Tài liệu Bai giang chuyen de - lich su cac nuoc tay au va hoa ky tap 1

  • Số trang: 138 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 131 |
  • Lượt tải: 0
nho-nhinhinh

Đã đăng 464 tài liệu

Mô tả:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH KHOA LỊCH SỬ LÊ PHỤNG HOÀNG (TẬP I ) TÀI LIỆU LƯU HÀNH NỘI BỘ - 2002 MỤC LỤC Bài 1: Sự ra đời của chế độ Đại nghị ở Anh 04 A - Mục đích 06 I - Những nền móng đầu tiên của chế độ đại nghị 06 II - Sự ra đời của nền móng Tư bản chủ nghĩa trong các thế kỷ XIV và XV 11 III – Vương quốc Anh chuyển sang chế độ tư bản trong thế kỷ XVI [Từ Henri VII (1485-1509) đến Elizabeth I (1558-1603)] 18 IV - Nước Anh trong thế kỷ XVII (1603-1704) và cách mạng dân chủ (1640-1689) 27 B - Tài liệu tham khảo 39 Bài 2 : Cải cách tôn giáo ở các nước Tây Âu trong thế kỷ XVI 40 A - Mục đích 40 B - Dẫn nhập 40 1. Vị trí của Giáo hội công giáo Roma (cho đến đầu thế kỷ XVI) 40 2. Các nguyên nhân của cải cách tôn giáo 42 I> Cuộc vận động cải cách của Luther (1483-1546) và đạo Lutherarism ở Đức 48 II> Cuộc vận động cải cách của Zwingli và Calvm ở Thụy Sĩ. Đạo Calvinism 52 III> Cuộc cải cách của Giáo hội công giáo La Mã 57 C - Tài liệu tham khảo 66 Bài 3 : Quan điểm về đường lối Quốc phòng của Pháp trong khoảng thời gian giữa 2 cuộc chiến tranh thế giới 67 A - Mục đích 67 B – Tài liệu tham khảo 78 Bài 4 : Quan hệ giữa Đảng Cộng sản Đức (KPD) và Đảng xã hội dân chủ Đức (SPD) và thắng lợi của Đảng công nhân quốc gia XGCN Đức (NSDAP) 79 A - Mục đích I. Tình trạng chia rẽ trong hàng ngũ Đảng xã hội dân chủ Đức (SPD) trước cách mạng tháng 11-1918 79 II. Quan hệ giữa KPD và SPD trong cap trào cách mạng 1918 – 1923 81 III. Mầm móng trong thực tế và lý luận đưa đến thắng lợi của Đảng công nhân quốc gia XHCN Đức (NSDAP) (1924 - 1929) 86 IV. Chế độ Weimar hấp hối 94 106 B – Tài liệu tham khảo Bài 5 : Chính sách của Hoa Kỳ đối với Trung Quốc từ năm 1941 đến năm 1949 107 A - Mục đích 107 B - Dẫn nhập 107 I> Chính sách của Hoa Kỳ đối với Trung Quốc trong thời gian chiến tranh Thái Bình Dương (1941 – 1945) 109 II> Chính sách của Hoa Kỳ đối với Trung Quốc từ sau chiến tranh Thái Bình Dương (1945 – 1949) 118 C – Tài liệu tham khảo 137 BÀI I SỰ RA ĐỜI CỦA CHẾ ĐỘ ĐẠI NGHỊ Ở ANH A.MỤC ĐÍCH Hình thức tổ chức phổ quát nhất của bộ máy nhà nước trên thế giới ngày nay là chế độ đại nghị (parliamentarism). Ra đời ở nước Anh, chế độ này đã có mặt ở nhiều nước tại cả 5 châu lục thuộc những nền văn hóa khác nhau, theo những đường lối đối ngoại và đối nội không giống nhau, có trình độ phát triển không đồng đều, có số dân chênh lệch đáng kể: Ấn Độ và Thụy Điển, Australia và Campuchia, Canada và Thái Lan, Nhật và Israel... Tính phổ quát trên là kết quả của một quá trình phát triển lâu dài với biết bao thử thách. Chúng đã góp phần tạo ra diện mạo ngày nay của chế độ đại nghị. Tìm hiểu sự ra đời, cũng là quá trình hình thành của chế độ đại nghị cần được xem là một nội dung quan trọng của bộ môn Lịch sử các nước Tây Âu và Hoa Kỳ đang được giảng dạy ở Khoa Lịch sử - Đại học Sư Phạm TP. Hồ Chí Minh. Chuyên đề “Sự ra đời của chế độ đại nghị ở Anh” được biên soạn nhằm phục vụ yêu cầu vừa kể. DẪN NHẬP KHÁI QUÁT LỊCH SỬ ANH CHO ĐẾN GIỮA THẾ KỶ XII Khoảng giữa thế kỷ V s.CN, quyền lực của Đế chế Tây La Mã ở Anh bị sụp đổ, khi đảo này bị những bộ tộc Angle, Saxon và Jute thuộc tộc German xâm nhập. Trên những vùng đất vừa mới đến định cư, họ đã dựng lên nhiều tiểu vương quốc. Giống như tình hình ở phần lãnh thổ lục địa của Đế chế Tây La Mã, những tiểu vương quốc German trên đảo Anh (Bristish Isles) đã thường xuyên gây chiến và thôn tính lãnh thổ của nhau. Kết quả là lúc tiểu vương quốc này, khi tiểu vương quốc khác nổi lên chiếm ưu thế. Họ còn phải chiến đấu chống lại những người Viking (Nordman - người phương Bắc) phát xuất từ bán đảo Scandinavia (chủ yếu từ Đan Mạch) tràn vào cướp phá. Vào thế kỷ XI, Wessex trở thành vương quốc mạnh nhất và thống nhất được phần lớn miền nam đảo Anh. Thành quả này phần lớn thuộc về công lao của vua Alfred vĩ đại (871 - 899). Không chỉ là một nhà quân sự tài ba, ông còn nổi tiếng là nhà cai trị kiệt xuất. Ông đã cải tiến hệ thống hành chính địa phương, ban hành nhiều điều luật. Vương quốc Anh (Kingdom of England) đã ra đời từ đó. Dòng họ Alfred cai trị đến năm 1016 (đời vua Ethelred) thì bị người Đan Mạch đánh bại và cướp ngôi. Vương quốc Anh và Đan Mạch được kết hợp thành một đế chế thuộc quyền cai trị của vua Đan Mạch Canute (1017 - 1035). Đây là ông vua có tài, nhưng hai người con kế vị lại là những bạo chúa và bị người dân oán ghét. Năm 1042, khi người con thứ hai qua đời, dân Vương quốc Anh đã nổi dậy và đưa Edward the Confessor, con của Ethelred, lên ngôi. Năm 1066, Edward qua đời không có con nối dõi. William, Công tước xứ Normandy (Duke of Normandy) và cũng là bà con của Edward the Confessor, đã dựa vào mối quan hệ thân thuộc với dòng họ Alfred để đòi được trao quyền kế vị. Nhưng triều đình Anh đã chọn Harold, một quý tộc trong nước có thế lực, lên thay. Ngay trong năm 1066, William đã cầm đầu một đạo quân từ Normandy vượt biển đổ bộ lên đảo Anh. Tại trận Hastings, Harold bị đánh bại và bị giết. Trở thành vua Vương quốc Anh cho đến khi qua đời (1087) và được gọi là The Conqueror (Người chinh phục), William là một ông vua có thế lực đủ mạnh để lần lượt dập tắt tất cả các cuộc nổi dậy chống đối tuy mãnh liệt, nhưng rời rạc của quý tộc bản xứ. Những chiến lợi phẩm to lớn thu được từ các cuộc hành quân trấn áp thắng lợi đã cho phép William the Conqueror mua chuộc và tạo ra một giới quý tộc nhỏ người Britain trung thành với mình. Rút kinh nghiệm từ quá trình cai trị Normandy và những gì được chứng kiến ở Pháp dưới chế độ phong kiến (feudalism), William cho phép các lãnh chúa phong kiến được xây dựng các lâu đài kiên cố, nhưng giải tán các lãnh địa quá lớn. Những lãnh địa lớn nào còn được phép