Tài liệu Bài báo cáo thực tập-chiến lược 3pl

  • Số trang: 59 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 270 |
  • Lượt tải: 3
quangtran

Đã đăng 3721 tài liệu

Mô tả:

CHIẾN LƯỢC 3PL Nhóm SECOND Danh sách thành viên : • LÊ ĐỨC ANH Lớp 35K12.2 • NGUYỄN MỘNG THÙY NHI Lớp 35K12.2 • NGUYỄN THỊ THÚY AN Lớp 35K12.1 • NGUYỄN THỊ KIỀU TRANG Lớp 35K12.1 • ĐOÀN LÊ MINH LÂM Lớp 35K02.2 • DƯƠNG HỒNG NHUNG Lớp 35K02.2 • NGUYỄN BÙI THẮNG Lớp 35K02.2 PHẠM THỊ KIỀU NHUNG Lớp 35k12.1 • GVHD : PHẠM NGUYỄN HOÀ AN 2| Page PHẦN I: TỔNG QUAN VỀ LOGISTIC I. Khái niệm và sự phát triển của Logistics : 1. Khái niệm Logistics là một thuật ngữ có nguồn gốc Hy Lạp (logistikos) phản ánh môn khoa học nghiên cứu tính quy luật của các hoạt động cung ứng và đảm bảo các yếu tố tổ chức, vật chất và kỹ thuật để cho quá trình chính yếu được tiến hành đúng mục tiêu. Logistics có khái niệm bắt nguồn từ nhu cầu quân sự trong việc cung cấp tài chính , quân sự cho chính họ trong quá trình di chuyển của các đoàn quân từ căn cứ ra tiền tuyến. Về mặt lịch sử, thuật ngữ logistics bắt nguồn từ các cuộc chiến tranh cổ đại của đế chế Hy Lạp và La Mã. Khi đó, những chiến binh có chức danh “Logistikas” được giao nhiệm vụ chu cấp và phân phối vũ khí và thực phẩm thiết yếu, đảm bảo điều kiện cho quân sỹ hành quân an toàn từ bản doanh đến một vị trí khác. Công việc “hậu cần” này có ý nghĩa sống còn tới cục diện của chiến tranh, khi các bên tìm mọi cách bảo vệ nguồn cung ứng của mình và tìm cách triệt phá nguồn cung ứng của đối phương . Theo định nghĩa của Oxford thì logistics được hiểu là một nhánh của khoa học quân sự liên quan đến việc tiến hành, duy trì và vận chuyển phương tiện thiết bị và nhân sự. Logistics có khái niệm liên quan đến kinh doanh bắt nguồn từ những năm 1950. Điều này chủ yếu là do sự gia tăng trong việc cung cấp, vận chuyển trong một thế giới toàn cầu hóa đòi hỏi phải có những nhà chuyên gia trong lĩnh vực này. Thuật ngữ logistics cũng đã được sử dụng chính thức trong Luật thương mại 2005, và được phiên âm (một cách khá “ngộ nghĩnh”) theo tiếng Việt là “lô-gi-stíc”. Điều 233 Luật thương mại nói rằng: “Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công việc bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao Nhóm SECOND | Supply Chain Management 59 3| Page hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao.” Logistics có thể tạm dịch một cách không sát nghĩa là “hậu cần”, nhưng có lẽ đến nay Tiếng Việt chưa có thuật ngữ tương đương. Chúng ta có thể chấp nhận từ logistics như một từ đã được Việt hóa, cũng tương tự như nhiều từ khác trong thực tế đã chấp nhận như container, marketing… Trong sản xuất kinh doanh, Logistics đề cập đến việc tối thiểu hóa chi phí, từ việc mua sắm nguyên vật liệu cho tới việc lập, thực hiện kế hoạch sản xuất và giao hàng. Mục tiêu của Logistics trong sản xuất kinh doanh là giảm thiểu các chi phí phát sinh, đồng thời vẫn phải đạt được các mục tiêu mà doanh nghiệp đã đề ra.Tóm lại, Logistics có thể được định nghĩa như sau (Coyle, 2003): “Logistics là quá trình dự báo nhu cầu và huy động các nguồn lực như vốn, vật tư, thiết bị, nhân lực, công nghệ và thông tin để thỏa mãn nhanh nhất những yêu cầu về sản phẩm, dịch vụ của khách hàng trên cơ sở khai thác tốt nhất hệ thống sản xuất và các mạng phân phối, cung cấp hiện có của doanh nghiệp, vớichi phí hợp lý.” Logistics không phải là một dịch vụ đơn lẻ ( do đó thuật ngữ này bao giờ cũng ở dạng số nhiều : LOGISTICS . Dù là danh từ, hay tính từ , không bao giờ người ta viết LOGISIC) Logistics luôn luôn là một chuỗi các dịch vụ về giao nhận hàng hóa như làm thủ tục giấy tờ, tổ chức vận tải, bao bì đóng gói ghi nhãn hiệu, lưu kho lưu bãi, phân phát hàng hóa ( nguyên liệu hoặc thành phẩm) tới các địa chỉ khác nhau, chuẩn bị cho hàng hóa tới các địa chỉ khác nhau, chuẩn bị cho hàng hóa luôn luôn sẵn sàng trong trạng thái có yêu cầu của khách hàng là đi ngay được. Chính vì vậy khi nói tới Logistics bao giờ người ta cũng nói tới một chuỗi hệ thống dịch vụ . Với chuỗi hệ thống dịch vụ này, người cung cấp dịch vụ Logistics sẽ giúp khách