Tài liệu Bài báo cáo khảo sát-nhận thức nhu cầu các bên liên quan về quản lý và phát triển khu dự trữ sinh quyển sông hồng

  • Số trang: 37 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 87 |
  • Lượt tải: 0
quangtran

Đã đăng 3721 tài liệu

Mô tả:

BÁO CÁO KHẢO SÁT NHẬN THỨC VÀ NHU CẦU CÁC BÊN LIÊN QUAN VỀ QUẢN LÝ VÀ PHÁT TRIỂN KHU DỰ TRỮ SINH QUYỂN SÔNG HỒNG BÁO CÁO KHẢO SÁT NHẬN THỨC VÀ NHU CẦU CÁC BÊN LIÊN QUAN VỀ QUẢN LÝ VÀ PHÁT TRIỂN KHU DỰ TRỮ SINH QUYỂN SÔNG HỒNG Báo cáo được thực hiện trong khuôn khổ Dự án “Hỗ trợ cộng đồng nghèo ven biển Việt Nam tạo dựng sinh kế bền vững và bảo vệ môi trường” Nguồn tài trợ: Liên minh Châu Âu và Oxfam Novib (Hà Lan) Taì trợ trong nước: Vườn quốc gia Xuân Thuỷ, Các Sở Tài nguyên &môi trường tỉnh nam Định, tỉnh Thái Bình, tỉnh Ninh Bình và Khubảo tồn TNĐNN Tiền hải Chữ viết tắt BQL Ban quản lý GDMT Giáo dục môi trường Khu BTTN Khu bảo tồn thiên nhiên Khu DTSQ SH Khu dự trữ sinh quyển châu thổ sông Hồng MAB Ủy ban quốc gia Con người và Sinh quyển MCD Trung tâm Bảo tồn sinh vật biển và Phát triển Cộng đồng NTTS Nuôi trồng thủy sản Sở TNMT Sở Tài nguyên môi trường UNESCO Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hiệp quốc UBQG Ủy ban quốc gia UBND Ủy ban nhân dân VQG Vườn quốc gia 3 Tóm tắt báo cáo Từ ngày 26 đến ngày 28 tháng 05 năm 2010, BQL Khu DTSQ SH đã phối hợp với Trung tâm MCD và Ủy ban MAB tổ chức 01 đợt khảo sát đánh giá nhận thức và nhu cầu quản lý Khu DTSQ SH trên địa bàn 03 tỉnh Thái Bình, Nam Định và Ninh Bình. Cuộc khảo sát nhằm: i) Đánh giá nhận thức và sự quan tâm các bên liên quan đối với Khu dự trữ sinh quyển sông Hồng; ii) Xác định nhu cầu, năng lực quản lý, sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên trong Khu DTSQ SH và iii) Đề xuất các giải pháp khả thi nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý và phát triển bền vững danh hiệu Khu DTSQ SH. Phương pháp khảo sát, đánh giá được nhóm điều tra áp dụng bao gồm việc kết hợp thu thập các thông tin thứ cấp (tài liệu, báo cáo) và thông tin sơ cấp gồm: sử dụng phiếu điều tra phỏng vấn (bảng hỏi) các đối tượng liên quan và tổ chức đối thoại, thảo luận trực tiếp với các cơ quan ban ngành cấp tỉnh, huyện và xã ở cả 03 tỉnh được khảo sát. Kết quả khảo sát cho thấy: • công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức về Khu DTSQ SH còn rất hạn chế và bất cập, phạm vi và nội dung tuyên truyền chưa đầy đủ, điều đó đã dẫn đến việc hạn chế hiểu biết về Khu DTSQ SH của cả người dân và cán bộ, thậm chí cả cấp lãnh đạo thuộc cơ quan quản lý chuyên ngành. • Có sự đồng thuận đáng kể về đánh giá các mối đe dọa đối với tài nguyên thiên nhiên giữa các tỉnh trong Khu DTSQ SH. Vấn đề ô nhiễm môi trường được các người trả lời phỏng vấn ở cả 03 tỉnh Thái Bình, Nam Định và Ninh Bình coi là mối đe dọa nghiêm trọng nhất và việc phát triển các khu du lịch nghỉ dưỡng lại được cho là gây đe dọa ít nghiêm trọng nhất. • Vai trò của chính quyền địa phương và cộng đồng người dân địa phương được coi là yếu tố then chốt trong công tác quản lý Khu DTSQ SH, ý kiến cho rằng vai trò của chính quyền địa phương và cộng đồng người dân địa phương là rất cần thiết lần lượt là 93% và 81%, phần nào đã thể hiện rõ tính tự chủ của cán bộ, người dân địa phương trong việc giữ gìn và phát triển các giá trị của Khu DTSQ SH. Vai trò của người dân địa phương được đánh giá cao cũng khẳng định sự tham gia của người dân đã, đang và sẽ là cần thiết trong các hoạt động quản lý. Đây cũng là một điểm khá tiến bộ so với các nơi khác, khi mà cách tiếp cận từ trên xuống với vai trò quản lý hầu như chỉ thuộc về chính quyền. • Mức độ tham gia của người dân và cán bộ trong các hoạt động liên quan đến Khu DTSQ SH còn thấp, đặc biệt có sự khác nhau tương đối về sự tham gia vào các hoạt động