duy trì đều gồm những phần đất bị phân cách về địa lý. Kết quả là bản đồ Vương quốc Anh thế kỷ XII và cả XIII cho thấy lãnh địa của những gia đình đại quý tộc đều nằm rải rác ở những vùng khác nhau, còn nhà vua trở thành địa chủ lớn nhất trong nước. Ông làm chủ đến 1420 trang viên và nhiều nông trại. Cùng với những người thân gần gũi nhất, William kiểm soát khoảng 1/4 lợi tức quốc gia (khoảng 85.000 sterling), tương đương với thu nhập của Giáo hội ; còn 170 quý tộc lớn nhỏ chia nhau 2/5 lợi tức. Năm 1086, William còn buộc tất cả các quý tộc - bất kể tước danh và nguồn gốc - trong vương quốc phải tòng phục và tuyên thệ trung thành với cá nhân ông. Khi ban cấp lãnh địa cho các kỵ sĩ Normandy theo ông, William đã giữ lại quyền thu thuế và xét xử. Việc tiếp tục duy trì chế độ dân quân (mọi người dân đều có nghĩa vụ binh dịch đối với vua) đã cho phép William the Conqueror bớt sự lệ thuộc về mặt quân sự vào các quý tộc lớn. Trong tư cách là một nhà chinh phục, William đã xem Vương quốc Anh là vật thuộc quyền sở hữu của mình. Ông muốn áp đặt lên đất nước này một quyền lực tương tự như quyền lực của một lãnh chúa lớn trên phần lãnh địa của mình. Ông tìm cách tăng nguồn thu nhập cá nhân bằng lệnh kiểm kê tất cả nguồn lợi có thể thu thuế được trên toàn lãnh thổ. Kết quả của công việc kiểm kê được đúc kết thành bộ Domesday Book (được thực hiện trong khoảng thời gian 1080 - 1086), mà ngày nay trở thành nguồn tư liệu quý để tìm hiểu tình hình đất nước trong thế kỷ XI. Tuy chưa thống nhất được toàn bộ đảo Anh, nhưng việc làm kể trên của William the Conqueror đã bước đầu đẩy Vương quốc Anh hướng đến một chế độ quân chủ (monarchy) mạnh. I. NHỮNG NỀN MÓNG ĐẦU TIÊN CỦA CHẾ ĐỘ ĐẠI NGHỊ. 1. Henry II (1154 - 1189) cải tiến hệ thống pháp luật. Năm 1154, Henry II thuộc dòng dõi William the Conqueror trở thành vua Vương quốc Anh. Một triều đại mới bắt đầu - triều Plantagenet (1154 - 1399). Đây là thời kỳ hình thành và phát triển của hai định chế mới tạo nền móng cho chế độ đại nghị (parliamentarism), đó là: bộ luật chung (common law), và hệ thống bồi thẩm đoàn (jury system). Là một ông vua vừa có tài, vừa giàu nghị lực, Henry II đã kế tục xuất sắc sự nghiệp của William the Conqueror theo hướng củng cố và tăng cường quyền lực của nhà vua quân chủ. Henry II cho áp dụng trên toàn lãnh thổ vương quốc bộ luật của triều đình. Do tính đồng bộ của nó, luật của nhà vua vừa dễ vận dụng, vừa có hiệu quả hơn các bộ luật khác cùng thời. Dần dần, nó trở thành bộ luật chung cho cả Vương quốc. Henry II đặt thành chế độ thường trực một thông lệ đã có từ trước: phái các quan tòa thường xuyên đi kiểm tra công việc cai trị của các quan chức địa phương (sheriff). Được gọi là những quan tòa lưu động (traveling judges), họ đã vận dụng lệ địa phương và luật nhà vua để phát triển bộ luật chung thành luật thống nhất dùng cho cả Vương quốc. Do luôn di chuyển từ nơi này sang nơi khác, họ không bị chi phối bởi sức ép của (hay quan hệ bè bạn với) giới chức địa phương. Từ năm 1166, mỗi quan tòa hàng năm có lộ trình (circuit) riêng của mình. Thông lệ này vẫn còn là một bộ phận quan trọng trong hệ thống tư pháp ngày nay ở Anh và Hoa Kỳ. Hệ thống bồi thẩm đoàn cũng được phát triển dưới triều Henry II. Những bồi thẩm đoàn đầu tiên chỉ đơn giản gồm những người được triệu đến quan tòa triều đình để cung cấp những lời cáo giác ai đó, nhưng họ không được trao quyền phán xử xem người đó có tội hay không. Ngày nay, bồi thẩm đoàn sơ khai vừa kể trở thành đại bồi thẩm đoàn (grand jury) có chức năng quyết định xem đã có đủ chứng cứ để truy tố bị cáo (accused person). Khoảng một thế kỷ sau Henry II, xuất hiện một loại bồi thẩm đoàn khác: đó là tiểu bồi thẩm đoàn (petty jury), hay bồi thẩm đoàn xử án (trial jury) với chức năng nghe xử án và quyết định xem bị cáo có tội hay không. Henry II phải đương đầu với rất nhiều khó khăn phát sinh từ sự chống đối của không chỉ giới quý tộc bởi xu hướng chuyên chế lộ rõ trong các cải cách của ông, mà cả từ phía Giáo hội, vì Giáo hội cũng có hệ thống tòa án riêng của mình. Nhưng nhà vua cho rằng tòa án của Giáo hội quá lỏng lẻo, do vậy muốn đặt nó dưới quyền kiểm soát của các khâm sai triều đình. Tổng giám mục Thomas Becket, phụ trách địa phận Canterbury, vốn được xem là người đứng đầu tổ chức Giáo hội ở Anh, đã kịch liệt chống lại nỗ lực vừa kể của Henry II. Việc Becket bị một số thuộc hạ trung thành của nhà vua giết chết đã làm bùng lên một làn sóng chống đối dữ dội đến mức Henry II đã phải lên tiếng xin lỗi công khai. 2. Đặc điểm của quý tộc Anh. Tuy phải mất một thời gian dài nữa hệ thống pháp chế của nhà vua mới thực sự được tuân thủ trong cả nước, nhưng so với tình trạng hỗn loạn cát cứ còn đang ngự trị trên phần lớn lãnh thổ Tây Âu, “quyền lực và thái hòa của nhà vua” đã mang lại trật tự an bình cho Vương quốc Anh nói chung, cho những vùng quê vây quanh London nói riêng. Các tòa lâu đài quân sự kiên cố không còn lý do để tồn tại và đã được thay bằng các “trang thự”(manor), mà phần xây dựng chính là một đại sảnh dùng để tiếp tân; các kỵ sĩ không còn được huy động vào những hoạt động quân sự: các cuộc chiến tranh của vua ở lục địa và vùng đất Thánh thì quá xa xôi và kéo dài quá lâu, giới kỵ sĩ có thể trả một khoản tiền nào đó để nhà vua tự tuyển mộ lấy một đạo quân đánh thuê vững mạnh ( mầm mống của đạo quân thường trực sau này. Trong bối cảnh trên, quyền lợi của giới quý tộc Anh là hướng vào những hoạt động hòa bình hơn, mang tính kinh tế hơn. Khác với giới quý tộc Pháp, họ không bán hoặc cho thuê đất phần của mình, mà giữ lại đất, trực tiếp trông coi công việc đồng áng của nông dân, tự tìm nơi tiêu thụ sản phẩm thu hoạch được. Do đó, thay vì là nạn nhân của những thay đổi kinh tế, họ trở thành những kẻ hưởng thụ chúng. Đa phần đất canh tác của Vương quốc Anh tập trung trong lưu vực các sông Thames và Severn, trong lúc phần còn lại gồm chủ yếu là rừng và bụi cây. Còn trung tâm của đất nước là các cao nguyên rộng lớn không thể được dùng để canh tác vào thời đó. Tuy nhiên, trên những triền đồi mọc đầy cỏ, thường xuyên bị gió biển hoành hành của dãy Pennine, các tu sĩ dòng Cistersiens nhận ra rằng chăn cừu là nguồn sinh lợi chắc chắn. Các tu viện trở thành người sở hữu các bầy cừu lớn và việc bán lông của chúng đã mang lại những nguồn lợi kếch sù. Phát triển trong suốt thế kỷ XII, ngành chăn nuôi cừu đã lan lên các cao nguyên miền trung tâm hay tràn xuống các đầm lầy Đông Nam, cuốn hút sự tham gia tích cực của giới quý tộc. Bước sang thế kỷ XIII, có thể nói toàn bộ nông thôn Anh đã được lôi vào hoạt động chăn nuôi cừu. Nhiều quý tộc sở hữu những đàn gia súc rất lớn: năm 1259, trên đất của giám mục địa phận Winchester có một bầy cừu đông đến 29.000 con, năm 1303 Bá tước Lincoln sở hữu một bầy gia súc đến 13.000 con bò. Tách khỏi nông nghiệp, chăn nuôi cần một thị trường tiêu thụ lớn. May mắn rằng nền công nghiệp dệt len đang phát triển phồn thịnh ở xứ Flandre rất cần len của Anh. Hoàn cảnh sinh hoạt kinh tế như vậy đã khiến quý tộc Anh rất quan tâm đến những vấn đề thương mại. Quan niệm cho rằng thương mại là một việc làm “nhơ nhuốc” là hoàn toàn xa lạ với giới quý tộc Anh. Vì những lẽ trên, quý tộc Anh không phải là một đẳng cấp khép kín: nó gần gũi với những giai cấp xã hội khác, và gắn chặt với những sinh hoạt đời thường trong nước. Đặc điểm này của quý tộc Anh giúp hiểu được những diễn biến trong sinh hoạt chính trị ở Vương quốc Anh. Những thay đổi về kinh tế cũng cho thấy nông nghiệp đã thoát khỏi tình trạng độc canh, và bản thân nông nghiệp cũng không còn là nguồn lợi tức duy nhất. Nền thương mại phát triển còn tạo ra một tầng lớp thương nhân quan trọng, tập trung ở những vùng quanh London. 3. Các thiết chế quân chủ bị khủng hoảng - Đại Hiến chương (1215). Trong thế kỷ XIII, chế độ quân chủ với các thiết chế mà Henry II đã dầy công xây đắp bị rơi vào tình trạng khủng hoảng. Có ba nguyên nhân chính: ( Vua Richard - Tim sư tử (The Lion Hearted, 1189 - 1199), con của Henry II, rất lơ là trong công việc cai trị. Là một chiến binh dũng cảm, ông đã trải qua phần lớn khoảng thời gian 10 năm cầm quyền trong các hoạt động chinh chiến bên ngoài lãnh thổ Vương quốc. Ông chỉ quay về Anh có hai lần ngắn ngủi (bản thân nhà vua không biết tiếng Anh). Trong thời gian ông vắng mặt, giới quý tộc địa phương đã tự tổ chức việc cai trị lãnh địa của mình và trở thành những quan chức với quyền lực vững chắc. ( Kế vị Richard là người em John Lackland (1199 - 1216). Là một người lươn lẹo và hung bạo, John mau chóng bị nhân dân và giới quý tộc căm ghét. Đã thế, John lại thường xuyên ép giới quý tộc đóng góp tài chính cho những cuộc xung đột diễn ra không ngớt giữa ông và vua Pháp Philippe Auguste nhằm giành miền Normandy. Ông còn gây chuyện với cả Giáo hoàng Innocent III. Lo sợ bị mất ngai vàng sau khi bị rút phép thông công, John đã phải nhịn nhục và chấp nhận điều kiện của người chiến thắng: Vương quốc Anh trở thành chư hầu của Tòa Thánh (1213). Năm sau, uy tín đã bị sút giảm sẵn của John còn bị bồi thêm một đòn rất nặng khác: đạo quân của ông bị vua Pháp đánh bại ở trận Bouvines. Hậu quả là Normandy bị rơi vào tay vua Pháp. Sau những thất bại liên tiếp vừa kể, John không còn bao nhiêu uy tín trong mắt người dân và giới quý tộc trong nước. Ngay trong năm 1215, giới quý tộc đã liên kết với giới thương nhân London và các giáo sĩ gây sức ép buộc nhà vua phải chấp nhận các yêu sách của họ được trình bày trong một văn kiện mang tên Đại Hiến chương (Magna Carta) gồm 61 điều. Được thông qua ngày 15-6, văn kiện buộc nhà vua cam kết: “Chính tôi sẽ không bán, khước từ hay trì hoãn quyền và công lý đối với bất kỳ ai”. Nhà vua cũng hứa sẽ chấm dứt việc tước đoạt tài sản của các chư hầu hay buộc họ cung cấp những khoản đóng góp lớn lao. Đại Hiến chương xác định rằng nhà vua không thể thu ngoài định mức, mà những luật lệ trước đây quy định, “trừ trường hợp được sự ủy thuận của hội đồng chung Vương quốc chúng tôi” (1). Điều 39 nêu rõ: “Không một người tự do nào sẽ bị bắt, bị giam hay bị tước đoạt của cải, hay bị đặt ra ngoài vòng pháp luật, hay bị lưu đày hay bị gây thiệt hại bằng bất kỳ cách gì. Chúng tôi sẽ không đưa ra bản án chống lại người đó, chúng tôi không phái bất kỳ ai đến bắt người đó, trừ trường hợp đã qua sự phán xử hợp pháp của những người đồng đẳng hay chiếu theo luật pháp của đất nước”. Đáng chú ý là điều 41: “Tất cả các thương nhân được tự do và an toàn ra, vào, cư trú và đi ngang qua London, bằng đường bộ lẫn đường thủy, để mua và bán, mà không bị thu thêm thuế, phù hợp với các lề thói cũ, ngoại trừ trong thời chiến và trong trường hợp các thương nhân là người của quốc gia lâm chiến...”. Nội dung này cho thấy vị thế của thương nhân trong xã hội Anh vào thế kỷ XIII đã rất quan trọng và giữa họ và quý tộc đã hình thành một mối liên kết vững chắc. Để đảm bảo việc Đại Hiến chương được tuân thủ, giới quý tộc đã cử ra một hội đồng gồm 25 người đại diện cho họ quan sát mọi hoạt động của nhà vua. Xét theo nội dung của nó, Đại Hiến chương ngay tại thời điểm ra đời không thể được xem là một văn kiện mang tính cách mạng, vì thực ra nó chỉ nhắc lại những quyền mà quý tộc Anh đã được hưởng từ lâu. Nhưng một số từ được dùng trong văn kiện như “sự phán xử hợp pháp”, “đại đa số người dân”, “tự do” có ý nghĩa thật vô cùng to lớn. “Tầm quan trọng của Đại Hiến chương không phát xuất từ những gì mà các con người của năm 1215 muốn đặt vào đó, mà từ ảnh hưởng nó tạo ra trong đầu óc của các thế hệ sau”, nhà sử học nổi tiếng người Anh Travelyan nhận xét. Là thành tựu của cuộc đấu tranh chung của ba giới được ưu đãi nhất trong xã hội Anh vào thế kỷ XIII - quý tộc Anh, giáo sĩ và thương nhân, Magna Carta đến lượt nó đã đặt nền tảng cho tiến trình liên kết ba giới này thành một khối. 4. Triều