Tài liệu Bai tieu luan to chuc bmhcnn

  • Số trang: 42 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 85 |
  • Lượt tải: 0
maingoc29373

Đã đăng 6 tài liệu

Mô tả:

1. Khái quát chung về đề tài: Chính quyền địa phương của Việt Nam là một bộ phận hợp thành của chính quyền nhà nước thống nhất, bao gồm các cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương do nhân dân địa phương trực tiếp bầu ra và các cơ quan, tổ chức khác được thành lập trên cơ sở các cơ quan quyền lực nhà nước này theo quy định của pháp luật nhằm quản lý các lĩnh vực của đời sống xã hội ở địa phương, trên cơ sở nguyên tắc tập trung dân chủ và kết hợp hài hoà giữa lợi ích nhân dân địa phương với lợi ích chung của cả nước. Theo Điều 1 Sắc lệnh số 63-SL ngày 23/11/1945 - Sắc lệnh đầu tiên về tổ chức chính quyền địa phương của Nhà nước Việt Nam đã ghi: “Để thực hiện chính quyền nhân dân địa phương trong nước Việt Nam, sẽ đặt hai thứ cơ quan: Hội đồng nhân dân và Uỷ ban hành chính”. Trong quy định này, chính quyền địa phương đã được xác định gồm hai loại cơ quan: cơ quan có tính chất hội đồng do nhân dân bầu ra, được gọi là Hội đồng nhân dân và cơ quan chấp hành của hội đồng thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước, được gọi là Uỷ ban hành chính. ở đây, đã có sự phân biệt giữa hoạt động thực hiện quyền lực nhà nước ở địa phương do mọi cơ quan nhà nước thực hiện với hoạt động thực hiện quyền lực nhà nước do các cơ quan nhà nước được nhân dân địa phương lập ra để phục vụ nhu cầu tổ chức đời sống xã hội ở địa phương. Quan niệm về chính quyền địa phương trên đây cho đến nay vẫn là quan niệm được thừa nhận chung. Theo đó, Hội đồng nhân dân và Uỷ ban hành chính (hoặc Uỷ ban nhân dân) là các cơ quan do nhân dân lập ra để thực hiện quản lý các công việc địa phương tạo thành khái niệm chính quyền địa phương. Các cơ quan khác như Toà án, Viện kiểm sát…tuy có thực hiện các công việc của nhà nước trên lãnh thổ địa phương nhưng không do nhân dân địa phương lập ra không được xem là các cơ quan thuộc thuật ngữ “chính quyền địa phương”. Như vậy, chính quyền địa phương là chính quyền do nhân dân địa phương lập ra xuất phát từ nhu cầu quản lý nhà nước ở địa phương, phục vụ nhân dân địa phương. Cơ quan nhà nước nào có được đặc điểm đó thì được xem là cơ quan nhà nước địa phương. Trong tổ chức chính quyền địa phương nước ta, cá biệt mới có trường hợp Toà án cũng được xem là cơ quan thuộc chính quyền địa phương. Theo quy định tại Điều 14 của Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban hành chính được Quốc hội thông qua ngày 27 tháng 10 năm 1962 thì Hội đồng nhân dân còn bầu ra Toà án nhân dân cấp mình. Nhưng luật về tổ chức chính quyền địa phương ban hành sau này quy định đó đã bị bãi bỏ. Chính quyền địa phương cần phải cải cách, nâng cao chất lượng bộ máy, đội ngũ cán bộ, nâng cao thái độ, tính chuyên nghiệp, nhà nước có điều kiện tập trung đầu tư nâng chất lượng sống của người dân. Cải cách chính quyền địa phương phải tập trung vào vấn đề căn bản, đó là mô hình chính quyền địa phương. Nếu chính quyền địa phương chưa thật ổn định thì vấn đề đặt ra là lựa chọn mô hình chính quyền địa phương tập trung (theo hướng tập quyền) hay dân chủ (mà đỉnh cao là chính quyền địa phương tự quản hay tự quản địa phương) hay chọn giải pháp trung gian giữa hai hướng đó. Ngày nay chúng ta tìm hiểu nghiên cứu và làm rõ; Để xây dựng hướng tới mục tiêu cơ cấu lại bộ máy chính quyền ở một đô thị phát triển tương đối đặc trưng như TPHCM - một thành phố đông dân, đô thị hóa nhanh, tính liên kết giữa các khu vực, địa phương trong TP rất cao và toàn diện; từ cơ sở hạ tầng, hạ tầng kỹ thuật; cho đến sự tập trung và quản lý dân cư. Do tính liên kết cao như vậy nên chia nhỏ đơn vị hành chánh thì không khả thi về quản lý đô thị theo quy hoạch cũng như trong quá trình phát triển. Tóm lại, đây là việc hợp lý hóa phân cấp chính quyền. Trong quá trình đổi mới bộ máy nhà nước Việt Nam từ năm 1986 đến nay, tuy không có những kết quả cải cách rõ rệt như chính quyền Trung ương, nhưng chính quyền địa phương đã có những thay đổi quan trọng thể hiện trên nhiều mặt như: - Chức năng của các cấp chính quyền địa phương được đổi mới theo hướng tách quản lý nhà nước khỏi quản lý sản xuất kinh doanh, tách quản lý nhà nước với các hoạt động sự nghiệp, cung ứng dịch vụ công, thực hiện xã hội hoá một số công việc của Nhà nước. Từ đó, chính quyền địa phương thực hiện đúng chức năng quản lý nhà nước liên quan đến công tác quy hoạch, kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm tra… ở địa phương. - Đẩy mạnh việc phân cấp quản lý cho địa phương và giữa các cấp chính quyền địa phương trên các lĩnh vực: Nhiệm vụ quản lý, tổ chức bộ máy, quản lý nhân sự và ngân sách - tài chính. Đáng chú ý, trong giai đoạn 2001- 2010 Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật quy định phân cấp quản lý về: Quy hoạch, kế hoạch và đầu tư phát triển; ngân sách và tài sản nhà nước; đất đai, tài nguyên; quản lý doanh nghiệp nhà nước; hoạt động sự nghiệp, dịch vụ; tổ chức bộ máy, phân loại xếp hạng tổ chức biên chế sự nghiệp và công chức. Với sự phân cấp nhất định của Trung ương cho chính quyền đô thị TP HCM, HĐND sẽ trực tiếp nghe yêu cầu của dân, quyết định nhiều vấn đề quan trọng không phải trình qua nhiều cấp nữa và đủ thẩm quyền giải quyết thì dân được hưởng lợi nhiều hơn. Riêng đội ngũ công chức phường dôi dư sẽ được sắp xếp trở thành công chức quận. Chính vì tầm ảnh hưởng và vị trí quan trọng của việc cải cách chính quyền địa phương nhằm tinh giản và phân định hợp lý chức năng, nhiệm vụ của các thành viên Uỷ ban nhân dân. Cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân cũng được tinh giản mạnh và chuyển đổi theo hướng quản lý đa ngành, đa lĩnh vực. Trước năm 1986, có lúc số lượng cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân các cấp rất lớn, cấp tỉnh có khoảng trên dưới 35 cơ quan, nay còn 17 đến 20 cơ quan, cấp huyện từ trên dưới 20 cơ quan, nay còn 12 đến 13 cơ quan. Thủ tục hành chính trong hoạt động của chính quyền địa phương được đẩy mạnh cải cách theo mô hình cơ chế “một cửa”, “một cửa liên thông”, đã thực hiện được một bước việc phân biệt ở địa phương chính quyền địa nông thôn và chính quyền địa phương đô thị. Cải cách bộ máy nhà nước trong thời kỳ đổi mới đã làm cho chính quyền địa phương có những chuyển biến tích cực, phù hợp với các điều kiện mới, nhưng cuộc cải cách chưa tạo ra được những thay đổi căn bản trong tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương. Cải cách chính quyền địa phương phải lấy dân chủ làm nền tảng để chính quyền địa phương được thành lập, tồn tại và hoạt động phải thực sự do nhân dân địa phương quyết định, cán bộ, công chức thực sự là công bộc của nhân dân chứ không phải là những người cai trị nhân dân. Đó là một cơ sở nền tảng để có được một chính quyền tốt, hoạt động hữu dụng, giảm tối đa các khuyết tật, tiêu cực. Chính quyền địa phương có tổ chức và hoạt động trên các nguyên tắc của Nhà nước văn minh, hiện đại với các tiêu chí như: Trách nhiệm giải trình, minh bạch, pháp quyền Là một sinh viên tham gia khóa học lớp cử nhân Hành chính nhà nước, được giảng viên tận tâm và giàu kinh nghiệm giảng dạy. Tôi đã được truyền đạt nhiều chuyên đề xoay quanh Môn học Tổ chức bộ máy hành chính nhà nước, mặc dù thời gian dành cho chương trình là không nhiều, nhưng những điều đã học đủ tạo thành một bức tranh tổng quát, giúp cho tôi có thể hình dung được về môn học . Xin chân thành biết ơn sự dạy dỗ tân tâm, đầy nhiệt huyết của giảng viên trong thời gian qua, với sự hiểu biết và với kiến thức hạn hẹp, nên sẽ không tránh khỏi còn những thiếu sót nhất định, rất mong được sự nhận xét và hướng dẫn của quý thầy cô.
