Tài liệu Bài báo cáo-kiến trúc cổ hà nội với phát triển du lịch bền vững

  • Số trang: 83 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 60 |
  • Lượt tải: 1
quangtran

Đã đăng 3721 tài liệu

Mô tả:

CÔNG TRÌNH DỰ THI GIẢI THƢỞNG “SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC” NĂM 2009 Tên công trình: KIẾN TRÖC CỔ HÀ NỘI VỚI PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG Thuộc nhóm ngành: XH2b Hà Nội, tháng 8 năm 2009 TÓM TẮT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU Đề tài nghiên cứu gồm có ba phần chính: Chƣơng I: Khái quát chung Chƣơng II: Thực trạng hoạt động và bảo tồn của các công trình kiến trúc cổ Hà Nội Chƣơng III: Phát huy vai trò kiến trúc cổ Hà Nội trong phát triển du lịch bền vững Trong chương I, nhóm đi sâu vào nghiên c ứu các khái niệm cơ bản có liên quan đến đề tài nghiên cứu như: kiến trúc, kiến trúc cổ, phát triển du lịch bền vững... Trong khi nghiên cứu các khái niệm, phạm trù này, nhóm đã phân loại các công trình kiến trúc cổ theo các thời kỳ lịch sử nối tiếp nhau và làm rõ ý nghĩa lịch sử- văn hóa của các công trình kiến trúc cổ, cũng như vai trò của các công trình này đối với phát triển du lịch bền vững. Chương II là những phân tích, đánh giá sát thực về thực trạng hoạt động và bảo tồn các công trình kiến trúc cổ ở Hà Nội hiện nay. Thực trạng hoạt động của các công trình kiến trúc cổ Hà Nội được phân loại và nghiên cứu theo giá trị sử dụng chính của công trình. Thực trạng công tác bảo tồn các công trình kiến trúc cổ Hà Nội được nhìn nhận dưới góc độ những mặt tích cực đã làm được và những điểm còn hạn chế. Qua chương II, người đọc sẽ hình dung được một cách rõ ràng rằng mặc dù các công trình kiến trúc cổ Hà Nội có vai trò quan trọng không chỉ trong đời sống hằng ngày của người dân mà còn trong việc phát triển du lịch, nhưng việc khai thác và sử dụng cũng như quá trình bảo tồn, cải tạo, sửa chữa, nâng cấp các công trình này còn nhiều bất cập. Trong chương III, nhóm nghiên cứu đưa ra những giải pháp cho công tác bảo tồn cũng như nâng cao hiệu quả hoạt động của các công trình kiến trúc cổ Hà Nội. Các nhóm giải pháp bảo tồn được đề ra trên cơ sở khắc phục những tồn tại trong công tác bảo tồn, tiếp tục đẩy mạnh những giải pháp hữu hiệu đã được thực hiện cũng như đưa ra các giải pháp mang tính đột phá. Các nhóm giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các công trình kiến trúc cổ trong phát triển du lịch bền vững được đề ra trong ngắn hạn và dài hạn, với những giải pháp từ tổng quan đến chi tiết, có tính khả thi cao. Công trình nghiên cứu “Kiến trúc cổ Hà Nội với phát triển du lịch bền vững”, với kết cấu ba chương rõ ràng, đã làm rõ những khái niệm có liên quan, đưa ra những phân tích, nhận định xuất phát từ thực tế hoạt động và bảo tồn các công trình kiến trúc cổ Hà Nội, trên cơ sở đó đề ra những giải pháp có tính khả thi cao cho công tác bảo tồn và nâng cao hiệu quả hoạt động của các công trình này. DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT Từ viết tắt Nội dung hoàn chỉnh United Nations Educational Scientific and Cultural UNESCO Organization UBND Uỷ ban nhân dân GDP Gross Domestic Product (Tổng sản phẩm quốc nội) USD United States dollar (đô la Mỹ) GS.TS Giáo sư. Tiến sĩ ATM Automatic Teller Machine (máy rút tiền tự động) Asia-Pacific Economic Cooperation (Diễn đàn Hợp tác Kinh tế APEC ASEM VN Việt Nam Châu Á - Thái Bình Dương) The Asia-Europe Meeting (Diễn đàn hợp tác Á - Âu) MỤC LỤC LỜI NÓI ĐẦU 1 CHƢƠNG I. KHÁI QUÁT CHUNG 2 I. Kiến trúc cổ 2 1. Khái niệm Kiến trúc cổ và phân loại Kiến trúc cổ Hà Nội 2 2. Ý nghĩa lịch sử, văn hoá của các công trình kiến trúc cổ ở Hà Nội 7 II. Du lịch bền vững 11 1. Khái niệm du lịch bền vững và nhân tố để phát triển du lịch bền vững 11 2. Vai trò của kiến trúc cổ Hà Nội trong phát triển du lịch bền vững 13 CHƢƠNG II. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG VÀ BẢO TỒN CÁC CÔNG TRÌNH KIẾN TRÖC CỔ HÀ NỘI I. Thực trạng hoạt động của các công trình kiến trúc cổ Hà Nội 17 17 1. Thực trạng hoạt động của các công trình kiến trúc cổ phục vụ mục đích tâm linh 17 2. Thực trạng hoạt động của các công trình kiến trúc cổ được dùng làm nhà ở và nơi làm việc 21 3. Thực trạng hoạt động du lịch tại các công trình kiến trúc cổ Hà Nội 26 II. Thực trạng việc bảo tồn các công trình kiến trúc cổ ở Hà Nội 31 1. Những mặt tích cực trong quá trình bảo tồn kiến trúc cổ 31 2. Những mặt hạn chế trong công tác bảo tồn kiến trúc cổ Hà Nội 35 CHƢƠNG III. PHÁT HUY VAI TRÕ KIẾN TRÖC CỔ HÀ NỘI TRONG PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG I. Giải pháp để bảo tồn các công trình kiến trúc cổ ở Hà Nội 43 43 1. Nhóm giải pháp bắt nguồn từ thực trạng bất cập 43 2. Nhóm giải pháp phát huy những nhân tố tích cực đã được hình thành 53 II. Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các công trình kiến trúc cổ trong phát triển du lịch bền vững 60 1. Những giải pháp trong ngắn hạn 60 2. Những giải pháp trong dài hạn 63 KẾT LUẬN CHUNG 76 -1- LỜI NÓI ĐẦU Hà Nội- thủ đô ngàn năm văn hiến, nơi hội tụ anh tài nhân kiệt, nơi chắt lọc văn hóa Việt xưa cũng như nay. Vẻ đẹp tinh tế của Hà Nội được ghi nhận trong từng góc khuất phố cổ, những biệt thự thời Pháp thuộc, trong nét cổ kính mà thâm nghiêm của đình chùa miếu mạo thời Lý, Trần... Cùng với tốc độ đô thị hoá, hiện đại hoá, Hà Nội đang ngày càng hiện đại hơn, ồn ào hơn nhưng vẻ đẹp kiến trúc cổ Hà Nội vốn từ lâu hấp dẫn du khách nước ngoài đang ít nhiều bị xâm hại. Hiện nay, bảo tồn kiến trúc cổ là một trong những vấn đề mà nhân loại quan tâm, điển hình là tổ chức UNESCO của Liên hợp quốc với các hoạt động như Diễn đàn UNESCO về “Bảo tồn các di tích lịch sử tại đô thị”, hay diễn đàn toàn cầu “Trường đại học và di sản”, v.v... Nhiều nước trên thế giới cũng coi việc bảo tồn các kiến trúc cổ cũng là một nội dung quan trọng trong chiến lược phát triển văn hoá dân tộc của mình. Vậy nên, để hướng tới lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long, việc gìn giữ vẻ đẹp cho các công trình kiến trúc cổ Hà Nội là vô cùng cần thiết và là trách nhiệm của mọi người dân để Hà Nội thực sự ghi dấu ấn trong những trái tim Việt Nam và bạn bè quốc tế. Trước những đòi hỏi cấp bách của thực tiễn, các cơ quan chức năng, các chuyên gia trong và ngoài nước, người dân Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng, đã và đang có những hành động tích cực nhằm bảo tồn, tôn tạo và phát huy vẻ đẹp kiến trúc, giá trị lịch sử- văn hóa của những công trình kiến trúc cổ Hà Nội. Bên cạnh đó, công tác bảo tồn di sản cũng còn tồn tại nhiều hạn chế do gặp phải những khó khăn, thách thức cả khách quan lẫn chủ quan. Vì vậy, nhóm chọn đề tài “Kiến trúc cổ Hà Nội với phát triển du lịch bền vững” cho công trình nghiên cứu khoa học của mình với mong muốn đem lại một cái nhìn tổng quan hơn về thực trạng bảo tồn và sử dụng các công trình kiến trúc cổ ở Hà Nội, trên cơ sở đó tìm ra những giải pháp để bảo tồn và phát huy giá trị của những công trình đó. -2- CHƢƠNG I. KHÁI QUÁT CHUNG I. Kiến trúc cổ 1. Khái niệm Kiến trúc cổ và phân loại Kiến trúc cổ Hà Nội 1.1. Khái niệm Kiến trúc cổ Thuật ngữ kiến trúc (trong xây dựng) thường được sử dụng một cách truyền thống để chỉ những thiết kế và cấu trúc thật sự mang ý nghĩa quan trọng về mặt văn hóa. Ngày nay, nhiều người cho rằng một công trình xây dựng tốt phải thỏa mãn ít nhất ba điều kiện: đáp ứng tốt nhu cầu sử dụng đã định, có kết cấu kỹ thuật tốt, và phải truyền tải được những giá trị thẩm mỹ. Nhưng, những công trình xây dựng tốt nhất thường được thi công một cách hoàn hảo đến mức chúng tồn tại lâu hơn rất nhiều so với giá trị sử dụng ban đầu của chúng. Những công trình đó trường tồn cùng thời gian, nó vừa mang giá trị thẩm mĩ, vừa là những tư liệu về lịch sử phát triển của các nền văn hóa, là những thành tựu trong lĩnh vực kiến trúc đại diện cho xã hội đương thời đã sản sinh ra chúng. Những công trình kiến trúc ấy không bao giờ là thành quả lao động của một cá nhân đơn lẻ. Kiến trúc là một loại hình nghệ thuật mang tính xã hội. Kiến trúc phải được sinh ra từ tình yêu nghệ thuật và đam mê hướng tới cái đẹp. Kiến trúc cổ là những nét kiến trúc lâu đời, được gìn giữ qua những di tích lịch sử còn sót lại. Kiến trúc cổ phản ánh trình độ văn hoá, những phong tục tập quán sinh hoạt và cả những truyền thống tốt đẹp của các thế hệ đi trước. Như vậy, không phải bất cứ công trình xây dựng nào có tuổi đời lâu năm cũng được gọi là công trình kiến trúc cổ- bên cạnh giá trị lịch sử, công trình đó phải mang giá trị văn hóa- kiến trúc đặc trưng và độc đáo của xã hội đương thời. -31.2. Các loại hình kiến trúc cổ cơ bản ở Hà Nội Từ những khi chưa là thủ đô, Thăng Long - Hà Nội cổ xưa đã là một vùng dân cư đông đúc. Kiến trúc được hình thành từ những thời vua Hùng dựng nước. Dưới thời An Dương Vương, người Việt cổ đã biết tổ chức đắp những thành đất to cao lớp trong lớp ngoài, và dấu tích còn lại ngày nay của thành Cổ Loa vẫn khiến nhiều người kinh ngạc. Từ năm 1010, khi Thăng Long được chọn làm kinh thành, việc xây dựng các công trình kiến trúc và điêu khắc mới thực sự được chú ý và phát triển. Trải qua 1000 năm, nhắc đến Thăng Long Hà Nội là gợi đến trung tâm văn hoá lịch sử của đất nước với nét cổ kính ẩn trong những ngôi nhà, những đền chùa mang dáng dấp kiến trúc đặc sắc. Trải qua chiến tranh, nhiều di tích lịch sử đã bị tàn phá nhưng vẫn còn lại không ít công trình kiến trúc cổ có giá trị. Căn cứ vào thời điểm xây dựng cũng như phong cách kiến trúc, có thể chia các công trình kiến trúc cổ ở Hà Nội làm hai nhóm cơ bản: Nhóm kiến trúc thời kỳ phong kiến và nhóm kiến trúc thời kỳ Pháp thuộc. a.  