hàng có thể tiết kiệm được chi phí của đầu vào trong các khâu dịch chuyển, lưu kho, lưu bãi và phân phát hàng hóa ( nguyên liệu , bán thành phẩm , hoăc thành phẩm ) cũng như chi phí dịch vụ Logistics đã nói trên. Nhóm SECOND | Supply Chain Management 59 4| Page 2. Sự phát triển của Logistics Theo ủy ban kinh tế và xã hội Châu Á-Thái Bình Dương của Liên Hợp Quốc ( ESCAP) thì quá trình hình thành và phát triển của Logistics trải qua 3 giai đoạn như sau :  Giai đoạn 1: Phân phối vật chất Vào những năm 60, 70 của thế kỷ XX, người ta quan tâm đến việc quản lý có hệ thống những hoạt động có liên quan với nhau để đảm bảo hiệu quả việc giao hàng, thành phẩm và bán thành phẩm...cho khách hàng. Những hoạt động đó là: vận tải, phân phối, bảo quản, định mức tồn kho, bao bì đóng gói, di chuyển nguyên liệu... Những hoạt động này gọi là phân phối vật chất hay Logistics đầu vào.  Giai đoạn 2: Hệ thống Logistics Vào những năm 80 - 90 của thế kỷ XX, các công ty kết hợp chặt chẽ sự quản lý của 2 mặt (đầu vào và đầu ra) để giảm tối đa chi phí cũng như tiết kiệm chi phí.Sự kết hợp chặt chẽ giữa cung ứng nguyên liệu cho sản xuất với phân phối sản phẩm đến tay người tiêu dùng đã đảm bảo tính liên tục và ổn định của các luồng vậnchuyển.Sự kết hợp đó được mô tả là hệ thống Logistics.  Giai đoạn 3: Quản lý dây chuyền cung cấp Giai đoạn này diễn ra từ những năm 90 của thế kỷ XX cho đến nay. Quản lý dây chuyền cung cấp - đây là khái niệm có tính chiến lược về quản lý dãy nối tiếp các hoạt động từ người cung ứng - đến người sản xuất - đến khách hàng cùng với dịch vụ làm tăng thêm giá trị sản phẩm như cung ứng chứng từ liên quan, theo dõi,kiểm tra... Khái niệm này coi trọng đối tác, phát triển đối tác, kết hợp giữa doanhnghiệp sản xuất kinh doanh với người cung ứng, khách hàng cũng như những ngườiliên quan đến hệ thống quản lý (các công ty vận tải, lưu kho, những người cung cấp công nghệ thông tin...). Như vậy Logistics được phát triển từ việc áp dụng các kỹnăng "tiếp vận", "hậu cần" trong quân đội để giải quyết Nhóm SECOND | Supply Chain Management 59 5| Page những vấn đề phát sinh củathực tế sản xuất - kinh doanh và đến nay được hoàn thiện trở thành hệ thống quản lý mang lại hiệu quả kinh tế cao 3. Nguyên nhân ra đời và phát triển Logistics trong doanh nghiệp : Trong chiến tranh, đặc biệt là chiến tranh thế giới lần thứ II, rất nhiều kỹ năng của Logistics được biết đến nhưng lại bị lãng quên trong hoạt động kinh tế thời hậu chiến vì lúc này, sự chú ý của các nhà quản trị Marketing đang hướng vào việc đáp ứng những nhu cầu hàng hoá sau chiến tranh. Phải đến thời kỳ suy thoái kinh tế và những năm 50 của thế kỷ XX thì họ mới bắt đầu nghiên cứu mạng lưới phân phối vật chất. Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1958 và việc thu hẹp lợi nhuận đã thúc đẩy các các doanh nghiệp tìm kiếm các hệ thống kiểm soát chi phí để đạt hiệu quả hơn. Và hầu như đồng thời rất nhiều doanh nghiệp nhận ra rằng "phân phối vật chất" và "Logistics" là những vấn đề chưa được nghiên cứu kỹ và chưa thực sự kết hợp với nhau để kiểm soát và giảm tối đa chi phí. Qua nghiên cứu thực tế, các doanh nghiệp đều cho rằng: Việc Logistics ra đời và phát triển trong doanhnghiệp là một yếu tố tất yếu nếu doanh nghiệp muốn đạt được lợi nhuận cao nhất trong quá trình hoạt động, sản xuất kinh doanh. Nguyên nhân chính xuất phát từ các yếu tố sau:  Thứ nhất, chi phí vận tải tăng nhanh Các phương thức phân phối truyền thống ngày càng đắt đỏ hơn, dẫn đến cần phải chú ý việc kiểm soát chặt chẽ những chi phí này vào những năm 70 của thế kỷXX, kiểm soát chi phí vận tải càng cần thiết hơn do giá nhiên liệu tăng vọt. Vận tải lúc này không được coi là một nhân tố ổn định trong phương án kinh doanh của các doanh nghiệp nữa. Như vậy thực tế đòi hỏi cần phải có nghệ thuật quản lý ở cấp độ cao hơn để can thiệp vào những lĩnh vực liên quan đến vận tải cả trong lĩnh vực chính sách cũng như quá trình thực hiện.  