Học viện Báo chí và Tuyên truyền Khoa Chính tri học ____________________________________________________________________________ LỜI MỞ ĐẦU ˜˜ 1. Khái quát chung về đề tài: Chính quyền địa phương của Việt Nam là một bộ phận hợp thành của chính quyền nhà nước thống nhất, bao gồm các cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương do nhân dân địa phương trực tiếp bầu ra và các cơ quan, tổ chức khác được thành lập trên cơ sở các cơ quan quyền lực nhà nước này theo quy định của pháp luật nhằm quản lý các lĩnh vực của đời sống xã hội ở địa phương, trên cơ sở nguyên tắc tập trung dân chủ và kết hợp hài hoà giữa lợi ích nhân dân địa phương với lợi ích chung của cả nước. Theo Điều 1 Sắc lệnh số 63-SL ngày 23/11/1945 - Sắc lệnh đầu tiên về tổ chức chính quyền địa phương của Nhà nước Việt Nam đã ghi: “Để thực hiện chính quyền nhân dân địa phương trong nước Việt Nam, sẽ đặt hai thứ cơ quan: Hội đồng nhân dân và Uỷ ban hành chính”. Trong quy định này, chính quyền địa phương đã được xác định gồm hai loại cơ quan: cơ quan có tính chất hội đồng do nhân dân bầu ra, được gọi là Hội đồng nhân dân và cơ quan chấp hành của hội đồng thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước, được gọi là Uỷ ban hành chính. ở đây, đã có sự phân biệt giữa hoạt động thực hiện quyền lực nhà nước ở địa phương do mọi cơ quan nhà nước thực hiện với hoạt động thực hiện quyền lực nhà nước do các cơ quan nhà nước được nhân dân địa phương lập ra để phục vụ nhu cầu tổ chức đời sống xã hội ở địa phương. Quan niệm về chính quyền địa phương trên đây cho đến nay vẫn là quan niệm được thừa nhận chung. Theo đó, Hội đồng nhân dân và Uỷ ban hành chính (hoặc Uỷ ban nhân dân) là các cơ quan do nhân dân lập ra để thực hiện quản lý các công việc địa phương tạo thành khái niệm chính quyền địa phương. Các cơ quan khác như Toà án, Viện kiểm sát…tuy có thực hiện các công việc của nhà nước trên lãnh thổ địa phương nhưng không do nhân dân địa phương lập ra không được xem là các cơ quan thuộc thuật ngữ “chính quyền địa phương”. Như vậy, chính quyền địa phương là chính quyền do nhân dân địa phương lập ra xuất phát từ nhu cầu quản lý nhà nước ở địa phương, phục vụ nhân dân địa phương. Cơ quan nhà nước nào có được đặc điểm đó thì được xem là cơ quan nhà nước địa phương. Trong tổ chức chính quyền địa phương nước ta, cá biệt mới có trường hợp Toà án cũng được xem là cơ quan thuộc chính quyền địa phương. Theo quy định tại Điều 14 của Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban hành chính được Quốc hội thông qua ngày 27 tháng 10 năm 1962 thì Hội đồng nhân dân còn bầu ra Toà án nhân dân cấp 1 Đỗ Tiến Đằng. Minh Lớp K31B. TTBDCT Quận 9 Tp. Hồ Chí Học viện Báo chí và Tuyên truyền Khoa Chính tri học ____________________________________________________________________________ mình. Nhưng luật về tổ chức chính quyền địa phương ban hành sau này quy định đó đã bị bãi bỏ. Chính quyền địa phương cần phải cải cách, nâng cao chất lượng bộ máy, đội ngũ cán bộ, nâng cao thái độ, tính chuyên nghiệp, nhà nước có điều kiện tập trung đầu tư nâng chất lượng sống của người dân. Cải cách chính quyền địa phương phải tập trung vào vấn đề căn bản, đó là mô hình chính quyền địa phương. Nếu chính quyền địa phương chưa thật ổn định thì vấn đề đặt ra là lựa chọn mô hình chính quyền địa phương tập trung (theo hướng tập quyền) hay dân chủ (mà đỉnh cao là chính quyền địa phương tự quản hay tự quản địa phương) hay chọn giải pháp trung gian giữa hai hướng đó. Ngày nay chúng ta tìm hiểu nghiên cứu và làm rõ; Để xây dựng hướng tới mục tiêu cơ cấu lại bộ máy chính quyền ở một đô thị phát triển tương đối đặc trưng như TPHCM - một thành phố đông dân, đô thị hóa nhanh, tính liên kết giữa các khu vực, địa phương trong TP rất cao và toàn diện; từ cơ sở hạ tầng, hạ tầng kỹ thuật; cho đến sự tập trung và quản lý dân cư. Do tính liên kết cao như vậy nên chia nhỏ đơn vị hành chánh thì không khả thi về quản lý đô thị theo quy hoạch cũng như trong quá trình phát triển. Tóm lại, đây là việc hợp lý hóa phân cấp chính quyền. Trong quá trình đổi mới bộ máy nhà nước Việt Nam từ năm 1986 đến nay, tuy không có những kết quả cải cách rõ rệt như chính quyền Trung ương, nhưng chính quyền địa phương đã có những thay đổi quan trọng thể hiện trên nhiều mặt như: - Chức năng của các cấp chính quyền địa phương được đổi mới theo hướng tách quản lý nhà nước khỏi quản lý sản xuất kinh doanh, tách quản lý nhà nước với các hoạt động sự nghiệp, cung ứng dịch vụ công, thực hiện xã hội hoá một số công việc của Nhà nước. Từ đó, chính quyền địa phương thực hiện đúng chức năng quản lý nhà nước liên quan đến công tác quy hoạch, kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm tra… ở địa phương. - Đẩy mạnh việc phân cấp quản lý cho địa phương và giữa các cấp chính quyền địa phương trên các lĩnh vực: Nhiệm vụ quản lý, tổ chức bộ máy, quản lý nhân sự và ngân sách - tài chính. Đáng chú ý, trong giai đoạn 2001- 2010 Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật quy định phân cấp quản lý về: Quy hoạch, kế hoạch và đầu tư phát triển; ngân sách và tài sản nhà nước; đất đai, tài nguyên; quản lý doanh nghiệp nhà nước; hoạt động sự nghiệp, dịch vụ; tổ chức bộ máy, phân loại xếp hạng tổ chức biên chế sự nghiệp và công chức. 2 Đỗ Tiến Đằng. Minh Lớp K31B. TTBDCT Quận 9 Tp. Hồ Chí Học viện Báo chí và Tuyên truyền Khoa Chính tri học ____________________________________________________________________________ Với sự phân cấp nhất định của Trung ương cho chính quyền đô thị TP HCM, HĐND sẽ trực tiếp nghe yêu cầu của dân, quyết định nhiều vấn đề quan trọng không phải trình qua nhiều cấp nữa và đủ thẩm quyền giải quyết thì dân được hưởng lợi nhiều hơn. Riêng đội ngũ công chức phường dôi dư sẽ được sắp xếp trở thành công chức quận. Chính vì tầm ảnh hưởng và vị trí quan trọng của việc cải cách chính quyền địa phương nhằm tinh giản và phân định hợp lý chức năng, nhiệm vụ của các thành viên Uỷ ban nhân dân. Cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân cũng được tinh giản mạnh và chuyển đổi theo hướng quản lý đa ngành, đa lĩnh vực. Trước năm 1986, có lúc số lượng cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân các cấp rất lớn, cấp tỉnh có khoảng trên dưới 35 cơ quan, nay còn 17 đến 20 cơ quan, cấp huyện từ trên dưới 20 cơ quan, nay còn 12 đến 13 cơ quan. Thủ tục hành chính trong hoạt động của chính quyền địa phương được đẩy mạnh cải cách theo mô hình cơ chế “một cửa”, “một cửa liên thông”, đã thực hiện được một bước việc phân biệt ở địa phương chính quyền địa nông thôn và chính quyền địa phương đô thị. Cải cách bộ máy nhà nước trong thời kỳ đổi mới đã làm cho chính quyền địa phương có những chuyển biến tích cực, phù hợp với các điều kiện mới, nhưng cuộc cải cách chưa tạo ra được những thay đổi căn bản trong tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương. Cải cách chính quyền địa phương phải lấy dân chủ làm nền tảng để chính quyền địa phương được thành lập, tồn tại và hoạt động phải thực sự do nhân dân địa phương quyết định, cán bộ, công chức thực sự là công bộc của nhân dân chứ không phải là những người cai trị nhân dân. Đó là một cơ sở nền tảng để có được một chính quyền tốt, hoạt động hữu dụng, giảm tối đa các khuyết tật, tiêu cực. Chính quyền địa phương có tổ chức và hoạt động trên các nguyên tắc của Nhà nước văn minh, hiện đại với các tiêu chí như: Trách nhiệm giải trình, minh bạch, pháp quyền Là một sinh viên tham gia khóa học lớp cử nhân Hành chính nhà nước, được giảng viên tận tâm và giàu kinh nghiệm giảng dạy. Tôi đã được truyền đạt nhiều chuyên đề xoay quanh Môn học Tổ chức