Tài liệu Bài giảng hầu trời

  • Số trang: 19 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 594 |
  • Lượt tải: 1
vndoc

Đã đăng 7399 tài liệu

Mô tả:

BÀI GIẢNG NGỮ VĂN LỚP 11 HẦU TRỜI TẢN ĐÀ KẾT QUẢ CẦN ĐẠT Học sinh cảm nhận được tâm hồn lãng mạn, độc đáo của thi sĩ Tản Đà (tư tưởng thoát ly, ý thức về “cái tôi”, cá tính “ngông”) và những dấu hiệu đổi mới theo hướng hiện đại của thơ ca Việt Nam vào đầu những năm 20 của thế kỷ XX.  Học sinh thấy được giá trị nội dung, nghệ thuật đặc sắc của thơ Tản Đà.  Học sinh biết nhận thức bản thân với tư cách chủ thể giữa cõi nhân gian này.  Hình ảnh Tản Đà qua kí họa (1889 - 1939) Nhà thơ Tản Đà (1889 - 1939) NỘI DUNG CẦN TÌM HIỂU I. TÌM HIỂU CHUNG 1. Tác giả 2. Các tác phẩm 3. Văn bản Hầu Trời II. TÌM HIỂU VĂN BẢN 1. Giới thiệu câu chuyện 2.Thi nhân đọc thơ cho Trời và chư tiên nghe a. Thái độ của thi nhân khi đọc thơ và việc thi nhân nói về tác phẩm của mình. b. Thái độ của người nghe thơ (Trời và chư tiên). 3. Thi nhân trò chuyện với Trời. a. Thi nhân kể về hoàn cảnh của mình. b. Trách nhiệm và khát vọng của thi nhân. III. TỔNG KẾT Chia lớp làm ba nhóm Nhóm 1: Đọc sách giáo khoa:phần tiểu dẫn.Hãy tóm tắt tiểu sử Tản Đà.  Nhóm 2: Em hãy kể tên một số tác phẩm của Tản Đà mà em biết.  Nhóm 3: Sau khi đọc bài Hầu trời các em có nhận xét gì?  I. TÌM HIỂU CHUNG 1. Tác giả * Dựa vào phần tiểu dẫn – SGK/12, em hãy giới thiệu một vài nét chính về tác giả Tản Đ à? - Tản Đà (1889 – 1939), tên thật Nguyễn Khắc Hiếu - Quê hương: tỉnh Sơn Tây (nay thuộc tỉnh Hà Tây) - Con người: + Sinh ra và lớn lên trong buổi giao thời. + “Người của hai thế kỷ”(Hoài Thanh) + Học chữ Hán từ nhỏ nhưng về sau chuyển sang sáng tác văn chương quốc ngữ… - Phong cách thơ văn: + Lãng mạn, bay bổng, vừa phóng khoáng, ngông nghênh, vừa cảm thương, ưu ái. + Có thể xem thơ văn ông như một gạch nối giữa hai thời đại văn học của dân tộc: trung đại và hiện đại. 2. Các tác phẩm • *Hãy kể tên các tác phẩm tiêu biểu của tác giả Tản Đà? • - Thơ: Khối tình con I,II (1916, 1918). • - Truyện: Giấc mộng con I,II (1916, 1932). • - Tự truyện: Giấc mộng lớn (1928). • - Thơ và văn xuôi: Còn chơi (1921) … 3. Văn bản “hầu trời” *Em hãy nêu xuất xứ và cho biết bố cục bố cục của văn bản này? a. Xuất xứ: - Trong tập Còn chơi (1921). - Bài thơ ra đời vào thời điểm khuynh hướng lãng mạn đã khá đậm nét trong văn chương thời đại. Xã hội thực dân nửa phong kiến tù hãm, u uất, đầy rẫy những cảnh ngang trái, xót đau… b. Đọc, giải thích từ khó (Đọc phần chữ to) c. Bố cục: 3 phần - Phần 1: Giới thiệu về câu chuyện (từ “Đêm qua…” đến “lạ lùng”). - Phần 2: Thi nhân đọc thơ cho Trời và chư tiên nghe (từ “Chư tiên…” đến “chợ Trời”). - Phần 3: Thi nhân trò chuyện với Trời (từ “Trời lại phê cho…” đến “sương tuyết”). II. TÌM HIỂU VĂN BẢN 1. Giới thiệu câu chuyện *Các em đọc lại khổ thơ thứ nhất và trả lời những câu hỏi (cho học sinh thảo luận theo từng tổ). - Câu chuyện xảy ra vào lúc nào? Và nói về việc gì? - Nhân vật trữ tình ở đây là ai? Mang tâm trạng gì? - Nhận xét biện pháp nghệ thuật được tác giả vận dụng trong khổ 1? - Với cách giới thiệu như vậy đã gợi cho người đọc cảm giác như thế nào về câu chuyện mà tác giả sắp kể? - Từ đó, ta thấy được gì về “cái tôi” cá nhân của thi sĩ Tản Đà? 1. Giới thiệu câu chuyện - Câu chuyện xảy ra vào “đêm qua” (Đêm qua chẳng biết có hay không)  gợi khoảnh khắc yên tĩnh, vắng lặng… - Chuyện kể về một giấc mơ được lên cõi tiên (Thật