Tài liệu Bài giảng luật hành chính việt nam

  • Số trang: 77 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 163 |
  • Lượt tải: 0
tranvantruong

Đã đăng 3224 tài liệu

Mô tả:

Bài giảng Luật Hành chính Việt Nam
Trường Đại học Đông Á TRƢỜNG ĐẠI HỌC ĐÔNG Á Khoa KHXH&NV KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN BÀI GIẢNG LUẬT HÀNH CHÍNH VIỆT NAM Giảng viên: Ths.Nguyễn Thị Hà Đà Nẵng, ngày 25 tháng 3 năm 2013 Bài giảng Luật hành chính 1 GV: Nguyễn Thị Hà Trường Đại học Đông Á Khoa KHXH&NV LỜI NÓI ĐẦU Luật hành chính là môn học cơ sở ngành của ngành quản trị văn phòng. Môn học này cung cấp cho người học về những kiến thức cơ bản về hoạt động quản lý hành chính nhà nước và những vấn đề cơ bản về địa vị pháp lý của cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức và viên chức. Cùng với công cuộc cải cách hành chính hiện nay trong nhiều lĩnh vực và yêu cầu của quá trình dân chủ ở cơ sở là những đòi hỏi khách quan để tăng quyền chủ động quản lý và điều hành của bộ máy hành pháp, nhất là ở các cấp địa phương, nơi tập trung quyền và lợi ích hợp pháp của mỗi công dân và người lao động; Trên cơ sở giáo trình Luật hành chính Trường Đại học Luật Hà Nội và rất nhiều giáo trình, tài liệu tham khảo, giảng viên đã biên soạn bài giảng này nhưng đã có sự cập nhật những nội dung cũng như những văn bản mới nhất để đáp ứng cho việc giảng dạy, học tập hiện nay. Mặc dù có rất nhiều cố gắng nhưng chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo và các sinh viên để bài giảng ngày càng hoàn thiện hơn. Đà Nẵng, ngày 25 tháng 3 năm 2013 Tác giả Bài giảng Luật hành chính 2 GV: Nguyễn Thị Hà Trường Đại học Đông Á Khoa KHXH&NV Chƣơng 1 LUẬT HÀNH CHÍNH VIỆT NAM NGÀNH LUẬT VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC 1.1.KHÁI NIỆM 1.1.1.Khái niệm quản lý Quản lý là điều khiển, chỉ đạo một hệ thống hay một quá trình, căn cứ vào những quy luật, định luật hay nguyên tắc tƣơng ứng để cho hệ thống hay quá trình ấy vận động theo ý muốn của ngƣời quản lý và nhằm đạt đƣợc những mục đích đã định từ trƣớc. Dƣới góc độ pháp lý, Mác đã coi “quản lý là một chức năng đặc biệt nảy sinh từ bản chất xã hội của quá trình lao động”. Nhƣ vậy, ở đâu có sự lao động chung của nhiều ngƣời thì ở đó cần có sự quản lý, trong đó sự liên kết các hoạt động của mỗi cá nhân con ngƣời là rất cần thiết. Hoạt động liên kết chính là nội dung của công tác tổ chức. Tổ chức là sự phân công, phân định rõ ràng chức trách của từng ngƣời trong tập thể, là sự phối hợp các hoạt động riêng rẽ của các cá nhân trong tập thể. Do đó, tổ chức là yếu tố quyết định mang lại hiệu quả cho quản lý. Để điều khiển, phối hợp hoạt động của các cá nhân trong tập thể con ngƣời, quản lý cần có phƣơng tiện để buộc con ngƣời phải hành động theo những nguyên tắc nhất định, phải phục tùng những khuôn mẫu, mệnh lệnh nhất định. Phƣơng tiện đó là uy tín hoặc quyền uy, quyền lực. Tóm lại, quản lý nảy sinh bất kỳ lúc nào và bất cứ đâu, nếu ở đó có hoạt động chung của nhiều ngƣời. Vì vậy, quản lý tồn tại từ xã hội cộng sản nguyên thuỷ đến xã hội có nhà nƣớc và cả khi xã hội không còn giai cấp và nhà nƣớc nữa. - Chủ thể quản lý là con ngƣời hay tổ chức của con ngƣời. Những cá nhân hay tổ chức này là những đại diện có quyền uy. Bài giảng Luật hành chính 3 GV: Nguyễn Thị Hà Trường Đại học Đông Á Khoa KHXH&NV - Khách thể quản lý là trật tự quản lý nhất định mà các bên tham gia quan hệ quản lý cụ thể đều hƣớng tới. Trật tự này đƣợc điều chỉnh bởi nhiều quy phạm khác nhau nhƣ quy phạm đạo đức, quy phạm chính trị, quy phạm tôn giáo, quy phạm pháp luật... 1.1.2.Khái niệm quản lý nhà nƣớc Quản lý nhà nƣớc là hoạt động của nhà nƣớc trên các lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tƣ pháp nhằm thực hiện chức năng đối nội và chức năng đối ngoại của nhà nƣớc. Nhà nƣớc quản lý xã hội bằng pháp luật. Thông qua pháp luật, nhà nƣớc có thể trao quyền lực của mình cho các cá nhân hay tổ chức xã hội để các chủ thể đó thay mặt nhà nƣớc tiền hành hoạt động quản lý nhà nƣớc đối với toàn xã hội. Quản lý nhà nƣớc trong lĩnh vực hành pháp là hoạt động chỉ đạo thực hiện pháp luật gọi là quản lý hành chính nhà nƣớc hay còn gọi là quản lý công hoặc hành chính công. Quản lý hành chính nhà nƣớc là hình thức hoạt động của nhà nƣớc đƣợc thực hiện trƣớc hết và chủ yếu bởi