 3.1. Chiến lƣợc thiết lập và duy trì mối quan hệ hài hòa trong giao tiếp liên nhân Chiến lược này đáp ứng được chức năng cơ bản nhất của các nguyên tắc hội thoại, nhất là nguyên tắc lịch sự, đó là thiết lập và duy trì mối quan hệ tốt đẹp trong giao tiếp. Tùy theo những mối quan hệ xã hội khác nhau và mức độ tham gia của các biến độc lập như mục tiêu giao tiếp, thiện cảm, các dạng quyền lực khác nhau trong từng tình huống cụ thể mà nhân vật chọn lựa hành động ngôn từ phù hợp với hành vi lịch sự cần thể hiện. 3.2. Chiến lƣợc tạo hiệu quả trong thuyết phục, thƣơng lƣợng Chiến lược này có mục tiêu, ý đồ giao tiếp rõ nét là nhằm thuyết phục đối ngôn suy nghĩ và hành động theo cách như mình mong muốn. Việc vi phạm phương châm hội thoại hay bỏ qua nguyên tắc lịch sự suy cho cùng chẳng qua là nhằm làm cho đối ngôn dễ dàng chấp nhận thay đổi quan điểm, nhận thức, niềm tin…của mình. 3.3. Chiến lƣợc giải quyết những rào cản, xung đột văn hóa Chiến lược này được sử dụng cho những truyện có tình huống giao tiếp liên văn hóa, và đặc biệt là chùm truyện viết về những người ở phương Tây sang các hòn đảo thuộc địa sinh sống, làm việc. Mặc dù số phận của mỗi người mỗi khác, nhưng trong đời sống giao tiếp, họ cùng chịu những thách thức của một nền văn hóa với những hệ thống giá trị khác biệt. Trước những thách thức đó, dù muốn hay không họ buộc phải chọn lựa và hành động. Điều mà Somerset Maugham quan tâm đó là hiểu và đánh giá đúng những giá trị văn hóa để từ đó có thể chọn lựa chiến lược giao tiếp phù hợp trong môi trường đa văn hóa, đa ngôn ngữ. Hơn thế nữa, khả năng thích nghi cũng như một thái độ rộng mở trước những khác biệt văn hóa cũng là những nhân tố đảm bảo thực hiện thành công chiến lược hội thoại này. 3.4. Chiến lƣợc tạo ra hàm ngôn
- Xem thêm -