Tài liệu Bản sắc văn hóa dân tộc trong sáng tác của cao duy sơn

  • Số trang: 119 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 42 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 27127 tài liệu

Mô tả:

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM LA THÚY VÂN BẢN SẮC VĂN HOÁ DÂN TỘC TRONG SÁNG TÁC CỦA CAO DUY SƠN Chuyên ngành: Văn học Việt Nam Mã số : 60.22.34 LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC : PSG.TS ĐÀO THỦY NGUYÊN Thái Nguyên - 2011 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên i http://www.lrc-tnu.edu.vn LỜI CẢM ƠN Bằng sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc, em xin chân thành cảm ơn PGS.TS Đào Thuỷ Nguyên, người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện luận văn. Em xin chân thành cảm ơn nhà văn Cao Duy Sơn, các thầy cô giáo trong khoa Ngữ Văn, khoa Sau đại học, cán bộ phòng Quản lý khoa học trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên đã tạo điều kiện thuận lợi cho em trong cả quá trình học tập và nghiên cứu tại trường. Xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã quan tâm, giúp đỡ em trong thời gian nghiên cứu và hoàn thành luận văn. Trong quá trình nghiên cứu, luận văn không tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong nhận được sự góp ý của quý thầy cô và bạn bè đồng nghiệp quan tâm đến luận văn này. Thái Nguyên, tháng 8 năm 2011 Tác giả La Thuý Vân Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyênii http://www.lrc-tnu.edu.vn MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU ................................................................................................ ii 1. Lí do chọn đề tài .............................................................................................. 1 2. Lịch sử vấn đề .................................................................................................. 2 3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu. ...................................................................... 6 4. Nhiệm vụ nghiên cứu ...................................................................................... 7 5. Phương pháp nghiên cứu ................................................................................. 7 6. Đóng góp của luận văn .................................................................................... 7 7. Cấu trúc luận văn ............................................................................................. 7 PHẦN NỘI DUNG............................................................................................. 8 Chƣơng 1 ............................................................................................................ 8 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ THUYẾT VỀ BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC. NHÀ VĂN CAO DUY SƠN TRONG DÒNG CHẢY CỦA VĂN HỌC DÂN TỘC THIỂU SỐ VIỆT NAM HIỆN - ĐƢƠNG ĐẠI ..................................... 8 1.1. Một số vấn đề lí thuyết về bản sắc văn hóa dân tộc ..................................... 8 1.1.1. Khái niệm bản sắc văn hóa dân tộc ........................................................... 8 1.1.2. Bản sắc văn hóa dân tộc trong sáng tác văn học ..................................... 11 1.2. Nhà văn Cao Duy Sơn trong nền văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện - đương đại ................................................................................................. 15 1.2.1. Vài nét về văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện – đương đại ...... 15 1.2.1.1. Từ 1945 đến 1975 ................................................................................. 16 1.2.1.2. Từ 1975 đến nay .................................................................................. 19 1.2.2. Nhà văn Cao Duy Sơn ............................................................................. 25 1.2.2.1. Tiểu sử và con người ............................................................................ 25 1.2.2.2. Sự nghiệp sáng tác của Cao Duy Sơn................................................... 28 Chƣơng 2 .......................................................................................................... 32 NHỮNG MẠCH NGUỒN CẢM HỨNG MANG ĐẬM BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC TRONG SÁNG TÁC CỦA CAO DUY SƠN .................... 32 2.1. Cảm hứng về thân phận con người, về tâm hồn và tính cách đồng bào dân tộc thiểu số ......................................................................................................... 32 2.1.1. Con người với số phận bất hạnh .............................................................. 32 2.1.2. Con người dũng cảm, lạc quan, giàu sức sống ........................................ 