bộ máy hành chính nhà nước, mặc dù thời gian dành cho chương trình là không nhiều, nhưng những điều đã học đủ tạo thành một bức tranh tổng quát, giúp cho tôi có thể hình dung được về môn học . Xin chân thành biết ơn sự dạy dỗ tân tâm, đầy nhiệt huyết của giảng viên trong thời gian qua, với sự hiểu biết và với kiến thức hạn hẹp, nên sẽ không tránh khỏi còn những thiếu sót nhất định, rất mong được sự nhận xét và hướng dẫn của quý thầy cô. 2 Phạm vi nghiên cứu. 3 Đỗ Tiến Đằng. Minh Lớp K31B. TTBDCT Quận 9 Tp. Hồ Chí Học viện Báo chí và Tuyên truyền Khoa Chính tri học ____________________________________________________________________________ Xuất phát từ những thực tiễn về đường lối chính trị trong các thời kỳ lịch sử Việt Nam xưa và nay. Nó góp phần nhận thức đúng đắn vai trò thực hiện cải cách chính quyền địa phương; Nhu cầu cải cách và các nguyên tắc cơ bản trong cải cách chính quyền địa phương Trong quá trình đổi mới bộ máy nhà nước Việt Nam từ năm 1986 đến nay, tuy không có những kết quả cải cách rõ rệt như chính quyền Trung ương, nhưng chính quyền địa phương đã có những thay đổi quan trọng thể hiện trên nhiều mặt như: - Chức năng của các cấp chính quyền địa phương được đổi mới theo hướng tách quản lý nhà nước khỏi quản lý sản xuất kinh doanh, tách quản lý nhà nước với các hoạt động sự nghiệp, cung ứng dịch vụ công, thực hiện xã hội hoá một số công việc của Nhà nước. Từ đó, chính quyền địa phương thực hiện đúng chức năng quản lý nhà nước liên quan đến công tác quy hoạch, kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm tra… ở địa phương. Đẩy mạnh việc phân cấp quản lý cho địa phương và giữa các cấp chính quyền địa phương trên các lĩnh vực: g chú ý, trong giai đoạn 2001- 2010 Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật quy định phân cấp quản lý về: Quy hoạch, kế hoạch và đầu tư phát triển; ngân sách và tài sản nhà nước; đất đai, tài nguyên; quản lý doanh nghiệp nhà nước; hoạt động sự nghiệp, dịch vụ; tổ chức bộ máy, phân loại xếp hạng tổ chức biên chế sự nghiệp và công chức… - Xác định hợp lý số lượng và tăng cường chất lượng đại biểu Hội đồng nhân dân, thể chế hoá chức năng giám sát của cơ quan này, xác lập cơ cấu thường trực Hội đồng nhân dân ở các cấp…Nhiệm vụ quản lý, tổ chức bộ máy, quản lý nhân sự và ngân sách - tài chính. Đán - Tinh giản và phân định hợp lý chức năng, nhiệm vụ của các thành viên Uỷ ban nhân dân. Cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân cũng được tinh giản mạnh và chuyển đổi theo hướng quản lý đa ngành, đa lĩnh vực. Trước năm 1986, có lúc số lượng cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân các cấp rất lớn, cấp tỉnh có khoảng trên dưới 35 cơ quan, nay còn 17 đến 20 cơ quan, cấp huyện từ trên dưới 20 cơ quan, nay còn 12 đến 13 cơ quan. - Thủ tục hành chính trong hoạt động của chính quyền địa phương được đẩy mạnh cải cách theo mô hình cơ chế “một cửa”, “một cửa liên thông”. - Đã thực hiện được một bước việc phân biệt ở địa phương chính quyền địa nông thôn và chính quyền địa phương đô thị… 4 Đỗ Tiến Đằng. Minh Lớp K31B. TTBDCT Quận 9 Tp. Hồ Chí Học viện Báo chí và Tuyên truyền Khoa Chính tri học ____________________________________________________________________________ - Đánh giá chung về quyền địa phương hiện nay, cải cách bộ máy nhà nước trong thời kỳ đổi mới đã làm cho chính quyền địa phương có những chuyển biến tích cực, phù hợp với các điều kiện mới, nhưng cuộc cải cách chưa tạo ra được những thay đổi căn bản trong tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương. Điều đó được thể hiện trên hai điểm sau: - Cải cách chính quyền địa phương chưa tạo sự thay đổi quan trọng nào về dân chủ. Dân chủ vẫn như ngày xưa, người dân chưa thật sự mặn mà với chính quyền cơ sở, người dân chưa được đóng vai trò chủ nhân thực sự đối với chính quyền địa phương. Thành quả dân chủ trong quan hệ giữa quyền địa phương và người dân chưa rõ ràng. - Trong khuôn khổ của nguyên tắc tập trung dân chủ, phân cấp quản lý được coi trọng và đẩy mạnh. Phân cấp quản lý là vấn đề có tính chất quy luật đối với bất cứ Nhà nước nào trong các điều kiện phát triển kinh tế thị trường, đô thị hoá, phát triển của khoa học và công nghệ mạnh mẽ, hợp tác trong nước và quốc tế cởi mở… Tuy nhiên, tính tự chủ, chủ động sáng tạo, tự chịu trách nhiệm của chính quyền địa phương còn hạn chế. Khác với các chính quyền địa phương tự quản, có chủ quyền theo quy định của luật, chính quyền địa phương nước ta không có đặc tính đó. Về phương diện “tập trung”, khả năng nắm bắt, bao quát, kiểm soát hoạt động của địa phương vẫn luôn là sự thách đố đối với các cơ quan nhà nước trung ương, cấp trên thể hiện qua việc chưa kiểm soát tốt việc các địa phương xây dựng sân golf, cho thuê đất rừng nơi biên giới... Việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ cũng như quy định về sự chỉ đạo của cơ quan hành chính cấp trên đối với cơ quan hành chính nhà nước cấp dưới hiện nay dẫn đến trạng thái có thực là chính quyền địa phương khi hành động, giải quyết các việc ở địa phương luôn trong tình trạng phải xem xét vấn đề không phải dựa trên cơ sở duy nhất là luật mà còn phải cân nhắc mối quan hệ cùng lúc liên quan đến lợi ích trung ương, cấp trên và lợi ích của địa phương; cơ quan hành chính nhà nước phải xem xét mối quan hệ với Chính phủ hay Uỷ ban nhân dân cấp trên và quan hệ với Hội đồng nhân dân cùng cấp. Từ đó, hoạt động của chính quyền địa phương nói chung thiếu sự rõ ràng, mạch lạc và trách nhiệm không rành mạch mà nguyên nhân có thể tạm gọi là sự “phân tâm”. Tất nhiên, chính quyền địa phương hiện nay còn có các vấn đề khác, nhưng từ hai điểm kể trên cho thấy khiếm khuyết của chính quyền địa phương có liên quan đến đến mô hình chính quyền địa phương. Do đó, trong giai đoạn hiện nay vấn đề quan trọng cần phải tập trung thực hiện là cải cách chính quyền địa phương 5 Đỗ Tiến Đằng. Minh Lớp K31B. TTBDCT Quận 9 Tp. Hồ Chí Học viện Báo chí và Tuyên truyền Khoa Chính tri học ____________________________________________________________________________ Nhằm xây dựng xã hội dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh. Phạm vi của đề tài này chỉ nghiên cứu những quan điểm chủ yếu về định hướng xây dựng chính quyền đô thị. 3. Mục đích nghiên cứu Đề tài có mục đích làm rõ việc cải cách chính quyền địa phương chuyển sang chính quyền đô thị ở khu vực Thành phố Hồ Chí Minh, từ đó chứng minh Đề án chính quyền đô thị được TP HCM chuẩn bị từ rất lâu và TP cũng đã nghiên cứu nhiều mô hình, khảo sát ở nhiều nước để rút kinh nghiệm. Đồng thời đưa ra một hệ thống các quan điểm, chính sác khoa học có ý nghĩa phương pháp luận đối với vấn đề xây dựng văn hóa chính trị, con người mới nói riêng và sự nghiệp đổi mới đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội nói chung. Làm rõ nội dung Đề án đề xuất việc hình thành các đô thị vệ tinh, tức là sẽ có “thành phố trong thành phố”; với 4 TP vệ tinh ở 4 cửa ngõ TP với việc gộp lại một số quận. Ví dụ như ở phía đông sẽ có TP hình thành từ quận 2, quận 9 và quận Thủ Đức. Bốn TP này sẽ có HĐND, UBND và được phân cấp quản lý tương đối rõ. Còn với 13 quận nội thành, với diện tích không lớn thì sẽ trở thành ủy ban hành chính thuần túy, không phải là cấp chính quyền hoàn chỉnh nên sẽ không có HĐND. Tuy nhiên, phải nhấn mạnh rằng việc xây dựng chính quyền đô thị không có nghĩa là TP HCM bỏ HĐND mà là cơ cấu lại. Cụ thể, không có cấp phường nên không còn công chức phường mà chỉ có công chức quận, giải quyết toàn bộ các vấn đề của dân từ quận tới phường, giảm biên chế được rất nhiều, giảm mạnh thủ tục hành chính Về tổng thể, CQĐT TP.HCM có