Vua Edward I (1272 - 1307) - Nguồn gốc của Nghị viện. Là một ông vua có tài, Edward I muốn thống nhất toàn bộ đảo Anh vào dưới quyền cai trị của ông. Năm 1284, ông đã khuất phục xứ Wales và chỉ định con trai mình làm thân vương xứ này. Nhưng việc chinh phục Scotland là công việc khó khăn hơn rất nhiều. Nó đòi hỏi những khoản chi hết sức lớn, mà các sắc thuế cũ không đủ sức đáp ứng. Phải bổ sung thêm những khoản thuế mới. Các vua Vương quốc Anh từ sau Đại Hiến chương không cai trị đơn độc. Họ được sự trợ giúp của một nhóm cố vấn được gọi là “Đại Hội đồng” (Great Council), mà thành viên là giới giáo sĩ cao cấp và quý tộc phong kiến. Năm 1295, Edward đã triệu tập các vị này đến gặp ông. Đồng thời, ông cho gọi thêm từ mỗi hạt (shire) hai kị sĩ (knight) và từ mỗi thành thị tự do (borough) hai thị dân (burgess). Để cho nhanh, công việc này được thực hiện bằng con đường bầu cử ( ). Được mở rộng như vậy, hội đồng chung từ nay được gọi là “Nghị viện” (Parliament). Chỉ một thời gian ngắn sau khi ra đời, Nghị viện đã tách ra thành hai thành phần riêng biệt: Viện Nguyên lão (House of Lords) gồm toàn quý tộc và Viện Thứ dân (House of Commons) gồm các đại biểu kị sĩ và thị dân. Xét theo phương thức tuyển chọn và thể thức bỏ phiếu, Viện Thứ dân có thể được xem là sự khởi đầu của một cơ quan đại nghị (representative body) vì các thành viên của nó được bầu chọn qua con đường bỏ phiếu. Do vậy, họ không chỉ đại diện cho chính mình, mà còn cho cả giới họ và tất nhiên khi bỏ phiếu cho những vấn đề được mang ra thảo luận ở Nghị viện, họ phải tuân thủ quyền lợi của giới họ( ). Lúc đầu, Edward I triệu tập Nghị viện nhằm kiếm thêm tiền cho những cuộc chinh chiến rất tốn kém ở Wales và Scotland( ), nhưng Nghị viện có chủ ý riêng của mình. Các thành viên của nó đề ra ý tưởng hãm quyết định chuẩn chi cho đến khi nhà vua chịu sửa chữa các sai lầm mà họ đã lưu ý. Sáng kiến này được gọi là “sửa chữa những bất bình”. Nghị viện sẽ chuyển những đòi hỏi của thần dân( ) lên nhà vua dưới dạng các văn bản được gọi là “bills”. Chúng sẽ trở thành đạo luật, quy chế, sau khi được nhà vua đồng ý. Với chức năng mới này, Nghị viện đã trở thành cơ quan lập pháp (legislative) hay làm luật (law making). Như vậy, đã dần dà hình thành một phong cách trị nước mới: cai trị phù hợp với nhu cầu của các địa phương bằng cách dựa vào nguyện vọng của số đông; một sức mạnh mới ra đời: dư luận quần chúng. Nghị viện còn là phương tiện tốt để kiểm tra hoạt động của các quan chức địa phương và truyền đạt mệnh lệnh của nhà vua đến những vùng đất xa xôi nhất. Còn nhà vua gắn bó với nhân dân qua Nghị viện. Tuy nhiên, để Nghị viện trở thành một thực thể có quyền lực thực sự, còn phải đợi thêm một biến cố trọng đại khác: Cách mạng vinh quang (1688 - 1689). II. SỰ RA ĐỜI CỦA MẦM MỐNG TƯ BẢN CHỦ NGHĨA TRONG CÁC THẾ KỶ XIV VÀ XV. 1. Chế độ trang viên (manorial system) bị sụp đổ. Những thập niên đầu tiên của thế kỷ XIV được đánh dấu bằng một bước ngoặt trong lịch sử của chế độ trang viên. Nền kinh tế dựa trên chế độ này đã không còn mang lại hiệu quả kinh tế cao vì người nông nô bị bóc lột nặng nề bởi chế độ lao dịch, thường xuyên bị tách rời khỏi công việc sản xuất trên phần đất nhỏ của họ để phục dịch địa chủ, nông nô đã ngày càng ít có hứng thú thúc đẩy sản xuất. Lợi tức của địa chủ do đó đã bị đe dọa. Ngoài ra, đầu thế kỷ XIV, giá nông phẩm bị sụt giảm thình lình, giá thuê mướn nhân công lại tăng lên do mức tăng dân số bị giảm đáng kể từ cuối thế kỷ XIII. Do việc khai thác không còn hiệu quả cao như trước, phần đất của địa chủ bị thu hẹp lại nhiều. Việc đất trang viên bị thu hẹp đã khiến tô lao dịch không còn cần thiết. Địa chủ Anh đòi trả bằng tiền. Việc chuyển từ tô lao dịch và hiện vật sang tô tiền diễn ra ngay trong thế kỷ XIV, nhưng không đồng bộ trong cả Vương quốc, mà chỉ chủ yếu trong các trang viên nhỏ. Chuyển biến này diễn ra trong bối cảnh chăn nuôi cừu đã trở thành một trong những ngành chính của công nghiệp. Các lãnh chúa và giáo sĩ lớn sở hữu hàng chục ngàn acre. Đất canh tác bị giảm sút. Nhận thấy lợi tức đất phần của họ bị giảm, nhiều địa chủ đã phân chúng thành những thửa nhỏ đem cho thuê, như vậy có lợi hơn. Ngoài ra, cũng trở thành bình thường việc có nhiều nông dân muốn dùng tiền xin miễn các nghĩa vụ mà họ phải thực hiện đối với lãnh chúa. Số tiền thu được lãnh chúa đã dùng để thuê mướn các lao động tự do, không bị ràng buộc bởi các cam kết phong kiến. Từ đó hình thành một tầng lớp lao động nông nghiệp tự do. Số này sẽ không ngần ngại đòi tiền công cao khi có cơ hội thuận tiện. Trong những điều kiện như trên, một sự thay đổi các hình thức bóc lột phong kiến đã gần kề. Giữa lúc đó, ở Anh đã xảy ra một biến cố lớn: dịch Hắc tử (Black Death) ; đó là tên gọi bệnh dịch hạch truyền từ lục địa châu Âu sang vào tháng 8-1348. Đợt dịch thứ hai diễn ra từ năm 1361 đến 1362 và đợt thứ ba vào năm 1369. Những trận dịch này đã cướp đi ít nhất 1/3 dân số và đã đặt nền kinh tế trang viên trước một vấn đề nghiêm trọng: nhân công thiếu hụt trầm trọng và tiền công lao động đắt hơn năm 1347 rất nhiều. Giới chủ đất đã phản ứng bằng cách ép buộc các nông nô sống ngoài khu vực trang viên phải vào làm cho trang viên và cấm họ không được làm thêm các ngành nghề thủ công hay những ngành nghề phụ khác. Nông nô đã đối phó lại bằng cách từ chối đi lao dịch cho địa chủ, không vào sống trong trang viên... Nhưng phản ứng đáng được đề cập nhất là họ đòi nhà vua ra luật ấn định giá thuê lao động mà người chủ phải trả. Đáp ứng yêu cầu của họ, trong các năm 1349, 1351 và 1361, nhà vua đã lần lượt ra các chỉ dụ, được gọi chung là quy chế về người lao động (Statues of Labourers), nêu rõ những người dưới 60 tuổi không có phương tiện sinh sống (không có đất, không buôn bán, không có nghề), dù là nông nô hay người tự do, phải làm thuê cho bất kỳ ai thuê mướn theo mức tiền công của một năm trước khi