37 2.1.3. Con người trung thực, thủy chung, giàu lòng vị tha ............................... 40 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyêniii http://www.lrc-tnu.edu.vn 2.2. Cảm hứng về những giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số ............................................................................................................... 48 2.3. Cảm hứng trữ tình về thiên nhiên miền núi ................................................ 57 2.3.1. Thiên nhiên mang đậm dấu ấn miền núi ................................................. 57 2.3.2. Thiên nhiên gắn bó chặt chẽ với cuộc sống của người dân miền núi ..... 63 Chƣơng 3 .......................................................................................................... 68 MỘT SỐ PHƢƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN BẢN SẮC DÂN TỘC TRONG SÁNG TÁC CỦA CAO DUY SƠN .......................................... 68 3.1. Nghệ thuật xây dựng nhân vật .................................................................... 68 3.1.1. Miêu tả ngoại hình ................................................................................... 68 3.1.2. Miêu tả nội tâm ........................................................................................ 71 3.1.3. Xây dựng thế giới nhân vật phân cực thiện - ác ...................................... 76 3.2. Nghệ thuật xây dựng cốt truyện ................................................................. 79 3.3. Nghệ thuật ngôn từ ..................................................................................... 85 3.3.1. Câu văn ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu ......................................................... 85 3.3.2. Sử dụng thành ngữ, tục ngữ giàu sắc thái địa phương ............................ 91 3.3.3. Đưa ngôn ngữ Tày vào tác phẩm văn chương ......................................... 95 3.3.4. Vận dụng lối so sánh, liên tưởng, cách nói ước lượng, giàu hình ảnh .... 99 PHẦN KẾT LUẬN ........................................................................................ 108 TÀI LIỆU THAM KHẢO………………………………………………… . 111 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyêniv http://www.lrc-tnu.edu.vn PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài Bất kỳ quốc gia, dân tộc nào trên thế giới đều tìm mọi cách giữ gìn, bảo vệ bản sắc văn hóa của riêng mình, vì mất bản sắc sẽ không còn là một quốc gia, một dân tộc nữa. Bản sắc văn hóa mỗi dân tộc đã đóng góp chung cho nền văn minh nhân loại, làm cho nó đa dạng, phong phú hơn. Để thực hiện mục tiêu xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, một vấn đề rất quan trọng đặt ra là giữ bản sắc văn hóa dân tộc trong hội nhập quốc tế. Việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong công cuộc phát triển đất nước nói chung và trong sự phát triển văn học nói riêng. So với lịch sử của nền văn học nước nhà thì văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại còn rất trẻ. Gần bảy mươi năm hình thành và phát triển, nó đã thực sự trở thành một bộ phận khăng khít, độc đáo, đặc sắc; đã có sự phát triển phong phú, đa dạng và đóng góp lớn vào diện mạo chung của nền văn học dân tộc. Nhiều tác phẩm văn học dân tộc thiểu số đã giành được những giải thưởng cao và được dư luận xã hội đón nhận nồng nhiệt. Cao Duy Sơn là một trong số những cây bút tiêu biểu của mảng văn học dân tộc thiểu số đương đại. Sáng tác của ông mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc ở cả hai phương diện: nội dung và hình thức nghệ thuật. Có lẽ đó cũng là lí do chính khiến nhà văn giành được nhiều giải thưởng cao và có giá trị: Giải A giải thưởng Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam năm 1993 với tiểu thuyết Người lang thang; Tặng thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam năm 1997 với tập truyện ngắn Những chuyện ở lũng Cô Sầu; Giải B của Hội văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam năm 2002 với tập truyện ngắn Những đám mây hình người. Giải A Giải thưởng Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam năm 2007 với tiểu thuyết Đàn trời; Giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam năm 2008 với tập truyện ngắn Ngôi nhà xưa bên suối. Đặc Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 1 http://www.lrc-tnu.edu.vn biệt là vào năm 2009, ông đã nhận được giải thưởng văn học Đông Nam Á cũng với tập truyện ngắn này. Tuy nhiên cho tới nay sáng tác của Cao Duy Sơn chưa được nghiên cứu nhiều. Đặc biệt là vấn đề bản sắc dân tộc trong sáng tác của Cao Duy Sơn chưa được chú ý tìm hiểu như một vấn đề chuyên sâu, chuyên biệt. Từ những lí do trên, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài: Bản sắc văn hóa dân tộc trong sáng tác của Cao Duy Sơn. 2. Lịch sử vấn đề Mặc dù đã gặt hái được nhiều giải thưởng nhưng tên tuổi của Cao Duy Sơn còn khá mới trên văn đàn. Do vậy, các công trình nghiên cứu về tác phẩm của Cao Duy Sơn chưa nhiều (theo thống kê của chúng tôi có gần 40 công trình lớn nhỏ), chủ yếu là những bài báo, những nhận định của một số tác giả đương thời và các nhà nghiên cứu. Qua khảo sát chúng tôi nhận thấy: Đại đa số các bài báo, bài nghiên cứu...