thể được tổ chức thành hai cấp chính quyền hoàn chỉnh (có HĐND và ủy ban hành chính), gồm: Cấp TP.HCM và cấp TP vệ tinh (hay TP khu vực) trực thuộc TP. Hồ Chí Minh. Nghiên cứu những thuận lợi của người dân trong việc cải cách chính quyền địa phương thành chính quyền đô thị. Từ đó rút ra ý nghĩa, phương pháp luận từ việc đổi mới nền Hành chính nhà nước trong giai đoạn hiện nay. 4. Tình hình nghiên cứu “Cái gốc của chính quyền đô thị là lá phiếu của người dân”, Tất nhiên, cán bộ- CNVC-LĐ sẽ bị giám sát bởi chính hội đồng này và sẽ được xem xét hiệu quả công việc sau mỗi nhiệm kỳ để người dân có nên tiếp tục bỏ phiếu hoặc thuê nữa không. - Việc trao quyền tự quản cho địa phương là một trong những yếu tố không 6 Đỗ Tiến Đằng. Minh Lớp K31B. TTBDCT Quận 9 Tp. Hồ Chí Học viện Báo chí và Tuyên truyền Khoa Chính tri học ____________________________________________________________________________ thể thiếu nếu muốn xây dựng chính quyền đô thị. Tự quản không chỉ về chính sách mà còn phải được quyền tự quyết định ngân sách. Anh không thể làm gì nếu không có tiền hoặc ngồi đợi người khác cho tiền để thực hiện dự án của mình. Chính quyền trung ương nên buông bớt trách nhiệm đối với những chính quyền đô thị mà chỉ tạo ra những khung luật để các chính quyền này tự vận hành bởi có những vấn đề của địa phương mà chính quyền trung ương không thể nào giải quyết tốt hơn những người tại chỗ. Với vấn đề nộp ngân sách, trên thế giới đã có những ví dụ, các đô thị nhỏ được quyền giữ lại toàn bộ tiền thuế để tái đầu tư cho cộng đồng, với những đô thị lớn họ có thể nộp về cho chính quyền trung ương 60-70% tiền thuế để đóng góp cho ngân sách. Tóm lại, nếu chính quyền trung ương có đủ tự tin khi tạo ra một bộ luật rõ ràng để giao quyền tự quyết cho lãnh đạo địa phương thì không thể xảy ra xung đột. 1/ Vị trí lãnh đạo của nhiều địa phương hiện nay vẫn do chính quyền trung ương bổ nhiệm, đôi khi là người từ nơi khác đến: Việc xây dựng một chính quyền đô thị đồng nghĩa với việc xây dựng một cộng đồng dân cư có bản sắc. Một cộng đồng dân cư có bản sắc buộc phải có dấu ấn của người lãnh đạo. Chúng ta hãy tự hỏi, dấu ấn của người lãnh đạo cộng đồng mình là gì? Có ai biết dấu ấn của người lãnh đạo cộng đồng của mình không? Người dân cần có người đại biểu thật sự của mình và người đại biểu đó phải có quyền hạn rõ ràng, có tự chủ với ngân sách để thực hiện những yêu cầu của cộng đồng dân cư đưa ra. Vì vậy, chỉ có những người đang sống và làm việc tại địa phương, hiểu rõ các vấn đề của cộng đồng thì mới giải quyết hiệu quả những yêu cầu của cộng đồng. Không thể bổ nhiệm một người đến từ nơi khác để đứng đầu một chính quyền đô thị được. Như đã nói ở trên, người dân tự bầu ra lãnh đạo của mình và giám sát thông qua khung luật do chính quyền trung ương ban hành chính là việc tạo ra luật chơi chứ không phải tạo ra một lãnh đạo. Khi đã có luật chơi, người dân lẫn người được bầu cử căn cứ theo đó mà vận hành chính quyền đô thị. Cần có cơ cấu để người dân có thể thay lãnh đạo bằng chính lá phiếu của mình. Sẽ tránh được tình trạng một lãnh đạo được từ trên “ấn” xuống mà không hiểu và không thể giải quyết được những vấn đề của cộng đồng tại chỗ. 2/ ở Việt Nam hoặc ở TPHCM phù hợp với việc tổ chức chính quyền đô thị? - Chúng ta nên thử nghiệm việc tổ chức chính quyền đô thị ở những khu vực có diện tích nhỏ và dân số ít rồi hãy nghĩ đến việc nhân rộng ra ở những nơi rộng lớn hơn. Trên thế giới, những đô thị có tổ chức chính quyền đô thị tốt nhất thường có số dân không đông hơn 2 triệu người. 7 Đỗ Tiến Đằng. Minh Lớp K31B. TTBDCT Quận 9 Tp. Hồ Chí Học viện Báo chí và Tuyên truyền Khoa Chính tri học ____________________________________________________________________________ Tại Việt Nam, chúng ta có thể tổ chức thử nghiệm ở Phú Quốc. Theo tôi, đây là khu vực có lượng dân cư lẫn cơ sở hạ tầng rất phù hợp với việc tổ chức một chính quyền đô thị. Tại TPHCM, khu vực Thủ Thiêm với hạ tầng hoàn toàn mới và mật độ dân cư vừa phải hoàn toàn phù hợp với mô hình. 3/ Sáp nhập và chia tách địa phương Từ thập niên 1960 đến thập niên 1980, ở Việt Nam có xu hướng sáp nhập nhiều địa phương nhỏ thành địa phương lớn. Tuy nhiên, từ thập niên 1990 đến nay lại có xu hướng ngược lại- nghĩa là chia tách các địa phương thành những địa phương nhỏ hơn. Trong nhiều trường hợp, xu thế chia tách này mang hình thức tái lập tỉnh hay tái lập huyện. Các xu thế này xảy ra ở cả ba cấp tỉnh, huyện và xã. Nếu như vào năm 1986, ở Việt Nam có 40 địa phương cấp tỉnh, 522 địa phương cấp huyện và 9901 địa phương cấp xã, thì vào năm 2005 có tới 64 tỉnh/thành, 671 huyện, và 10876 xã. Lý do được công bố chính thức khi tiến hành chia tách địa phương là địa phương lớn khiến công tác quản lý của chính quyền gặp khó khăn, nhiều chính sách của chính quyền trung ương không về được tới chính quyền địa phương cấp cơ sở vì tỉnh và huyện rộng quá. Tuy nhiên, nhiều quan lý do thực tế có thể là tính cục bộ địa phương giữa các địa phương và sự yếu kém về năng lực quản lý của chính quyền tỉnh. 5. Phương pháp và phạm vi nghiên cứu Việc xây dựng đất nước trong thời đại hội nhập quốc tế ngày nay, đòi hỏi đất nước ta phải có nhiều chuyển đổi về nhận thức, cải cách tinh gọn bộ máy chính quyền nhất là đối với các khu vực làm thí điểm xây dựng chính quyền đô thị.Chú trọng việc thí điểm thực hiện 6/ Những điểm khác biệt về chính quyền đô thị với chính quyền địa phương hiện nay. 6.1 / Chính quyền đô thị: Sẽ thuận lợi hơn nhiều. Trước hết là nhờ liên thông từ quận đến phường nên thủ tục hành chính giảm, người dân có nhu cầu liên hệ với các cơ quan chính quyền dễ dàng hơn, không phải qua nhiều khâu như trước. Một số quận chỉ còn công việc quản lý hành chính mà không phải “quản” nhiều việc khác như trước đây nên sẽ giải quyết yêu cầu của người dân nhanh chóng hơn. Đồng thời, nhờ giảm được biên chế hành chính thì sẽ có điều kiện tập trung nâng cao chất lượng bộ máy, đội ngũ cán bộ, nâng cao thái độ, tính chuyên nghiệp trong bộ máy hành chính. Cải cách bộ máy đồng nghĩa với nâng cao năng lực thực thi công vụ để giải quyết công việc cho dân. 8 Đỗ Tiến Đằng. Minh Lớp K31B. TTBDCT Quận 9 Tp. Hồ Chí Học viện Báo chí và Tuyên truyền Khoa Chính tri học ____________________________________________________________________________ Ở cấp thành phố, với sự phân cấp nhất định của trung ương cho chính quyền đô thị, HĐND sẽ có thể tự quyết định nhiều vấn đề quan trọng mà hiện nay vẫn phải chờ bộ ngành hướng dẫn hoặc xin chủ trương của QH... Nhờ vậy, những yêu cầu phát sinh trên địa bàn thuộc thẩm quyền sẽ được giải quyết nhanh hơn, bớt đi nhiều ràng buộc. TP sẽ có điều kiện phát triển nhanh hơn, qua đó đóng góp nguồn lực cho ngân sách trung ương nhiều hơn, phát huy vai trò đầu tàu của mình; bên cạnh đó, TP sẽ lo cho an sinh xã hội của người dân nhiều hơn. Ví dụ, khi TP được tự quyết ngân sách đầu tư để phát triển cơ sở hạ tầng trong một số lĩnh vực nhất định thì sẽ chủ động hơn, tính toán được trọng điểm đầu tư, thời gian đầu tư cho phù hợp. Không có cơ sở để lo ngại TP sẽ chi tiêu tùy tiện, vì việc sử dụng ngân sách phải theo luật định. Tôi tin rằng một khi đề án được thực hiện, cải cách hành chính được thúc đẩy, “con đường thủ tục” ngắn lại, người dân được lợi nhiều hơn. 6.2/ Tổ chức chính quyền địa phương tự quản có mấy ưu thế như sau: 1. Chính quyền địa phương do dân chúng địa phương lập ra và phụ thuộc vào sự lựa chọn của họ. Đó chính là cơ sở cho dân chủ thực sự ở địa phương, không phụ thuộc vào chính quyền. Đồng thời, đây là cách tốt nhất để người dân tham gia đời sống chính trị ở địa phương một cách tự giác mà không cần đến sự vận động, câu thúc tham gia. Cũng từ đó, chính quyền địa phương đương nhiên phải tôn trọng và quan tâm thật sự đến dân chúng một cách thực chất, cụ thể, gắn bó có trách nhiệm. Đó là một sức ép tốt cho mọi chính quyền được gọi là dân chủ. 2. Nâng cao tính tự chủ, sáng tạo, hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương trong hoạt động quản lý. 3. Thực hiện sự phân công lao động hợp lý giữa chính quyền Trung ương và chính quyền địa phương, giữa các cấp chính quyền địa phương. Trong đó, chính quyền Trung ương, chính quyền cấp trên chỉ thực hiện công tác quản lý nhà nước ở tầm vĩ mô mà không bị chi phối vào các công việc sự vụ ở địa phương. 