xảy ra bệnh dịch, tức năm 1347. Người chủ nào trả tiền công cao hơn sẽ bị phạt. Người làm công nào không tuân thủ quy định sẽ bị cùm chân, bắt giam và nếu bỏ không làm cho chủ trước khi hết thời hạn làm thuê sẽ bị đặt ngoài vòng pháp luật. Bên cạnh đó, lương thực phải được bán “với giá hợp lý”. Chế độ khủng bố nhằm vào người lao động kể trên đã gây ra nỗi căm phẫn nơi họ, đã khiến giới làm công ở nông thôn và thành thị xích lại gần nhau. Họ kéo nhau đi thành từng đoàn lớn trên các lộ chính với quyết tâm buộc những người thuê họ phải thỏa mãn những đòi hỏi của họ. Đối với giới chủ nhân, các quy định về người làm công đã gây ra hai hậu quả trái ngược nhau. Một mặt, chúng đã tạo ra mối đoàn kết giữa các chủ nhân thành thị và giới chủ nhân nông thôn, nhưng đồng thời lại tạo ra mâu thuẫn giữa hai giới này. Các quy định cho phép chủ đất giữ lại những nông nô nào vốn là của họ, nhưng lại cho chủ nhân thành thị được quyền tiếp tục thuê mướn những nông nô nào mà họ đã thuê mướn trước khi các chủ đất đòi trả lại. Nội dung đầy mâu thuẫn này của các Quy định cho thấy chế độ trang viên không còn phù hợp với cấu trúc kinh tế mới của Anh nữa. 2. Giáo hội bị phê phán mạnh mẽ. Không chỉ bị lung lay trong sinh hoạt thực tại, nền tảng của chế độ phong kiến còn bị phê phán mạnh mẽ trong lĩnh vực tư tưởng. Định chế phong kiến đầu tiên bị tiến công hóa ra là Giáo hội. Sự giàu có và những tai tiếng, thói tham lam, lề thói sinh hoạt vô đạo đức và sự ngu dốt của giới giáo sĩ, tham vọng đòi nắm cả thế quyền và sự can dự thường xuyên của Giáo hội vào cuộc sống trần tục đã khiến nhiều tầng lớp xã hội cùng lên tiếng đòi những cải cách trong Giáo hội. Đó là chưa kể việc các giáo hoàng di chuyển từ Roma sang Avignon ở Pháp (1309 - 1376) và Đại phân ly (1378 - 1417), tức thời kỳ xuất hiện các giáo hoàng kỳnh chống lẫn nhau, đã làm sút giảm niềm kính trọng của không ít người Anh đối với cá nhân và quyền lợi của giáo hoàng. Thêm vào đó, những thất bại của Anh sau khi cuộc Chiến tranh trăm năm khởi phát trở lại vào năm 1369 và việc tăng thuế đã khiến giới quý tộc và tư sản công khai dòm ngó số của cải to lớn của nhà thờ, vốn do một số ít giáo sĩ kiểm soát. John Wycliffe (1320 - 1384), giáo sư thần học Đại học Oxford, là người đề xướng và cổ vũ phong trào cải cách tôn giáo, và trong 10 năm cuối đời đã trở nên nổi tiếng như là người báo hiệu và thúc đẩy phong trào cải cách tôn giáo ở lục địa châu Âu. Wycliff tiến công vào tham vọng của Giáo hội muốn kiểm soát quyền lực thế tục, sự giàu có vật chất quá mức của Giáo hội, những thói xấu của giáo sĩ, vào tệ nhũng lạm thần quyền đang lan tràn trong khắp hàng ngũ giáo sĩ. Ông cho rằng quyền lực của nhà vua phải cao hơn quyền lực của giáo hoàng, giáo sĩ phải trả lại của cải vật chất cho người thường. Wycliff còn bạo dạn chống các học thuyết về sức mạnh siêu nhiên của Giáo hội, về ân sủng cho phép giáo sĩ được “cứu rỗi” linh hồn của tín đồ khỏi những khổ ải nơi địa ngục và dành cho tín đồ một chốn nơi thiên đường. Ông cho rằng Giáo hội không thể mang lại sự cứu rỗi được vì bản thân giáo sĩ chưa hẳn đã biết mình có được cứu rỗi hay không, rằng ngay cả giáo hoàng cũng không biết mình là một thành viên của Giáo hội, hay chỉ là hiện thân của ma quỷ. Jesus Christ, bằng sự hy sinh của mình, cũng chỉ cứu vớt được một phần nhân loại, trong khi phần kia phải chịu sự chi phối của quỷ Satan. Do đó, người ta không nên đặt quá nhiều kỳ vọng vào vai trò cứu rỗi linh hồn của Giáo hội ; những lễ cầu hồn là không cần thiết, việc mua chuộc tội lỗi là vô ích. Wycliff đòi quay về với tín ngưỡng thuần khiết của giáo hội nguyên thủy. Ông đòi đặt trọn niềm tin vào Kinh thánh, coi những lời diễn dịch đều là tà đạo. Ông tuyên bố nội dung Kinh Thánh đã rõ ràng đến mức có thể phổ biến thẳng cho tín đồ, không cần qua trung gian các giáo sĩ. “Tất cả các tín đồ, - ông viết -, đặc biệt là các lãnh chúa thế tục, phải biết và bảo vệ Kinh Thánh.”. Từ đó, ông đặt ra nhu cầu dịch Kinh Thánh sang tiếng Anh. Lập trường của John Wycliff đã nhận được sự tán thành của nhiều quý tộc, nhà vua và tầng lớp tư sản. Họ bảo vệ ông khỏi bị xử tử bởi tòa án Giáo hội. 3. Cuộc nổi dậy của nông nô (1381). Một biến cố khác đã góp phần không nhỏ vào việc làm suy yếu nền tảng của chế độ phong kiến. Đó là cuộc nổi dậy của nông dân vào năm 1381. “Quy chế về người lao động” đã gây ra nhiều chống đối của nông dân. Thêm vào đó, cuộc Chiến tranh Trăm năm giờ đây mang lại những thất bại liên tiếp cho người Anh. Chiến tranh đã trở thành một gánh nặng quá mức đối với người dân. Để có tiền trang trải chiến phí, năm 1374 nhà vua đã đặt ra các sắc thuế mới, trong đó có thuế thân (poll - tax). Sự việc đã làm tăng thêm nỗi bất mãn nơi người dân. Thuế này sau đó đã được áp dụng liên tiếp trong các năm 1379 và 1380. Cuối tháng 5-1381, một quan chức thuế của nhà vua đã đến BrentWood (Essex) đòi dân các làng bên đóng thuế thân, dù họ đã trưng đầy đủ giấy tờ cho thấy họ đã đóng rồi. Kết quả là quan chức này bị dân làng vũ trang giết hại. Đó là màn khởi đầu cho cuộc nổi dậy lớn nhất của nông dân trong lịch sử nước Anh. Cuộc nổi dậy mau chóng lan ra nhiều nơi trong hạt Essex và được nông dân các hạt khác noi theo. Giới quý tộc chủ nhân các trang viên, tu viện, quan chức thu thuế và quan tòa nhà vua sau đó trở thành đối tượng của phong trào. Ở Essex, các biến cố diễn ra dồn dập: ngày 2-6, nông dân nổi dậy đã vây kín một quan tòa từ London đến và chỉ thả sau khi ông này cam kết không truy tố bất kỳ ai tham gia nổi dậy. Ngày 7-6, họ giải cứu John Ball, người mau chóng trở thành lãnh tụ nổi tiếng của phong trào. Ông nguyên là một tu sĩ đấu tranh trong suốt 20 năm liền cho những ý tưởng dân chủ trong đạo Công giáo, chống lại cả nhà vua lẫn Giáo hội. Ông chỉ im tiếng khi nhà vua quyết định đã đến lúc nhốt ông vào ngục. Còn ở Kent, phong trào được lãnh đạo bởi Wat Tyler. Ông đã cầm đầu những người nổi dậy kéo đến Canterbury, giáo khu chính ở Anh quốc. Họ đã thải hồi vị tổng giám mục Sudbury, vì ông này bị coi là kẻ phản bội, cướp phá dinh thự của ông. Rất nhiều giấy tờ đã bị thiêu hủy. Trên đường vòng về Maidstone, những người khởi nghĩa đã đốt phá các trang viên. Một số lớn quý tộc đã hoảng sợ bỏ trốn vào rừng. Mục tiêu của đoàn người nổi dậy giờ đây là London. Ngày 13-6, một ngày trước khi những người nổi dậy đến London, John Ball đã lên tiếng thuyết giảng trước họ. Bài giảng của ông phát xuất từ nhận xét rất nổi tiếng: “Khi Adam cày ruộng và Eva dệt vải, lúc ấy ai là người quý tộc?”