được lên tiên – sướng lạ lùng). - Nhân vật trữ tình là tác giả, đang mang tâm trạng “Chẳng phải hoảng hốt, không mơ mòng”. - Biện pháp nghệ thuật: + Điệp từ: “thật” (Thật hồn ! Thật phách ! Thật thân thể! Thật được lên tiên…) -> nhấn mạnh tâm trạng, cảm xúc của thi nhân. + Câu cảm thán -> bộc lộ cảm xúc bàng hoàng. + Câu khẳng định -> dường như lật lại vấn đề: mơ mà như tỉnh, hư mà như thực. - Cách giới thiệu trên đã gợi cho người đọc về tứ thơ lãng mạn nhưng cảm xúc là có thực. Tác giả muốn người đọc cảm nhận được cái “hồn cốt” trong cõi mộng, mộng mà như tỉnh, hư mà như thực.  Ngay khổ thơ mở đầu người đọc cảm nhận được một “cái tôi” cá nhân đầy chất lãng mạn, bay bỏng pha lẫn với nét “ngông” trong phong cách thơ văn của thi nhân. Với cách vào chuyện thật độc đáo, có duyên đã làm cho câu chuyện mà tác giả sắp kể trở nên lôi cuốn, hấp dẫn. 2. Thi nhân đọc thơ cho Trời và chư tiên nghe Học sinh lần lượt trả lời các câu hỏi: - Thái độ của thi nhân khi đọc thơ như thế nào? - Thái độ của người nghe thơ (Trời và chư tiên) ra sao? - Qua đó, em có nhận xét gì về thơ, về giọng đọc của tác giả? - Từ sự phân tích trên, có cảm nhận gì về cá tính, tâm hồn nhà thơ? 2. Thi nhân đọc thơ cho Trời và chư tiên nghe a. Thái độ của thi nhân khi đọc thơ và việc thi nhân nói về tác phẩm của mình: - Thi nhân đọc rất cao hứng, sảng khoái và có phần tự đắc: Đọc hết văn vần sang văn xuôi Hết văn thuyết lí lại văn chơi Đương cơn đắc ý đọc đã thích Chè trời nhấp giọng càng tốt hơi. Văn dài hơi tốt ran cung mây! Trời nghe trời cũng lấy làm hay. … Văn đã giàu thay, lại lắm lối Trời nghe trời cũng thật buồn cười! … 2. Thi nhân đọc thơ cho Trời và chư tiên nghe a. Thái độ của thi nhân khi đọc thơ và việc thi nhân nói về các tác phẩm của mình: - Thi nhân kể tường tận, chi tiết về các tác phẩm của mình: Hai quyển Khối tình văn thuyết lí Hai Khối tình con là văn chơi Thần tiền, Giấc mộng văn tiểu thuyết … - Giọng đọc: đa dạng, hóm hỉnh, ngông nghênh, có phần tự đắc…  Thi nhân rất ý thức về tài năng thơ văn của mình, và cũng là người táo bạo, dám đường hoàng bộc lộ “cái tôi” cá thể. Ông cũng rất ngông khi tìm đến tận trời để khẳng định tài năng của mình trước Ngọc hoàng Thượng đế và chư tiên. Cái ngông trong văn chương thường biểu hiện thái độ phản ứng của người nghệ sĩ tài hoa, có cốt cách, có tâm hồn không muốn chấp nhận sự bằng phẳng, sự đơn điệu, nên thường tự đề cao, phóng đại cá tính của mình. Đó là niềm khao khát chân thành trong tâm hồn thi sĩ. (Liên hệ tác giả Trần Tế Xương, Nguyễn Công Trứ khi nói về cái tôi ngông nghênh, kiêu bạt, hào hoa…) 2. Thi nhân đọc thơ cho Trời và chư tiên nghe a. Thái độ của thi nhân khi đọc thơ và việc thi nhân nói về các tác phẩm của mình. b. Thái độ của người nghe thơ: - Thái độ của Trời: khen rất nhiệt thành: Văn thật tuyệt, văn trần được thế chắc có ít, văn chuốt đẹp như sao băng, văn hùng mạnh như mây chuyển, êm như gió thỏang, tinh như sương, đầm như mưa sa, lạnh như tuyết,… - Thái độ của chư tiên: xúc động, hâm mộ và tán thưởng: Tâm như nở dạ, Cơ lè lưỡi Hằng Nga, Chức Nữ chau đôi mày Song Thành, Tiểu Ngọc lắng tai đứng Đọc xong mội bài cùng vỗ tay...  Người nghe rất ngưỡng mộ tài năng thơ văn của tác giả. Cả đoạn thơ mang đậm chất lãng mạn và thể hiện tư tuởng thoát li trước thời cuộc. 3. Thi nhân trò chuyện với Trời a. Thi nhân kể về hoàn cảnh của mình * Thi nhân kể gì về hoàn cảnh của mình cho Trời nghe? - Thi nhân kể họ tên, quê quán : “ Con tên Khắc Hiếu họ là Nguyễn Quê ở Á châu về Địa cầu Sông Đà núi Tản nước Nam Việt.”  