đi sâu vào tìm hiểu, giới thiệu tác giả và tác phẩm (chủ yếu ở thể loại truyện ngắn), trong đó chiếm số lượng bài viết nhiều hơn cả là tập truyện ngắn Ngôi nhà xưa bên suối của Cao Duy Sơn. Vấn đề bản sắc dân tộc trong sáng tác của Cao Duy Sơn cũng đã được đề cập đến nhưng chưa có những nghiên cứu chuyên sâu, các ý kiến chỉ nằm rải rác trong những bài viết, những nhận định. Dựa theo kết quả thống kê và phân loại, chúng tôi nhận thấy vấn đề bản sắc dân tộc trong sáng tác của Cao Duy Sơn được khẳng định ở hai phương diện. Về phương diện nội dung: Chủ tịch Hội Nhà văn Hữu Thỉnh trong bài“Hội nghị BCH đã thống nhất một chương trình quan trọng của đời sống văn học” đã đề cập tới tập truyện ngắn Ngôi nhà xưa bên suối của Cao Duy Sơn. Ông đã đánh giá cao tập truyện này, đặc biệt là về “chất” làm nên bản sắc dân tộc cho tập truyện: “Ngôi nhà xưa bên suối của tác giả Cao Duy Sơn đem đến cho người đọc mảng sống đậm đặc, tươi ròng về những con người miền núi, vừa cổ kính vừa hiện Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 2 http://www.lrc-tnu.edu.vn đại, mộc mạc, chân chất, không để đánh mất mình trong những hoàn cảnh éo le, đau đớn” [60]. Tác giả T.Luyến trong bài Ngôi nhà xưa bên suối - bức tranh sinh động về cuộc sống của con người miền núi cũng đã đề cập tới những nét bản sắc dân tộc ở phương diện nội dung của tập truyện ngắn. Tác giả khẳng định: Đây là “tập truyện viết về cuộc sống của những con người miền núi chân chất, mộc mạc, với những nét văn hóa đặc trưng...Đọc tập truyện ngắn Ngôi nhà xưa bên suối độc giả sẽ có dịp tìm hiểu thêm về những phong tục độc đáo của người dân ở thị trấn Cô Sầu” [22]. Nhà văn Trung Trung Đỉnh đã bày tỏ cảm xúc của mình khi đọc những truyện ngắn đầu tiên của Cao Duy Sơn trong bài Cao Duy Sơn - từ chú cầy hương đến chàng săn gấu rừng già. Điều khiến ông nhớ mãi trong những sáng tác ấy chính là “cái không khí miền núi vừa mơ mơ màng màng lại vừa sâu hun hút bởi vẻ đẹp của thiên nhiên quyến rũ con người ta, lôi kéo con người ta, nâng đỡ con người ta từ chốn thâm nghiêm huyền bí của rừng già, hang thẳm, đến khi trở về với cuộc sống tự nhiên, hồn nhiên của cộng đồng...Văn Cao Duy Sơn giàu hình ảnh, giàu chất say của người say thiên nhiên”[29,486-487]. Theo tác giả: cái không khí miền núi ấy phần nào góp phần thể hiện bản sắc dân tộc trong sáng tác của Cao Duy Sơn. Tác giả Phan Chinh An trong bài Đi tìm vẻ đẹp của hoài niệm cũng đề cập tới tập truyện ngắn Ngôi nhà xưa bên suối. Ông cho rằng với tập truyện ngắn này, Cao Duy Sơn đã “thực hiện một cuộc hành hương tinh thần tìm về những vẻ đẹp xưa của núi Phijia Phủ, của lũng Cô Sầu với ước mơ cháy bỏng “giới thiệu được vùng quê nghèo khó ấy, ghi danh nó trong văn học”. Đến với Ngôi nhà xưa bên suối, người đọc sẽ được “làm quen với những địa danh xa lạ như suối Cun, Páo Lò, Âu Lâm, bản Niểng, Nhòm Nhèm, Háng Vài, Pác Gà, Cổ Lâu...cảm nhận không khí, hương vị miền núi “rất Tày”. Cái không khí, Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 3 http://www.lrc-tnu.edu.vn hương vị rất riêng ấy trước tiên lan tỏa trong nhiều tập tục tôt đẹp”, sau đó là ở “vẻ đẹp tâm hồn và tính cách con người dân tộc Tày”[1]. Nguyễn Minh Trường trong luận văn thạc sĩ Ngữ văn Truyện ngắn về đề tài dân tộc miền núi phía Bắc (qua các tác phẩm của Cao Duy Sơn, Đỗ Bích Thúy và Nguyễn Huy Thiệp) đã đi sâu tìm hiểu hình tượng cuộc sống và con người trong truyện ngắn của Cao Duy Sơn. Tác giả luận văn khẳng định: Với phong cách riêng biệt, truyện ngắn Cao Duy Sơn “đã tạo nên những bức tranh sinh động, phong phú về cuộc sống kì thú nơi thế giới sơn lâm..” [57]. Tác giả Sông Lam trong bài viết Cao Duy Sơn giọng văn nhẹ nhàng mà sắc bén đã đề cập tới sự phong phú của những phong tục tập quán trong toàn bộ sáng tác của Cao Duy Sơn: “Từ các tiểu thuyết...