Khu DTSQ SH giữa các tỉnh liên quan, tỉnh Nam Định đã thể hiện tốt vai trò trưởng ban BQL Khu DTSQ SH, tích cực triển khai nhiều hoạt động cũng như hỗ trợ, điều phối các địa phương khác trong công tác liên quan đến quản lý Khu DTSQ SH. Các kiến nghị của người dân và cán bộ tập trung vào 07 nội dung chính, gồm: • Phát triển cơ sở hạ tầng (đầu tư hệ thống giao thông…) • Xây dựng quy hoạch (sử dụng đất; các điểm, tuyến du lịch; phân vùng ranh giới thực địa VQG, Khu BTNT…) • Tăng cường công tác tuyên truyền (tập trung cho cả cán bộ, người dân; xây dựng các tài liệu tập huấn; các phương tiện truyền thông như truyền hình, truyền thanh, báo chí địa phương…) • Tăng cường công tác quản lý (cơ chế phối hợp liên tỉnh, nội tỉnh; kế hoạch quản lý dài hạn; xây dựng các mô hình đồng quản lý; phân cấp quản lý; có hành lang pháp lý rõ ràng cho các cơ quan đầu mối (Sở TNMT) ở các tỉnh…) 4 • Phát triển thương hiệu sản phẩm địa phương (gắn thương hiệu Khu DTSQ SH cho sản phẩm “ngao Giao Thủy”; quảng bá sản phẩm du lịch sông Hồng…) • Bảo vệ và phục hồi hệ sinh thái (đẩy mạnh trồng rừng và đa dạng hóa các loại cây rừng trồng mới; thu hồi các diện tích đầm/ao để trồng rừng; kiên quyết xử lý các hoạt động phá hoại môi trường, săn bắt động vật cấm; giao đất giao rừng để quản lý…) • Phát triển sinh kế (nhân rộng các mô hình sinh kế bền vững; duy trì và phát triển các mô hình bổ trợ sinh kế của các dự án đang triển khai; tổ chức các lớp dạy nghề…) 5 Mục lục 2. Mục tiêu..................................................................................................................................7 3. Nội dung đánh giá và khảo sát................................................................................................7 4. Phương pháp đánh giá và công cụ khảo sát............................................................................8 4.2.1 Thu thập và nghiên cứu tài liệu sẵn có.......................................................................8 4.2.2 Bảng câu hỏi (phiếu điều tra).....................................................................................8 4.2.3 Thảo luận hỏi&đáp.....................................................................................................8 4.2.4. Công tác chuẩn bị và khảo sát thực địa ....................................................................8 5. Kết quả đánh giá và khảo sát..................................................................................................9 5.1.1 Tỉnh Thái Bình:..........................................................................................................9 5.1.2 Tỉnh Nam Định: ......................................................................................................10 5.1.3 Tỉnh Ninh Bình (huyện Kim Sơn)...........................................................................15 6. Kết luận.................................................................................................................................27 6 1. Giới thiệu chung Khu dự trữ sinh quyển châu thổ sông Hồng có tổng diện tích là 137.261 ha trong đó vùng lõi là 14.842 ha và nằm trên địa bàn của 5 huyện (Nghĩa Hưng, Giao Thủy, Tiền Hải, Thái Thụy và Kim Sơn) thuộc 3 tỉnh (Nam Định, Thái Bình và Ninh Bình). Vùng lõi nằm trên địa bàn 2 huyện Giao Thủy và Tiền Hải nơi có 2 Khu bảo tån đất ngập nước là Vườn quốc gia Xuân Thủy và Khu bảo tồn thiên nhiên Tiền Hải. Đây là khu dự trữ sinh quyển liên tỉnh đầu tiên của Việt Nam và Đông Nam Á thực hiện dựa trên cơ chế Đồng quản lý, có giá trị cao về bảo tồn đa dạng sinh học và mang lại nhiều cơ hội to lớn đối với phát triển kinh tế địa phương. Hiện nay, Khu dự trữ đã có Ban quản lý gồm đại diện các lãnh đạo UBND tỉnh và Sở Tài nguyên môi trường 3 tỉnh Nam Định, Thái