các cơ quan hành chính nhà nƣớc, có nội dung là bảo đảm sự chấp hành luật, pháp lệnh và các nghị quyết của cơ quan quyền lực nhà nƣớc nhằm tổ chức và chỉ đạo thực hiện một cách trực tiếp và thƣờng xuyên công cuộc xây dựng kinh tế, văn hoá, xã hội và hành chính - chính trị ở nƣớc ta. Nói cách khác, quản lý hành chính nhà nƣớc là hoạt động chấp hành và điều hành của nhà nƣớc. - Chấp hành là làm đúng những yêu cầu của pháp luật, là hoạt động đƣa pháp luật vào thực tiễn quản lý nhà nƣớc. - Điều hành là việc chỉ đạo đối tƣợng thuộc quyền thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo pháp luật, là việc các cơ quan hành chính nhà nƣớc, cán bộ nhà nƣớc có thẩm quyền và các chủ thể quản lý hành chính khác phải tiến hành hoạt động liên tục, thƣờng xuyên nhằm trực tiếp và tổ chức chỉ đạo thực hiện pháp luật đối với các đối tƣợng quản lý thuộc quyền để đạt mục đích là năng suất, chắt lƣơng, hiệu quả. Trong quá trình điều hành, các chủ thể quản lý nhà nƣớc có quyền nhân danh nhà nƣớc, sử dụng quyền lực nhà nƣớc ban hành các văn bản quản lý để đặt ra quy phạm Bài giảng Luật hành chính 4 GV: Nguyễn Thị Hà Trường Đại học Đông Á Khoa KHXH&NV pháp luật hay mệnh lệnh pháp luật cụ thể có tính bắt buộc đối với các đối tƣợng quản lý có liên quan. Đồng thời tăng cƣờng công tác kiểm tra, giám sát việc chấp hành pháp luật của các đối tƣợng quản lý đó. Chấp hành và điều hành có mối liên hệ mật thiết với nhau. Ngoài ra quản lý hành chính nhà nƣớc luôn mang tính chủ động, sáng tạo. - Chủ thể quản lý nhà nƣớc là cá nhân hay tổ chức mang quyền lực nhà nƣớc, bao gồm nhà nƣớc, cơ quan nhà nƣớc, tổ chức xã hội và cá nhân đƣợc nhà nƣớc uỷ quyền để nhân danh nhà nƣớc thực hiện quyền lực nhà nƣớc thực hiện quyền lực nhà nƣớc. Chủ thể quản lý hành chính nhà nƣớc là cá nhân hay tổ chức có quyền năng thực hiện quyền lực nhà nƣớc, bao gồm: cơ quan hành chính nhà nƣớc, cán bộ nhà nƣớc có thẩm quyền, các cá nhân thuộc các cơ quan kiểm sát, xét xử và các tổ chức xã hội hoặc cá nhân khác đƣợc nhà nƣớc trao quyền quản lý hành chính nhà nƣớc trong một số trƣờng hợp cụ thể. - Khách thể của quản lý nhà nƣớc là trật tự quản lý nhà nƣớc. Khách thể quản lý hành chính nhà nƣớc là trật tự quản lý hành chính nhà nƣớc tức là trật tự quản lý trong lĩnh vực chấp hành điều hành. 1.2. ĐỐI TƢỢNG ĐIỀU CHỈNH VÀ PHƢƠNG PHÁP ĐIỀU CHỈNH CỦA LUẬT HÀNH CHÍNH 1.2.1. Đối tƣợng điều chỉnh Đối tƣợng điều chỉnh của luật hành chính là các quan hệ xã hội hình thành trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nƣớc. Những quan hệ này đƣợc gọi là quan hệ quản lý hành chính nhà nƣớc hay quan hệ chấp hành - điều hành. Đối tƣợng điều chỉnh của luật hành chính có thể đƣợc chia thành 3 nhóm quan hệ quản lý: Nhóm 1 là các quan hệ quản lý phát sinh trong quá trình các cơ quan hành chính nhà nƣớc thực hiện hoạt động chấp hành - điều hành trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, bao gồm: Bài giảng Luật hành chính 5 GV: Nguyễn Thị Hà Trường Đại học Đông Á Khoa KHXH&NV - Quan hệ giữa cơ quan hành chính nhà nƣớc cấp trên với cơ quan hành chính cấp dƣới theo hệ thống dọc. (Ví dụ: Quan hệ giữa UBND TP. Đà Nẵng với UBND Quận Hải Châu). - Quan hệ giữa cơ quan hành chính nhà nƣớc có thẩm quyền chung với cơ quan hành chính nhà nƣớc có thẩm quyền chuyên môn cùng cấp. (Ví dụ: Quan hệ giữa UBND Thành phố với Sở Tƣ pháp TP.Đà Nẵng). - Quan hệ giữa cơ quan hành chính nhà nƣớc có thẩm quyền chuyên môn cấp trên với cơ quan hành chính nhà nƣớc có thẩm quyền chung ở cấp dƣới trực tiếp. (Ví dụ: Quan hệ giữa Sở giao thông TP. Đà Nẵng với UBND Quận Thanh Khê). - Quan hệ giữa các cơ quan hành chính nhà nƣớc có thẩm quyền chuyên môn cùng cấp với nhau, cơ quan này có quyền hạn nhất định đối với cơ quan kia trong việc thực hiện chức năng của mình theo quy định của pháp luật. Song giữa các cơ quan này không có sự lệ thuộc về mặt tổ chức. (Ví dụ: Quan hệ giữa Sở tài chính với Sở tài nguyên và môi trƣờng trong việc quản lý thu chi ngân sách). - Quan hệ giữa cơ quan hành chính nhà nƣớc địa phƣơng với các đơn vị trực thuộc trung ƣơng đóng tại địa phƣơng đó. (Ví dụ: Quan hệ giữa UBND Quận Liên Chiểu với Trƣờng Cao đẳng Kinh tế - Kế hoạch Đà Nẵng). - Giữa cơ quan hành chính nhà nƣớc với các đơn vị cơ sở trực thuộc. (Ví dụ: Quan hệ giữa UBND tỉnh Quảng Nam với Trƣờng cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Quảng Nam). - Quan hệ giữa cơ quan hành chính nhà nƣớc với các đơn vị kinh tế thuộc các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh. (Ví dụ: Giữa UBND huyện Duy Xuyên với Hợp tác xã dệt may Duy Trinh). - Quan hệ giữa cơ quan hành chính nhà nƣớc với các tổ chức xã hội. (Ví dụ: Quan hệ giữa Chính phủ với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam). - Quan hệ giữa cơ quan hành chính nhà nƣớc với công dân, ngƣời nƣớc ngoài. (Ví dụ: Quan hệ giữa UBND phƣờng Bắc Mỹ An với công dân A trong việc xử phạt vi phạm hành chính do A có hành vi gây rối trật tự công cộng). Bài giảng Luật hành chính 6 GV: Nguyễn Thị Hà Trường Đại học Đông Á Khoa KHXH&NV Nhóm 2 là nhóm quan hệ quản lý hình thành trong quá trình cơ quan nhà nƣớc xây dựng và củng cố chế độ công tác nội bộ của cơ quan. (Ví dụ: Quan hệ giữa thủ trƣởng cơ quan với các cán bộ, công chức trong cơ quan đó). Nhóm 3 là nhóm là các quan hệ quản lý hình thành trong quá trình các cá nhân và tổ chức đƣợc nhà nƣớc trao quyền thực hiện quản lý hành chính nhà nƣớc trong một số trƣờng hợp cụ thể. (Ví dụ: Thẩm phán chủ toạ phiên toà đƣợc xử phạt hành chính đối với công dân có hành vi gây rối trật tự phiên toà). 1.2.2.Phƣơng pháp điều chỉnh Phƣơng pháp điều chỉnh của luật hành chính là mệnh lệnh đơn phƣơng, đƣợc hình thành từ quan hệ quyền lực phục tùng giữa một bên có quyền nhân danh nhà nƣớc ra những mệnh lệnh bắt buộc thi hành với một bên có nghĩa vụ phục tùng các mệnh lệnh đó. Do đó, trong quan hệ quản lý hành chính nhà nƣớc có sự bất bình đẳng giữa các bên tham gia quan hệ này. 1.3. QUY PHẠM VÀ QUAN HỆ PHÁP LUẬT HÀNH CHÍNH 1.3.1.Quy phạm pháp luật hành chính Quy phạm pháp luật hành chính là những quy tắc xử sự chung do cơ quan hay cán bộ nhà nƣớc có thẩm quyền ban hành, chủ yếu điều chỉnh những quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nƣớc, có hiệu lực bắt buộc thi hành đối với những đối tƣợng có liên quan và đƣợc bảo đảm thực hiện bằng biện pháp cƣỡng chế nhà nƣớc. Quy phạm pháp luật hành chính do nhiều chủ thể ban hành, do nhiều cấp và ở tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội nên có số lƣợng rất lớn và hiệu lực pháp luật của chúng rất khác nhau. Các quy phạm pháp luật hành chính đƣợc thực hiện bằng nhiều cách, nhƣng tập trung nhất và phổ biến nhất là hai hình thức nhƣ chấp hành và áp dụng. - Chấp hành quy phạm pháp luật hành chính là việc các cơ quan nhà nƣớc, tổ chức xã hội, đơn vị kinh tế và cá nhân làm theo đúng những yêu cầu của quy phạm pháp Bài giảng Luật hành chính 7 GV: Nguyễn Thị Hà Trường Đại học Đông Á Khoa KHXH&NV luật hành chính. Các chủ thể của quan hệ pháp luật hành chính thực hiện hành vi chấp hành quy phạm pháp luật hành chính trong các trƣờng hợp sau đây: + Khi thực hiện đúng các hành vi mà quy phạm pháp luật hành chính quy định. + Khi thực hiện đúng các hành vi mà quy phạm pháp luật hành chính buộc phải thực hiện. + Khi không thực hiện những hành vi mà pháp luật của nhà nƣớc nghiêm cấm. - Áp dụng quy phạm pháp luật hành chính là việc các chủ thể quản lý hành chính nhà nƣớc căn cứ vào pháp luật hiện hành để giải quyết các công việc cụ thể phát sinh trong quá trình quản lý hành chính nhà nƣớc. Áp dụng quy phạm pháp luật hành chính là sự kiện pháp lý làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt một hay nhiều quan hệ pháp luật hành chính nhất định.Việc áp dụng quy phạm pháp luật hành chính phải đáp ứng những yêu cầu sau đây: + Áp dụng quy phạm pháp luật hành chính phải đúng với nội dung, mục đích của quy phạm pháp luật hành chính. + Áp dụng quy phạm pháp luật hành chính phải đƣợc thực hiện bởi cơ quan hay cán bộ nhà nƣớc có thẩm quyền. + Áp dụng quy phạm pháp luật hành chính phải đƣợc tiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy định. + Áp dụng quy phạm pháp luật hành chính phải đƣợc tiến hành nhanh chóng trong thời hạn pháp luật quy định và phải trả lời công khai, chính thức kết quả giải quyết cho các đối tƣợng có liên quan. + Kết quả áp dụng quy phạm pháp luật hành chính phải đƣợc thể hiện bằng văn bản (trừ trƣờng hợp pháp luật có quy định khác). + Quyết định áp dụng quy phạm pháp luật hành chính phải đƣợc bảo đảm thực hiện trên thực tế. 1.3.2. Quan hệ pháp luật hành chính Bài giảng Luật hành chính 8 GV: Nguyễn Thị Hà