đến các tập truyện ngắn...ngòi bút của Cao Duy Sơn đã phác thảo nên những bức tranh sinh động về cuộc sống ở vùng cao miền cao miền núi phía Bắc. Ở đó có những vỉa tầng văn hóa truyền thống dân tộc dày đặc được hun đúc qua hàng trăm thế hệ. Đó là các tục lệ cưới xin của người Tày, tục lấy tên con để gọi thay tên cúng cơm của người mẹ, tục đi chợ tình ...vào dịp tháng Giêng để những đôi tình nhân xưa được thổ lộ tâm tình, ôn lại kỉ niệm..., tục hát Khai vài xuân...” [19]. Về phương diện nghệ thuật: Trong bài Ban mai có một giọt sương, tác giả Đỗ Đức đã tập trung nói về tập truyện ngắn Ngôi nhà xưa bên suối. Và ngôn ngữ của tác phẩm được chú ý hơn cả. Đỗ Đức nhận xét: “Văn trong tập này của Cao Duy Sơn...không cầu kì, thoáng đọc còn cảm thấy nó quềnh quàng vụng dại. Nhưng truyện nào cũng có những câu khiến người ta giật mình về sự sắc sảo trong quan sát cuộc sống và gọi nó ra bằng chính ngôn ngữ của người vùng mình”. Tác giả đánh giá “những câu văn đó là những hạt ngọc lấp lánh” [8]. Nhà phê bình Lâm Tiến trong bài Cách thể hiện con người, cuộc sống miền núi trong tác phẩm Cao Duy Sơn cũng rất quan tâm tới nghệ thuật sử dụng ngôn từ trong sáng tác của Cao Duy Sơn. Ông cho rằng “Sự linh hoạt Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 4 http://www.lrc-tnu.edu.vn trong cách viết của Cao Duy Sơn...thể hiện ở việc dùng ngôn ngữ văn chương. Ông đã biết Tày hóa tiếng Việt trên cơ sở hiểu sâu sắc và thông thạo cả hai thứ tiếng (Tày và Việt ). Ông viết bằng tiếng Việt nhưng trong đó sắc thái Tày vẫn thể hiện rõ. Trước hết là ở câu nói ngắn, gọn, rõ ràng, dễ hiểu. Điều đó rất gần gũi với cách nói của người Tày, đồng thời cũng thể hiện một khẩu khí, một thái độ sống rõ ràng, dứt khoát của họ. Ông biết điểm vào những trang viết những chi tiết , những câu chữ, những từ đắt nhất, tiêu biểu, gần gũi gắn bó máu thịt với người Tày mà tiếng Việt không biểu hiện được” [50]. Trong cuốn Tuyển tập văn xuôi dân tộc và miền núi thế kỉ XX, Lâm Tiến lại chú ý tới nghệ thuật xây dựng nhân vật của Cao Duy Sơn. Ông cho rằng: Trong sáng tác của nhà văn này, “hình tượng con người lao động miền núi cao lớn, mạnh mẽ, khỏe khoắn” được thể hiện “một cách cụ thể, sinh động, tinh tế như nó vốn có”. Nhân vật của Cao Duy Sơn “thường có đời sống nội tâm phong phú, phức tạp, mạnh mẽ, dữ dội nhưng lại lặng lẽ, kín đáo” [26,12]. Phạm Duy Nghĩa trong Luận án tiến sĩ Ngữ văn Văn xuôi Việt Nam hiện đại về dân tộc và miền núi cũng đề cập tới nghệ thuật xây dựng nhân vật của Cao Duy Sơn. Anh cho rằng, so với nhân vật của Vi Hồng thì các nhân vật của Cao Duy Sơn “phức tạp và đa diện hơn”. Nhiều nhân vật trong sáng tác của ông “đều là những mảnh vụn đời tư với tất cả cái dở dang, bề bộn, phồn tạp của cuộc đời”. “Với những thăng trầm ở mọi thân phận, các nhân vật của Cao Duy Sơn thiên về loại nhân vật số phận hơn là nhân vật tính cách, tuy là nhà văn vẫn có ý thức tạo cho mỗi nhân vật một nét cá tính và ngôn ngữ riêng”[30,115]. Một thế giới nhân vật “phân cực” trong sáng tác của Cao Duy Sơn đã được Đinh Thị Minh Hảo chỉ ra trong Luận văn thạc sĩ Ngữ văn Truyện ngắn Cao Duy Sơn. Tác giả luận văn khẳng định: Đó là “một thế giới “phân cực” thiện - ác đối kháng và một kết thúc có hậu. Trong thế giới ấy các nhân vật chính diện đẹp từ ngoại hình đến tâm hồn. Các nhân vật phản diện lại xấu xa về nhân cách và dị dạng méo mó về ngoại hình” [10]. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 5 http://www.lrc-tnu.edu.vn PGS. TS Đào Thủy Nguyên trong bài Cội nguồn văn hóa dân tộc trong truyện ngắn Cao Duy Sơn đã rất quan tâm đến những dấu hiệu của bản sắc văn hóa dân tộc trong truyện ngắn của Cao Duy Sơn. Đó là giọng văn, là ngôn ngữ, là hình ảnh con người và cuộc sống được phản ánh trong truyện ngắn của Cao Duy Sơn. Về cơ bản bài báo đã bước đầu đề cập tới những vấn đề chúng tôi quan tâm giải quyết trong luận văn này. Như vậy, có thể thấy: Vấn đề bản sắc dân tộc trong sáng tác của Cao Duy Sơn đã được các nhà nghiên cứu quan tâm, song đó mới là những ý kiến lẻ tẻ và mới chỉ dừng lại ở những nhận xét, những bài báo nghiên cứu trong phạm vi một tác phẩm, một thể loại chứ chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu. Do vậy, việc tìm hiểu Bản sắc văn hóa dân tộc trong sáng tác của Cao Duy Sơn một cách toàn diện, hệ thống dựa trên những luận giải, minh chứng cụ thể là một điều cần thiết. 3. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu. - Đối tƣợng nghiên cứu: Vấn đề bản sắc văn hóa dân tộc trong sáng tác của nhà văn Cao Duy Sơn. - Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu toàn bộ các tác phẩm của nhà văn Cao Duy Sơn, gồm 5 tiểu thuyết và 4 tập truyện ngắn. Tiểu thuyết: Người lang thang ( 1992). Cực lạc ( 1995) Hoa mận đỏ ( 1999) Đàn trời ( 2005) Chòm ba nhà ( 2009) Tập truyện ngắn: Những đám mây hình người ( 2002) Những chuyện ở lũng Cô Sầu ( 2003) Ngôi nhà xưa bên suối ( 2008) Người chợ (2010) Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 6 http://www.lrc-tnu.edu.vn 4. Nhiệm vụ nghiên cứu Luận văn chỉ ra và làm rõ những biểu hiện cụ thể của bản sắc văn hóa dân tộc trong sáng tác của Cao Duy Sơn trên cả hai phương diện: nội dung và hình thức nghệ thuật. Từ đó khẳng định phong cách riêng và đóng góp của Cao Duy Sơn cho mảng văn học dân tộc thiểu số nói riêng và nền văn học Việt Nam hiện đại nói chung. 