. Theo ông, mọi người sinh ra đều bình đẳng. Chế độ nông nô và nô lệ là sản phẩm của những kẻ xấu, không xứng đáng với Chúa và cần phải bị phá bỏ. Những người khởi nghĩa đến kinh đô từ hai hướng khác nhau: từ Essex phía Bắc và từ Kent phía nam. Các quan cai trị nhận thấy tốt nhất là không nên cản họ. Cầu rút vừa hạ xuống, từng đoàn người như thác lũ tràn vào trong thành. Họ phá tan hoang dinh thự của chú vua, John de Gaunt, vì cho rằng ông là tác giả của thuế thân. Tuy nhiên, họ không hề động đến số của cải kếch sù được tích lũy ở đây. Kế đó, họ đốt phá các nhà tù Newgate và Fleet, nơi giam giữ các nông dân và thợ thủ công vi phạm “Quy chế về người lao động”. Ngày 14-6, Vua Richard II, một thiếu niên yếu ớt mới 15 tuổi, đã buộc phải tiếp họ tại Mile End, ngoại ô London. Wat Tyler đã thay mặt họ yêu cầu nhà vua giao những kẻ phản bội (tức những kẻ áp bức mà những người khởi nghĩa căm ghét nhất) và chấp thuận yêu sách của họ. Những yêu sách này được biết dưới tên gọi “Cương lĩnh Mile End”. Có thể tóm lại các yêu sách như sau: 1) Hủy bỏ chế độ nông nô và các chế độ lao dịch; 2) Ân xá cho những người tham gia khởi nghĩa; 3) Ban hành một chế độ tô tiền không cao quá. Nhà vua chấp thuận mọi điều, kể cả việc giao nộp những quan chức bị những người khởi nghĩa căm ghét. Một bản văn đã được soạn ngay tại chỗ, trong đó có câu: “Đã thỏa thuận rằng, Trẫm, bằng thiện ý đặc biệt của mình, chấp thuận quyền tự do cho mọi thần dân của Trẫm ở hạt..., Trẫm tha cho họ tội bội phản về những tội ác của họ và đảm bảo cho hòa bình và sự yên ổn”. Thỏa mãn với Cương lĩnh Mile End, những người khởi nghĩa đã đồng ý rời kinh đô quay về nhà. Nhưng một nhóm nhỏ khác, đa phần là nông dân không ruộng đất xứ Kent muốn hơn thế nữa. Vẫn do Wat Tyler lãnh đạo, họ ở lại London hai ngày sau để gặp kỳ được nhà vua. Theo nhiều sử gia ghi lại, có không ít kẻ vô lại đã gia nhập nhóm người này và đã phạm không ít tội ác man rợ. Cảm nhận được sự chán ghét của dân London, giới quý tộc ở đây quyết định phản công. Ngày 16-6, tại chợ Smithfield, nằm ở phía ngoài trường thành London, đã diễn ra một cuộc gặp gỡ thứ hai giữa giới quý tộc do nhà vua cầm đầu và những người khởi nghĩa. Thay mặt những người này, Wat Tyler đã đưa ra một yêu sách, được biết dưới tên gọi “Cương lĩnh Smithfield” với nội dung như sau: 1) Trưng thu ruộng đất của nhà thờ và chia cho những giáo dân nghèo nhất; 2) Giảm số giám mục xuống còn một; 3) Xóa bỏ giai cấp tiện dân và mọi sự khác biệt về đẳng cấp giữa các thân dân của vua; không ai, ngoại trừ Vua, được là lãnh chúa của người khác; 4) Huỷ bỏ mọi quy chế thù nghịch giữa Giáo hội và người lao động. Trong lúc hai bên đang thương lượng, Wat Tyler đã bị Thị trưởng London đâm chết. Tuy nhiên, nhà vua theo lời khuyên của các cận thần, đã chấp thuận toàn bộ yêu cầu của những người khởi nghĩa. Nhưng khi họ giải tán và quay về quê hương, giới quý tộc bắt đầu phản công. Các quan tòa đi cùng với từng toán lính đến các địa phương săn lùng và giết hại tất cả những ai tham gia cuộc nổi dậy. Mãi đến tháng 11-1381, lệnh ân xá mới được ban hành, nhưng sau đó không lâu Quy chế về người Lao động cũng được nới lỏng đáng kể. Tuy thất bại, cuộc khởi nghĩa năm 1381 của nhân dân đã mang lại nhiều kết quả tích cực. Nó thúc đẩy nhanh tiến trình chuyển từ tô lao dịch hiện vật sang tô tiền và thủ tiêu nền kinh tế trang viên. Đến đầu thế kỷ XV, phần lớn tá điền Anh đã trở thành người tự do. 4. Sự ra đời của gentry. Một trong những sự kiện quan trọng nhất trong thế kỷ XV là sự xuất hiện của tầng lớp quý tộc mới - gentry. Gốc tích của tầng lớp này là giới quý tộc vừa và nhỏ. các thị dân giàu có hoặc khá giả (thương nhân, chủ công xưởng, quan chức thừa tiền mua thêm ruộng đất để kinh doanh). Như vậy, gentry vừa là địa chủ, vừa là nhà kinh doanh hoặc quan chức phong kiến... Sự ra đời của gentry gắn liền với sự tăng trưởng nhanh về kinh tế của Anh trong thế kỷ XV. Trong nông nghiệp, ngành chăn nuôi đặc biệt phát triển mạnh mẽ, nhất là chăn nuôi cừu. Với sản phẩm thu hoạch được, ngành này đã trở thành nguồn cung cấp nguyên liệu cho ngành dệt dạ đang trên đà tăng tiến nhanh chóng. Đó là lý do đã khiến chăn nuôi cừu trở thành ngành kinh tế sinh lợi nhiều nhất. Sự phát triển thịnh vượng về kinh tế trên đã dẫn đến những thay đổi cơ bản về xã hội. Ở nông thôn, một bộ phận nông dân trở nên giàu có đã mua đất của nông dân nghèo và thuê thêm đất của quý tộc. Ở thành thị, một số thợ cả làm ăn khấm khá đã giao xưởng thợ lại cho thợ phụ và những thợ học nghề chăm sóc, còn bản thân họ biến thành thương nhân. Giới này chiếm một vị trí ngày càng quan trọng trong nền nội thương. Để mở rộng hoạt động ngoại thương, giới thương nhân đã cộng tác với nhau để thành lập các công ty. Mặt hàng buôn bán chủ yếu của họ là len và dạ. Ngoại thương và thương nhân mau chóng trở thành những nhân tố chính chi phối chính sách đối ngoại ở Anh, đặc biệt là trong quan hệ với Pháp. Trong lúc đó, nguồn thu nhập của giới quý tộc địa chủ phong kiến bị sụt giảm đáng kể vì nhiều nguyên nhân: sự tan rã của các trang viên, sự ra đời và phát triển của tô tiền, kết quả không hay của Chiến tranh Trăm năm đã tước đi của quý tộc địa chủ không ít lãnh địa ở Pháp. Để bù đắp vào sự sụt giảm vừa nêu, giới quý tộc địa chủ phong kiến