Thứ hai, hiệu quả trong sản xuất đã đạt tới đỉnh cao Trên thực tế, khi hiệu quả trong sản xuất đã đạt tới đỉnh cao rất khó tìm thêm những biện pháp nhằm tiết kiệm hơn nữa những chi phí từ sản xuất, nói khác đi là chi phí trong sản Nhóm SECOND | Supply Chain Management 59 6| Page xuất đã được gạn lọc một cách tối đa. Vì vậy muốn tối ưu hoá quá trình sản xuất vật chất, các doanh nghiệp phải tìm kiếm một giải pháp khác - "phân phối vật chất" và "Logistics", lĩnh vực hầu như chưa được khai phá  Thứ ba, trong nhận thức của các doanh nghiệp đã có sự thay đổi cơ bản về nguyên lý trữ hàng Trước đây có thời kỳ các nhà bán lẻ nắm giữ khoảng một nửa lượng hàng thành phẩm, nửa còn lại do các nhà bán buôn và sản xuất nắm giữ. Vào những năm 50 của thế kỷ XX, nhiều kỹ thuật kiểm soát hàng tồn kho đã được áp dụng, đặc biệt trong kinh doanh hàng tạp hoá, đã làm giảm lượng hàng hóa trong kho, thay đổi tỷ lệ nắm giữ hàng hoá của các nhà bán lẻ xuống còn 10% còn các nhà phân phối và sản xuất nắm giữ 90%. Như vậy, nhận thức của các doanh nghiệp đã có sự thay đổi rất lớn về nguyên lý trữ hàng. Hầu hết các doanh nghiệp đều nhận thức được tầm quan trọng của công tác hậu cần trong doanh nghiệp.  Thứ tư, các ngành hàng sản xuất gia tăng nhanh chóng. Đây là kết quả trực tiếp của nguyên lý Marketing cơ bản "cung cấp chokhách hàng những sản phẩm mà họ yêu cầu. Nhu cầu của khách hàng ngày càng đa dạng và phức tạp , đòi hỏi nhà sản xuất phải tìm cách để luôn hoàn thiện mình và hoàn thiện sản phẩm sao cho phù hợp với nhu cầu và thị hiếu của khách hàng.  Thứ năm, công nghệ thông tin đã tạo nên sự thay đổi lớn trong sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp. Việc quản lý cách thức thực hành Logistics đòi hỏi phải có một khối lượng lớn chi tiết và dữ liệu. Ví dụ như: Vị trí của mỗi khách hàng; nhu cầu của từng đơn hàng; vị trí nơi sản xuất; nhà kho và các trung tâm phân phối; chi phí vận tải từ kho đến từng khách hàng; người chuyên chở săn sóc các dịch vụ mà họ cung cấp; vị trí của các nhà cung cấp và lượng hàng tồn kho tại các kho, trung tâm phân phối...Tất cả các thông tin này làm cho việc phân tích thủ công không thể thực hiện được. Nhưng ngày nay, với Nhóm SECOND | Supply Chain Management 59 7| Page sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ mà đặc biệt là máy vi tính - vị cứu tinh toán học, việc hiện thực hoá khái niệm phân phối vàLogistics không còn là vấn đề khó khăn nữa. Như vậy các thành tựu khoa học công nghệ đã góp phần rất lớn trong việc tạo nên sự thay đổi vượt bậc trong sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp.  Thứ sáu, yếu tố này cũng liên quan đến sự gia tăng của sử dụng máy vi tính Như chúng ta đã biết máy tính có vai trò rất quan trọng. Hầu như tất cả các phòng ban trong các doanh nghiệp đều được trang bị hệ thống mạng lưới vi tính rất tiên tiến và hiện đại. Vi tính đi vào đời sống công sở như một sự thật hiển nhiên mà ai cũng nhìn thấy. Mặc dù có thể có một số doanh nghiệp không dùng máy vi tính nhưng các nhà cung cấp và các khách hàng của họ vẫn sử dụng. Điều này giúp cho doanh nghiệp nhận thấy được một cách có hệ thống chất lượng của các dịch vụ mà họ nhận được từ các nhà cung cấp. Dựa trên sự phân tích này, nhiều doanh nghiệp đã xác định được nhà cung cấp nào thường xuyên cung cấp các dịch vụ dưới mức tiêu chuẩn. Nhiều doanh nghiệp nhận thấy sự cần thiết phải nâng cấp hệ thống phân phối của mình. Và khi các doanh nghiệp chuyển sang áp dụng hệ thống JIT (Just in time) thì họ cũng đặt ra cho các nhà cung cấp một yêu cầu rất chính xác về vận chuyển nguyên vật liệu hoặc giao hàng. Trên đây là những nguyên nhân cơ bản thúc đẩy sự ra đời và phát triển Logistics trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Khi xã hội đã có sự biến đổi, muốn tối ưu hoá quá trình sản xuất vật chất, giờ đây không phảichỉ chú trọng vào khâu sản xuất, nâng cao năng suất lao động, tạo nhiều sản phẩm mà phải biết kết hợp tất cả các yếu tố có liên quan như vận tải, kho bãi, cách lưu trữ nguyên liệu, sản phẩm và quá trình thực hiện đơn hàng... để tạo thành dòng chảy liên tục, đạt được một dịch vụ khách hàng đảm bảo về mặt thời gian đồng thời tiếtkiệm được chi phí. Logistics đã ra đời và phát triển nhằm 59 đáp ứng những yêu cầu trên. II. Phân