Trường Đại học Đông Á Khoa KHXH&NV Quan hệ pháp luật hành chính là quan hệ xã hội đƣợc quy phạm pháp luật hành chính điều chỉnh giữa những chủ thể mang quyền và nghĩa vụ đối với nhau theo quy định của pháp luật hành chính. Quan hệ pháp luật hành chính có những đặc trƣng, đó là: - Quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ pháp luật hành chính luôn gắn với hoạt động chấp hành và điều hành của nhà nƣớc. - Quan hệ pháp luật hành chính có thể phát sinh do yêu cầu hợp pháp của bất kỳ bên nào, sự thoả thuận của bên kia không phải là điều kiện bắt buộc. - Trong quan hệ pháp luật hành chính, một chủ thể đƣợc sử dụng quyền lực nhà nƣớc. Chủ thể này là chủ thể bắt buộc, nếu thiếu chủ thể này thì không thể hình thành quan hệ pháp luật hành chính. - Phần lớn tranh chấp phát sinh trong quan hệ pháp luật hành chính đƣợc giải quyết theo thủ tục hành chính và chủ yếu thuộc thẩm quyền của cơ quan hành chính nhà nƣớc hay cán bộ nhà nƣớc có thẩm quyền trong những cơ quan này. - Trong quan hệ pháp luật hành chính, bên vi phạm phải chịu trách nhiệm trƣớc nhà nƣớc chứ không phải trƣớc bên kia Chủ thể của quan hệ pháp luật hành chính là những bên tham gia vào quan hệ pháp luật hành chính, có năng lực chủ thể, mang quyền và nghĩa vụ đối với nhau theo quy định của pháp luật hành chính. Chủ thể của quan hệ pháp luật hành chính gồm: Cơ quan nhà nƣớc; cán bộ, công chức nhà nƣớc; tổ chức xã hội; đơn vị kinh tế; công dân Việt Nam; ngƣời nƣớc ngoài, ngƣời không có quốc tịch. Khách thể của quan hệ pháp luật hành chính là trật tự quản lý hành chính nhà nƣớc. Trật tự này đƣợc nhà nƣớc quy định trong pháp luật và đƣợc quy phạm pháp luật hành chính điều chỉnh. Quan hệ pháp luật hành chính phát sinh, thay đổi hay chấm dứt khi có đủ hai cơ sở là quy phạm pháp luật hành chính và sự kiện pháp lý hành chính. Quy phạm pháp luật hành chính nêu ra các trƣờng hợp, hoàn cảnh giả định và buộc các đối tƣợng có liên quan phải thực hiện những hành vi nhất định. Bài giảng Luật hành chính 9 GV: Nguyễn Thị Hà Trường Đại học Đông Á Khoa KHXH&NV Sự kiện pháp lý hành chính là sự kiện thực tế mà khi xảy ra, pháp luật hành chính gắn nó với việc phát sinh các quyền và nghĩa vụ pháp lý hành chính của các chủ thể. 1.4.NGUỒN CỦA LUẬT HÀNH CHÍNH Hệ thống nguồn của luật hành chính bao gồm: - Văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan quyền lực nhà nƣớc: Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh và nghị quyết của Uỷ ban thƣờng vụ Quốc hội, nghị quyết của Hội đồng nhân dân các cấp; - Lệnh, quyết định của Chủ tịch nƣớc; - Văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan hành chính: Nghị quyết, nghị định của Chính phủ, quyết định, chỉ thị của Tủ tƣớng Chính phủ; quyết định, chỉ thị, thông tƣ của bộ trƣởng và thủ trƣởng cơ quan ngang bộ; quyết định, chỉ thị của uỷ ban nhân dân và chủ tịch uỷ ban nhân dân các cấp. - Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao; quyết định, chỉ thị, thông tƣ của Viện trƣởng Viện kiểm sát nhân dân Tối cao. - Văn bản quy phạm pháp luật liên tịch hoặc liên cơ quan: Nghị quyết liên tịch, thông tƣ liên bộ, liên ngành... CÂU HỎI ÔN TẬP 1. Phân biệt quản lý nhà nƣớc và quản lý hành chính nhà nƣớc 2. Luật hành chính điều chỉnh những nhóm quan hệ xã hội nào? Theo em, nhóm quan hệ xã hội nào là cơ bản nhất? 3. Vì sao luật hành chính có phƣơng pháp điều chỉnh là phƣơng pháp quyền uy? 4. Thế nào là quy phạm pháp luật hành chính? Quan hệ pháp luật hành chính? BÀI TẬP NHÓM Phân tích: “Quyền lực nhà nƣớc là thống nhất, có sự phân công phân nhiệm, phân nhiệm, phối hợp, chế ƣớc giữa 3 quyền: Lập pháp, hành pháp và tƣ pháp” Bài giảng Luật hành chính 10 GV: Nguyễn Thị Hà Trường Đại học Đông Á Khoa KHXH&NV Chƣơng 2 CÁC NGUYÊN TẮC CƠ BẢN TRONG QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƢỚC 2.1. KHÁI NIỆM Theo Từ điển Tiếng Việt thì: “Nguyên tắc là những điều cơ bản định ra, nhất thiết phải tuân theo trong một loạt việc làm”. Nguyên tắc thƣờng đƣợc đề cập ở nhiều lĩnh vực khác nhau. Khoa học tự nhiện coi nguyên tắc là kết quả của khoa học, là cơ sở để nghiên cứu trong các nguyên lý, định lý, định luật. Khoa học xã hội coi nguyên tắc là những điều cơ bản nhất, có tính hệ thống bền vững, làm khuôn mẫu cho hành vi xử sự của con ngƣời. Khoa học pháp lý chủ yếu nghiên cứu các nguyên tắc pháp lý và nhấn mạnh nguyên tắc là những tƣ tƣởng chỉ đạo bắt nguồn từ bản chất của chế độ, đƣợc quy định trong pháp luật, tạo thành cơ sở cho việc tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nƣớc và trong các khâu của quá trình quản lý nhà nƣớc. Nguyên tắc quản lý hành chính nhà nƣớc là những nguyên tắc pháp lý bao giờ cũng gắn liền với bản chất chính trị của chế độ xã hội, là một dạng của nguyên tắc pháp lý, là tƣ tƣởng hành động, tạo cơ sở cho việc tổ chức và hành động cho các cơ quan, viên Bài giảng Luật hành chính 11 GV: Nguyễn Thị Hà Trường Đại học Đông Á Khoa KHXH&NV chức và công chức nhà nƣớc trong việc thực hiện nhiệm vụ mà pháp luật đã quy định cho họ. Các nguyên tắc quản lý hành chính nhà nƣớc đều xuất phát từ chủ nghĩa Mác - Lê nin, coi nhà nƣớc là công cụ chủ yếu để nhân dân lao động quản lý đất nƣớc, xây dựng chế độ xã hội mới. chính vì vậy, chúng không tồn tại độc lập mà các nguyên tắc hợp thành một thể thống nhất, liên hệ chặt chẽ với nhau. 2.2. NHỮNG NGUYÊN TẮC CƠ BẢN TRONG QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƢỚC 2.2.1. Nguyên tắc Đảng lãnh đạo trong quản lý hành chính nhà nƣớc Sự lãnh đạo của Đảng đã đƣợc xác định trong cơ chế quản lý toàn xã hội. Đó là cơ chế Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, nhà nƣớc quản lý. Trong hệ thống chính trị nƣớc ta, Đảng Cộng sản Việt Nam là một nhân tố quan trọng khẳng định vị trí, vai trò của nó trong xã hội. Đảng là ngƣời lãnh đạo để đảm bảo quyền lực thuộc về nhân dân. Vì vậy, Điều 4 Hiến pháp năm 1992 đã khẳng định cụ thể: “Đảng Công sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác - Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội”. - Đảng đƣa ra các quan điểm, nguyên tắc và phƣơng hƣớng chỉ đạo việc tổ chức bộ máy nhà nƣớc; xem xét góp ý kiến về các đề xuất của nhà nƣớc để nhà nƣớc quyết định. Sự lãnh đạo của đảng đối với hoạt động quản lý hành chính nhà nƣớc là tất yếu, thông qua uy tín của tổ chức đảng và các đảng viên nhƣng không thoát ly những quy định của Hiến pháp và pháp luật. Chính vì vậy, mà Hiến pháp đã quy định: “...các tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ của Hiến pháp và pháp luật”. Điều đó cho thấy, Đảng Cộng sản Việt Nam là ngƣời xây dựng đƣờng lối phát triển xã hội nhƣng họ đồng thời là ngƣời tiên phong thực hiện pháp luật trong việc xây dựng pháp luật. Bài giảng Luật hành chính 12 GV: Nguyễn Thị Hà Trường Đại học Đông Á Khoa KHXH&NV - Nhằm thực hiện tốt đƣờng lối của Đảng và đƣa đƣờng lối của Đảng vào cuộc sống, công tác tổ chức cán bộ phải đƣợc xây dựng và củng cố thƣờng xuyên. Công tác này có tính quyết định đối với hiệu quả của quản lý hành chính nhà nƣớc vì những đảng viên ƣu tú, có phẩm chất và năng lực điều hành đƣợc Đảng bồi dƣỡng, đào tạo để gánh vác những nhiệm vụ trọng trách trong bộ máy hành chính. Vì thế, Điều 4 Pháp lệnh cán bộ công chức đã khẳng định: “Công tác cán bộ, công chức đặt dưới sự lãnh đạo thống nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam”. Trong công tác cán bộ, cấp uỷ đảng đề ra tiêu chuẩn, chính sách, nhà nƣớc thể chế hoá thành luật, quy chế. Tuy nhiên, Đảng không bao biện và làm thay chính quyền. Vấn đề bầu hay bổ nhiệm các chức vụ nhà nƣớc đƣợc thực hiện bằng pháp luật và bởi các cơ quan nhà nƣớc theo thủ tục do pháp luật quy định. Nói cách khác, đào tạo và bồi dƣỡng cán bộ là khâu quan trọng không chỉ là nhiệm vụ của Đảng mà còn là nhiệm vụ của các cấp chính quyền, của các cơ quan tổ chức. Tất nhiên việc đào tạo, bồi dƣỡng cán bộ công chức phải căn cứ vào quy hoạch, kế hoạch, tiêu chuẩn đối với từng chức vụ, tiêu chuẩn nghiệp vụ của từng ngạch. - Một trong những hình thức lãnh đạo rất cơ bản của Đảng là công tác kiểm tra. Thông qua hình thức này, Đảng đánh giá đƣợc hiệu quả và tính thực tế của đƣờng lối của mình. Đồng thời, thông qua công tác kiểm tra, Đảng biết đƣợc hoạt động thể chế hoá đƣờng lối của Đảng thành pháp luật của các cấp, ngành trong cả nƣớc. Hoạt động kiểm tra của Đảng không đồng nhất với hoạt động kiểm tra của chính quyền. Hoạt động kiểm tra của Đảng là phƣơng pháp lãnh đạo chứ không phải là biện pháp quản lý. Công tác kiểm tra của Đảng đƣợc tiến hành chủ yếu thông qua các đảng viên và các tổ chức đảng, đồng thời tổ chức vận động quần chúnh giám sát, kiểm tra. 2.2.2. Nguyên tắc nhân dân lao