5. Phƣơng pháp nghiên cứu 5.1. Phương pháp thống kê, phân loại 5.2: Phương pháp phân tích 5.3: Phương pháp khái quát, tổng hợp 5.4. Phương pháp so sánh, đối chiếu 6. Đóng góp của luận văn Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện vấn đề bản sắc văn hóa dân tộc trong toàn bộ sáng tác của Cao Duy Sơn. Từ đó chúng tôi hướng tới một sự đánh giá đầy đủ và khách quan hơn về những thành công và hạn chế trong sáng tác của Cao Duy Sơn; Đóng góp của nhà văn trong việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc; Vị trí của nhà văn trong tiến trình phát triển của văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại nói riêng và trong lịch sử văn học Việt Nam hiện - đương đại nói chung. 7. Cấu trúc luận văn Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn gồm ba chương: Chương 1: Một số vấn đề lí thuyết về bản sắc văn hóa dân tộc. Nhà văn Cao Duy Sơn trong dòng chảy của văn học dân tộc thiểu số Việt Nam hiện - đương đại. Chương 2: Những mạch nguồn cảm hứng mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc trong sáng tác của Cao Duy Sơn. Chương 3: Một số phương diện nghệ thuật thể hiện bản sắc dân tộc trong sáng tác của Cao Duy Sơn. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 7 http://www.lrc-tnu.edu.vn PHẦN NỘI DUNG Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ THUYẾT VỀ BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC. NHÀ VĂN CAO DUY SƠN TRONG DÒNG CHẢY CỦA VĂN HỌC DÂN TỘC THIỂU SỐ VIỆT NAM HIỆN - ĐƢƠNG ĐẠI 1.1. Một số vấn đề lí thuyết về bản sắc văn hóa dân tộc 1.1.1. Khái niệm bản sắc văn hóa dân tộc Văn hóa là một khái niệm đã và đang được đề cập đến rất nhiều trong cuộc sống hiện tại. Nó giữ một vị trí quan trọng trong quá trình đi lên của bất cứ quốc gia, dân tộc nào. Do vậy mà UNESCO đã thừa nhận “văn hóa là cội nguồn trực tiếp của phát triển xã hội, có vị trí trung tâm và đóng vai trò điều tiết xã hội” [31]. Đã có hàng trăm bài viết, công trình nghiên cứu luận bàn về khái niệm hay định nghĩa về Văn hoá, nhưng cho đến nay, người ta vẫn chưa đưa ra được một khái niệm chung nhất. Các tác giả cuốn Từ điển Tiếng Việt đã đưa ra năm cách hiểu khác nhau về Văn hóa: 1. Văn hóa là “tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử”. 2. Văn hóa là “những hoạt động của con người nhằm thỏa mãn nhu cầu đời sống tinh thần (nói tổng quát). 3. Văn hóa là “tri thức, kiến thức khoa học (nói khái quát)”. 4. Văn hóa là “trình độ cao trong sinh hoạt xã hội, biểu hiện của văn minh”. 5. Văn hóa là “nền văn hóa của một thời kì lịch sử cổ xưa, được xác định trên cơ sở một tổng thể những di vật tìm thấy được có những đặc điểm giống nhau” [27,1100]. Nhà nghiên cứu văn hóa Phan Ngọc cho rằng: Cần phải có “một định nghĩa thao tác luận về văn hóa”. Vì vậy, ông đã dày công phân tích, nghiên Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 8 http://www.lrc-tnu.edu.vn cứu để đưa ra một khái niệm Văn hóa mang tính tổng quát nhất: “Văn hóa là mối quan hệ giữa thế giới biểu tượng trong óc một số cá nhân hay một tộc người với cái thế giới thực tại ít nhiều đã bị cá nhân này hay tộc người này mô hình hóa theo cái mô hình tồn tại trong biểu tượng. Điều biểu hiện rõ nhất chứng tỏ mối quan hệ này, đó là văn hóa dưới hình thức dễ thấy nhất, biểu hiện thành một kiểu lựa chọn riêng của cá nhân hay tộc người, khác các kiểu lựa chọn của các cá nhân hay tộc người khác [31,19]. Trong cuốn “Cơ sở văn hoá Việt Nam”, GS Viện sĩ Trần Ngọc Thêm đưa ra khái niệm: “Văn hoá là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội ” [52,10]. Có thể thấy hai khái niệm nêu trên có sự tương đồng. Theo đó, Văn hoá được hình thành từ khi con người biết sáng tạo (có nghĩa là văn hoá hình thành cùng với sự hình thành loài người). Văn hoá là tất thảy những sản phẩm vật chất (văn hoá vật thể) và tinh thần (văn hoá phi vật thể) do con người sáng tạo ra trong hành trình lịch sử. Tháng 7 năm 1982, Hội nghị quốc tế về Văn hóa ở Mehico đã thống nhất đưa ra một định nghĩa về Văn hóa như sau: “Trong ý nghĩa rộng nhất, văn hóa là tổng thể những nét riêng biệt về tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội. Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và tín ngưỡng”. Khái niệm này vừa nói đến văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần, vừa nói đến hệ giá trị và đặc biệt là nêu lên “những nét riêng biệt …về văn hoá của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội” [31]. Có thể thấy, Văn hóa là một khái niệm rộng. Và mỗi một quốc gia, dân tộc dù lớn hay nhỏ cũng đều có bản sắc văn hóa của riêng mình. Khái niệm bản sắc văn hóa được nhà nghiên cứu Phan Ngọc khẳng định: “Nói đến bản sắc văn hóa là nói đến cái mặt bất biến của văn hóa trong quá trình phát triển của lịch sử” [31,34]. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 9 http://www.lrc-tnu.edu.vn Việt Nam là một quốc gia nằm ở trung tâm khu vực Đông Nam Á, có diện tích 331.211,6km2 với 54 dân tộc anh em cùng chung sống trên dải đất hình chữ S. Trong nền văn hóa đa dân tộc đó, mỗi dân tộc lại giữ cho mình một bản sắc văn hóa riêng. Vậy bản sắc văn hóa dân tộc là gì? Từ điển tiếng Việt định nghĩa: Bản sắc là “màu sắc, tính chất riêng tạo thành đặc điểm chính” [27,31]. Theo nghĩa tiếng Hán: Bản là cái gốc, cái căn bản, cái lõi, cái hạt nhân của một sự vật; Sắc là thể hiện ra ngoài. Nói bản sắc dân tộc của văn hóa Việt Nam tức là nói những giá trị gốc, căn bản, cốt lõi, những giá trị hạt nhân của văn hóa Việt Nam. Nói những giá trị hạt nhân tức là không phải nói tất cả mọi giá trị, mà chỉ là nói những giá trị tiêu biểu nhất, bản chất nhất, chúng mang tính dân tộc sâu sắc đến nỗi chúng biểu hiện trong mọi lĩnh vực của nền văn hóa Việt Nam: văn học nghệ thuật, sân khấu, hội họa, điêu khắc, kiến trúc, trong sinh hoạt, giao tiếp, ứng xử hằng ngày của người Việt Nam… Cố thủ tướng Phạm Văn Đồng đã khẳng định: “Bản sắc là những nét riêng biệt, độc đáo của một dân tộc thể hiện trong nền văn hóa, nghệ thuật, trong phong tục tập quán, trong đời sống muôn màu của dân tộc” [5]. PGS.TS Trần Thị Việt Trung trong công trình nghiên cứu Bản sắc dân tộc trong thơ các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại cho rằng: “Bản sắc dân tộc là những nét riêng biệt độc đáo của một nền văn hóa, văn học bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa văn hóa, văn minh của dân tộc được vun đắp nên qua lịch sử, tạo thành phong cách dân tộc” [56,33]. Vì nó là cái riêng độc đáo nên nhiều nhà nghiên cứu đã từng gọi nó là “chứng minh thư của riêng một dân tộc”, là “giấy thông hành để mỗi con người bước ra với cộng đồng nhân loại mà không bị trộn lẫn” [60]. Trong Văn kiện hội nghị lần thứ năm của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII, vấn đề bản sắc dân tộc cũng đã được đề cập tới. Nó “bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp nên qua lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên10 http://www.lrc-tnu.edu.vn nước…Bản sắc văn hóa dân tộc còn đậm nét trong các hình thức biểu hiện mang tính dân tộc độc đáo” [56,31]. Theo sự đánh giá của tác giả cuốn sách thì đây là một “quan niệm xác đáng và toàn diện nhất”. Mỗi quốc gia, dân tộc đều có lịch sử hình thành gắn với một nền văn hóa nhất định. Do vậy mà bản sắc văn hóa dân tộc chính là “cái biểu hiện tập trung diện mạo dân tộc, cái để nhận diện một dân tộc” [25,1159]. Vì lẽ đó mà khi nói đến bản sắc văn hóa dân tộc là nói đến “hình thức biểu hiện mang tính dân tộc độc đáo là tiếng nói dân tộc, là tâm lí, nếp tư duy, là phong tục tập quán, là hình thức nghệ thuật truyền thống” [25,1160]. Mỗi một người nghệ sĩ trong quá trình sáng tạo nghệ thuật đều có ý thức chắt lọc bản sắc văn hóa dân tộc để biến nó thành cái riêng, nét riêng trong sáng tác của mình. Nhiều nhà văn dân tộc thiểu số đã rất thành công trong việc tập trung miêu tả những nét bản sắc của dân tộc mình để từ đó độc giả có thể nhận ra diện mạo dân tộc mà họ phản ánh. Có thể nói, việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc là một hành động thiết thực trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước Việt Nam trong thời kì hiện nay. Bởi “chính bản sắc dân tộc đảm bảo cho dân tộc tồn tại, phát triển qua tất cả sự biến động của lịch sử. Nhờ bản sắc dân tộc, chúng ta biểu lộ được một cách toàn vẹn sự hiện diện của mình trong giao lưu với quốc tế. Giữ gìn được bản sắc dân tộc là góp phần chống lại nguy cơ đồng hóa về văn hóa. Targo đã từng nói “Có thể vượt qua thế giới lớn lao của loài người không phải bằng cách tự xóa mình đi mà bằng cách mở rộng bản sắc của mình”. Giá trị của một dân tộc, bắt đầu từ chính bản sắc của nó. Do đó, nghiên cứu bản sắc dân tộc của một dân tộc là góp phần khẳng định sự trường tồn của dân tộc trong giao lưu văn hóa” [56,25]. 1.1.2. Bản sắc văn hóa dân tộc trong sáng tác văn học Văn học nghệ thuật là bộ phận cấu thành và rất quan trọng của văn hoá. Thực tiễn cuộc sống và nền văn hoá dân tộc là mảnh đất màu mỡ làm nảy sinh và nuôi dưỡng văn học nghệ thuật, đến lượt mình văn học nghệ thuật làm phong Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên11 http://www.lrc-tnu.edu.vn phú, sâu đậm thêm bản sắc dân tộc của văn hoá. Vậy bản sắc văn hóa dân tộc trong sáng tác văn học được biểu hiện qua những phương diện nào? Nghiên cứu và đánh giá về vấn đề này, các nhà nghiên cứu đều có chung nhận định: Bản sắc văn hóa dân tộc được biểu hiện ở đề tài, chủ đề và hình thức nghệ thuật của tác phẩm. Bản sắc văn hóa được biểu hiện ở đề tài, chủ đề của tác phẩm văn học. Đề tài và chủ đề là những yếu tố quan trọng để người nghệ sĩ thể hiện chiều sâu tư tưởng của tác phẩm, đồng thời nó cũng góp phần thể hiện cá tính sáng tạo của nhà văn. Hiện thực và con người là những yếu tố cơ bản của đề tài. Đây cũng