Kiến trúc thời kỳ phong kiến (1009- 1873) Kiến trúc thời Lý (1009- 1225) Kiến trúc thời nhà Lý được hình thành và phát triển vào khoảng thế kỷ XI và XII. Có thể nói những di tích kiến trúc thời Lý là nét kiến trúc lâu đời nhất còn sót lại của Thăng Long - Hà Nội. Các công trình kiến trúc thời Lý có lâu đài, cung điện, thành luỹ, đền miếu thờ các anh hùng dân tộc, và phổ biến hơn cả là các chùa tháp. Kiến trúc thời Lý mang những đặc điểm cơ bản như: - Kiến trúc thời Lý thiên về kiến trúc chùa tháp cũng do chịu ảnh hưởng nhiều của Phật giáo thể hiện qua việc xây dựng và trùng tu hàng loạt chùa như Chùa Một Cột, Chùa Trấn Quốc, Chùa Keo, Chùa Thầy… -4- Kiến trúc thời Lý có đặc điểm là thể hiện phong cách chắc khoẻ và hài hoà với cảnh trí thiên nhiên. Chùa chiền thời Lý có quy mô rộng lớn, bố cục vuông vức, tiền thân của kiểu kiến trúc chữ “quốc” sau này, kiểu dáng chùa chiền mềm mại, mái cong vút và thon thả. - Về hình thức, kiến trúc thời Lý mang tính quần thể cao; hình thức kiến trúc và chi tiết kiến trúc giàu sức biểu hiện. Hoa văn hoạ tiết trong kiến trúc thời Lý gắn bó với thiên nhiên và cuộc sống đời thường nhưng mang tính nghệ thuật cao. Hoa văn trang trí thường là hình ảnh hiên nhiên, động vật hoặc hình ảnh con người và mang nét mềm mại, thanh thoát, đặc trưng nhất là hình tượng con rồng. Phường phố, chợ quán, nhà đất và nhà sàn trong mảng kiến trúc dân gian phát triển song song với kiến trúc cung đình. Một số công trình mang nét kiến trúc thời Lý ở Hà Nội là đền Quán Thánh (Trấn Vũ Quán), Chùa Một Cột, đền Bạch Mã, hoàng thành Thăng Long và một số di tích trong Văn Miếu - Quốc Tử Giám.  Kiến trúc thời Trần (1226- 1400) Kiến trúc thời nhà Trần hình thành và phát triển từ khoảng những năm 1230 sau khi nhà Trần ra đời thay thế nhà Lý, và bị thay thế cùng với sự suy tàn của triều đại Trần vào cuối thế kỷ XIV. Kiến trúc chủ yếu của thời nhà Trần là cung điện, chùa tháp, nhà ở, một số đền và thành quách. Kiến trúc thời Trần mang những đặc điểm như: - Kiến trúc mang nặng phong cách Phật giáo, đền chùa được chú trọng phát triển trong thời kỳ này. -5- Được phát triển trên cơ sở kế thừa những nét tiêu biểu của kiến trúc thời Lý thể hiện ở việc xây dựng cung điện đồ sộ, nhiều tầng và có thêm những dãy hành lang rộng, lan can bao quanh. Kiến trúc bề thế nhằm chứng tỏ uy quyền phong kiến. - Hoa văn trong kiến trúc thời Trần vẫn kế tiếp những giá trị thời Lý nhưng giản dị hơn, mang tính phóng khoáng của đường nét dân gian, đời thường và chắc khoẻ hơn chứ không bay bổng và uốn lượn nhiều như hoa văn thời Lý. Nếu hình tượng con rồng thời Lý gần gũi với hình tượng con rắn, uốn lượn mềm mại thì hình tượng con rồng thời Trần có thân hình chắc nịch. Hình các con thú chạm khắc thời Trần thường là hình khối rắn chắc. Một số công trình mang nét kiến trúc thời Trần tiêu biểu ở Hà Nội là những công trình kiến trúc Phật giáo như: Chùa Ngọc Hồi, chùa Kim Liên (chùa Đống Long)…  Kiến trúc thời Lê sơ (1428- 1527) Nhà Lê lên nắm quyền vào đầu thế kỷ XV. Nhà nước phong kiến Lê Sơ được thành lập trong bối cảnh nền văn hóa bị hủy hoại nghiêm trọng, xã hội đầy rẫy những khó khăn. Hai mươi năm giặc Minh đô hộ, những công trình Phật giáo nổi tiếng một thời như chùa Long Đọi, tháp Chương Sơn… đều bị phá hủy. Hệ tư tưởng thống trị của triều đình thời Lê Sơ là Nho giáo, Phật giáo cùng các tôn giáo khác lâm vào cảnh tưởng chừng như suy tàn. Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến kiến trúc thời Lê. Kiến trúc thời Lê mang những đặc điểm cơ bản như: - Kiến trúc ghi nhận hai loại hình chủ yếu là cung điện và lăng tẩm (ra đời và phát triển rầm rộ theo thiết chế Khổng giáo). Do ảnh hưởng của Nho giáo sâu sắc và Phật giáo suy tàn trong thời kỳ này nên chùa chiền không được chú trọng phát triển. - Kiến trúc thời Lê về cơ bản kế tục kiến trúc dân gian thời Lý, Trần với phong cách hồn nhiên tươi mát nhưng đã phần nào thể hiện uy quyền phong kiến qua -6những hình tượng trang trí trong kiến trúc. Ví dụ hình tượng con rồng trong hoa văn trang trí của các công trình kiến trúc thời Lê không mềm mại và gần gũi với đời thường như con rồng thời Lý, Trần mà chuyển thành con vật dữ tợn, mình mập, đầu to, bờm như sư tử, chân năm móng quặp vào như chân diều hâu, tượng trưng cho uy quyền của giai cấp thống trị. Những công trình kiến trúc thời Lê tiêu biểu ở Hà Nội gồm Chùa Quán Sứ, điện Kính thiên (nằm trong thành Hà Nội cũ, phía Bắc Cột cờ, quận Ba Đình, Hà Nội, dựng vào năm 1428), đàn Nam Giao (khu vực Đống Đa, Hà Nội).  