động tham gia đông đảo và quản lý hành chính nhà nƣớc Nhân dân tham gia vào hoạt động của các cơ quan nhà nƣớc thông qua các hình thức sau: - Tham gia vào hoạt động bộ máy nhà nƣớc, sử dụng bộ máy nhà nƣớc làm công cụ chủ yếu để thực hiện quyền lực nhà nƣớc. Bài giảng Luật hành chính 13 GV: Nguyễn Thị Hà Trường Đại học Đông Á Khoa KHXH&NV Điều 6 Hiến pháp 1992 khẳng đinh: “Nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân, là những cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân” Nhân dân lao động tham gia trực tiếp vào cơ quan quyền lực nhà nƣớc với tƣ cách là đại biểu của cơ quan đó để quyết định những vấn đề quan trọng của đất nƣớc, của địa phƣơng và giám sát hoạt động chấp hành pháp luật của công chức và các cơ quan đó. Họ cũng có thể tham gia gián tiếp vào cơ quan nhà nƣớc nói chung thông qua việc bầu cử hoặc với tƣ cách là cán bộ nhà nƣớc ở những cơ quan nhƣ cơ quan xét xử, cơ quan kiểm sát hoặc cơ quan hành chính nhà nƣớc. - Sự tham gia của quần chúng nhân dân lao động vào hoạt động của các tổ chức xã hội. Ở đây, nhân dân lao động đồng thời là các thành viên của các tổ chức này. Vì thế, thông qua các tổ chức xã hội, nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình để “tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân...giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử và cán bộ, viên chức nhà nước” (Điều 9 Hiến pháp 1992) - Nhân dân lao động tham gia vào các tổ chức tự quản ở cơ sở nhƣ tổ hoà giải, tổ dân phòng...Thông qua những hoạt động tự quản này, đặt biệt qua những phong trào thi đua sản xuất, nhân dân lao động góp phần bảo vệ của công, giữ gìn an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội, tổ chức đời sống công cộng. - Nhân dân lao động trực tiếp thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân nhƣ quyền bầu cử, ứng cử, quyền khiếu nại, tố cáo, quyền lao động... Việc thực hiện trực tiếp các quyền và nghĩa vụ của mình là cơ hội tham gia quản lý nhà nƣớc và xã hội, tham gia thảo luận đóng góp công sức và trí tuệ nhằm giải quyết các vấn đề chung của cả nƣớc và địa phƣơng, kiến nghị với cơ quan nhà nƣớc, biểu quyết khi nhà nƣớc tổ chức trƣng cầu dân ý. 2.2.3. Nguyên tắc tập trung dân chủ Nguyên tắc này bao hàm sự kết hợp hai yếu tố tập trung và dân chủ. Hai yếu tố này tác động qua lại, vừa bảo đảm sự lãnh đạo tập trung trên cơ sở dân chủ vừa đảm bảo Bài giảng Luật hành chính 14 GV: Nguyễn Thị Hà Trường Đại học Đông Á Khoa KHXH&NV mở rộng dân chủ dƣới sự lãnh đạo tập trung. Trong tổ chức và hoạt động quản lý nhà nƣớc, hai yếu tố tập trung và dân chủ luôn đƣợc coi trọng nhƣ nhau, không hạn chế nhau. Coi trọng quá mức hoặc hạn chế một yếu tố nào đều làm cho hoạt động quản lý kém hiệu quả. Đảng và nhà nƣớc ta đã chỉ rõ: Tập trung dân chủ là nguyên tắc quan trọng nhất chỉ đạo mọi hoạt động tổ chức, sinh hoạt nội bộ và phong cáhc làm việc của mỗi cán bộ, công chức. Nguyên tắc tập trung dân chủ biểu hiện trong quản lý hành chính ở những điểm sau: 2.2.3.1.Sự phụ thuộc của cơ quan hành chính nhà nước vào cơ quan quyền lực nhà nước cùng cấp Sự phụ thuộc này thể hiện sự thống nhất chính trị trong tổ chức và hoạt động của cơ quan hành chính nhà nƣớc ở nƣớc ta. Yếu tố tập trung thể hiện ở quyền của cơ quan quyền lực nhà nƣớc trong việc thành lập, thay đổi hay bãi bỏ các cơ quan hành chính nhà nƣớc, trong việc chỉ đạo và giám sát các hoạt động đối với các cơ quan này. Yếu tố dân chủ thể hiện rõ nét trong việc cơ quan quyền lực nhà nƣớc trao quyền chủ động sáng tạo cho các cơ quan hành chính nhà nƣớc trong quá trình những cơ quan này chỉ đạo, điều hành các đơn vị thuộc quyền thực hiện Hiếp pháp, luật và các văn bản pháp luật của cơ quan quyền lực nhà nƣớc cũng nhƣ văn bản pháp luật của cấp trên. 2.2.3.2.Sự phục tùng của cấp dưới đối với cấp trên, địa phương phục tùng trung ương Sự phục tùng của cấp dƣới đối với cấp trên, địa phƣơng phục tùng trung ƣơng đảm bảo cho trung ƣơng, cấp trên tập trung quyền lực nhà nƣớc chỉ đạo, giám sát hoạt động cấp dƣới và của địa phƣơng. Đồng thời, cấp trên, trung ƣơng cũng phải tôn trọng ý kiến của cấp dƣới, địa phƣơng về công tác tổ chức, hoạt động và các vấn đề khác của quản lý nhà nƣớc; phải tạo mọi điều kiện để cấp dƣới phát huy tính chủ động, sáng tạo nhằm huy động mọi khả năng về trí tuệ, lao động... để