Cách kể họ tên trong thơ văn càng khẳng định hơn về cái tôi cá nhân ( Liên hệ nữ sĩ Hồ Xuân Hương ) - Thi nhân kể về cuộc sống : “ Bẩm Trời, cảnh con thực nghèo khó Trần gian thước đất cũng không có Nhờ Trời năm xưa học ít nhiều Vốn liếng còn một bụng văn đó. … Văn chương hạ giới rẻ như bèo Kiếm được đồng lãi thực rất khó. Kiếm được thời ít tiêu thời nhiều Làm mãi quanh năm chẳng đủ tiêu…” 3. Thi nhân trò chuyện với Trời a. Thi nhân kể về hoàn cảnh của mình * Từ đó em có nhận xét gì về cuộc sống của thi nhân?  Cuộc sống nghèo khó, túng thiếu. Thân phận nhà văn bị rẻ rúng, coi thường. Ở trần gian ông không tìm được tri âm, nên phải lên tận cõi Trời để thỏa nguyện nỗi lòng.  Đó cũng chính là hiện thực cuộc sống của người nghệ sĩ trong xã hội bấy giờ – một cuộc sống cơ cực, tủi hổ, không tấc đấc cắm dùi, thân phận bị rẻ rúng, làm chẳng đủ ăn,… + Tác giả cho người đọc thấy một bức tranh rất chân thực và cảm động về chính cuộc đời mình và cuộc đời nhiều nhà văn, nhà thơ khác. (Liên hệ cuộc đời nhà văn Nam Cao chẳng hạn và cuộc đời thật của Tản Đà). + Cảm hứng hiện thực bao trùm cả đoạn thơ này. 3. Thi nhân trò chuyện với Trời a. Thi nhân kể về hoàn cảnh của mình b. Trách nhiệm và khát vọng của thi nhân * Trời giao cho nhà thơ nhiệm vụ gì ? Nhiệm vụ mà Trời giao cho có ý nghĩa như thế nào? - Nhiệm vụ Trời giao : Truyền bá “thiên lương” ( đọc chú thích (2) – SGK/15 ) "Thiên lương” (SGK Thí điểm): một luận thuyết về cải cách xã hội của Tản Đà. Tản Đà quan niệm "thiên lương" là nhân tố cơ bản thúc đẩy sự tiến bộ xã hội, là sự thống nhất toàn vẹn của ba "chất" trong con người: lương tri (tri giác trời cho), lương tâm (tâm tính, bụng dạ trời cho) và lương năng (tài năng trời cho). Theo ông, nếu chú ý bồi đắp, thực hành "thiên lương" thì có thể cải tạo được tình trạng "luân thường đảo ngược, phong hoá suy đồi" và sự trì trệ, lạc hậu của xã hội Việt Nam thời đó.  Nhiệm vụ trên chứng tỏ Tản Đà lãng mạn nhưng không hoàn toàn thóat li cuộc sống. Ông vẫn ý thức về nghĩa vụ, trách nhiệm với đời để đem lại cho đời cuộc sống ấm no, hạnh phúc hơn. - Thi nhân khát khao được gánh vác việc đời -> Đó cũng là một cách tự khẳng định mình trước thời cuộc. + Cảm hứng lãng mạn và cảm hứng hiện thực đan xen khắng khít trong thơ văn của Tản Đà. III. TỔNG KẾT 1. Nội dung - Bài thơ thể hiện cái tôi cá nhân ngông nghênh, kiêu bạt, hào hoa và cái tôi cô đơn, bế tắc trước thời cuộc. • - Có thể thấy nhà thơ đã tìm được hướng đi đúng đắn để khẳng định mình giữc lúc thơ phú nhà nho đang đi dần đến dấu chấm hết. • - Nhìn chung thơ Tản Đà chưa mới nhưng những dấu hiệu đổi mới theo hướng hiện đại đã khá đậm nét… 2. Nghệ thuật - Cách kể chuyện hóm hỉnh, có duyên, lôi cuốn người đọc. - Ngôn ngữ thơ chọn lọc, tinh tế, gợi cảm, không cách điệu, ước lệ. - Tác giả tự hiện diện trong bài thơ với tư cách người kể truyện, đồng thời là nhân vật chính. - Cảm xúc bộc lộ thoải mái, tự nhiên, phóng túng. - Thể thơ thất ngôn trường thiên khá tự do… CỦNG CỐ – DẶN DÒ • * Củng cố kiến thức • Xoay quanh những ý chính sau: • • • - Cảm xúc mới mẻ, cảm hứng lãng mạn, hiện thực. - Ý thức về “ cái tôi” cá nhân và niềm khao khát được khẳng định mình… - Nét mới về mặt nghệ thuật… • * Dặn dò • - Nắm vững, hiểu rõ kiến thức trọng tâm bài học. • • • - Xem thêm phần luyện tập. - Sọan bài tiếp theo: Nghĩa của câu…
- Xem thêm -