Kiến trúc thời kỳ Lê- Trịnh, Tây Sơn và đầu triều Nguyễn (1593- 1865) Nhìn chung bối cảnh thời kỳ này, quyền lực của giai cấp phong kiến đã phần nào suy yếu cùng với sự liên tục thay đổi các triều đại cầm quyền trong thời gian ngắn. Do đó, đây là thời kỳ nghệ thuật dân gian phát triển mạnh mẽ. Kiến trúc mang tính hiện thực cao, giản dị, bớt đi nét tỉ mỉ mà thay vào đó là cảm hứng từ cuộc sống đời thường bình dị của người lao động phản ánh trong những đường nét hoa văn , hoạ tiết dân dã, chắc khoẻ. Về cơ bản, kiến trúc thời kỳ này kế tục kiến trúc thời Trần nhưng thể hiện nhiều ở việc xây dựng các đình, chùa, đền mang phong cách dân gian. Kiến trúc thể hiện uy quyền của giai cấp thống trị như lăng mộ mang tính chất khô khan thiếu sức sống không được chú trọng trong thời kỳ này. Một số công trình kiến trúc tiêu biểu trong thời gian từ thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ XIX còn được lưu giữ ở Hà Nội gồm Khuê Văn Các (trong Văn Miếu - Quốc Tử Giám), đền Ngọc Sơn (thế kỷ XIX), chùa Liên Phái... b. Các công trình kiến trúc thời kỳ Pháp thuộc (1858- 1945) Không thể phủ nhận một điều rằng kiến trúc thời Pháp thuộc là một phần đặc sắc của kiến trúc Hà Nội, mang nét sang trọng, kiêu kỳ và lãng mạn. Khác với kiến trúc thời kỳ phong kiến, kiến trúc thời kỳ Pháp thuộc mang quy mô lớn, đồ sộ với một phong cách hoàn toàn khác cả về hình dáng cũng như hoạ tiết trang trí lẫn bố cục bên trong. Do được xây dựng khá kiên cố và còn tương đối mới (đa phần vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX), các công trình kiến trúc thời kỳ Pháp thuộc còn lại tương đối nhiều và vẫn giữ nguyên những giá trị vốn có của nó. Kiến trúc Pháp có thể chia làm hai thể loại: -7 Những công trình kiến trúc thời kỳ đầu của công cuộc khai thác thuộc địa Kiến trúc thời kỳ này mang đậm nét châu Âu, đường nét kiến trúc cầu kỳ, tinh xảo. Nét nổi bật của kiến trúc là kiến trúc độc đáo của mái vòm, cột và những đường nét hoa văn trang trí tinh tế ở những thành bậc cửa sổ, mái, ban công mang đậm hơi hướng của tôn giáo phương Tây. Các công trình xây dựng thời kỳ này thường có hình khối đồ sộ và mang vẻ đẹp của kiến trúc cổ điển thuần tuý, mang tính đối xứng cao. Tiêu biểu cho kiến trúc thời kỳ này có Nhà hát lớn Hà Nội, Phủ Chủ tịch, Nhà khách Chính phủ, Toà án tối cao...  Những công trình kiến trúc được xây dựng trong giai đoạn 1920-1945 Thời kỳ này, các công trình kiến trúc do Pháp xây dựng đã hài hoà hơn với điều kiện tự nhiên của thuộc địa. Kiến trúc về cơ bản vẫn phóng khoáng, đồ sộ, cao ráo và mang màu sắc sáng sủa nhưng đã bớt đi những hoạ tiết kết cấu cầu kỳ. Nhìn chung kiến trúc giai đoạn này mang phong cách sang trọng, đơn giản và xen lẫn một số nét Á Đông như sự xuất hiện của mái ngói, cửa sổ vuông rộng. Kiến trúc không nhấn mạnh vào sự đối xứng mà biến tấu hài hoà, chan hoà với tự nhiên.Tiêu biểu cho kiến trúc thời kỳ này là Đại học tổng hợp Hà Nội, toà nhà Bộ Ngoại giao, Bảo tàng lịch sử, Viện Pasteur, nhà thờ Cửa Bắc... Ngoài ra, kiến trúc cổ thời kỳ Pháp thuộc còn ghi nhận khoảng hơn 900 biệt thự cổ ở Hà Nội, hiện nay một phần bị cắt xẻ ra thành những khu nhà đông dân cư, một phần được sử dụng làm tư dinh của những lãnh đạo cao cấp hoặc các trụ sở, cơ quan nhà nước và các đại sứ quán. 2. Ý nghĩa lịch sử, văn hoá của các công trình kiến trúc cổ ở Hà Nội Trước hết phải khẳng định rằng kiến trúc và văn hoá lịch sử có mối quan hệ khăng khít với nhau. Khách du lịch không bị hấp dẫn bởi một công trình kiến trúc chỉ vì vẻ bề ngoài của nó. Cái làm nên sự lôi cuốn cho kiến trúc cổ chính là chiều sâu văn hoá lịch sử. Điều gì khiến cho những viên gạch đã phủ kín rêu và xỉn màu lại có thể được coi là đẹp? Điều gì khiến cho nhà nước phải tiêu tốn hàng trăm tỉ đồng để bảo tồn những khu di tích đã nứt rạn theo thời gian? Có nhiều câu hỏi được đặt ra như vậy và chỉ có thể tìm câu trả lời bằng những dày công nghiên cứu nhằm mục đích giải mã sự hấp dẫn của kiến trúc cổ Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng. -82.1. Kiến trúc cổ là hiện thân của lịch sử Con người Việt Nam, những thế hệ đi sau, lúc nào và bao giờ cũng luôn mong muốn tìm hiểu về lịch sử của cha ông. Đã từng có nhận định rằng: lịch sử chính là tương lai của bản thân. Nghiên cứu lịch sử không phải là để thẩm định lại quá khứ, mà là tìm định hướng cho sự phát triển của chính bản thân và xã hội. Những dấu tích còn sót lại của lịch sử, dù là nhỏ nhất, cũng rất đáng quý và được coi là tài sản lớn của quốc gia. Có nhiều minh chứng của lịch