tìm đủ cách kiểm soát các nguồn thu công quỹ, vốn dĩ không thể là cái gì khác hơn ngoài một trong những hình thức tô phong kiến. Để đạt được mục tiêu này, cần trở thành cận thần của vua, hoặc giành lấy một số quyền hạn nào đó. Đó là nguyên nhân tại sao trong thế kỷ XV đã xảy ra nhiều cuộc xung đột giữa các tập đoàn phong kiến khác nhau, nhưng không phải để chống lại ưu thế của vương quyền, mà là để giành giật các chế độ ưu đãi phát sinh từ đó. Kết quả là năm 1399, Richard II bị hạ bệ. Triều đại Plantagenet đến đây là kết thúc. Bá tước xứ Lanscaster lên kế vị với vương hiệu là Henry IV (1399 - 1413), mở ra triều đại mới trong lịch sử Anh - triều Lanscaster. Chính dưới triều Henry IV và Henry V (1413 - 1422), Anh đã đẩy mạnh cuộc chiến tranh chống Pháp và đã giành được một thắng lợi quân sự lớn ở Azincourt (1415). Năm 1420, ưu thế của Anh trên lãnh thổ Pháp được khẳng định bằng Hiệp ước Troyes. Henry V đã lấy con gái của vua Pháp Charles VI nửa điên nửa tỉnh với ý đồ kiểm soát phần lớn Vương quốc Pháp và hi vọng con trai của ông và công chúa Pháp sẽ là người kế thừa cả hai vương quốc. Năm 1422, cả Henry V và Charles VI đều nối tiếp nhau qua đời. Kế vị họ ở ngôi vua của cả hai vương quốc là Henry VI (1422 - 1461) lúc này chỉ mới 9 tháng tuổi. Quyền lực do vậy tập trung trong tay John xứ Lanscaster, tức Công tước Bedford, đảm trách công việc cai trị ở Pháp, và Humphrey xứ Gloucester coi sóc công việc cai trị ở Anh. Nhưng từ năm 1429, vị thế của Anh ở Pháp bị suy yếu dần trước phong trào kháng chiến sôi nổi của nhân dân Pháp được khích lệ bởi tấm gương yêu nước đầy quả cảm của nữ anh hùng Jeanne d’Arc. Năm 1450, Anh bị đẩy lui khỏi miền Normandie. Ba năm sau, sự hiện diện của Anh trên lãnh thổ Pháp bị thu gọn trong phạm vi Calais. Chiến tranh Trăm năm coi như được kết thúc ở đây( ). Nhưng đối với nước Anh, sự biến này lại trở thành màn giáo đầu cho một cuộc nội chiến dai dẳng và khốc hại. 5. Nội chiến “Hai bông hồng” Việc Henry VI lên cầm quyền khi còn quá nhỏ đã trở thành cơ hội để các tập đoàn phong kiến trong nước hoành hành trở lại, nhất là khi Henry VI lại không có khả năng cai trị. Mạnh nhất trong số họ là dòng họ xứ York, vốn thuộc phổ hệ vua Edward III. Nguyên do là từ năm 1216 đã hình thành thông lệ là ngai vàng luôn luôn được truyền cho người con trai lớn nhất của nhà vua. Nếu theo thông lệ này, thì sau khi Richard II bị hạ bệ, quyền ưu tiên thừa kế phải thuộc về Edmund, một quý tộc của dòng York, vì ông này thuộc dòng dõi con trai thứ ba của Edward III, trong lúc Henry IV lại là con trai của John of Gaut (con trai thứ tư của Edward III). Cho là bị tước mất quyền thừa kế hợp pháp, Richard, Công tước xứ York, đã dựa vào sự ủng hộ của các vùng phát triển - Nam và Đông Nam, nơi ưu thế kinh tế thuộc về tầng lớp tư sản và gentry đang lên, để dấy binh chống lại vua Henry VI, mà uy tín đã bị sụt giảm nhiều sau thất bại của Anh trong Chiến tranh Trăm năm. Năm 1455, nội chiến bùng nổ giữa hai dòng họ. Lịch sử Anh gọi là “Chiến tranh Hai bông hồng”, vì gia huy của dòng Lanscaster là bông hồng đỏ, còn của dòng York là bông hồng trắng. Nhiều lãnh chúa có thế lực nhất đã tham gia nội chiến, không phải vì các nguyên tắc chính trị, mà chỉ vì muốn củng cố địa vị của họ trong triều và làm giàu bằng số của cải tước đoạt được của đối phương hay của dân thường. Họ sẵn sàng bỏ phe này theo phe kia nếu phần chiến lợi phẩm được chia nhiều hơn. Được sự trợ giúp của Richard Neville (Bá tước xứ Warwick), Edward, con trai của Richard (ông này tử trận năm 1460), năm 1461 đã đánh bại phe Lanscaster và bắt sống nhà vua. Chiến tích của Edward đã làm Nghị viện sợ đến nỗi họ phải đồng thanh bầu ông làm vua, tức Edward IV (1461 - 1483). Chính sách cai trị của tân vương mang những dấu hiệu đầu tiên của chủ nghĩa trọng thương (mercantilism). Ông cố đạt được một cán cân ngoại thương thặng dư. Nhiều biện pháp đã được mang ra thực hiện để khuyến khích công nghiệp dệt dạ và hoạt động hàng hải. Khi Edward IV qua đời, ngai vàng đã lọt vào tay em ông - Richard III (1483 - 1485), thay vì con trai ông - Edward V - lúc đó mới 12 tuổi. Là một tay phiêu lưu, Richard III sẵn sàng làm mọi chuyện để bảo vệ quyền lực. Lo ngại cho sinh mạng và của cải của mình, các quý tộc đã liên kết với nhau dưới quyền Henry Tudor, em rể của Edward IV và là người thuộc dòng Lanscaster về phía mẹ. Một trận chiến quyết định giữa hai phe đã diễn ra ngày 22-8-1485 ở Bosworth. Richard III bị đánh bại và bị giết chết. Ngai vàng lọt vào tay Henry VII Tudor. Ông đã tìm cách hòa giải hai dòng họ thù địch bằng cách cưới cô con gái thừa kế dòng York (tức con gái của Edward IV) và đặt ra gia huy mới gồm cả bông hồng đỏ và bông hồng trắng. Thế kỷ XV là một thời kỳ đầy những biến động và đổi thay. Đất nước bị tàn phá bởi nội chiến và bệnh dịch, dân số không tăng cho đến cuối thế kỷ. Quyền lực của nhà vua bị suy yếu đã khiến luật pháp không được tôn trọng, đất nước rơi vào cảnh rối ren. Các thế lực phong kiến cát cứ nổi dậy. Hoạt động xuất khẩu len một thời phồn thịnh nay bị sút giảm nhiều, nhưng dần dần được thay bằng vải len, sản phẩm của nền kinh tế trang trại mới. Các chủ đất đã đáp ứng nhu cầu tăng lên về len bằng cách rào đất và nuôi nhiều cừu hơn, và do đó đã làm đảo lộn sinh hoạt kinh tế cổ truyền ở nông thôn, tạo nền tảng cho sự tăng trưởng. Tất cả những gì nước Anh cần giờ đây là một vị vua có uy tín, đủ năng lực để phục hồi quyền lực trung ương và vãn hồi trật tự, mang lại sự ổn định cho đất nước. III. VƯƠNG QUỐC ANH CHUYỂN SANG CHẾ ĐỘ TƯ BẢN TRONG THẾ KỶ XVI [TỪ HENRI VII (1485 -1509) ĐẾN ELIZABETH I (1558 1603)] Phổ hệ dòng họ Tudor Henry VII (1485-1509) Henry VIII (1509 - 1547) Margaret Jacques V Edward VI Stuart (1547 - 1553) Maria Tudor (1553 - 1558) Elizabeth I Maria (1558 - 1603) James I (1603 -1625) Thế kỷ XVI đánh dấu sự chuyển mình mạnh mẽ của nước Anh từ chế độ phong