hoàn thành tốt nhiệm vụ đƣợc giao. Bài giảng Luật hành chính 15 GV: Nguyễn Thị Hà Trường Đại học Đông Á Khoa KHXH&NV 2.2.3.3.Sự phân cấp quản lý Hình thức này biểu hiện là việc phân định chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn của các cấp trong bộ máy quản lý hành chính nhà nƣớc. Phân cấp quản lý có thể đƣợc hiểu là sự chuyển giao một số quyền hạn từ trung ƣơng xuống địa phƣơng nhằm đạt đƣợc hiệu quả tối ƣu trong quản lý. 2.2.3.4.Hướng về cơ sở Đây là biện pháp hữu hiệu để khai thác tốt tiềm năng của cơ sở bởi vì cơ sở là nơi trực tiếp nhất tạo ra của cải, vật chất cho xã hội, trực tiếp phục vụ đời sống vật chất và đời sống tinh thần của nhân dân. Hƣớng về cơ sở là mở rộng dân chủ trên cơ sở quản lý tập trung. 2.2.3.5.Sự phụ thuộc hai chiều của cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương Sự phụ thuộc hai chiều (chiều dọc và chiều ngang) bảo đảm sự thống nhất giữa lợi ích chung của cả nƣớc với lợi ích vùng lãnh thổ.. Mối phụ thuộc dọc (giữa cơ quan hành chính nhà nƣớc cấp trên và cấp dƣới theo hệ thống dọc) giúp cho cấp trên có thể tập trung quyền lực nhà nƣớc để chỉ đạo cấp dƣới thực hiện hoạt động chung thống nhất. Mối phụ thuộc ngang (giữa UBND và Hội đồng nhân dân cùng cấp) tạo điều kiện cần thiết cho cấp dƣới mở rộng dân chủ, phát huy sức mạnh của địa phƣơng, hoàn thành nhiệm vụ mà cấp trên giao cho. 2.2.4. Nguyên tắc bình đẳng giữa các dân tộc Bản chất của nhà nƣớc Việt Nam là nhà nƣớc dân chủ, mọi công dân đều bình đẳng trƣớc pháp luật. Tại Điều 5 Hiến pháp 1992 quy định: “ Nhà nƣớc cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nƣớc thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nƣớc Việt Nam...”. Nguyên tắc này biểu hiện trong quản lý hành chính nhà nƣớc nhƣ sau: - Trong các cơ quan nhà nƣớc, đặc biệt là cơ quan quyền lực nhà nƣớc, đại biểu đông đảo của dân tộc ít ngƣời bao giờ cũng chiếm một tỷ lệ nhất định. Bài giảng Luật hành chính 16 GV: Nguyễn Thị Hà Trường Đại học Đông Á Khoa KHXH&NV - Nhà nƣớc có chính sách ƣu tiên đối với con em các dân tộc ít ngƣời trong quá trình giáo dục, đào tạo cán bộ, giúp đỡ họ cả về vật chất lẫn tinh thần để họ có điều kiện học tập, nâng cao trình độ về mọi mặt. - Nhà nƣớc có chính sách đúng đắn đối với những ngƣời đi xây dựng vùng kinh tế mới, có kế hoạch và thƣờng xuyên tổ chức phân bố lao động tới các vùng cao, vùng sâu.. - Nhà nƣớc đặc biệt ƣu tiên tới việc đầu tƣ xây dựng công trình quan trọng về kinh tế, quốc phòng ở các vùng biên giới, hải đảo nhằm khai thác những tiềm năng kinh tế ở những vùng này và từng bƣớc xoá bỏ sự chênh lệch giữa các vùng trong cả nƣớc. Nhà nƣớc thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết tƣơng trợ giữa các dân tộc, nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc. Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc và phát huy những phong tục, tập quán, truyền thống và văn hoá tốt đẹp của mình. 2.2.5. Những tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa Điều 12 Hiến pháp 1992 quy định: “Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa”... Trong quản lý hành chính nhà nƣớc, nguyên tắc này biểu hiện nhƣ sau: - Trong lĩnh vực xây dựng pháp luật, việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan quản lý hành chính nhà không đƣợc trái Hiến pháp và các văn bản luật do cơ quan quyền lực nhà nƣớc ban hành. - Trong lĩnh vực thực hiện pháp luật phải lấy Hiến pháp, luật làm cơ sở. Việc áp dụng quy phạm pháp luật phải phù hợp cả về nội dung và hình thức của luật hay các văn bản quy phạm pháp luật khác. - Trong lĩnh vực tổ chức, hoạt động của bộ máy quản lý hành chính nhà nƣớc phải thống nhất, hạt nhân của sự thống nhất đó chính là pháp luật. 2.2.6. Nguyên tắc kết hợp quản lý ngành và quản lý theo lãnh thổ Quản lý theo ngành là hoạt động quản lý của các cơ quan đơn vị, tổ chức kinh tế, văn hoá xã hội có cùng cơ cấu kinh tế - kỷ thuật hoặc hoạt động với mục đích giống Bài giảng Luật hành chính 17 GV: Nguyễn Thị Hà Trường Đại học Đông Á Khoa KHXH&NV nhau làm cho hoạt động tổ chức, đơn vị này phát triển một cách đồng bộ, nhịp nhàng, đáp ứng đƣợc với yêu cầu của nhà nƣớc và xã hội. - Quản lý theo lãnh thổ: Là quản lý theo sự phân cấp quản lý ngành và cơ quan quản lý lãnh thổ phải có sự phối hợp với nhau để tránh sự mâu thuẩn, chồng chéo đi đến thống nhất. Quản lý theo ngành kết hợp với quản lý theo địa phƣơng là sự phối hợp chặt chẽ giữa quản lý theo chiều dọc (của bộ) và quản lý theo chiều ngang (chính quyền địa phƣơng) theo sự phân công trách nhiệm và phân cấp quản lý. Nguyên tắc kết hợp này bảo đảm sự phát triển các ngành kinh tế kỹ thuật, văn hoá xã hội trên địa bàn địa phƣơng, bảo đảm sự phối hợp đúng đắn về trách nhiệm giữa các đơn vị kinh tế và chính quyền địa phƣơng. 