sử còn sót lại cho đến ngày nay. Lịch sử tái hiện qua những tài liệu, những di sản văn hoá, cổ vật, kiến trúc…Trong đó, kiến trúc cổ có một vai trò hết sức quan trọng. Cùng với thời gian, nhiều tài liệu cổ để lại đã bị hư hỏng nặng hoặc bị biến tấu mất gốc. Di sản văn hoá như nhã nhạc cung đình, các món ăn dân tộc… qua nhiều thế hệ cũng mai một dần và biến đổi nhiều. Kiến trúc cổ có lẽ là một trong những thành phần hiếm hoi của lịch sử tồn tại xuyên thời gian và là cầu nối giữa quá khứ với hiện tại và tương lai. Trải qua nhiều năm tháng với chiến tranh tàn phá và nhiều lần trùng tu, tôn tạo, nhiều công trình kiến trúc cổ đã không còn giữ được vẻ nguyên bản như thời được xây dựng, nhưng những gì còn lại như mảnh gạch, hoa văn, thềm đá, mái ngói…vẫn là những bằng chứng vô cùng quý giá tái hiện một giai đoạn lịch sử nhất định. Kiến trúc cổ gắn liền với lịch sử dựng nước và giữ nước của cha ông ta. Nhiều công trình kiến trúc cổ được các triều đại vua chúa xây dựng để kỷ niệm các sự kiện trọng đại, những trận đánh lớn hoặc để thờ những người có công với đất nước…Ví dụ như chùa Trấn Quốc cổ nhất Hà Nội được xây dựng dưới thời Lý Nam Đế và được gọi là chùa Khai Quốc để kỷ niệm sự kiện Vua Lý Bí đánh thắng nhà Lương đô hộ khai sinh ra nước Vạn Xuân năm 544. Chùa Lý Quốc Sư được xây dựng dưới thời Lý để thờ Lý Quốc Sư Nguyễn Minh Không… Kiến trúc cổ còn phản ánh đặc điểm kinh tế- xã hội của từng thời kỳ khác nhau. Nước ta đã trải qua nhiều thời kỳ chiến tranh, sự hưng thịnh rồi suy vong của các triều đại phong kiến. Điều này khiến cho các công trình kiến trúc còn tồn tại có đặc điểm nổi bật là trải qua nhiều lần trùng tu, tôn tạo. Chính vì thế, các công trình kiến trúc cổ Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng mang trên mình dấu ấn của -9nhiều thời kỳ lịch sử khác nhau. Kiến trúc còn là bức tranh toàn cảnh cho sự phát triển của đất nước qua các thời kỳ. Ví dụ như dưới thời Lý, Trần, đất nước phát triển hưng thịnh nên các công trình kiến trúc có quy mô bề thế, hoa văn hoạ tiết mang màu sắc thiên nhiên vui tươi sống động hoặc lấy cảm hứng từ cảnh sinh hoạt yên bình của người dân. Sang đến thời Lê, đất nước vừa trải qua ách đô hộ của nhà Minh, Lê Lợi đã đấu khởi nghĩa giải phóng đất nước, kiến trúc mang nặng uy quyền phong kiến. Đến những thời kỳ sau, giai cấp phong kiến yếu thế, kiến trúc nổi lên là kiến trúc mang phong cách dân gian, đơn gi ản. 2.2. Kiến trúc cổ là di sản văn hóa to lớn Không chỉ là minh chứng cho từng thời kỳ lịch sử, các công trình kiến trúc cổ còn là hiện thân của những giá trị văn hoá truyền thống. Trước hết, kiến trúc cổ phản ánh đặc điểm địa lý và điều kiện sinh hoạt của người Việt từ ngàn đời nay. Tại sao kiến trúc phong kiến Việt Nam lại khác kiến trúc phong kiến ở Campuchia, Ấn Độ hay Châu Âu? Đó là vì kiến trúc mang những đặc thù phù hợp với điều kiện sinh sống và trình độ dân trí của xã hội sản sinh ra nó. Việt Nam thuộc miền khí hậu nhiệt đới, địa hình trải dài, phức tạp và hẹp với nhiều kênh rạch, sông suối, đặc biệt là khu vực đồng bằng sông Hồng. Đặc điểm địa lý như vậy cũng tác động đến kiến trúc. Kiến trúc cổ Việt Nam xây dựng có xu hướng chan hoà với thiên nhiên, nhà cổ hay chùa chiền, đình tháp thường được bao bọc với không gian cây cối xanh mát. Kiến trúc cổ phổ biến với vật liệu tự nhiên thể hiện ở những cột kèo, xà nhà bằng gỗ, sân gạch, mái ngói và bậc thềm cao. Kiểu xây dựng như vậy giúp giảm bớt cái nóng về mùa hè và chống lại nguy cơ ngập úng mùa mưa. Thử so sánh với lối kiến trúc cổ Châu Âu, cửa sổ thường dài và hẹp, thường là cửa kính để đón ánh nắng vào sưởi ấm và ngăn bớt gió lạnh. Kiến trúc cổ còn phản ánh những phong tục tập quán và nếp sinh hoạt truyền thống của người Việt xưa. Kiến trúc cổ phong kiến Việt Nam qua nhiều đời thường chan hoà gần gũi với thiên nhiên và con người. Hoa văn hoạ tiết trang trí thường lấy bối cảnh từ thiên nhiên như hoa lá, chim muông ho ặc lấy cảm hứng từ sinh hoạt đời thường của những người dân lao động. Những lễ hội truyền thống cũng được thể -10hiện phần nào qua những bức vẽ, hoạ tiết trang trí hay những bức điêu khắc để lại. Đó là những tư liệu quý giá cho việc nghiên cứu nét văn hoá cổ xưa của cha ông. Kiến trúc là sự thể hiện của tôn giáo và tín ngưỡng. Người Việt thường tâm niệm “lấy vợ hiền hoà, làm nhà hướng đông”, đó là minh chứng lý giải vì sao đa phần các công trình kiến trúc cổ đều đón hướng mặt trời mọc. Ngày nay, trong kiến trúc nhà ở thông thường, một phần vì dân cư đông đúc, điều kiện bị hạn chế, một phần những quan niệm khi xưa bị nhạt dần nên kiến trúc “quay 4 phương 8 hướng”, không còn theo truyền thống nữa, nhưng những công trình