Bình và Ninh Bình, Ban thư ký là Giám đốc Ban quản lý Vườn quốc gia Xuân Thủy và các cán bộ quản lý môi trường ở cấp tỉnh gồm: Trưởng phòng biển tỉnh Nam Định & Thái Bình, Chi cục trưởng chi cục môi trường tỉnh Ninh Bình, Trưởng ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Tiền Hải, Ban cố vấn gồm Ủy ban con người và sinh quyển quốc gia (MAB), Trung tâm Bảo tồn sinh vật biển và Phát triển cộng đồng (MCD) và Trung tâm Nghiên cứu Hệ sinh thái rừng ngập mặn (MERC). Từ khi thành lập (năm 2008) đến nay, công tác quản lý Khu DTSQ đã bước đầu có những thay đổi tiếp cận quản lý hiệu quả và có sự phối hợp liên kết trong quản lý. Nhằm nâng cao nhận thức về giá trị và ý nghĩa của Khu dự trữ sinh quyển sông Hồng, đồng thời tìm hiểu về nhu cầu của các bên liên quan trong công tác quản lý Khu dự trữ sinh quyển, làm cơ sở xây dựng Kế hoạch quản lý, Ban quản lý Khu dự trữ sinh quyển cùng với Ban thư ký và Ban cố vấn tổ chức khảo sát lập kế hoạch quản lý Khu dự trữ sinh quyển sông Hồng trong tháng 5 năm 2010. 2. Mục tiêu Mục tiêu tổng quát: Đánh giá nhu cầu quản lý và phát triển Khu DTSQ châu thổ sông Hồng của cán bộ và người dân thông qua khảo sát thực tế ở các cấp tỉnh, huyện, xã làm cơ sở để cung cấp thông tin đầu vào xây dựng kế hoạch quản lý dài hạn nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên và phát triển văn hóa của cộng đồng dân cư địa phương trong Khu DTSQ châu thổ sông Hồng Mục tiêu cụ thể: • Đánh giá nhận thức và sự quan tâm các bên liên quan đối với Khu dự trữ sinh quyển sông Hồng • Xác định nhu cầu, năng lực quản lý, sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên trong Khu DTSQ SH • Đề xuất các giải pháp khả thi nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý và phát triển bền vững danh hiệu Khu DTSQ SH 3. Nội dung đánh giá và khảo sát Đợt điều tra được tiến hành với những nội dung đánh giá sau: 7 • • • • Thực trạng hiểu biết về các Khu dự trữ sinh quyển thế giới tại Việt Nam: Đánh giá sơ bộ hiểu biết về các chức năng của Khu DTSQ thế giới và các Khu DTSQ thế giới của Việt Nam đã được UNESCO công nhận Thực trạng hiểu biết về Khu dự trữ sinh quyển châu thổ sông Hồng: Đánh giá sơ bộ về các kênh thông tin, tuyên truyền về Khu DTSQ SH; phạm vi và đặc điểm đặc trưng của Khu DTSQ SH; các áp lực và mối đe dọa đối với các tài nguyên thiên nhiên trong Khu DTSQ SH Thực trạng hiểu biết và nhu cầu tham gia của các bên liên quan trong quản lý Khu DTSQ SH: Rà soát các hoạt động liên quan đến Khu DTSQ SH đã được tổ chức từ trước đến nay và đánh giá sự tham gia của các bên liên quan trong các hoạt động đó Nhu cầu sử dụng danh hiệu Khu DTSQ thế giới phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương: Đánh giá sự hiểu biết về lợi ích của danh hiệu Khu DTSQ thế giới đối với công tác phát triển kinh tế - xã hội và các giải pháp đề xuất nâng cao hiệu quả quản lý Khu DTSQ SH. 4. Phương pháp đánh giá và công cụ khảo sát 4.1 Địa điểm khảo sát là các địa phương nằm trên địa bàn 03 tỉnh: Thái Bình, Nam Định và Ninh Bình, đều thuộc trong phạm vi Khu DTSQ SH. Mỗi tỉnh bao gồm 01 thành phố, 01 huyện, 01 xã, tổng cộng là 09 điểm khảo sát. 4.2 Công cụ khảo sát: 4.2.1 Thu thập và nghiên cứu tài liệu sẵn có Nhóm khảo sát và đánh giá đã thu thập các báo cáo, nghiên cứu liên quan đến kinh tế, xã hội, quản lý tài nguyên thiên nhiên của các địa phương nằm trong phạm vi Khu DTSQ SH; tham khảo các tài liệu dự án; các tài liệu, báo cáo do UBQG Con người & Sinh quyển (MAB) cung cấp; các tài liệu tham khảo trên internet để xác định nội dung đánh giá, khảo sát và xây dựng bảng hỏi. 4.2.2 Bảng câu hỏi (phiếu điều tra) Bảng hỏi (Phụ lục 3) được xây dựng chung cho cả 02 đối tượng cán bộ và người dân địa phương và được gửi tới cho các đối tượng ngay trong quá trình đoàn khảo sát