2.2.7. Nguyên tắc quản lý ngành kết hợp với quản lý theo chức năng - Các cơ quan quản lý theo chức năng có quyền ban hành các quy định, các mệnh lệnh cụ thể liên quan đến chức năng quản lý của mình theo quy định của pháp luật, có tính bắt buộc thực hiện đối với các ngành, các cấp đồng thời các cơ quan quản lý theo chức năng kiểm tra thực hiện các chính sách, chế độ do mình ban hành, xử lý hoặc đề nghị các cấp có thẩm quyền xử lý các hành vi vi phạm các chính sách, chế độ do mình ban hành theo quy định của pháp luật. - Các cơ quan quản lý ngành có quyền hạn ban hành các quyết định, quản lý có tính chất bắt buộc phải thực hiện đối với các ngành có liên quan trong phạm vi những vấn đề thuộc quyền quản lý của ngành và kiểm tra việc thực hiện các quyết định quản lý đó. - Trong phạm vi công việc của mình, các cơ quan quản lý ngành, chức năng có quyền phối hợp với nhau để ban hành các quyết định quản lý có hiệu lực chung. CÂU HỎI ÔN TẬP 1. Trình bày nội dung của các nguyên tắc trong quản lý hành chính nhà nƣớc? Bài giảng Luật hành chính 18 GV: Nguyễn Thị Hà Trường Đại học Đông Á Khoa KHXH&NV 2. Sự cần thiết phải kết hợp quản lý ngành với quản lý theo lãnh thổ? Quản lý ngành với quản lý theo chức năng? BÀI TẬP NHÓM Trong các nguyên tắc quản lý hành chính nhà nƣớc, nguyên tắc nào là quan trọng nhất? Vì sao? Chƣơng 3 NHỮNG HÌNH THỨC VÀ PHƢƠNG PHÁP CƠ BẢN TRONG QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƢỚC 3.1. NHỮNG HÌNH THỨC CƠ BẢN TRONG QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƢỚC 3.1.1. Khái niệm: Hình thức quản lý là biểu hiện bên ngoài các hoạt động quản lý do các chủ thể thực hiện quyền hành pháp tiến hành nhƣ việc ban hành văn bản quản lý, tiến hành các Bài giảng Luật hành chính 19 GV: Nguyễn Thị Hà Trường Đại học Đông Á Khoa KHXH&NV biện pháp tổ chức và tác nghiệp vật chất, kỹ thuật để nhằm thực hiện tốt chức năng quản lý hành chính nhà nƣớc. 3.1.2. Các hình thức quản lý: 3.1.2.1. Hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật Đây là hoạt động mang tính đặc thù của hoạt động chấp hành - điều hành của các chủ thể quản lý hành chính nhà nƣớc. Hoạt động này đƣợc bắt nguồn từ quyền hành pháp của các chủ thể. Quyền ban hành các văn bản này chính là quyền đặt ra các quy tắc hành vi trên cơ sở các văn bản luật và nhằm mục đích để thi hành luật (quyền lập quy). Hình thức ban hành văn bản quy phạm pháp luật không chỉ là hoạt động đặc thù của các chủ thể thực hiện quyền hành pháp mà còn thông qua hình thức này chúng ta còn thấy đƣợc vị trí, tính chất của các cơ quan quản lý hành chính nhà nƣớc trung ƣơng hay địa phƣơng; cơ quan có thẩm quyền chung hay thẩm quyền chuyên môn; cơ quan lãnh đạo tập thể hay lãnh đạo cá nhân... trong quá trình thực hiện quyền lực nhà nƣớc trong lĩnh vực hành pháp do luật định. 3.1.2.2. Ban hành văn bản áp dụng quy phạm pháp luật - Hình thức này thể hiện bằng việc ban hành văn bản áp dụng quy phạm pháp luật, các chủ thể của quản lý hành chính nhà nƣớc giải quyết những vụ việc cụ thể liên quan đến cơ quan, tổ chức hay các nhân trên cơ sở những yêu cầu và điều kiện đã đƣợc quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật. - Hoạt động này làm phát sinh, thay đổi và chấm dứt quan hệ pháp luật. 3.1.2.3.Hoạt động áp dụng những biện pháp tổ chức trực tiếp Đây là những hoạt động không liên quan gì đến hoạt động ban hành văn bản quản lý. Các biện pháp này có thể đƣợc thực hiện trƣớc hoặc sau thời gian các chủ thể ban hành văn bản quản lý. Đó là hàng loạt các biện pháp nhƣ: phân tích, nghiên cứu, tổng kết, phổ biến kinh nghiệm... Ngoài ra, các biện pháp tổ chức còn bao gồm cả việc xây dựng kế hoạch công tác, việc tuyển chọn và sử dụng cán bộ, phân chia chức năng tổ chức thực hiện quyết định, kiểm tra việc thực hiện quyết định, tiến hành các cuộc họp, hội nghị... Bài giảng Luật hành chính 20 GV: Nguyễn Thị Hà
- Xem thêm -