loại các hoạt động Logistics : Nhóm SECOND | Supply Chain Management 8| Page Thế kỷ 21, logistics đã phát triển mở rộng sang nhiều lĩnh vực và phạm vi khác nhau. Dưới đây là một số cách phân loại thường gặp:  Theo phạm vi và mức độ quan trọng: - Logistics kinh doanh (Bussiness logistics) là một phần của quá trình chuỗi cung ứng, nhằm hoạch định thực thi và kiểm soát một cách hiệu quả và hiệu lực các dòng vận động và dự trữ sản phẩm, dịch vụ và thông tin có liên quan từ các điểm khởi đầu đến điểm tiêu dùng nhằm thoả mãn những yêu cầu của khách hàng - Logistics quân đội (Military Logistics) là việc thiết kế và phối hợp các phương diện hỗ trợ và các thiết bị cho các chiến dịch và trận đánh của lực lượng quân đội. Đảm bảo sự sẵn sàng, chính xác và hiệu quả cho các hoạt động này. - Logistics sự kiện (Event logistics) là tập hợp các hoạt động, các phương tiện vật chất kỹ thuật và con người cần thiết để tổ chức, sắp xếp lịch trình, nhằm triển khai các nguồn lực cho một sự kiện được diễn ra hiệu quả và kết thúc tốt đẹp - Dịch vụ logistics (Service logistics) bao gồm các hoạt động thu nhận, lập chương trình, và quản trị các điều kiện cơ sở vật chất/ tài sản, con người, và vật liệu nhằm hỗ trợ và duy trì cho các quá trình dịch vụ hoặc các hoạt động kinh doanh doanh .  Theo vị trí của các bên tham gia - Logistics bên thứ nhất (1PL- First Party Logistics): là người cung cấp hàng hóa, thường là người gửi hàng (shipper), hoặc là người nhận hàng (consignee). Các công ty tự thực hiện các hoạt động logistics của mình. Công ty sở hữu các phương tiện vận tải, nhà xưởng, thiết bị xếp dỡ và các nguồn lực khác bao gồm cả con người để thực hiện các hoạt động logistics. Đây là những tập đoàn Logistics lớn trên thế giới với mạng lưới logistics toàn cầu, có phương cách hoạt động phù hợp với từng địa phương. - Logistics bên thứ hai (2PL - Second Party Logistics): chỉ hoạt động logistics do người cung cấp dịch vụ logistics cho một hoạt động đơn lẻ trong chuỗi cung Nhóm SECOND | Supply Chain Management 59 9| Page ứng để đáp ứng nhu cầu của chủ hàng. Chẳng hạn như hãng tàu, hãng hàng không , hãng xe tải - Logistics bên thứ ba (3PL - Third Party Logistics): là người thay mặt tổ chức thực hiện và quản lí các dịch vụ logistics cho từng bộ phận chức năng. Họ thường đảm nhiệm một phần, hay toàn bộ các công đoạn của chuỗi cung ứng.  Theo quá trình nghiệp vụ (logistical operations) chia thành 3 nhóm cơ bản - Hoạt động mua ( Procurement) là các hoạt động liên quan đến đến việc tạo ra các sản phẩm và nguyên vật liệu từ các nhà cung cấp bên ngoài. Mục tiêu chung của mua là hỗ trợ các nhà sản xuất hoặc thương mại thực hiện tốt các hoạt động mua hàng với chi phí thấp - Hoạt động hỗ trợ sản xuất ( Manufacturing support) tập trung vào hoạt động quản trị dòng dư trữ một cách hiệu quả giữa các bước trong quá trình sản xuất. Hỗ trợ sản xuất không trả lời câu hỏi phải là sản xuất như thế nào mà là cái gì, khi nào và ở đâu sản phẩm sẽ được tạo ra - Hoạt động phân phối ra thị trường (Market distribution) liên quan đến viêc cung cấp các dịch vụ khách hàng. Mục tiêu cơ bản của phân phối là hỗ trợ tạo ra doanh thu qua việc cung cấp mức độ dịch vụ khách hàng mong đợi có tính chiến lược ở mức chi phí thấp nhất.  Theo hướng vận động vật chất - Logistic đầu vào ( Inbound logistics) Toàn bộ các hoạt động hỗ trợ dòng nguyên liệu đầu vào từ nguồn cung cấp trực tiếp cho tới các tổ chức. - Logistic đầu ra ( Outbound logistics) Toàn bộ các hoạt động hỗ trợ dòng sản phẩm đầu ra cho tới tay khách hàng tại các tổ chức - Logistic ngược ( Logistics reverse) Bao gồm các dòng sản phẩm, hàng hóa hư hỏng, kém chất lượng, dòng chu chuyển ngược của bao bì đi ngược chiều trong kênh logistics. Nhóm SECOND | Supply Chain Management 59 10 | P a g e  Theo đối tượng hàng hóa Các hoạt động logistics cụ thể gắn liền với đặc trưng vật chất của các loại sản phẩm. Do đó các sản phẩm có tính chất, đặc điểm khác nhau đòi hỏi các hoạt động logistics không giống nhau. Điều này cho phép các ngành hàng khác nhau có thể xây dựng các chương trình, các hoạt động đầu tư, hiện