4. Tạo ra chính quyền địa phương đa dạng cả về tổ chức và hoạt động, phù hợp với các điều kiện thực tế của mỗi địa phương. Điều này có được do luật có thể trao cho địa phương khả năng sáng tạo trong việc tổ chức chính quyền địa phương trên cơ sở tư tưởng dân chủ và có hiệu quả. 9 Đỗ Tiến Đằng. Minh Lớp K31B. TTBDCT Quận 9 Tp. Hồ Chí Học viện Báo chí và Tuyên truyền Khoa Chính tri học ____________________________________________________________________________ Để tổ chức chính quyền địa phương theo nguyên tắc tự quản, phải hình thành quan niệm mới về cách thức điều chỉnh pháp luật bảo đảm để mỗi cấp chính quyền địa phương hoạt động trên cơ sở luật theo nguyên tắc của Nhà nước pháp quyền; quan niệm mới về bầu cử, về dân chủ ở địa phương, về phát huy vai trò của báo chí, về kiểm tra, giám sát nhà nước và xã hội, ngăn ngừa cát cứ địa phương… Cho đến nay, dự thảo Chương trình cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020 vẫn xác định mô hình tổ chức chính quyền địa phương như hiện nay, tiếp tục đẩy mạnh phân cấp quản lý giữa trung ương và địa phương và giữa các cấp chính quyền địa phương. Phân cấp, đẩy mạnh phân cấp đồng bộ hiện nay ở Việt Nam chính là xu hướng chuyển từ tập trung sang dân chủ hay là có sự chuyển động về hướng chính quyền địa phương tự quản, nhưng không nhất thiết phân cấp ở mức độ nào để trở thành tự quản. Tiêu chí phân biệt chính quyền được phân cấp quản lý với chính quyền địa phương tự quản ở hai chữ “chủ quyền”. Trong cải cách hành chính, người ta cho rằng phân cấp quản lý là khâu quyết định thành bại của cải cách hành chính. Những lợi ích của việc phân cấp quản lý cho địa phương đưa lại tuy không hoàn toàn như tự quản địa phương, nhưng cũng đưa lại nhiều kết quả tích cực. Trong khi Việt Nam chưa muốn có sự đổi khác mô hình chính quyền địa phương theo hướng tự quản thì đây vẫn là điều tốt nhất cho cải cách hành chính. Thứ ba: Cải cách chính quyền địa phương phải lấy dân chủ làm nền tảng để chính quyền địa phương được thành lập, tồn tại và hoạt động phải thực sự do nhân dân địa phương quyết định, cán bộ, công chức thực sự là công bộc của nhân dân chứ không phải là những người cai trị nhân dân. Đó là một cơ sở nền tảng để có được một chính quyền tốt, hoạt động hữu dụng, giảm tối đa các khuyết tật, tiêu cực. Thứ tư: Chính quyền địa phương có tổ chức và hoạt động trên các nguyên tắc của Nhà nước văn minh, hiện đại với các tiêu chí như: Trách nhiệm giải trình, minh bạch, pháp quyền… Phải làm rõ về chính quyền địa phương! (16/11/2012) Vấn đề thứ nhất, khi đã sửa Hiến pháp với tầm của Hiến pháp, vì tính thiêng liêng của nó thông thường sửa Hiến pháp có 2 yêu cầu. Một là những chế định nếu thay đổi, cần 10 Đỗ Tiến Đằng. Lớp K31B. TTBDCT Quận 9 Tp. Hồ Chí Minh Học viện Báo chí và Tuyên truyền Khoa Chính tri học ____________________________________________________________________________ thay đổi, đã thay đổi là dấu ấn rất lớn để thay đổi một phương án. Hai là lịch sử Hiến pháp thời điểm đó quy định mà bây giờ quá bất hợp lý, nếu không sửa thì cuộc sống không phát triển được, không chế định được, không phải chúng ta muốn sửa thì sửa. Ví dụ chuyển từ Hiến pháp 1959 sang Hiến pháp 1980 chúng ta chuyển một thể chế từ nền dân chủ nhân dân như xây dựng mô hình chủ nghĩa xã hội cả nước theo mô hình cũ. 7/ Nhận xét- đánh giá: Đánh giá chung về quyền địa phương hiện nay, cải cách bộ máy nhà nước trong thời kỳ đổi mới đã làm cho chính quyền địa phương có những chuyển biến tích cực, phù hợp với các điều kiện mới, nhưng cuộc cải cách chưa tạo ra được những thay đổi căn bản trong tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương. Điều đó được thể hiện trên hai điểm sau: - Cải cách chính quyền địa phương chưa tạo sự thay đổi quan trọng nào về dân chủ. Dân chủ vẫn như ngày xưa, người dân chưa thật sự mặn mà với chính quyền cơ sở, người dân chưa được đóng vai trò chủ nhân thực sự đối với chính quyền địa phương. Thành quả dân chủ trong quan hệ giữa quyền địa phương và người dân chưa rõ 8. Câu hỏi nghiên cứu, giả thiết nghiên cứu: a: Câu hỏi nghiên cứu - Vì sao phải cải cách chính quyền địa phương? - Chính quyền đô thị có những mặt tích cực và hạn chế gì? - Chính quyền đô thị có ảnh hửng đến công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay như thế nào? b: Giả thiết nghiên cứu: - Việc cũng cố xây dựng tổ chức bộ máy hành chính nhà nước Việt Nam tinh gọn, nhẹ đòi hỏi cần được đổi mới, cải cách cho phù hợp không ? - Việc cải cách chính quyền đô thị có giúp chúng ta nhận thức rõ về quan điểm và phương pháp trong việc phát triển đất nước trong giai đoạn hiện nay ? - Việc chuyển đổi chính quyền địa phương sang chính quyền đô thị có giá trị kế thừa trong việc phát triển đất nước ? 9. Kết cấu Phần mở đầu, nội dung, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, Tiểu luận gồm III chương. Chương I: Quá trình hình thành, phát triển và những tư tưởng chính trị cơ bản của nho giáo. Chương II: Giá trị của tư tưởng chính trị nho giáo thời phong kiến. 11 Đỗ Tiến Đằng. Minh Lớp K31B. TTBDCT Quận 9 Tp. Hồ Chí Học viện Báo chí và Tuyên truyền Khoa Chính tri học ____________________________________________________________________________ Chương III: Liên hệ với công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay. CHƯƠNG I: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN VÀ NHỮNG TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ CƠ BẢN CỦA NHO GIÁO 1.1. Quá trình hình thành và phát triển của nho giáo 1.1.1. Quá trình hình thành Lịch sử Trung Quốc cổ đại được chia làm 3 giai đoạn ứng với ba vương triều Hạ, Thương, Chu. Triều Hạ: (khoảng thế kỷ XXI-XVI, TCN) 12 Đỗ Tiến Đằng. Minh Lớp K31B. TTBDCT Quận 9 Tp. Hồ Chí Học viện Báo chí và Tuyên truyền Khoa Chính tri học ____________________________________________________________________________ Dù là người đặt nền móng cơ sở cho triều Hạ song Vũ lại chưa xưng Vương, ở thời kỳ này Trung Quốc chỉ biết đồng đỏ chưa có chữ viết. Sau bốn thế kỷ, kết thúc đó là thời vua Kiệt bạo chúa đầu tiên nổi tiếng trong lịch sử Trung Quốc, đã dẫn đến triều Hạ bị tiêu diệt. Triều Thương: (thế kỷ XVI-XII, TCN) còn được gọi là nhà Ân Thang là người đem quân tiêu diệt vua Kiệt, thành lập nhà Thương. Ở Trung Quốc lúc này đã biết quan sát sự vận hành của mặt trăng, biết sử dụng đồng thau, chữ viết, tính chu kỳ của nước sông dâng lên, biết làm lịch nông nghiệp. Trong thời kỳ này giới quý tộc giữ vai trò thống trị, mà các tư tưởng gia đã khẳng định sư thống trị của quý tộc là do trời định, vua là “thiên tử” quản lý quốc gia theo mệnh trời. Triều Chu: (XI-III, TCN) Ở triều nhà Thương bị tiêu diệt dưới thời vua Trụ tàn bạo nổi tiếng. Người tiêu diệt vua Trụ là Chu Văn Vương và từ đó nhà Chu tồn tại hơn tám thế kỷ. Chia làm hai thời kỳ, Đông Chu, Tây Chu nhìn chung xã hội lúc này tương đối ổn định. Năm 771 TCN nhà Chu dời đô về lạc An phía đông nên gọi là Đông Chu. Thời Đông Chu chia làm hai thời kỳ nhỏ là