tiến hành đi thực địa. Tổng số phiếu khảo sát được phát là: 119 phiếu, nhận về 99 phiếu (Phụ lục 2) 4.2.3 Thảo luận hỏi&đáp Thảo luận hỏi & đáp được tiến hành với 02 nhóm đối tượng: cán bộ quản lý và người dân địa phương tương ứng với 02 hình thức tổ chức là Hội thảo cấp tỉnh và Đối thoại cộng đồng cấp xã. 4.2.4. Công tác chuẩn bị và khảo sát thực địa • Về mặt nhân sự: Đoàn khảo sát thực địa gồm 08 cán bộ bao gồm: 02 cán bộ từ UBQG Con người & Sinh quyển (MAB); 03 cán bộ từ Trung tâm Bảo tồn Sinh vật biển và Phát triển Cộng đồng (MCD); 03 cán bộ từ Vườn quốc gia Xuân Thủy (Phụ lục 01). Trưởng đoàn là Giám đốc VQG Xuân Thủy kiêm Trưởng ban thư ký Khu DTSQ SH. Trách nhiệm của các thành viên trong nhóm được phân chia rõ ràng: Trưởng đoàn đảm trách việc liên hệ, điều phối với các cơ quan, địa phương mà đoàn sẽ đến làm việc; cán bộ MAB phụ trách việc cung cấp bổ sung các thông tin liên quan đến việc công nhận, quản lý các Khu DTSQ thế giới; cán bộ MCD đảm trách 8 việc hỗ trợ thúc đẩy quá trình cung cấp thông tin (xây dựng bảng hỏi; thúc đẩy thảo luận). Thành viên trong nhóm thường xuyên trao đổi và thảo luận về chuyên môn và nội dung khảo sát cũng như đưa ra những điều chỉnh về phương pháp, bổ sung thông tin để đảm bảo cho quá trình khảo sát được hiệu quả nhất. Tại mỗi địa phương khi đoàn đến làm việc đều có các cán bộ đầu mối của Sở Tài nguyên môi trường phụ trách việc tổ chức, điều phối các hoạt động diễn ra tại địa phương đó. • Lịch khảo sát thực địa: Khảo sát thực địa được tiến hành từ ngày 26/5 đến 28/5/2010 lần lượt qua các tỉnh Nam Định, Thái Bình và Ninh Bình. Lịch làm việc tại mỗi tỉnh được lập như sau: o Buổi sáng làm việc tại Sở TNTM tỉnh: Họp với cán bộ các cơ quan quản lý cấp tỉnh và đại diện UBND các huyện của tỉnh liên quan đến Khu DTSQ SH. o Buổi chiều làm việc tại 01 trong các UBND xã liên quan đến Khu DTSQ SH thuộc tỉnh đó. 5. Kết quả đánh giá và khảo sát 5.1 Thông tin chung về các địa phương nằm trong Khu DTSQ SH 5.1.1 Tỉnh Thái Bình: Tỉnh Thái Bình có 52 km bờ biển thuộc 02 huyện Thái Thuỵ và Tiền Hải; 05 cửa sông (Cửa Thái Bình, Diêm Điền, Trà lý, Lân, Ba Lạt); 05 cồn biển (cồn Đen, cồn Vành, cồn Thủ, cồn Đồng Bào) và nhiều bãi ngang rộng hàng chục ngàn hecta (ha); Diện tích đất ngập nước ven biển của tỉnh là 25.600 ha trong đó có 7.500 ha rừng ngập mặn và rừng thông. Diện tích đất mặt nước ven biển nuôi trồng thuỷ sản: 621,80ha; Diện tích đất mặt nước ven biển có mục đích khác: 5883,75ha. Hàng năm trung bình tỉnh Thái Bình phải hứng chịu ảnh hưởng của khoảng 3 cơn bão và 01 áp thấp nhiệt đới. Tài nguyên sinh vật biển của tỉnh gồm có: - Các loài hải sản gồm hệ cá tự nhiên: 102 loài có xương sống, 4 loài cá sụn thuộc 51 họ của 13 bộ cá (cá trích, cá mòi…); 40 loài cá nước lợ (cá thủ, cá vợc…); các loài giáp xác (tôm rảo, tôm sú, tôm thẻ, cua xanh…); - Thực vật biển gồm rong biển, rau câu chỉ vàng… - Nhuyễn thể gồm có các loài ngao, vọp, ngán… - Hệ sinh vật biển: gồm 19 loài thuộc 53 chi, trong đó tảo si lic chiếm 86,8% số lượng loài; - Động vật nổi: phát hiện tại cửa sông Thái Bình, sông Trà Lý từ tháng 5- 10 với mật độ dao động 104-105 con/m3. 9 - Động vật đáy có 49 loài trong đó Polychacte có 13 loài, chiếm 26,5%; Gastropoda có 3 loài, chiếm 6,1%; Bivalvia có 12 loài, chiếm 24,5%; Decapoda có 20 loài, chiếm 40,1%; Amphipoda có 1 loài, chiếm 2%. Số lượng hải sản đánh bắt năm 2008 là 32.106 tấn gồm: Kết quả quan trắc, giám sát chất lượng môi trường nước, không khí, đất tỉnh Thái Bình năm 2008 cho thấy các mẫu phân tích đều đạt tiêu chuẩn cho phép TCVN 72092002; TCVN 5941-1995. Kinh tế xã hội Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất trên địa bàn vùng bình quân hàng năm giai đoạn 2006-2010 đạt 15,2%; trong đó ngành công nghiệp và xây dựng tăng 