đại hóa hoạt động logistics theo đặc trưng riêng của loại sản phẩm tùy vào mức độ chuyên môn hóa, hình thành nên các hoạt động logistics đặc thù với các đối tượng hàng hóa khác nhau như: - Logistic hàng tiêu dùng ngắn ngày - Logistic ngành ô tô - Logistic ngành hóa chất - Logistic hàng điện tử - Logistic ngành dầu khí v.v. III. Vị trí và vai trò của Logistics : Ngành logistics có vị trí ngày càng quan trọng trong các nền kinh tế hiện đại và có ảnh hưởng to lớn đến sự phát triển kinh tế của các quốc gia và toàn cầu. Phần giá trị gia tăng do ngành logistics tạo ra ngày càng lớn và tác động của nó thể hiện rõ dưới những khía cạnh dưới đây: - Logistics là công cụ liên kết các hoạt động kinh tế trong một quốc gia và toàn cầu qua việc cung cấp nguyên liệu, sản xuất, lưu thông phân phối, mở rộng thị trường. Trong các nền kinh tế hiện đại, sự tăng trưởng về số lượng của khách hàng đã thúc đẩy sự gia tăng của các thị trường hàng hóa và dịch vụ trong nước và quốc tế. Hàng nghìn sản phẩm và dịch vụ mới đã được giới thiệu, đang được bán ra và phân phối hàng ngày đến các ngõ ngách của thế giới trong thập kỷ vừa qua. Để giải quyết các thách thức do thị trường mở rộng và sự tăng nhanh của hàng hóa và dịch vụ, các hãng kinh doanh phải mở rộng quy mô và tính phức tạp, phát triển các nhà máy liên hợp thay thế cho những nhà máy đơn. Hệ thống logistics hiện đại đã giúp các hãng làm chủ được toàn bộ năng lực cung ứng của Nhóm SECOND | Supply Chain Management 59 11 | P a g e mình qua việc liên kết các hoạt động cung cấp, sản xuất, lưu thông, phân phối kịp thời chính xác. Nhờ đó mà đáp ứng được những cơ hội kinh doanh trong phạm vi toàn cầu. Chính vì vậy, sự phân phối sản phẩm từ các nguồn ban đầu đến các nơi tiêu thụ trở thành một bộ phận vô cùng quan trọng trong GDP ở mỗi quốc gia. Tại Mỹ logistics đóng góp xấp xỉ 9,9% trong GDP. Năm 1999 Mỹ chi khoảng 554 tỷ USD cho vận tải hàng hóa đường thủy, hơn 332 tỷ USD cho chi phí kho dự trữ và, hơn 40 tỷ USD cho quản lý truyền thông và quản lý các quá trình logistics, tổng cộng là 921 tỷ USD. Đầu tư vào các cơ sở vận tải và phân phối, không tính các nguồn công cộng, ươc lượng hàng trăm tỷ USD, cho thấy logistics là một ngành kinh doanh tiềm năng và vô cùng quan trọng. - Tối ưu hóa chu trình lưu chuyển của sản xuất, kinh doanh từ khâu đầu vào đến khi sản phẩm đến tay người tiêu dùng cuối cùng. Logistics hỗ trợ sự di chuyển và dòng chảy của nhiều hoạt động quản lý hiệu quả, nó tạo thuân lợi trong việc bán hầu hết các loại hàng hóa và dịch vụ. Để hiểu hơn về hình ảnh hệ thống này, có thể thấy rằng nếu hàng hóa không đến đúng thời điểm, không đến đúng các vị trí và với các điều kiện mà khách hàng cần thì khách hàng không thể mua chúng, và việc không bán được hàng hóa sẽ làm mọi hoạt động kinh tế trong chuỗi cung cấp bị vô hiệu. - Tiết kiệm và giảm chi phi phí trong lưu thông phân phối. Với tư cách là các tổ chức kinh doanh cung cấp các dịch vụ logistics chuyên nghiệp, các doanh nghiệp logistics mang lại đầy đủ các lợi ích của các third – party cho các ngành sản xuất và kinh doanh khác. Từ đó mà mang lại hiệu quả cao không chỉ ở chất lượng dịch vụ cung cấp mà còn tiết kiệm tối đa về thời gian và tiền bạc cho các quá trình lưu thông phân phối trong nền kinh tế. - Mở rộng thị trường trong buôn bán quốc tế, góp phần giảm chi phí, hoàn thiện và tiêu chuẩn hóa chứng từ trong kinh doanh đặc biệt trong buôn bán và vận tải quốc tế. Trong thời đại toàn cầu hóa, thương mại quốc tế là sự lựa chọn tất yếu cho mọi quốc gia trong tiến trình phát triển đất nước. Các giao dịch quốc tế chỉ thực hiện được và mang lại hiệu quả cho quốc gia khi dựa trên một hệ thống logistics rẻ tiền và chất lượng cao. Hệ thống này giúp cho mọi dòng hàng hóa được lưu chuyển thuận lợi, suôn sẻ từ quốc gia Nhóm SECOND | Supply Chain Management 59 12 | P a g e này đến quốc gia khác nhờ việc cung ứng kịp thời, phân phối chính xác, chứng từ tiêu chuẩn, thông tin rõ ràng… Là một bộ phận trong GDP, logistics ảnh hưởng đáng kể đến tỷ lệ lạm phát, tỷ lệ lãi xuất, năng suất, chi phí, chất lượng và hiệu quả, cũng như