Xuân Thu và Chiến Quốc, cũng là thời chuyển từ chế độ chiếm hữu nô lệ sang thời phong kiến. Đồ sắt được sử dụng phổ biến, thủy lợi phát triển tạo điều kiện nông nghiệp phát triển. Công cuộc khai hoang khẩn hóa được mở rộng đất canh tác, được nhà nước khuyến khích. Các trung tâm buôn bán đô thị được mở rộng, về kinh tế đã phát triển, đời sống nhân dân được quan tâm và đỡ cực khổ hơn. Về xã hội, ngoài những giai cấp cũ thì cũng xuất hiện những tầng lớp mới như địa chủ, thương nhân. Khi nhà Chu thịnh vượng thì đất là thuộc của vua, nhưng thời kỳ Chiến Quốc đất đai phần lớn thuộc địa chủ, có sự phân hóa sang hèn. Đến lúc này đạo đức trật tự xã hội suy thoái. Tình trạng tôi giết vua, con giết cha, vợ giết chồng trở nên phổ biến. Thời đại “lễ hư, nhạc hỏng” nhân dân đói khổ vì chiến tranh, bị áp bức bóc lột nặng nề. Lúc này trong xã hội xuất hiện một tầng lớp trí thức “kẻ sĩ văn học” họ không trị nước mà bàn việc nước từ đó có nhiều trường phái, học thuyết khác nhau hoạt động sôi nổi rầm rộ. Các trường phái này tập trung và tìm cách trả lời cho những câu hỏi “vì đâu mà xã hội đại loạn” tìm nguyên nhân rồi đi đến cách giải quyết những vấn đề này. Gọi phong trào này là ‘Bách gia chư tử’ (bách gia tranh minh, chư tử hưng khởi). Nhìn chung các trường phái chính trị xã hội hay các học thuyết cũng hướng vào cách giải quyết những vấn đề thực tiễn đạo đức chính trị xã hội. Trong đó có học thuyết nho giáo. Nho giáo được ra đời ở thời Xuân Thu do Khổng Tử (551 – 479 TCN) sáng lập. Sau khi ông mất, tư tưởng của ông đã được các thế hệ học trò kế thừa. Đến thế kỷ II TCN, Nho giáo mới được giai cấp phong kiến sử dụng vào việc trị quốc. Ở Trung Quốc, Nho giáo đã tồn tại trong suốt thời phong kiến và là công cụ giúp các triều vua cai trị đất nước. 13 Đỗ Tiến Đằng. Minh Lớp K31B. TTBDCT Quận 9 Tp. Hồ Chí Học viện Báo chí và Tuyên truyền Khoa Chính tri học ____________________________________________________________________________ 1.1.2. Sự phát triển của nho giáo Nho giáo chính là hệ thống học thuyết nó bảo vệ và đảm bảo quyền thống trị của thiên tử nhà Chu. Chính vì vậy mà nó không phù hợp với thực tiễn nổi lên ở thời Xuân Thu - Chiến Quốc. Tần Thuỷ Hoàng đánh bại được tất cả để thành lập đế chế thống nhất. Với thực tế chiến tranh, cuộc sống của nhân dân cực kỳ điêu đứng. Sử sách còn ghi là vào thời đó người ta phải “đổi con cho nhau mà ăn thịt, chẻ xương ra làm củi đun nấu”. Có những chính sách hà khắc như “đốt sách chôn nho” ra sức diệt nho giáo một học thuyết “Đức trị”, có thể nói đạo Khổng Mạnh bị chôn vùi theo các nhà nho vào thời Tần, bị ngọn lửa Tần thiêu rụi. Nhà Hán với Lưu Bang không như nhà Tần trị nước bằng binh hùng tướng mạnh, gươm sắc giáo nhọn, mà cần một học thuyết chính trị để điều hành xã hội đương thời. Lúc này cùng với học thuyết nho giáo thì còn nhiều học thuyết khác như “vô vi” của Lão Đan, “vị ngã” của Chu Phương, “khiêm ai” của Mạc Đĩnh cũng tồn tại nhưng Lưu Bang đã chấp nhận nho giáo. Bắt đầu từ đây nho giáo có cơ hội được phục hồi dần dần và trở thành vũ khí tinh thần của nhà Hán và chiếm địa vị cao nhất trong tam giáo. Đến các triều đại nhà Đường thì nho giáo lại không còn được chiếm vị trí đáng kể mà nó phải nhường chỗ cho Phật giáo. Nhưng tới thời nhà Tống thì nho giáo lại được đề cao, nổi bật là hai anh em Trình Hạo và Trình Di đã mở trường nho giáo đầu tiên, thành ngữ “cửa Khổng sân Trình” đã xuất hiện, điều này thể hiện rất rõ ở thời Tống. Kể cả khi Mông Nguyên thống trị toàn bộ Trung Hoa tới gần một thế kỷ vậy mà nho giáo vẫn được duy trì. Bằng công việc giảng dạy đạo, thi cử từ đầu thế kỷ XV. Đến đời nhà Thanh, thời thế có những thay đổi. Lúc này Trung Hoa tiếp xúc với văn hóa Tây Âu đại biểu của các nhà dân chủ cũng muốn nước Trung Hoa phát triển công nghiệp, khoa học kỹ thuật. Song họ chỉ đi tới tìm đường cải lương và duy tâm dưới ngọn cờ của hoàng đế Thanh Triều. Đã hai mươi lăm thế kỷ, kể từ khi Khổng Tử ra đời. Nho giáo thành một học thuyết có ảnh hưởng lớn trong văn hoá các nước Đông Á. Tuy từng thời kỳ và từng nước có những điều kiện thực tế khác nhau nên nội dung Nho giáo cũng được hiểu ít nhiều có khác nhau, đã có nhiều vị trí vai trò nhất định trong thượng tầng kiến trúc, song không làm thay đổi bản chất của nó. Trong mỗi giai đoạn về tổ chức, thể chế và pháp luật thì các triều đại sau có những cái mới so với những triều đại trước, song những tư tưởng cơ bản của nho giáo thì ở triều đại nào cũng giữ lấy, vì vậy nho giáo hệ tư tưởng chính trị chính thống của giai cấp phong kiến thống trị đã ăn sâu, bám chắc vào đời sống xã hội và tinh thần của Trung Quốc hơn hai nghìn năm qua cho tới khi cách mạng Tân Hợi nổ ra 10/10/1911. 1.2. Một số tư tưởng chính trị cơ bản của nho giáo 14 Đỗ Tiến Đằng. Minh Lớp K31B. TTBDCT Quận 9 Tp. Hồ Chí Học viện Báo chí và Tuyên truyền Khoa Chính tri học ____________________________________________________________________________ Tư tưởng chính trị của nho giáo trong lịch sử tư tưởng Trung Quốc nó chiếm một vị trí đặc biệt. Hệ tư tưởng chính trị của nho giáo được thể hiện một cách cơ bản, có hệ thống trong tư tưởng của người khởi xướng (Khổng Tử ), mà từ đó những nhà nho tiếp theo phát triển và cụ thể hóa thêm một số hướng khác nhau tiêu biểu là Mạnh Tử và Tuân Tử . Nho giáo đề ra Cương - thường là nguyên tắc chi phối mọi suy nghĩ, hành động và là khuôn vàng thước ngọc để đánh giá phẩm hạnh của con người. Một mặt, đạo cương - thường góp phần điều chỉnh hành vi của con người, đưa con người vào khuôn phép theo chế độ lễ pháp của nhà Chu trước đây và các triều đại phong kiến sau này đặt ra. Cương - thường là nhân tố quan trọng làm cho xã hội ổn định theo thứ bậc, là cơ sở đảm bảo quyền thống trị của thiên tử. Mặt khác, đạo cương - thường với nội dung “quân xử thần tử, thần bất tử bất trung”, “phụ xử tử vong, tử bất vong bất hiếu” (vua xử bề tôi chết, bề tôi không chết là không có lòng trung, cha xử con chết, con không chết là không có hiếu) là sợi dây trói buộc con người, làm cho con người thụ động trong cả suy nghĩ và hành động. Tư tưởng này là lực cản sự phát triển của xã hội và là một trong những nguyên nhân làm cho xã hội phương Đông trì trệ. 1.2.1. Khổng Tử (551-478, tcn) Người đặt nền móng, vị tổ sư của Nho giáo là Khổng Tử. Vì vậy, Nho giáo cũng còn gọi là Khổng giáo. Trong thập niên 70 của thế kỷ trước, một học giả Mỹ đã xếp Khổng Tử ở ngôi vị thứ 5, chỉ sau chúa Giê-xu, Thích-Ca-Mâu-Ni...trong số 100 nhân vật có ảnh hưởng trong lịch sử. Đối với người Trung Quốc mà nói, sự ảnh hưởng của Khổng Tử có thể phải xếp thứ nhất. Mỗi con người ít nhiều đều chịu sự ảnh hưởng của học thuyết Khổng Tử. Cốt lõi của Nho giáo là Nho gia. Đó là một học thuyết chính trị nhằm tổ chức xã hội. Khổng Tử sinh ở ấp Trâu, thuộc làng Xương Bình nước Lỗ, trung tâm văn hoá của nền văn minh Trung Hoa cổ đại.tổ tiên là người nước Tống. Phòng Thúc sinh Bá Hạ, Bá Hạ sinh Thúc Lương Ngột, Lương Ngột khi quá tuổi lấy Nham Thị. Hai người cầu tự ở núi Ni và sinh được Khổng Tử vào năm thứ 22 đời Lỗ Tướng Công (551, tcn). Khi sinh ra trên đầu gồ giữa lõm cho nên đặt tên là Khâu (tức là cái gò) còn tên tự là Trọng Ni, họ là Khổng (Ni là để nhớ ơn núi mà cha mẹ Khổng Tử xin nên ông bà đặt tên là Trọng Ni). Ông là người rất ham học, sớm nổi tiếng uyên bác, thông hiểu văn hiến lễ nhạc nhà Hạ, nhà Thương, nhà Chu, tức là các vương triều cổ đại Trung Hoa. Ngay từ nhỏ Khổng Tử đã thích chơi trò bầy các khay để cúng và chơi trò tế lễ. Ông là người có tướng mạo rất đặc biệt, ông được gọi là ngũ lộ (tai, yết hầu, răng, trán, mắt). Khi mẹ mất ông đã hợp táng cha mẹ tại núi Phòng Sơn, lúc này