26,3%/năm, dịch vụ tăng 14,8%/ năm, nông lâm thuỷ sản tăng 7,8%/ năm. 5.1.2 Tỉnh Nam Định: Vùng ven biển tỉnh Nam Định nằm ở vị trí khoảng 19050’ đến 20020’ độ vĩ Bắc; 10600’ đến 106040’ độ kinh Đông gồm ba huyện Giao Thuỷ, Hải Hậu, Nghĩa Hng với 77 xã, 7 thị trấn trong đó có 21 xã và 3 thị trấn giáp biển. Diện tích tự nhiên của ba huyện 712,72 km2 chiếm 45,5% diện tích của tỉnh và 21,4% diện tích của toàn dải ven biển sông Hồng. Hàng năm vùng ven bờ tỉnh Nam Định được hàng triệu tấn phù sa bồi đắp hình thành và mở rộng các vùng bãi bồi nh: Cồn Lu, Cồn Ngạn, Cồn Xanh, Cồn Mờ, Cồn Tròn với tổng diện tích là 20.800ha. Có sự lắng đọng phù sa lớn (khoảng 50 triệu tấn/năm). Do quá trình bồi lắng diễn ra hàng năm, diện tích một số bãi bồi được mở rộng. Tài nguyên đất được sử dụng chủ yếu cho các mục đích sản xuất gồm: nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, trồng rừng, sản xuất vật liệu xây dựng... Hiện tại diện tích đất nông nghiệp toàn vùng là: 39.443ha; đất lâm nghiệp là 6.152 ha, đất chuyên dùng 11.131 ha còn 16.992 ha đất chưa sử dụng. Lớp đất phủ trên bãi triều ngập nước ở huyện Giao Thuỷ và Nghĩa Hưng với độ sâu từ trên mặt xuống tới 2m Tài nguyên sinh vật: Theo tài liệu một số kết quả nghiên cứu, vùng biển Nam Định có khoảng 156 loài cá, trong đó 40 loài cá có ý nghĩa kinh tế. Trữ lượng cá có khoảng 157.700 tấn. Khoảng 95.150 tấn cá nổi (chiếm 60,4%); 62.350 tấn cá đáy (chiếm 39,6%); hàng năm khai thác khoảng 20.000 tấn. Về tôm: có khoảng 45 loài tôm, trong đó có 9 loài có giá trị kinh tế cao nh tôm He, Bộp, Sắt, Nơng, tôm Rảo,… trữ lượng tôm khoảng 30.000 tấn, khai thác khoảng 1.000 tấn. Về mực: có 20 loài, trong đó 9 loài có giá trị kinh tế cao, trữ lượng khoảng 2.000 tấn, khai thác khoảng 600 tấn. Về cua biển: có 4 loài trong đó cua biển Scylla sereta có giá trị kinh tế cao. Ngoài ra, các loài động vật như: chim, bò sát, nhuyễn thể, ngao, vạng... đặc biệt là chim di cư quý hiếm, tập trung ở khu vực Cồn Lu, Cồn Ngạn với 250 loài trong đó có 9 loài 10 quý hiếm có nguy cơ tiệt chủng và các loài thuỷ hải sản phong phú về chủng loại đã tạo nên một vùng đa dạng sinh học điển hình của vùng sinh thái cửa sông. Năm 1989 khi Việt Nam tham gia công ước Ramsar, vùng cửa sông huyện Giao Thuỷ được công nhận là khu bảo tồn thiên nhiên vùng sinh thái đất ngập nước (nay là Vườn quốc gia Xuân Thuỷ). Hệ thực vật trên cạn khu vực ven biển không phong phú, đa dạng như hệ động vật. Các loài thực vật chủ yếu là nhân tạo phù hợp với khí hậu ven biển như phi lao,... Tuy nhiên, hệ thực vật nước lợ lại đặc biệt quan trọng (hệ sinh thái rừng ngập mặn). Tại khu vực bãi bồi, cửa sông của các huyện Giao Thuỷ, Nghĩa Hưng đều có tập đoàn cây rừng ngập mặn tự nhiên và rừng trồng bảo vệ đê biển tạo môi trờng cảnh quan sinh thái, đa dạng sinh học. Hiện có 101 loài thực vật bậc cao, thuộc 85 chi và 34 họ. Trong đó có 5 loài, 5 chi và 3 họ thuộc ngành ráng, số còn lại thuộc ngành hạt kín, trong đó có 25 họ, 57 chi và 68 loài thuộc lớp 2 lá mầm và 6 họ, 23 chi và 29 loài thuộc lớp 1 lá mầm. Thành phần thực vật nổi có 2 loài rong biển có giá trị kinh tế cao là: rau câu thắt và rau câu chỉ vàng, ngoài ra còn có các loại tảo. Diện tích rừng ngập mặn trồng được 5.149,9 ha, trồng cải tạo 267,4 ha, trồng xen 2.924,4 ha, giai đoạn III của dự án sẽ trồng mới 200 ha rừng ở huyện Giao Thuỷ và trồng xen 2.500 ha rừng ở huyện Nghĩa Hưng, Giao Thuỷ, đồng thời trồng các loại cây như: phi lao, tre để bảo vệ 300 km đê sông lớn và 2.000 đất bãi bồi ven sông. Dân số Dân số trung bình vùng ven biển tính đến năm 2000 là 680.200 người, chiếm 33,6% dân số của tỉnh và chiếm 21,3% dân số của cả đồng bằng sông Hồng, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên 1,1%. Dân cư phân bố không đồng đều tập trung đông đúc