các khía cạnh khác của nền kinh tế. Một nghiên cứu chỉ ra rằng bình quân một tổ chức của Mỹ có thể mở rộng năng suất logistics 20% hoặc hơn trong 1 năm. Một cách để chỉ ra vai trò của logistics là so sánh phí tổn của nó với các hoạt động xã hội khác. Tại Mỹ chi phí kinh doanh logstics lớn gấp 10 lần quảng cáo, gấp đôi so với chi phí bảo vệ quốc gia và ngang bằng với chi phí chăm sóc sức khỏe con người hàng năm. Xét ở tầm vi mô, trước đây các công ty thường coi logistics như một bộ phận hợp thành các chức năng marketing và sản xuất. Marketing coi logistics là việc phân phối vật lý hàng hóa. Cơ sở cho quan niệm này là hoạt động dự trữ thành phẩm hoặc cung cấp các yếu tố đầu vào do logistics đảm nhiệm cũng là nhiệm vụ của biến số phân phối (Place) trong marketing - mix và được gọi là phân phối vận động vật lý. Hiểu đơn giản là khả năng đưa 1 sản phẩm đến đúng thời điểm, đúng số lượng, đúng khách hàng. Phân phối vật lý và thực hiện đơn đặt hàng có thể coi là sự thay đổi chủ chốt trong việc bán sản phẩm, do đó cũng là cơ sở quan trọng trong thực hiện bán hàng. Sản xuất coi logistics là việc lựa chọn địa điểm xây dựng nhà máy, chọn nguồn cung ứng tốt và phân phối hàng hóa thuận tiện…Bởi lẽ các hoạt động này ảnh hưởng và liên quan chặt chẽ đến thời gian điều hành sản xuất, kế họach sản xuất, khả năng cung cấp nguyên vật liệu, tính thời vụ của sản xuất, chi phí sản xuất, thậm chí ngay cả vấn đề bao bì đóng gói sản phẩm trong sản xuất công nghiệp hiện đại. Do chức năng logistics không được phân định rạch ròi nên đã có những ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng dịch vụ khách hàng và tổng chi phí logistics bởi sự sao nhãng và thiếu trách nhiệm với hoạt động này. Quan điểm kinh doanh hiện đại ngày nay coi logistics là một chức năng độc lập, đồng thời có mối quan hệ tương hỗ với hai chức năng cơ bản của doanh nghiệp là sản xuất và marketing, phần giao diện giữa chúng có những hoạt động chung Nhóm SECOND | Supply Chain Management 59 13 | P a g e SẢN XUẤT • • xuất • • • Chất lượng Mua vật liệu Lịch sản Địa điểm sản xuất Thiết bị Công suất Tiêu chuẩn Logistics Vận chuyển Dự trữ Xử lý đđh Kho bãi Marketing Dịch vụ kh Định giá Đóng gói Địa điểm bán lẻ Sản phẩm Gía cả Phân phối Giao tiếp C¸c ho¹t ®éng C¸c ho¹t ®éng phèi hîp gi÷a phèi hîp gi÷a s¶n xuÊt vµ hËu marketing vµ hËu Hình 1.1: Quan hệ giữa chức năng logistics với chức năng sản xuất Hơn thế nữa, trong giai đoạn hiện nay, tại các quốc gia phát triển, quản trị logistics còn được ghi nhận như một thành tố quan trọng trong việc tạo ra lợi nhuận và lợi thế cạnh tranh cho các tổ chức. Vai trò của nó thể hiện rất rõ nét tại các doanh nghiệp vận hành theo cơ chế thị trường. 59 - Logistics nâng cao hiệu quả quản lý, giảm thiểu chi phí sản trong quá trình sản xuất, tăng cường sức cạnh tranh cho doanh nghiệp. Quan điểm marketing cho rằng, Nhóm SECOND | Supply Chain Management 14 | P a g e kinh doanh tồn tại dựa trên sự thỏa mãn nhu cầu khách hàng và cho thấy 3 thành phần chủ yếu của khái niệm này là sự phối hợp các nỗ lực marketing, thỏa mãn khách hàng và lợi nhuận công ty. Logistics đóng vai trò quan trọng với các thành phần này theo cách thức khác nhau. Nó giúp phối hợp các biến số marketing –mix, gia tăng sự hài lòng của khách hàng, trực tiếp làm giảm chi phí, gián tiếp làm tăng lợi nhuận trong dài hạn. - Logistics tạo ra giá trị gia tăng về thời gian và địa điểm: Mỗi sản phẩm được sản xuất ra luôn mang một hình thái hữu dụng và giá trị (form utility and value) nhất định với con người. Tuy nhiên để được khách hàng tiêu thụ, hầu hết các sản phẩm này cần có nhiều hơn thế. Nó cần được đưa đến đúng vị trí, đúng thời gian và có khả năng trao đổi với khách hàng. Các giá trị này cộng thêm vào sản phẩm và vượt xa phần giá trị tạo ra trong sản xuất được gọi là lợi ích địa điểm, lợi ích thời gian và lợi ích sở hữu (place, time and possession utility). Lợi ích địa điểm là giá trị cộng thêm vào sản phẩm qua việc tạo cho nó khả năng trao đổi hoặc tiêu thụ đúng vị trí. Lợi ích thời gian là gía trị được sáng tạo ra bằng việc tạo ra khả năng để sản phẩm tới