kiến sang chế độ tư bản. Sự chuyển biến này diễn ra trước hết trong lĩnh vực kinh tế và xã hội. Nó sẽ cung cấp đầy đủ những tiền đề vật chất cho cuộc cách mạng tư sản sắp đến. Nước Anh của triều Tudor không thể so sánh với các nước khác như Pháp, Tây Ban Nha hoặc Ý, cả về diện tích (vào khoảng 15 vạn km2) lẫn dân số (từ 3,5 đến 4 triệu người so với 10 triệu ở Tây Ban Nha, 15 triệu ở Pháp)( ), cả về sự giàu có lẫn quy mô của các thành thị (ngoại trừ London). Nhưng tại sao lại chính nước Anh mới trở thành quê hương của chủ nghĩa tư bản, tại sao Anh lại tiến khá nhanh chóng để trở thành nước dẫn đầu ở Tây Âu và cả thế giới? Để trả lời những câu hỏi này cần phân tích các đặc điểm của tình hình phát triển xã hội và kinh tế, đặc biệt là sự tiến triển xã hội - kinh tế ở nông thôn. Thực vậy, nông thôn Anh, khác với lệ thường, đã phản ứng không kém nhạy bén so với thành thị trước những chấn động mà nó nhận được, và thậm chí trong nhiều khía cạnh còn tiến trước cả thành thị. Chính nông thôn đã thúc đẩy tiến bộ kinh tế. 1. Những thay đổi lớn lao trong lĩnh vực kinh tế. So về mức độ đồng bộ, đà phát triển xã hội - kinh tế ở thành thị và nông thôn diễn ra ở Anh cao hơn so với các nước Tây Âu khác. Anh cũng là nơi có sự luân chuyển lao động và thay đổi sở hữu ruộng đất diễn ra với nhịp độ nhanh hơn rất nhiều, chế độ tư hữu ở Anh thích ứng với các nhu cầu của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa sớm hơn, có hệ thống hơn và quy mô hơn. Thêm vào đó là vị trí địa lý hết sức thuận lợi của Anh, vốn khi xưa nằm ở một góc riêng biệt, tách rời các đường thương mại chính ở châu Âu, giờ đây, sau khi châu Mỹ được phát hiện, đã nằm ngay trên một trong những con đường mậu dịch chính trên Đại Tây dương. Có thể nói đây là các nguyên nhân giải thích sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế Anh trong thế kỷ XVI, đặc biệt là nửa sau thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ XVII dưới triều Elizabeth I. Sự phát triển của công nghiệp diễn ra chủ yếu trong các công xưởng tư bản chủ nghĩa sản xuất các mặt hàng dành cho xuất khẩu (chẳng hạn như dạ), hoặc đòi hỏi nhiều vốn đầu tư (khai khoáng). Công nghiệp dệt dạ phát triển thịnh vượng ngay từ thế kỷ XIV và XV. Sự tăng trưởng có được là nhờ phần lớn ngành công nghiệp này đã chuyển về vùng quê, nơi sẵn có nguồn cung cấp nguyên liệu (lông cừu) và nhất là nhân công nông thôn dôi ra từ tình trạng phân hóa giàu nghèo trong nông dân. Sự việc công nghiệp dệt dạ tiêu thụ nguyên liệu được sản xuất ngay trong nước đã cho phép nó ảnh hưởng sâu sắc đến sự tiến triển của nông nghiệp. Công nghiệp dệt dạ phát triển tập trung ở miền Tây Nam, Đông và Đông Bắc, ở xứ Yorkshire. Trong thế kỷ XVI, Anh đã đánh bật xứ Flandre không chỉ trong lĩnh vực sản xuất mà cả trong lĩnh vực tiêu thụ. Năm 1354, Anh xuất khẩu hơn 5.000 súc dạ, năm 1509 đạt con số 80.000 và 120.000 vào năm 1547. Trong công nghiệp dệt dạ, công trường thủ công dạng phân tán còn chiếm ưu thế. Hàng ngàn thợ thủ công nông thôn vẫn còn làm việc tại nhà, nhưng lao động của họ giờ đây bị lệ thuộc vào một nhóm nhỏ các nhà tư bản từ khâu cung cấp nguyên liệu đến khâu tiêu thụ thành phẩm. Tình hình này diễn ra thấy rõ ở miền Đông và Tây Nam đất nước. Công nghiệp dệt dạ ở Anh đã trở thành nhân tố hàng đầu trong sự phát triển đi lên của toàn bộ nền kinh tế quốc dân, đã góp phần quyết định làm thay đổi hẳn bộ mặt của nông thôn Anh và do vậy đã khiến nơi đây trở thành vườn ươm của công trường thủ công tư bản chủ nghĩa. Công trường thủ công tư bản chủ nghĩa đạt được những bước tiến mau lẹ trong thế kỷ XVI. Việc khai thác các mỏ ngày càng đi sâu vào lòng đất. Điều này đòi hỏi phải huy động nhiều thợ (cả trăm người) và nhiều vốn đầu tư, mà chỉ các nhà kinh doanh tư bản chủ nghĩa mới đủ sức cung ứng. Ngoài hai ngành trên, trong thế kỷ XVI còn xuất hiện thêm nhiều ngành công nghiệp mới : đăng ten, lụa, giấy, thuốc súng, đường, in ấn... Sự gia tăng hàng hóa cả về sản lượng và chủng loại không thể không tác động đến thị trường trong nước và ngoài nước. Vai trò chính yếu trong lưu chuyển hàng hóa trong nước giờ đây nằm trong tay những người thu mua và các thương nhân lớn. Các nhà sản xuất nhỏ, nhất là thợ thủ công giờ đây không còn đủ sức đảm nhận việc tiêu thụ sản phẩm. Ngoại thương với một thị trường được mở rộng không ngừng nhờ những cuộc phát kiến địa lý hoàn toàn thuộc quyền kiểm soát của các thương nhân tư bản chủ nghĩa. Ở Anh từ nửa sau thế kỷ XVI, đặc biệt là dưới thời Nữ hoàng Elizabeth I đã lần lượt xuất hiện nhiều công ty chuyên buôn bán với vùng này hoặc vùng khác. Tên gọi của các công ty cho thấy vùng hoạt động của chúng: Công ty Moskva (1554) hoạt động ở vùng biển Baltique, Công ty Levant (1579) buôn bán với vùng biển Địa Trung Hải, Công ty Guinea (1588) buôn bán với Tây Phi và Công ty Đông Ấn lừng danh (1600) được độc quyền buôn bán với những xứ nằm từ mũi Hảo Vọng đến eo biển Magellan. Có thể nói ngoại thương là một trong hai nguồn chính tích lũy tư bản nguyên thủy của tư sản Anh. Để có một ý niệm về tỉ suất lợi nhuận mà ngoại thương mang lại cho giai cấp tư sản Anh, xin dẫn ra đây vài số liệu về giá mua và bán một số mặt hàng trên thị trường Anh cuối thế kỷ XVI. Đơn vị đo lường : 1 livre( ) MẶT HÀNG GIÁ MUA GIÁ BÁN (pence) (pence) Tiêu 3 20 Quả nhục đậu 3 78 khấu 13 60 Chàm 9 72 Củ đinh 7 20 hương shilling shilling Tơ sống Nguồn tích lũy thứ hai là các hoạt động cướp biển của những nhà hàng hải Anh, trong đó nổi tiếng nhất là Francis Drake, John Hawkins, Walter Raleigh... nhằm vào các đoàn tàu Tây Ban Nha chở các kim khí quý từ Tân lục địa về. Mặc dù nền công nghiệp với các công trường thủ công đã đạt được nhiều tiến bộ đáng kể, Anh trong thế kỷ XVI vẫn là một nước nông nghiệp. Thị dân chỉ chiếm khoảng 10% dân số. Chỉ vài thành phố (London, Bristol, York, Norwich) mới xứng đáng với tên gọi này. Nhưng
- Xem thêm -