ở các xã, thị trấn có thu nhập cao. Nguồn lao động chính vẫn tập trung trong sản xuất nông nghiệp. Mức thu nhập bình quân từ nuôi trồng, đánh bắt thuỷ hải sản tăng đáng kể trong tổng thu nhập hàng năm của nguời dân ven biển. Lao động nghề cá là 25.847 người, lao động làm muối là 12.936 người, chiếm ≈ 11% số lao động. Theo số liệu điều tra xã hội các xã khu vực ven biển năm 2006, tất cả các xã đều có trạm y tế. Trung bình mỗi xã có từ 2 – 6 y bác sỹ. Tuy nhiên về phương tiện y tế cũng như cơ sở hạ tầng của các trạm y tế địa phương đều thiếu thốn và đang xuống cấp. Cơ sở hạ tầng. Hệ thống giao thông liên tỉnh, huyện đang được đầu tư mới, nâng cấp, cải tạo những đoạn đường xuống cấp phục vụ phát triển giao thông, du lịch, phục vụ an ninh quốc phòng, phòng ngừa sự cố thiên tai... Hệ thống giao thông vùng ven biển thường xuyên chịu tàn phá của thời tiết, hàng năm nhà nước phải đầu tư để cải tạo, sửa chữa Huyện Nghĩa Hưng có tổng chiều dài đường bộ các loại trên địa bàn khoảng 1091km. Trong đó, đường tỉnh có hai tuyến là 55 và 56 với tổng chiều dài 47,7km, đã rải nhựa 46,2km. Đường huyện có 9 tuyến với tổng chiều dài 47,8km. Trong đó, đã rải nhựa 11 35km. Đường xã, liên xã tổng chiều dài 222km, rải nhựa và bê tông được 129,6km. Đường thôn, xóm có tổng chiều dài 773,3km, rải nhựa, bê tông được 336km, mặt đường đá 437km. Hệ thống cầu cống trên tỉnh lộ có 11 cái dài 209,6m; 16 cống dài 91,9m. Trên tuyến huyện lộ có 7 cầu dài 147,4m; 29 cống dài 165,5m; đường liên xã và đường xã có 83 cầu dài 209,6m; 314 cống dài 1285,3m. Huyện Giao Thuỷ còn nhiều đoạn đường có chất lượng xuống cấp nghiêm trọng, nhất là các đoạn đường 56 (Cồn Nhất - đò Hà Lạn) dài 17,5km, đường 4489 (thị trấn Ngô Đồng – Giao An) dài 18,5km, đường huyện đoạn Giao Tiến – Giao Hải; đường 51B từ cầu Thức Hoá (Giao Thịnh) đến bãi tắm Quất Lâm dài 5,7km và một số đường trục xã có một số đoạn còn là đường đất. Trong vài năm gần đây nhà nước đã tập trung đầu tư các công trình ven biển đặc biệt là phát triển cơ sở hạ tầng như: cải tạo, xây dựng, mở rộng các tuyến đường giao thông phát triển du lịch xuống khu nghỉ mát Quất Lâm, TT Thịnh Long, nâng cấp cải tạo đường đến khu du lịch sinh thái Vườn Quốc Gia Xuân Thuỷ… Đầu tư xây dựng và củng cố đê biển đặc biệt các đoạn đê, kè bị tàn phá sau bão số 6, số 7 năm 2005. Nghĩa Hưng có 3 tuyến lớn là sông Đào, sông Đáy, sông Ninh Cơ với tổng chiều dài 70km, có cửa Đáy là nơi tàu 1.000 tấn có thể vào được cảng Ninh Phúc. Cửa Lạch Giang tầu 1000 tấn có thể vào đợc tới cảng Hải Thịnh, sông Ninh Cơ. Giữa huyện có kênh Quần Liêu dài 3,5km, rộng 30m nối giữa sông Đáy và sông Ninh Cơ, ngoài ra còn có 135 km kênh cấp 1 đảm bảo cho tàu thuyền có trọng tải 30 – 50 tấn đi lại phục vụ cho vận chuyển hàng hoá. Hệ thống điện: Huyện Giao Thuỷ có hai trạm trung gian 35/10KV đặt tại vị trí hai xã Giao Tiến và Giao Thanh với hai trục đường 10KV, tổng chiều dài đường dây 50km, 64 trạm biến áp 35/0,4KV và 10/0,4KV. Tổng dung lượng 15.290KVA, hiện đang thực hiện nâng cấp hệ thống điện theo tiêu chuẩn quốc gia đồng bộ tại xã Giao Lâm và thị trấn Ngô Đồng. Huyện Nghĩa Hưng trong toàn huyện có 3 trạm trung gian, 74 trạm hạ thế, tổng công suất 13.890KVA. Mạng đường dây dẫn điện với 44km đường 35KV, 110km đường 10KV, 339km đường 0,4KV, 998km đường xương cá theo thôn xóm. Nước sạch: Nguồn nước được sử trong sinh hoạt của người dân ven biển gồm nước mưa và nớc giếng khoan UNICEF, một số dùng nước mặt (ao, hồ, sông). Chất lượng nước giếng khoan vẫn đảm bảo về mặt hoá lý, tuy nhiên công việc khử trùng nước trước khi sử dụng chưa được chú ý quan tâm. Hiện nay, huyện Giao Thuỷ có hai nhà máy cấp nước tập trung cho thị trấn Ngô Đồng và xã Giao Tiến đảm bảo đáp ứng nhu cầu sử dụng cho 3.500 hộ dân, sản lượng nước dùng qua hai nhà máy 2.000.000m3/năm. Huyện Nghĩa Hng có 40.542 hộ dùng nước sạch, đạt tỷ lệ 78,5%. Bưu chính viễn thông: Huyện Giao Thuỷ xây dựng được hai trạm bưu điện khu vực, 16 điểm bưu điện văn hoá xã.Huyện Nghĩa Hưng tính đến năm 2002, 25 xã và thị trấn trang bị điện thoại. 