chính là yếu tố quan trọng bậc nhất trong việc thể hiện bản sắc dân tộc trong tác phẩm văn học. Cho nên có thể nói có bao nhiêu hiện tượng đời sống dân tộc thì có bấy nhiêu đề tài phản ánh về cuộc sống, con người, thiên nhiên, văn hóa…của dân tộc. Thông qua những hiện tượng được phản ánh trong tác phẩm người ta có thể nhận biết được nét riêng của mỗi dân tộc. Thiên nhiên của đất nước Việt Nam có đầy đủ bốn mùa: xuân, hạ, thu, đông và mỗi mùa đều có những nét đẹp riêng. Đây là vẻ đẹp của mùa xuân: “Cỏ non xanh rợn chân trời Cành lê trắng điểm một vài bông hoa” ( Nguyễn Du, Truyện Kiều) Nhưng mùa xuân của đất nước Ba Lan lại hoàn toàn khác: “Em ơi Ba Lan mùa tuyết tan Đường bạch dương sương trắng nắng tràn” ( Tố Hữu, Em ơi...Ba Lan) Sắc xanh của cỏ cây đã trở thành gam màu chủ đạo của mùa xuân ở đất nước Việt Nam. Hình ảnh trăm hoa đua nở cũng khiến cho mùa xuân Việt Nam mang một nét riêng so với nhiều quốc gia trên thế giới. Nét riêng ấy đã tạo nên bản sắc dân tộc Việt Nam. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên12 http://www.lrc-tnu.edu.vn Bên cạnh đề tài thì bản sắc dân tộc còn được thể hiện qua chủ đề. Chủ đề và tư tưởng là hạt nhân cơ bản của nội dung tác phẩm. Nhà văn thông qua chủ đề tư tưởng để phản ánh lí tưởng thầm mĩ, tinh thần, ý chí, khát vọng... của dân tộc mình. Đến với những tác phẩm như Nam quốc sơn hà (Lí Thường Kiệt), Hịch tướng sĩ (Trần Quốc Tuấn), Đại cáo bình Ngô (Nguyễn Trãi)...ta sẽ nhận thấy được những yếu tố mang đậm bản sắc dân tộc Việt Nam. Đó chính là tinh thần yêu nước nồng nàn, là ý chí đấu tranh quật cường cho độc lập dân tộc. Còn khi đến với những tác phẩm như Truyện Kiều của Nguyễn Du, Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn - Đoàn Thị Điểm... người đọc sẽ nhận thấy những giá trị nhân đạo sâu sắc toát lên từ chủ đề tác phẩm. Đó là tiếng nói trân trọng giá trị con người, bênh vực và cảm thông cho những bất hạnh mà họ gặp phải... Có thể nói, thông qua tác phẩm văn chương, nhà văn đã phản ánh được truyền thống dân tộc, tâm hồn và cốt cách dân tộc. Tâm hồn và cốt cách dân tộc còn được biểu hiện qua hoàn cảnh lịch sử cụ thể và tính cách điển hình của nhân vật. Nhân vật văn học có tính điển hình trong những hoàn cảnh lịch sử cụ thể là kết tinh cao độ của bản sắc dân tộc. Hình ảnh của con người yêu nước là điển hình trong văn học Việt Nam nhưng ở mỗi thời kì lại biểu hiện một cách khác nhau. Thế nên hình ảnh người anh hùng dân tộc trong văn học trung đại không hoàn toàn như trong văn học hiện đại và lại càng khác so với văn học đương đại. Tinh thần hy sinh cho dân tộc, Tổ quốc mang tính lịch sử cụ thể bởi bản sắc dân tộc không phải là một phạm trù bất biến. Bản sắc văn hóa dân tộc còn được thể hiện ở hình thức nghệ thuật của tác phẩm. Hình thức nghệ thuật ấy là ngôn ngữ, kết cấu, cốt truyện và hệ thống thể loại. Người nghệ sĩ bao giờ cũng muốn chuyển tải hết điệu hồn của dân tộc mình vào tác phẩm văn chương. Một trong những phương thức giúp chuyển tải tốt nhất chính là ngôn ngữ. Vì thế đã có những nhà văn, nhà thơ dùng tiếng mẹ đẻ để sáng tạo thơ văn. Dường như chỉ có thứ tiếng ấy mới diễn tả được đúng và đủ những tư tưởng, tình cảm, những khát vọng, ước ao...của đồng bào dân Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên13 http://www.lrc-tnu.edu.vn tộc mình. Hơn nữa họ còn đưa vào sáng tác của mình cách diễn đạt, cách nói quen thuộc của người dân tộc. Hệ thống thành ngữ, tục ngữ giàu sắc thái dân tộc cũng được sử dụng như một phương tiện nghệ thuật mang lại hiệu quả cao trong việc thể hiện bản sắc dân tộc. Bản sắc dân tộc thể hiện ở sự vận dụng hệ thống kết cấu và thể loại truyền thống. Lối kết thúc có hậu được bắt nguồn từ văn học dân gian nhưng nó vẫn được kế thừa một cách linh hoạt qua các thời kì văn học. Bởi lối kết cấu đó đã đem lại một niềm tin rằng cái thiện sẽ chiến thắng cái ác, “khổ tận cam lai”. Điều đó đã trở thành chỗ dựa tinh thần cho con người Việt Nam trong những hoàn cảnh lịch sử cụ thể. Thể loại là một yếu tố góp phần thể hiện rất rõ bản sắc dân tộc. Đất nước Trung Hoa nổi tiếng với thể thơ Đường với niêm luật chặt chẽ. Đến với Việt Nam, độc giả sẽ nhận thấy thể thơ lục bát được coi như thể thơ dân tộc. Chính vì thế từ khi ra đời đến nay nó vẫn được vận dụng như một phương thức thể hiện hiệu quả. So với thơ thì lịch sử phát triển của văn xuôi còn rất trẻ, văn xuôi nghệ thuật dân tộc thiểu số còn trẻ hơn nữa. Trong văn xuôi, thể loại truyện ngắn và tiểu thuyết chiếm đại đa số. Hình thức thể loại này bắt nguồn từ hình thức của truyện cổ dân gian. Cho tới nay, truyện ngắn và tiểu thuyết vẫn được sử dụng như những thể loại chính thống của văn xuôi. Một yếu tố đặc sắc góp phần thể hiện bản sắc dân tộc nữa chính là nhân vật. Từ những tác phẩm văn học dân gian cho tới văn học hiện - đương đại, hình ảnh con người bình dị, hiền lành, đảm đang với vẻ đẹp tâm hồn trong sáng, thanh cao và anh dũng trong cuộc sống cũng như trong chiến đấu đã trở thành tâm điểm. Vì thế mà người đọc có thể thấy được hình bóng của một cô Tấm trong chị Dậu (Tắt đèn - Ngô Tất Tố), trong chị Út Tịch (Người mẹ cầm súng - Nguyễn Thi)... Vẻ đẹp con người Việt Nam bình dị mà anh hùng đã trở thành hình ảnh mang tính truyền thống trong văn học. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên14 http://www.lrc-tnu.edu.vn Như vậy, muốn thể hiện được bản sắc văn hóa dân tộc trong văn chương thì trong lao động sáng tạo nghệ thuật, mỗi nhà văn phải thể hiện được “tâm hồn, tính cách dân tộc qua cách cảm, cách nghĩ, cách nói riêng của nhà văn” và “thể hiện một cách đẹp đẽ, sáng tạo những truyền thống văn hóa của dân tộc trong điều kiện lịch sử nhất định” [51,76]. Có thể nói, mỗi một nhà văn, dù dân tộc nào, dù viết về đề tài nào, cũng phải thể hiện được bản lĩnh và cá tính sáng tạo của mình. Nếu thiếu đi những điều này, các nhà văn dân tộc sẽ “dễ dàng để mất đi bản sắc dân tộc trong sáng tác” của mình. Trong Tuyển tập văn xuôi dân tộc và miền núi thế kỉ XX , Lâm Tiến cũng đã đề cao vai trò, trách nhiệm của người cầm bút trong việc đưa bản sắc dân tộc vào sáng tác văn chương. Ông cho rằng: “ Việc thể hiện bản sắc dân tộc trong văn học là sự phấn đấu tự giác của nhà văn. Nó đòi hỏi ý thức trách nhiệm cao và sự tìm tòi, sáng tạo không mệt mỏi của mỗi nhà văn dân tộc. Nó không chỉ đòi hỏi người viết có tâm huyết, có tình cảm sâu nặng với dân tộc mình, có vốn sống phong phú, có một chiều sâu tư tưởng cần thiết, mà còn phải thực sự có tài năng” [26,20). Chính chiều sâu tư tưởng và tài năng của những nhà văn dân tộc thiểu số nặng lòng với dân tộc sẽ đem đến cho người đọc bức tranh đa sắc về cuộc sống và con người vùng cao để từ đó họ tìm tòi, khám phá, phát hiện ra cái Chân – Thiện – Mĩ của đồng bào các dân tộc thiểu số. 1.2. Nhà văn Cao Duy Sơn trong nền văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện - đƣơng đại 1.2.1. Vài nét về văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện – đƣơng đại Trong sự phát triển chung của đất nước, bộ mặt miền núi và cuộc sống của đồng bào các dân tộc thiểu số đã và đang có những bước phát triển vượt bậc về mọi mặt. Và trong đó, hoạt động văn học - nghệ thuật cũng đã góp phần quan trọng để xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Văn học - nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại ra đời cùng với cuộc Cách mạng tháng Tám và cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Từ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên15 http://www.lrc-tnu.edu.vn đó tới nay nó đã có những đóng góp rất đáng kể cho nền văn học nước nhà. Nhà thơ Mai Liễu đã khẳng định: “Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số là một bộ phận không thể tách rời của nền văn học nghệ thuật” nước nhà [16,9]. Nhận định trên là một minh chứng cho vai trò quan trọng của văn học dân tộc thiểu số trong nền văn học nước nhà. Do vậy, khi nghiên cứu về mảng văn học này, chúng ta cần nhìn nhận và đánh giá những thành tựu của nó một cách khách quan và công bằng. Không nên xem nó như một đối tượng được “chiếu cố” bởi “chiếu cố” thì sẽ “không còn là khoa học và sáng tạo nữa” [16,11]. Được coi là một mảng không thể thiếu của nền văn học nước nhà, cho tới thời điểm hiện nay, văn học các dân tộc thiểu số vẫn đồng hành cùng dòng chảy văn học Việt Nam trên tiến trình hiện đại hóa. Hành trình ấy là cả một nỗ lực lớn lao để văn học các dân tộc thiểu số khẳng định được vị trí của mình trong khu vườn muôn vàn hương sắc của nền văn học dân tộc Việt Nam. Chúng tôi khái quát hành trình đó qua các giai đoạn sau: 1.2.1.1. Từ 1945 đến 1975 Trước Cách mạng tháng Tám, văn học các dân tộc thiểu số chưa hình thành. Độc giả chỉ biết về hình ảnh cuộc sống và đồng bào dân tộc qua các trang viết của những nhà văn người Kinh như Vàng và máu (1946) của Thế Lữ, Truyện đường rừng (1940) của Lan Khai. Đây được coi như hai tác phẩm mở đầu cho văn xuôi viết về đề tài dân tộc miền núi. Sau đó là Ai hát giữa rừng khuya (1940) của Tchya, Kòn Trô, Răng Sa Mát (1942) của Lý Văn Sâm, Cô Dó 1943)của Nguyễn Tuân, Ngậm ngải tìm trầm (1943) của Thanh Tịnh…Những tác phẩm viết về đề tài này thu hút được sự chú ý của người đọc bởi cái mới cái lạ, thậm chí là li kì, rùng rợn về thiên nhiên và con người dân tộc miền núi. Những nhà văn có công “góp phần khai phá, mở đường cho văn xuôi dân tộc miền núi hình thành và phát triển” (Lâm Tiến) là Nam Cao, Tô Hoài và Nguyên Ngọc - các nhà văn người Kinh. Năm 1948, với tư cách là một nhà văn Cách mạng, qua Nhật kí ở rừng, Nam Cao đã nhận ra rằng: “Người Mán chẳng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên16 http://www.lrc-tnu.edu.vn
- Xem thêm -