đúng thời điểm mà khách hàng có nhu cầu, những lợi ích này là kết quả của hoạt động logistics. Như vậy Logistics góp phần tạo ra tính hữu ích về thời gian và địa điểm cho sản phẩm, nhờ đó mà sản phẩm có thể đến đúng vị trí cần thiết vào thời điểm thích hợp. Trong xu hướng toàn cầu hóa, khi mà thị trường tiêu thụ và nguồn cung ứng ngày càng trở nên xa cách về mặt địa lý thì các lợi ích về thời gian và địa điểm do logistics mang trở nên đặc biệt cần thiết cho việc tiêu dùng sản phẩm - Logistics cho phép doanh nghiệp di chuyển hàng hóa và dịch vụ hiệu quả đến khách hàng: Logistics không chỉ góp phần tối ưu hóa về vị trí mà còn tối ưu hóa các dòng hàng hóa và dịch vụ tại doanh nghiệp nhờ vào việc phân bố mạng lưới các cơ sở kinh doanh và điều kiện phục vụ phù hợp với yêu cầu vận động hàng hóa. Hơn thế nữa, các mô hình quản trị và phương án tối ưu trong dự trữ, vận chuyển, mua hàng…và hệ thống thông tin hiện đại sẽ tạo điều kiện để đưa hàng hóa đến nơi khách hàng yêu cầu nhanh nhất với chi phí thấp, cho phép doanh nghiệp thực hiện hiệu quả các hoạt động của mình Nhóm SECOND | Supply Chain Management 59 15 | P a g e - Logistics có vai trò hỗ trợ nhà quản lý ra quyết định chính xác trong hoạt động sản xuất kinh doanh, là một nguồn lợi tiềm tàng cho doanh nghiệp: Một hệ thống logistics hiệu quả và kinh tế cũng tương tự như một tài sản vô hình cho công ty. Nếu một công ty có thể cung cấp sản phẩm cho khách hàng của mình một cách nhanh chóng với chi phí thấp thì có thể thu được lợi thế về thị phần so với đối thủ cạnh tranh. Điều này có thể giúp cho việc bán hàng ở mức chi phí thấp hơn nhờ vào hệ thống logistics hiệu quả hoặc cung cấp dịch vụ khách hàng với trình độ cao hơn do dó tạo ra uy tín. Mặc dù không tổ chức nào chỉ ra phần vốn quý này trong bảng cân đối tài sản nhưng cần phải thừa nhận rằng đây là phần tài sán vô hình giống như bản quyển, phát minh, sáng chế, thương hiệu. IV. Nội dung cơ bản của quản trị Logistics : Trong phạm vi một doanh nghiệp, quản trị logistics được hiểu là một bộ phận của quá trình chuỗi cung ứng, bao gồm việc hoạch định, thực hiện và kiểm soát có hiệu lực, hiệu quả các dòng vận đông và dự trữ hàng hóa, dịch vụ cùng các thông tin có liên quan từ điểm khởi đầu đến các điểm tiêu thụ theo đơn đặt hàng nhằm thoả mãn yêu cầu của khách hàng. Quan điểm này được khái quát hoá trong hình 1.2. 59 Nhóm SECOND | Supply Chain Management 16 | P a g e Hình 1.2: Các thành phần và hoạt động cơ bản của hệ thống Logistics Hình này cho thấy logistics không phải là một hoạt động đơn lẻ mà là một chuỗi các hoạt động liên tục, có quan hệ mật thiết và tác động qua lại lẫn nhau, bao trùm mọi yếu tố tạo nên sản phẩm từ các nhập lượng đầu vào cho đến giai đoạn tiêu thụ sản phẩm cuối cùng. Các nguồn tài nguyên đầu vào không chỉ bao gồm vốn, vật tư, nhân lực mà còn bao hàm cả dịch vụ, thông tin, bí quyết và công nghệ. Các hoạt động này cũng được phối kết trong một chiến lược kinh doanh tổng thể của doanh nghiệp từ tầm hoạch định đến thực thi, tổ chức và triển khai đồng bộ từ mua, dự trữ, tồn kho, bảo quản, vận chuyển đến thông tin, bao bì, đóng gói…Và chính nhờ vào sự kết hợp này mà các hoạt động kinh doanh được hỗ trợ một cách tối ưu, nhịp nhàng và hiệu quả, tạo ra được sự thoả mãn khách hàng ở mức độ cao nhất hay mang lại cho họ những giá trị gia tăng lớn hơn so với đối thủ cạnh tranh. Một cách khái quát, mục tiêu của quản trị logistics là cung ứng dịch vụ cho khách hàng đạt hiệu quả cao.Cụ thể hơn, theo E.Grosvenor Plowman, mục tiêu của hệ thống logistics là cung cấp cho cho khách hàng 7 lợi ích - (7 rights): • Khách hàng • Số lượng • Điều kiện • Địa điểm • Thời gian • Chi phí 59 Nhóm SECOND | Supply Chain Management 17 | P a g e PHẦN 2 : TỔNG QUAN VỀ 3PL( THIRD PARTY LOGISTICS) Khái niệm và nguồn gốc của 3PL: Third-Party Logistics I. Một công ty 3PL được xác định là một nhà cung cấp bên ngoài thay mặt chủ doanh nghiệp thực hiện chức năng logistics. Các hoạt động logistics được cung cấp 1 cách riêng rẽ hoặc tích hợp tùy theo yêu cầu của chủ doanh nghiệp hoặc năng lực của nhà cung cấp dịch vụ logistics. Khởi đầu của 3PL có thể được bắt nguồn từ những năm 70 và 80, có nhiều công ty thuê ngoài dịch vụ logistics như là bên thứ 3. Theo thời gian, những nhà cung cấp dịch vụ logistics (3PL) mở rộng hoạt động của họ về khu vực địa lý, hàng hoá, phương thức vận chuyển, tích hợp các dịch vụ kho bãi và vận chuyển mà họ hiện có và trở thành một "3PL" như những gì chúng ta biết ngày nay. II. Phân loại các nhà cung cấp 3PL • Dựa trên vận chuyển: Các công ty này thường phát triển rộng hơn việc vận chuyển để cung cấp một tập hợp đầy đủ, toàn diện và dịch vụ logistics. Một số dịch vụ được cung cấp bới các công ty này tận dụng các tài sản mà họ được thừa hưởng từ các công ty khác. Một số khác thì phải sử dụng các tài sản vận chuyển của tổ chức mẹ. 59 Nhóm SECOND | Supply Chain Management 18 | P a g e Ví dụ: UPS và FedEx Logistics, DHL, Ryder,… • Dựa trên kho bãi hay phân phối: Thông thường, hầu hết các nhà cung cấp hoạt động logistics dựa trên kho bãi hay sự phân phối đều đã kinh doanh dịch vụ kho bãi và mở rộng phạm vi hoạt động trong logistics. Các công ty này thường phát triển về các hoạt động logistics như: quản lý hàng tồn kho, kho bãi, phân phối… Ví dụ: Ozburn-Hessey Logistics, DSC Logistics, tập đoàn Saddle Creek, tập đoàn IBM,… 59 • Dựa trên người giao nhận (chuyển tiếp) Nhóm SECOND | Supply Chain Management 19 | P a g e Có vai trò là một nhà trung gian trong hoạt động logistics, chuyển tiếp hàng hóa cho khách hàng tại các sân bay, cảng biển, các công ty này rất độc lập, không sở hữu tài sản và có mối quan hệ rộng lớn với các nhà cung cấp của dịch vụ logistics. Ví dụ: AEI, Kuehne & Nagle, Fritz, Circle, C. H. Robinson, Hub Group... • Dựa trên tài chính. Cung cấp các dịch vụ như: kiểm tra và thanh toán các khoản cước phí vận chuyển, kế toán và kiểm soát chi phí và các công cụ quản lý logistics để giám sát, đặt trước, theo dõi, kiểm tra và quản lý hàng tồn kho. Ví dụ: hệ thống thông tin Cass, tập đoàn Giao thông Thương Mại (CTC), AIMS… • Dựa trên thông tin: Các ngà cung cấp loại này có một sự tăng trưởng và phát triển mạnh mẽ của cơ sở Internet, các giao dịch giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp (B2B) , thị trường điện tử cho dịch vụ vận chuyển và logistics. 59 Ví dụ: Transplace, Nistevo. Nhóm SECOND | Supply Chain Management 20 | P a g e III. Ứng dụng của 3PL: Trong các doanh nghiệp, 3PL được dùng để giải quyết các vấn đề sau:  Doanh nghiệp có mạng lưới phấn phối rộng và phức tạp Ví dụ: National Semiconductor là một nhà sản xuất chip máy tính, truyền thông và thị trường người tiêu dùng hàng đầu thế giới. Mỗi năm, National Semiconductor phân phối hàng tỷ chip từ các cơ sở sản xuất của mình ở Đông Nam Á cho các khách hàng trên toàn cầu. UPS là đối tác 3PL được lựa chọn để quản lý thực hiện đơn hàng. Trung tâm phân phối đặt tại Singapore và có mạng lưới toàn cầu để phân phối các chip cho các khách hàng ở châu Á, châu Âu và Bắc Mỹ.  Các công ty không tập trung vào hoạt động logistics như một năng lực cốt lõi của họ. Ví dụ: Các công ty năng lượng liên quan đến dầu thô, khí thiên nhiên, và sản xuất các năng lượng khác như Tập đoàn Chevron và Bristish Petroleum cần phải đầu tư nhiều vào máy móc, thiết bị, tập trung vào việc thăm dò và khai thác dầu thô, khí thiên nhiên… Vì vậy, họ không tập trung nhiều vào hoạt động logistics mà thuê ngoài hoạt động này.  Khi muốn tiết kiệm thời gian, để có thể tập trung vào việc mở rộng thị trường và tăng doanh số. Ví dụ: Khi BMW muốn tăng doanh số, Kuehne & Nagel là công ty 3PL được lựa chọn để quản lý không chỉ là phân phối xe cho các đại lý mà còn quản lý phần lợi nhận cốt lõi giữ lại của các đại lý. Xe BMW được phân phối từ 2 địa điểm kho bãi của Kuehne & Nagel ở California và New Jersey. Mỗi cơ sở kiểm tra tất cả các xe đến, và các cửa hàng, vận chuyển theo đơn đặt hàng cho các đại lý trong nước Mỹ. Phần lợi nhuận giữ lại từ các đại lý được quản lý bởi 5 cơ sở Kuehne & Nagel cơ sở, mỗi cơ sở xử lý các phần trả lại và phân phối lợi nhuận cho nhà cung cấp ở Mỹ và Đức. IV. Phân tích SWOT Nhóm SECOND | Supply Chain Management 59
- Xem thêm -