kiến trúc cổ để lại từ xưa thì vẫn giữ nguyên những nếp sinh hoạt như vậy. Các công trình kiến trúc cổ, dù nhỏ nhất, đều được thiết kế xây dựng theo một quan niệm, tín ngưỡng, ý nghĩa nào đó. Thử ví dụ đơn giản nhất: vì sao cầu Thê Húc (xây dựng vào năm 1865) lại được sơn màu đỏ? Đứng ở góc độ thẩm mỹ mà xem xét không gian xung quanh thì có vè đó là màu tất yếu để làm nổi bật cây cầu. Nhưng trên thực tế, màu sắc này mang nhiều ý nghĩa hơn thế. Theo nghĩa xưa, Thê Húc có nghĩa là đón ánh sáng ban mai về miền đất thánh thiện từ Đông sang Tây. Vì nghĩa ấy nên cầu được xây về hướng đông và được sơn màu đỏ thể hiện màu của sự sống, của mọi nguồn hạnh phúc. Cầu Thê Húc được xây dựng với ý nghĩa: “biểu tượng của mặt trời”. Sự hoà quyện của tôn giáo vào kiến trúc cũng có thể thấy rõ qua các triều đại Việt Nam. Ví dụ như thời Lý- Trần, Phật giáo phát triển nên kiến trúc phổ biến là kiến trúc chùa chiền, đình tháp mang hơi hướng phật giáo. Đến thời kỳ Nho giáo thịnh hành, kiến trúc lại ảnh hưởng sâu sắc đặc điểm kiến trúc Nho giáo, tuân theo những học thuyết của Khổng Tử từ những cách bài trí đến hoa văn hoạ tiết, kết cấu xây dựng…Hay như thời kỳ thuộc địa nửa phong kiến, kiến trúc ghi nhận một loại hình mới: kiến trúc theo lối kiến trúc cổ châu Âu và mang nặng hơi hướng thiên chúa giáo thể hiện ở hoạ tiết trang trí, kết cấu mái vòm… Kiến trúc cổ ở Việt Nam và Hà Nội là sự hoà trộn của các nền văn hoá đa dạng, phong phú. Đây là đặc điểm tạo nên sự độc đáo của kiến trúc cổ Hà Nội nói riêng và Việt Nam nói chung. Quần thể kiến trúc Hà Nội có thể coi là độc đáo với sự đan xen kiến trúc nhiều thời kỳ, của kiến trúc Phương Đông và kiến trúc Phương Tây. Đã có thời kỳ, kiến trúc cổ thời Pháp thuộc để lại không được nhìn nhận với đúng giá trị của nó vì bị xem là minh chứng của thời kỳ đô hộ. Nhiều nơi, nhân dân -11phá bỏ các lô cốt, pháo đài… Nhưng nhìn chung, kiến trúc cổ để lại, dù trong hoàn cảnh nào, cũng là những tài sản quý giá và đáng trân trọng. 2.3. Kiến trúc cổ mang ý nghĩa định hƣớng cho tƣơng lai Kiến trúc cổ không chỉ có giá trị lưu giữ văn hoá lịch sử mà còn có tính định hướng cho kiến trúc tương lai. Kiến trúc mỗi thời kỳ không phải là sản phẩm hoàn toàn mới của con người thời kỳ đó. Kiến trúc, cũng như nhiều mặt khác của tự nhiên và xã hội, phải dựa trên sự kế thừa những tinh hoa đã có của sự phát triển ngàn đời và từ đó nâng lên cho phù hợp với từng hình thái kinh tế xã hội và sự tiến bộ của nhân loại. Kiến trúc ngày nay có sự du nhập mạnh mẽ lối kiến trúc phương Tây với những toà nhà hiện đại. Bên cạnh đó cũng có nhiều loại hình kiến trúc mới lạ không theo phong cách nào. Tuy nhiên, kiến trúc cổ Việt Nam vốn hình thành qua nhiều thời kỳ, triều đại phong kiến vẫn giữ nguyên giá trị định hướng của nó và phù hợp với điều kiện khí hậu thời tiết và tập quán sinh hoạt. Kiến trúc cũng như mốt quần áo, có sự quay vòng. Trong tương lai, kiến trúc hiện đại như hiện nay nhiều khả năng sẽ kém thịnh hành và có xu hướng quay trở lại với nét kiến trúc truyền thống của dân tộc. II. Du lịch bền vững 1. Khái niệm du lịch bền vững và nhân tố để phát triển du lịch bền vững 1.1 Khái niệm du lịch bền vững Cùng với xu hướng toàn cầu hoá trên thế giới, nhu cầu đi lại giao lưu giữa các quốc gia, giữa các nền văn hoá cũng ngày càng gia tăng. Đời sống vật chất được nâng lên, con người có xu hướng tìm đến những giá trị văn hoá tinh thần để cân đối giữa lao động và hưởng thụ. Tâm lý chung đó đã khiến cho ngành du lịch phát triển nhanh chóng trong vài thập kỷ trở lại đây và trở thành ngành kinh tế quan trọng với những đóng góp đáng kể trong GDP của nhiều quốc gia. Do đó, vấn đề phát triển du lịch ngày càng được quan tâm nhiều và trở thành một trong những chính sách hàng đầu. Tuy nhiên, thu hút du lịch trong thời gian ngắn hòng đạt được sự tăng trưởng đáng nể là điều không khó. Phát triển du lịch bền vững mới là điều đáng lưu tâm. -12Phát triển hiểu đơn giản là sự gia tăng, lớn lên về mọi mặt của một lĩnh vực nào đó. Phát triển bao hàm tăng trưởng nhưng không phải cứ tăng trưởng thì có nghĩa là phát triển. Tăng trưởng phải tạo ra sự biến đổi về mặt cơ cấu, nội hàm theo chiều hướng tích cực mới được gọi là phát triển. Tuy nhiên, vấn đề chúng ta quan tâm không đơn thuần là phát triển mà là phát triển bền vững. Vậy phát triển bền vững là gì? Xin được trích dẫn nguyên văn khái niệm “Phát triển bền vững” trong wikipedia. Theo đó, “ phát triển bền vững là một khái niệm nhằm định nghĩa một sự phát triển về mọi mặt trong hiện tại mà vẫn phải đảm bảo sự tiếp tục phát triển trong tương lai xa.” Từ đó có thể hiểu rằng Du lịch bền vững là việc đáp ứng các nhu cầu hiện tại của