còn để tang mẹ thì họ Quý thiết đãi kẻ sĩ Khổng Tử cũng tới, Dương Hổ mắng Khổng Tử “họ Quý chiêu đãi kẻ sĩ chứ không phải thết đãi nhà ngươi đâu”. Khổng Tử bèn rút lui. 15 Đỗ Tiến Đằng. Minh Lớp K31B. TTBDCT Quận 9 Tp. Hồ Chí Học viện Báo chí và Tuyên truyền Khoa Chính tri học ____________________________________________________________________________ Khi ông mới 17 tuổi, có quan đại phu tên là Mạnh Ly ốm sắp chết dặn người con cả sẽ thay mình tên là Ý Tử “Khổng Khâu là con cháu bậc thánh nhân nên khi ta chết rồi thế nào cũng phải thờ ông ấy làm thầy”. Cuộc đời hoạt động của Khổng Tử Khi lớn lên Khổng Tử vẫn nghèo hèn, ông rời nước Lỗ, bị nước Tề ruồng bỏ, bị đuổi ở nước Tống và nước Vệ, “bị nguy khốn ở giữa nước Trần và nước Thát chính lúc này ông lại viết được Xuân Thu rồi trở về nước Lỗ”. Khổng Tử cùng Nam Cung xin vua Lỗ sang nước Chu để hỏi về lễ và ở đây ông gặp Lão Tử và sau này có ảnh hưởng nhiều tới tư tưởng của ông. Lúc 35 tuổi Khổng Tử tới nước Tề nói chuyện âm nhạc với quan thái và đã học nhạc ấy. Ông nói chuyện với Cảnh Công về chính trị và bàn về nghiệp bá. Tề Cảnh Công tiếp Khổng Tử một cách kính cẩn nhưng các quan nước Tề lại tìm cách giết Khổng Tử. Khi ấy Cảnh Công nói “ta đã già không dùng được ngươi” nên Khổng Tử bèn rút lui tìm đường về nước Lỗ. Năm thứ 19 đời vua Kinh Vương nhà Chu lúc này Khổng Tử đã lớn tuổi, vua nước Lỗ mời dùng ông và ông làm Trung D (ông Tề sau 1 năm thì làm đại tư khẩu trông coi pháp luật, sau 4 năm vua nước Lỗ cất ông làm Nhấp Tướng Sự. Trong thời gian làm quan ông chăm lo chính sự nên sự nghiệp chính trị được hoàn thành, đất nước ổn định và cường thịnh. Khổng Tử đi chu du các nước Khi nước Lỗ cường thịnh nên nước Tề dùng kế làm mê hoặc vua, làm cho vua suốt ngày ăn chơi mà bỏ bê triều chính. Ông đã khuyên can nhưng đã không được cho nên ông bỏ sang nước Vệ. Nhưng vua nước Vệ không dùng ông. Ông lại sang nước Trần, đang trên dọc đường thì gặp cướp ông quay về nước Vệ sau đó lại sang nước Tống nhưng do Tư Mã muốn tìm cách giết ông, nên ông tìm cách sang nước Trần, sau đó sang nước Thái qua nước Sở lại về nước Vệ. Cuộc đời du thuyết của ông trải qua 14 năm khổ cực, nhưng vì trong thời đại loạn lạc nên thuyết của ông không được dùng. Lúc này đã yếu ông quay về nước Lỗ (68 tuổi) ông viết sách và học trò tìm tới học rất đông. Và ông qua đời khi thọ 73 tuổi. Tư tưởng của ông được thể hiện trong các tác phẩm Ông dịch các bộ kinh, thi, thư, lễ, nhạc, xuân thu … Sau khi ông qua đời học trò của ông đã tập hợp những câu nói, lời dạy, sự tích của ông, tất cả được ghi lại trong cuốn Luận Ngữ. Học thuyết của Khổng Tử được coi là học thuyết chính trị đạo đức. Và ông có tư tưởng chính về chính trị như: Quyền lực, bang giao, phẩm chất người cai trị đều được ông luận giải một cách rõ nét. 16 Đỗ Tiến Đằng. Minh Lớp K31B. TTBDCT Quận 9 Tp. Hồ Chí Học viện Báo chí và Tuyên truyền Khoa Chính tri học ____________________________________________________________________________ Về chính trị và quyền lực chính trị, ông dùng khái niệm về “chính” như “vi chính” và tư tưởng chính trị của ông được ghi lại trong cuốn “Luận ngữ” sau này trong các cuốn Trung Dung, Đại học ông chủ yếu bàn tới chính trị là “chính đạo” cai trị đất nước bằng chính đạo, chính danh. Nội dung gồm các vấn đề như “nhân” và “lễ” thương yêu người thân tôn trọng người hiền “chính danh định phận”. Người cai trị lấy việc ngay thẳng, giữ lòng tin làm chuẩn “chính giả, chính dã” “tử xuất dĩ chính” “thực cảm bất chính” nghĩa là coi việc cai trị phải ngay thẳng chính trực thì còn ai dám lừa dối. Vậy chính trị là chính đạo ngay thẳng. Phương pháp cai trị Theo ông phương pháp cai trị lý tưởng là cai trị bằng đạo đức. Ông nói “cai trị bằng đạo đức thì giống như sao bắc đẩu cứ ở yên một chỗ các sao khác phải quay đầu về mà chầu”. Quyền lực nhà nước phải tập trung vào một người là vua bên dưới có các chư hầu, đại phu cùng cai quản dân chúng. Tư tưởng chính trị của ông là xây dựng quốc gia Trung Quốc thống nhất theo mẫu mô hình nhà Chu. Nhà nước đó trên có thiên tử, song vua phải sang tôi phải hiền, vua quan tâm chăm sóc dân như cha với con. “Khổng Tử chủ trương nhân chính đức trị muốn cho các giai cấp trong xã hội đều có chỗ đứng của mình, ai theo phận nấy. Hy vọng các giai cấp có thể điều hòa được lợi ích, để xã hội không gặp phải những tổn thất nghiêm trọng về sức người sức của, các triều đại sau kế thừa lấy cái hay cái bỏ cái dở tuần tự tiến lên”. Quan niệm của ông về chính trị, cũng như lý tưởng chung về chính trị được ông triển khai theo phương pháp luận “nhất dĩ nhi quán chi” lấy cái nội dung như dung “lễ”, “chính danh” và “nhân” làm phương pháp cai trị. Quan niệm về lễ trị Lễ: Theo nghĩa rộng là nghi thức, quy chế, kỷ cương, trật tự tôn ti của cuộc sống chung trong cộng đồng xã hội và cả lối cư xử hàng ngày. Với nghĩa rộng này, lễ là cơ sở của một xã hội có tổ chức, đảm bảo cho sự phân định trên dưới rõ ràng. Lễ hiểu theo nghĩa là một đức bên trong ngũ thường, đó là sự tôn trọng, hòa nhã trong khi cư xử với mọi người, là thực hành đúng những giáo huấn kỷ cương do Nho giáo đề ra. Đã là người thì phải học lễ, biết lễ và có lễ, không như thế là phi lễ, mà đã phi lễ thì không được nhìn, không được nghe, không được nói, không được làm. “Lễ” là chuẩn mực ứng xử mang tính hình thức trong xã hội nói chung và trong chính trị nói riêng. Khi thực hiện quan hệ mọi người phải tuân theo lễ, chỉ có vậy xã hội mới trật tự. Ông đề cao lễ đến mức “nếu có hiểu rõ giá trị của lễ giáo (tế trời) lễ xã (tế đất) và ý nghĩa của lễ đế (lễ các vua thời trước) thì việc cai trị như ngửa bàn tay ra xem vậy” “biết dùng lễ cai trị thì khó gì”. Người làm vua mà thích lễ thì dân chúng sẽ theo lễ cho nên lúc đó sai khiến dân khó gì. “Lễ” của nhà Tây Chu là một hệ thống phong phú phức tạp nhiều khi giáo điều gò ép. Đó là loại lễ của dân thường cho tới thái tử, nào là quy định xe 17 Đỗ Tiến Đằng. Minh Lớp K31B. TTBDCT Quận 9 Tp. Hồ Chí Học viện Báo chí và Tuyên truyền Khoa Chính tri học ____________________________________________________________________________ ngựa, vẻ mặt khi giao tiếp, chỗ ngồi chỗ đứng, cách đi…Theo ông lễ quan trọng trong việc cai trị vì những lý do sau: Thứ nhất nó quy định danh phận, thứ bậc người trong xã hội. Lễ có tác dụng điều chỉnh hành vi con người trong quan hệ ứng xử “không học lễ không chỗ nào làm chỗ dựa”. Thứ hai lễ có tác dụng điều chỉnh hành vi con người trong ứng xử. thứ ba lễ có tác dụng hình thành thói quen đạo đức, ví dụ như cha mẹ đòi con cái cho ăn thì có khác nào cho chó ngựa ăn, quan trọng là thái độ cung kính khi cho ăn thế nào “cung kính dần sẽ thành thói quen”. Quan niệm về “chính danh” Chính danh: Chính danh là mỗi sự vật phải được gọi đúng tên của nó, mỗi người phải làm đúng chức phận của mình. "Danh không chính thì lời không thuận, lời không thuận tất việc không thành”. Khổng tử nói với vua Tề Cảnh Công: "Quân quân, thần thần, phụ phụ, tử tử - Vua ra vua, tôi ra tôi, cha ra cha, con ra con Tông pháp của nhà Chu ngày càng khủng hoảng dẫn tới sự hỗn loạn về đẳng cấp, danh phận. Thiên tử nhà Chu chỉ có trên danh nghĩa mà không có thực quyền, đó là tình trạng “tiếm ngôi việt vị” ngày càng phổ biến. Lễ chế kỷ cương xã hội không được duy trì đó là nguy cơ sụp đổ của nhà Chu. Ông muốn cứu vãn bằng thuyết chính danh định phận, nhằm khôi phục địa vị của thiên tử ngăn chặn sự vượt quyền của bọn lãnh chúa, chư hầu. Theo ông mỗi người phải biết giữ danh phận của mình mới có thể gây được nền chính trị của thời “thiên hạ có đạo” cho nên việc làm chính sự trước hết là chính danh. Nói về vấn đề này học trò của ông là Tử Lộ cho ông là viễn vông không thực tế. Nhưng ông trách mà nói “người quân tử đối với những điều mình không biết hãy để khuyết đừng nói ra. Danh không chính thì ngôn không thuận, ngôn không thuận thì việc không thành, việc không thành thì mọi lễ nhạc đều không gây lại được, lễ nhạc không gây lại được thì mọi hình phạt đều sai trật cả, hình phạt mà không đúng thì dân sẽ bó chân tay. Cho nên người quân tử có danh rồi tất phải nói, nói rồi tất phải làm”. Theo ông muốn cai trị nước trước hết phải chính danh, nghĩa là mọi vật phải hợp với cái danh của nó mang. Mỗi cái danh nó mang đều bao hàm một số trách nhiệm, bổn phận phù hợp với danh ấy. Chính danh là xác định rõ trật tự cai trị thứ bậc, trách nhiệm xã hội. Mà chính danh là hợp với “tự nhiên”. “Vật các đắc kỳ sở” (vật đầu có chỗ xác định của nó). Một trong những nguyên nhân làm cho xã hội đại loạn theo ông đó là mỗi con người không xác định danh phận địa vị của mình, ngược lại còn tiếm quyền tiếm lễ. Theo ông “vua phải xử cho ra vua, tôi cho ra tôi, cha cho ra cha con cho ra con”, có nước nào mà bề tôi gian nịnh mà nước ấy không suy vong, có nhà nào, mà cha mẹ bạc ác bất nhân con cái ngỗ nghịch bất hiếu mà nhà ấy không suy bại? Nên con người trên cương vị của mình mà làm hết mình, hết trách nhiệm của mình thì xã hội mới có thể tốt được. Ông nhận xét nếu không chính danh tất loạn, nếu chính danh thì không cần ép buộc dân cũng theo và tất “trị”. Cai trị bằng đạo nhân 18 Đỗ Tiến Đằng. Minh Lớp K31B. TTBDCT Quận 9 Tp. Hồ Chí Học viện Báo chí và Tuyên truyền Khoa Chính tri học ____________________________________________________________________________ Nhân trị: Nhân là tình người, nhân trị là cai trị bằng tình người, là yêu người và coi người như bản thân mình. Khi Trọng Cung hỏi thế nào là nhân thì Khổng Tử nói: "Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân - Điều gì mình không muốn thì đừng làm cho người khác". Nhân được coi là điều cao nhất của luân lý, đạo đức, Khổng Tử nói: "Người không có nhân thì lễ mà làm gì? Người không có nhân thì nhạc mà làm gì”. Đó là chuẩn mực ứng xử giữa người với người, là một giá trị đạo đức xã hội. Theo ông “một người không có lòng nhân sao có thể hành được lễ, một người không có lòng nhân sao có thể tấu được nhạc. Hạ Tử hỏi Khổng Tử “Kinh Thi có câu “nụ cười tươi trông thật là đẹp, đôi mắt đẹp trông thật là duyên trên trắng vẽ bức tranh muôn mầu”, mấy câu này có ý thế nào. Khổng Tử đáp “phải có nền trắng trước đã sau mới có bức họa đẹp. Hạ Tử đáp “có phải lễ nhạc là ở ngoài, nhân đức có trước lễ nhạc có sau. Không có nhân thì lễ nhạc chỉ còn là trống rỗng mà thôi. Tự thắng mình làm điều lễ là thực hiện điều nhân “điều mình không muốn thì chớ thực hiện ở người khác”. Đạo nhân là phương pháp cai trị được Khổng Tử tiếp nhận từ phẩm chất của người cai trị, nên theo điều nhân sẽ tập hợp được dân và cũng dễ sai khiến dân. “Bề trên thích lễ thì dân cũng kính, bề trên thích tín thìdân không dám nói sai. Và chỉ khi nào thu phục được lòng dân thì quốc gia mới cường thịnh”. Theo Nho giáo, năm mối quan hệ mà con người phải xác định và làm tròn trách nhiệm của mình trong các quan hệ ấy là vua tôi, cha con, anh em, vợ chồng, bạn bè (Ngũ luân), trong đó có ba điều chính là vua tôi, cha con, chồng vợ (Tam cương). Trong ba điều chính có hai điều mấu chốt là vua - tôi, biểu hiện bằng đức trung, cha -con biểu hiện bằng đức hiếu. Giữa Trung và Hiếu thì trung đứng đầu. Những đức con người thường xuyên phải trau dồi là: Nhân, nghĩa, lễ, trí tín (Ngũ thường). Đứng đầu ngũ thường là nhân, nghĩa, trong đó nhân là chủ. Vì vậy, gọi đạo của Khổng Tử là Đạo Nhân. Tư tưởng chính trị của ông có giá trị đạo đức cao. Ông là người đầu tiên đề cập con người trên bình diện nhân đạo. Ông đề cao sức mạnh đạo đức trong cai trị, song ông lại tuyệt đối hóa nó. Với nguyên tắc của các triều đại phong kiến Trung Quốc sau này lấy nho giáo làm tư tưởng chính thống là hoàn toàn có cơ sở. Học thuyết của ông có ảnh hưởng sâu rộng trong nước và thế giới như Nhật Bản, Triều Tiên, Việt Nam …ở những nội dung cụ thể khác nhau. 1.2. . Mạnh Tử: (372-289, TCN) Phái tăng tử nước Lỗ đến cuối thế kỷ IV (TCN) thì có một nhà đại hiền triết đem nho giáo làm sáng hơn trước. Nhà hiền triết này có tên là Mạnh Kha tự là Dư người đất Châu, nay là huyện Châu thuộc tỉnh Sơn Đông. Tương truyền ông là học trò của Khổng Cấp (cháu nội Khổng Tử). Khổng Cấp là học trò của Tăng Sâm (học trò của Khổng Tử). Theo sách “Mạnh Tử phả” ông sinh ngày 02/4 năm thứ 4 đời Chu Liệt Vương (372 TCN) và mất ngày 15/2 năm thứ 26 đời Chu Noãn Vương 19 Đỗ Tiến Đằng. Minh Lớp K31B. TTBDCT Quận 9 Tp. Hồ Chí Học viện Báo chí và Tuyên truyền Khoa Chính tri học ____________________________________________________________________________ (289, tcn). Khi ông 3 tuổi cha mất được mẹ nuôi học, sau học phái Tử Tư hiểu rõ đạo của Khổng Tử. Ông có tài hùng biện, ông đi du thuyết tới các nước Tề, Lường, Tống … muốn đem đạo của thánh nhân ra cứu đời nhưng trong lúc đ1o ở thiên hạ thì “Tần nhờ Thương Quân mà nước giàu binh mạnh, Sở ngụy dùng Ngô Khởi mà đánh thắng làm yếu địch, Tề Uy Vương, Tề Tuyên Vương dùng bọn Tôn Tử, Điền Kỵ mà chư hầu hướng về đông chầu Tề. Thiên hạ đang lo việc hợp tung, liên hoàn lấy việc đánh nhau làm giỏi, thế mà Mạnh Tử nói tới đạo đức”. Vì thế ông đi tới đâu cũng không được dùng. Sau khi gần già ông thấy cái đạo không thực hành được ông về nhà ở với các môn đệ là Mạc Chính Khắc, Công Tôn Sử và Vạn Chương. Ông ghi chép các lời đối đáp của ông với các vua ở các nước chư hầu hoặc với các môn đệ của ông, cùng với sự phê bình về những sự chênh lệch của các học thuyết khác mà làm thành 7 thiên sách. Tác phẩm của ông là “Mạnh Tử” chính là một cuốn trong bộ kinh điển “Tứ Thư”. Những tư tưởng chính trị cơ bản của ông Về quyền lực chính trị: Lúc này trong xã hội chiến tranh giành quyền bá chủ xảy ra liên miên giữa các nước chư hầu. Hình thành cục diện thất hung. Nhân dân đói khổ, điêu đứng vì chiến tranh vì chính trị bạo ngược, Mạnh Tử phải thốt lên “Nhân dân đói khổ vì chính trị bạo ngược, chưa cóthời nào tệ như thời này”. Cũng giống như Khổng Tử , Mạnh Tử ít bàn tới cách thức tổ chức thể chế chính trị mà thường bàn nhiều về phương pháp cai trị. Ông lên án cai trị bằng bá đạo, chủ trương cai trị bằng vương đạo, ông đưa ra những gương như vua Nghiêu, Thuấn là những người cai trị bằng nhân nghĩa nên được lòng dân, đất nước vững mạnh. Ông giải thích nguồn gốc của quyền lực nhà nước là theo ý trời, lòng dân nhân đức có quan hệ với nhau. Vua phải quan tâm chăm lo tới dân “hằng sản” để hằng tâm” dân có no đủ mới không loạn lạc, không chống đối vua. Ông tiến bộ hơn Khổng Tử khi bàn về quan hệ giữa vua và tôi, đó là quan hệ hai chiều. Vua đối với bề tôi thế nào thì bề tôi sẽ đối với vua như thế ấy. Ông nói “Vua coi bề tôi như tay chân thì bề tôi coi vua như ruột thịt, vua coi bề tôi như chó ngựa thì bề tôi coi vua như người dưng, nếu vua coi bề tôi như cỏ rác thì bề tôi coi vua như thù địch”. Theo ông chính trị vương đạo phải là nhân chính, lấy dân làm gốc. Ông đã nêu lên quan điểm nổi tiếng trong mối quan hệ đó là “dân là quý, xã tắc là thứ yếu, vua là nhẹ” (dân vi quý xã tắc thứ chi quân vi khinh) ông chủ trương chính trị được lòng dân. Đây chính là tư tưởng dân chủ sơ khai, đã thấy rõ sức mạnh của dân. Nhưng ông lại ủng hộ phân biệt đẳng cấp “quân tử lao tâm tiểu nhân lao lực”. Và ông cho là con người sinh ra vốn là thiện vì thế phải đề cao giáo dục để con người rời xa điều ác quay về điều thiện, ngoài ra ông còn nêu ra những tư 20 Đỗ Tiến Đằng. Minh Lớp K31B. TTBDCT Quận 9 Tp. Hồ Chí
- Xem thêm -