du khách và khai thác các vùng du lịch mà vẫn đảm bảo những khả năng đáp ứng nhu cầu cho các thế hệ trong tương lai. Du lịch bền vững đòi hỏi phải quản lý tất cả các dạng tài nguyên theo cách nào đó để chúng ta có thể đáp ứng những nhu cầu kinh tế, xã hội và thẩm mỹ trong khi vẫn duy trì được bản sắc văn hoá, các quá trình sinh thái cơ bản, đa dạng sinh học và các hệ đảm bảo sự sống. 1.2. Những nhân tố để phát triển du lịch bền vững Có nhiều nhân tố để phát triển du lịch nói chung, nhưng để phát triển du lịch bền vững thì cần những nhân tố cơ bản sau: - Tiềm năng của đất nước và con người: Du lịch để phát triển được thì trước hết cần có tiềm năng phát triển du lịch. Tiềm năng này có thể là cảnh quan tự nhiên hoặc chiều sâu văn hoá, lịch sử. Du lịch phát triển mà không dựa trên việc khai thác những tiềm năng về con người, cảnh quan và văn hoá của đất nước mà mang tính nhân tạo nhiều thì sẽ không thể phát triển bền vững trong tương lai. - Chính sách khai thác và phát triển du lịch đúng đắn: Tiềm năng du lịch là quan trọng nhưng chỉ là tiền đề cơ bản. Du lịch có phát triển hay không và phát triển như thế nào, ồ ạt hay bền vững là phụ thuộc vào chính sách khai thác du lịch của mỗi quốc gia. Trong số du khách đi tham quan có rất nhiều người mong muốn tìm hiểu những khác biệt về thiên nhiên, văn hóa.. mà ở đất nước hay vùng sinh sống của họ không có. Vấn đề là phải phát hiện ra bản sắc của đất nước con người, sự khác biệt làm nên nét độc đáo cho nền văn hoá, lựa chọn đầu tư vào khía cạnh nào và đầu tư như thế nào cho thích hợp thì mới có thể phát triển du lịch một cách bền vững. -13- Nhận thức của chính người dân bản địa: Chính sách thu hút du lịch thuộc về chủ trương của nhà nước nhưng du lịch chắc chắn sẽ kém hấp dẫn đi rất nhiều nếu thiếu đi sự đón nhận nhiệt tình của chính người dân địa phương đó, đất nước đó. Du lịch bền vững phụ thuộc rất nhiều vào môi trường du lịch. Muốn nâng cao vai trò và phát huy giá trị của các công trình kiến trúc cổ Hà Nội trong con mắt của du khách quốc tế thì trước hết bản thân người dân phải cảm nhận được những giá trị đó. Quảng bá du lịch thông qua môi trường du lịch thuận lợi sẽ hiệu quả hơn việc tuyên truyền qua các phương tiện thông tin đại chúng. 2. Vai trò của kiến trúc cổ Hà Nội trong phát triển du lịch bền vững Hà Nội là trung tâm văn hoá của cả nước. Đại lễ 1000 năm Thăng Long- Hà Nội đang đến rất gần, ai trong chúng ta cũng mong muốn tận dụng cơ hội này để quảng bá hình ảnh thủ đô ngàn năm văn hiến đến đông đảo bạn bè trên thế giới. Do đó, phát triển du lịch Hà Nội đang là vấn đề nhận được sự quan tâm sâu sắc của chính quyền và người dân trong nhiều năm trở lại đây. Tuy nhiên, du lịch Hà Nội nên và chỉ có thể phát triển ở khía cạnh du lịch văn hoá. Chúng ta hãy thử lược qua một số lý do chính cho nhận định trên. Xét về tiềm năng phát triển du lịch văn hoá, Hà Nội có một bề dày lịch sử cùng nhiều nét truyền thống đáng quý đã ăn sâu vào nếp sinh hoạt của dân cư. Hà Nội cùng với Hội An là hai thành phố còn lưu giữ được những nếp nhà cổ, đặc biệt Hà Nội độc đáo với sự đan xen của nhiều nền văn hoá, nhiều triều đại phong kiến, là nơi lý tưởng đối với những ai có ham muốn tìm tòi, khám phá. Bên cạnh đó, nếu không phát triển du lịch văn hoá, Hà Nội cũng không phải nơi thích hợp để phát triển những loại hình du lịch khác. Thứ nhất, địa hình nhỏ hẹp, dân cư đông đúc, nếp sinh hoạt mang tính cộng đồng với nhiều nếp nhà nhỏ, phố xá nhà cửa san sát nên những loại hình du lịch với nhu cầu tìm đến một nơi an dưỡng nghỉ ngơi sau khi làm việc căng thẳng như du lịch MICE hay du lịch sinh thái là không thích hợp. Khu vực ngoài nội thành Hà Nội cũng đã phát triển du lịch sinh thái trong nhiều năm gần đây nhưng chỉ thu hút đại bộ phận giới trẻ trong nước, còn du khách nước ngoài hầu như không có. Như vậy, việc phát triển du lịch ở những khu vực này chưa đáp ứng được nhu cầu du lịch sinh thái thực sự, chất lượng chưa -14cao và không cạnh tranh được với nhiều địa phương khác trong cả nước và các quốc gia trong khu vực. Thứ hai, Hà Nội là một thủ đô có bề dày văn hiến, mặc dù trong thời kỳ hội nhập và phát triển nhanh chóng nhưng thói quen sinh ho ạt ồn ào, xô bồ vẫn không phải là thích hợp trong thời đại hiện nay. Hà Nội chưa và không thể lại trở thành một kinh đô thời trang hay một trung tâm mua sắm như Hồng Kông hay Paris…với sự khác biệt văn hoá sâu sắc. Lối sống khẩn trương, ồn ào náo nhiệt không phù hợp với những đặc thù, cảnh quan vốn có của Hà Nội. Nếu phát triển du lịch theo hướng như trên thì Hà Nội cũng không có tính cạnh tranh với nhiều thành phố trong khu vực và trên thế giới, và có nguy cơ dẫn đến sự suy tàn những truyền thống văn hoá tốt đẹp gìn giữ được. Do vậy, phát triển du lịch văn hoá ở Hà Nội là thích hợp nhất. Việc chọn lựa những nét văn hóa đặc trưng để quảng bá, cũng như việc quảng bá văn hoá Hà Nội như thế nào, là những vấn đề cơ bản cần bàn luận hiện nay để tạo ra hình ảnh một thủ đô ngàn năm văn hiến, một cái nôi của nền văn hoá Việt. Trong phát triển bền vững du lịch Hà Nội theo hƣớng phát triển du lịch văn hóa nói trên, các công trình kiến trúc cổ giữ một vai trò hết sức quan trọng. Xét ở phương diện mỹ quan thủ đô, thì kiến trúc cổ tạo nên diện mạo và sức thuyết phục của một thủ đô giàu truyền thống văn hoá. Hà Nội chắc chắn sẽ kém sức hấp dẫn đi rất nhiều nếu thiếu đi những công trình kiến trúc cổ xen giữa những toà nhà hiện đại. Nếu những công trình kiến trúc thời phong kiến tạo nên cái đẹp trầm lắng, uy nghiêm, mộc mạc khiến người ta phải chú ý quan sát kỹ mới nhận ra từng đường nét hoa văn thì những công trình kiến trúc Pháp đồ sộ và mang vẻ đẹp rực rỡ. Cái hay là chúng hoà quyện đan xen vào nhau khiến Hà Nội vừa mang chiều sâu nội tâm, cổ kính vừa đẹp một cách tinh tế, thu hút khách du lịch thập phương. Bận rộn với công việc ở những thành phố hiện đại, với nhịp sống ngày càng khẩn trương gấp gáp, con người luôn có xu hướng tìm về những thành phố văn hiến như một hành động tìm về nguồn cội. Xét ở góc độ văn hoá lịch sử, Hà Nội có nhiều nét văn hoá truyền thống khác hấp dẫn du khách như múa rối nước, văn hoá ẩm thực, những làng nghề…và việc bảo tồn kiến trúc cổ tạo tiền đề để phát triển những loại hình văn hoá đó. Du lịch -15mang ba mục đích chính: xem, tìm và hiểu. Quần thể kiến trúc cổ nếu được bảo tồn tốt sẽ tạo ra không gian văn hoá cổ kính, phù hợp và gây hứng thú tìm hiểu về những nét văn hoá cổ truyền Thăng Long. Không gian và môi trường du lịch thuận lợi là một trong những nhân tố cơ bản để thu hút du và phát triển du lịch bền vững. Chắc chắn sẽ không thể có được một không gian văn hoá ẩm thực hay nghệ thuật truyền thống Hà Nội nếu xung quanh bao bọc bởi những toà nhà cao tầng mang phong cách hiện đại. Về mặt thị trường, muốn tiến đến thị trường quốc tế, phải chú ý đến cảm nhận của du khách. Khách du lịch thế giới đến từ nhiều nơi có tri thức dân trí cao, thị hiếu du lịch của họ thiên về tìm và hiểu hơn là xem đơn thuần. Du khách sang thăm Việt Nam và dành thời gian du lịch Hà Nội thường có nhu cầu khám phá văn hoá, bản chất thật của di tích, tìm hiểu lịch sử, nếp sống (sinh hoạt, buôn bán, cách thờ cúng, lễ hội truyền thống, cách tổ chức không gian sống…) đã từng diễn ra trong quá khứ mà vẫn được duy trì và thể hiện trong cuộc sống hiện đại ở địa phương hay trong các di tích kiến trúc cổ. Bản thân người Việt sinh sống và làm việc tại Hà Nội, do quen thuộc với các công trình kiến trúc cổ nên chưa có nhận thức đúng hoặc nhận thức sai về những giá trị văn hoá quý giá. Có nhiều nét độc đáo của di tích hấp dẫn du khách nước ngoài hơn là du khách người Việt Nam. Do đó, phải nhận thức đúng và chú trọng phát huy vai trò của kiến trúc cổ Hà Nội mới hy vọng thuyết phục được du khách nước ngoài về du lịch văn hoá Hà Nội. Về mặt ngoại giao, gìn giữ được các di tích kiến trúc cổ góp phần nâng cao vị thế của Hà Nội trong con mắt bạn bè quốc tế. Trên thế giới, các quốc gia, thành phố được coi trọng thường là những vùng có kinh tế phát triển cao hoặc những cái nôi của văn minh nhân loại. Quần thể kiến trúc cổ phong phú và độc đáo của Hà Nội góp phần không nhỏ vào việc tạo dựng bộ mặt của thủ đô và đất nước với rất nhiều di tích lâu năm như Văn Miếu- Quốc Từ Giám, chùa Một Cột, chùa Trấn Quốc…Muốn phát triển du lịch bền vững, trước tiên phải tạo dựng được chỗ đứng trong lòng bạn bè quốc tế và các công trình kiến trúc cổ Hà Nội phải có vị trí chủ đạo. Du lịch bền vững gắn liền với lợi ích kinh tế lâu dài. Trong phát triển bền vững du lịch Hà Nội thì bảo tồn di tích kiến trúc cổ có thể được coi là một loại hình -16kinh doanh bền vững. Đầu tư bảo tồn đáp ứng tiêu chuẩn chính là mở ra cơ hội lớn về du lịch. Thu nhập từ du lịch văn hoá không mạnh mẽ bằng một số loại hình khác nhưng nếu có những biện pháp thích hợp phát huy vai trò kiến trúc cổ Hà Nội trong phát triển du lịch thì du lịch văn hoá Hà Nội hứa hẹn sẽ là ngành có sự tăng trưởng bền vững. Qua phân tích từng khía cạnh như trên, có thể thấy vai trò của kiến trúc cổ Hà Nội trong phát triển du lịch bền vững là hết sức quan trọng. Du lịch Hà Nội nói riêng và Việt Nam nói chung muốn phát triển theo hướng bền vững cần thiết phải nhận thức đúng vai trò của kiến trúc cổ, từ đó có những giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của các công trình này.
- Xem thêm -