12 Giáo dục. Chất lượng giáo dục và quy mô đào tạo giáo dục của các huyện ven biển ngày một tăng. Những năm gần đây Giao Thuỷ và Nghĩa hưng đều là những huyện hàng đầu về số và chất lượng giáo dục đào tạo của tỉnh Nam Định. Tình hình phát triển kinh tế. Thu nhập bình quân đầu người theo năm Trong những năm qua, phát triển kinh tế ba huyện ven biển (Giao Thuỷ, Hải Hậu, Nghĩa Hưng) đã có sự chuyển biến tích cực. Nhịp độ tăng trưởng bình quân mỗi năm đạt trên 7%. Giá trị sản xuất nông-lâm-công nghiệp tăng 8,2%/năm, các ngành dịch vụ tăng 7,3%/năm. Thu nhập bình quân theo đầu người có tăng nhưng chưa đáp ứng được nhu cầu chi tiêu của người dân. Cơ cấu kinh tế Cơ cấu kinh tế các xã thị trấn ven biển nông nghiệp vẫn đóng vai trò quan trọng và chiếm tỷ lệ khá cao. Theo số liệu điều tra kinh tế xã hội các xã thị trấn ven biển năm 2006 cho thấy tỷ trọng ngành nông nghiệp vẫn chiếm đa số ở tất cả các xã, thị trấn, một số xã như Hải Tây, Giao Lạc tỷ trọng ngành nông nghiệp chiếm 90%. Kết quả điều tra cho thấy diêm nghiệp và nông nghiệp tập trung phần lớn ở các xã Giao Phong, Bạch Long, Nghĩa Phúc, Hải Đông, Hải Chính, Hải Triều. Tuy nhiên, sản xuất nông nghiệp vẫn chiếm phần lớn ở nhiều xã như Hải Phúc, Giao Lạc, Giao Long nông nghiệp vẫn chiếm trên 90%. Ngành dịch vụ phát triển mạnh ở xã có khu nghỉ mát, khu du lịch, nơi tập trung đông dân cư như: thị trấn Cồn, Thịnh Long, Giao An, Rạng Đông. Công nghiệp mới phát triển ở một số xã, thị trấn trung tâm những khu vực có đường giao thông thuận lợi như: Hải Lý, Rạng Đông, Giao Hải, Giao Xuân… Chuyển dịch cơ cấu kinh tế Xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế khu vực ven biển theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp – thương mại – dịch vụ – thuỷ sản và giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp. Nông nghiệp: Cơ cấu ngành nông nghiệp đã có chuyển biến tích cực theo tỷ trọng ngành trồng trọt giảm và tỷ trọng ngành chăn nuôi tăng lên. Dịch vụ nông nghiệp phát triển mạnh, theo các hình thức tư nhân, nhóm hộ, HTX … Tính chuyên môn hoá thể hiện cao hơn. Tập trung vào các khâu sản xuất quan trọng: Làm đất, bơm tát nớc, vò lúa, phòng trừ sâu bệnh… Hoạt động dịch vụ đã góp phần tích cực vào việc phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp. Sản lượng lương thực ổn định, bình quân 2000 tấn/năm. Đàn lợn bình quân 58.000 con/năm, đàn gia cầm và gia súc ăn cỏ có xu hướng tăng, hoạt động dịch vụ có nhiều tiến bộ. Tổng diện tích gieo trồng bình quân 19.700ha. Trong đó, cây lương thực 83% chủ yếu là lúa; rau và đậu 7,6%; cây công nghiệp 5%; ngoài ra còn có các cây cói, lạc, đậu. Vụ 13 đông tuy được quan tâm nhưng phát triển chậm, năm 2002 giá trị sản xuất nông nghiệp chiếm khoảng 82,6% tổng giá trị sản xuất nông- lâm – ngư nghiệp, thuỷ sản chiếm 17,4%. Đến năm 2002, trồng trọt chiếm tỷ trọng 74,6%; chăn nuôi chiếm 23,3%; dịch vụ nông nghiệp chiếm 2,1%. Tuy nhiên tốc độ chuyển dịch cơ cấu vẫn còn chậm, thị trường tiêu thụ sản phẩm chăn nuôi không ổn định, giá sản phẩm chăn nuôi còn thấp. Giá trị sản xuất nông nghiệp trên 1 ha đất canh tác tăng từ 28 triệu đồng đến 30 triệu đồng vào năm 2002. Tốc độ tăng trởng tương đối ổn định, bình quân 3,01%/năm. Thuỷ sản Diện tích nuôi trồng mặn, lợ tương đối ổn định khoảng 2000 ha. Trong đó, khoảng 800 ha nuôi nước ngọt. Sản phẩm chủ yếu là tôm, cua, cá, rau câu, vạng. Công nghệ nuôi trồng kiểu quảng canh cải tiến, số ít theo phương thức bán thâm canh cấp thấp. Sản lượng bình quân 5 năm như sau: Tôm các loại: 305 tấn; cá: 950 tấn; cua: 90 tấn; rau câu: 250 tấn; vạng: 3000 tấn. Về khai thác, tổng năng lực đánh bắt 14.500 CV trên 560 loại phương tiện, sản phẩm có khả năng suất khẩu. Tuy nhiên trình độ kỹ nghệ hạn chế chưa đủ sức làm chủ phương tiện và ngư trường. Công tác quản lý còn lúng túng, sự phối kết hợp giữa khai thác với dịch vụ thu mua, chế biến thiếu đồng bộ. Chế biến thuỷ sản và dịch vụ thuỷ sản: trên địa bàn các huyện đã xây dựng mới 3 cơ sở chế biến nước mắm theo phương pháp cổ truyền kết hợp với phương pháp rút ngắn ngày tạo công suất 1.200 tấn chợp/năm và 1 cơ sở chế biến thuỷ sản đông lạnh công suất 50 tấn sản phẩm/ngày. Có 6 cơ sở sản xuất nước đá phục vụ khai thác thuỷ sản xa bờ với công suất 85 tấn/ngày và 1 cơ sở sản xuất thức ăn gia súc và thức ăn nuôi tôm công suất 1000 tấn/năm. Công nghiệp – xây dựng: Các nhóm ngành nghề chính khu vực các xã ven biển chủ yếu gồm: - Ngư nghiệp: đánh bắt và nuôi trồng thuỷ hải sản, trong đó phát triển chính vẫn là hoạt động nuôi trồng, khai thác thuỷ sản ven bờ. - Diêm nghiệp: làm muối. - Công nghiệp cơ khí: phát triển trên cơ sở làm mới, sửa chữa máy móc, tàu thuyền, gia công đồ sắt, nhôm… phục vụ các ngành nông nghiệp, xây dựng, vận tải… - Đóng, sửa chữa tàu: do có hệ thống sông, cửa sông lớn, việc phát triển ngành nghề đóng, sửa chữa tàu sông biển phát triển từ lâu, tuy nhiên quy mô còn nhỏ, chưa được đầu tư công nghiệp. - Chế biến gỗ và mộc dân dụng: các sản phẩm chủ yếu là gỗ sơ chế, các đồ dùng phục vụ đời sống sinh hoạt của nhân dân như giường tủ , bàn ghế… Bên cạnh đó còn sản xuất các đồ mộc cao cấp như: sập gụ, tủ kính, tràng kỷ… được trạm trổ hoặc khảm trai với các đường nét hoa văn tinh tế. Các cơ sở sản xuất phân bố ở khắp các xã, thị trấn trong huyện, 14 - Công nghiệp dệt may: các huyện có hàng nghìn hộ gia đình tham gia sản xuất dệt sợi PE, thêu ren, đồ mây tre đan, chiếu cói, thảm cói, làn cói, giầy da, cặp học sinh, may gia công… Dịch vụ- du lịch: Thương nghiệp quốc doanh vẫn giữ vai trò chủ chủ đạo trong việc kinh doanh các mặt hàng thiết yếu như xăng dầu, lương thực phân bón, thuốc trừ sâu… lưu thông hàng hoá thuận tiện, đa dạng và phong phú. Các khâu dịch vụ: Năng lực vận tải, điện thoại, điện sáng, nước, bưu chính viễn thông, phát thanh truyền hình, tài chính,… tuy còn hạn chế nhưng đã có những tiến bộ vượt bậc, góp phần khai thác tiềm năng thế mạnh của huyện, thúc đẩy sản xuất phát triển đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của dân cư. * Về du lịch: huyện Giao Thuỷ đang tiếp tục đầu tư khu nghỉ mát Quất Lâm, phát triển du lịch sinh thái, đầu tư cơ sở hạ tầng gồm 3 km đường nhựa, 1 km kè, điện nước đủ đáp ứng nhu cầu cho 24 nhà nghỉ và 98 kiốt, hàng năm thu hút 50 ngàn khách du lịch, tạo việc làm cho hơn 500 lao động. Tuy nhiên, trong năm 2000-2001 tốc độ đầu tư còn chậm, vệ sinh môi trường chưa đáp ứng yêu cầu du lịch, khách về nghỉ, thăm quan còn ít. Huyện Nghĩa Hưng cũng đang được đầu tư hình thành một số khu du lịch, bãi tắm mới. 5.1.3 Tỉnh Ninh Bình (huyện Kim Sơn) Kim Sơn là huyện đồng bằng ven biển nằm ở phái Tây nam Ninh Bình, Đông giáp huyện Nghĩa Hưng tỉnh Nam Định, phía tây giáp huyện Nga Sơn Thanh Hoá, năm 1829 huyện được thành lập do kết quả công cuộc khai hoang của nhà doanh điền sứ Nguyễn Công Trứ. Đây là vùng đất mở, hàng năm tốc độ bồi tụ tiến ra biển từ 80-100m. Sau 170 năm thành lập đã tiến hành quai đê lấn biển 6 lần. Kim Sơn có 24 xã, 2 Thị trấn, với số Dân số tính đến năm 2006 là 172.399 người. Số người theo đạo thiên chúa chiếm 42,93% dân số. Tổng số người trong độ tuổi lao động 70.405 người. Kim Sơn có 23,8 km đê biển riêng đê Bình Minh II dài 14,25km. Tổng diện tích đất của Kim Sơn là 20.747 ha. Trong đó đất nông nghiệp là 12.529 ha bình quân đất nông nghiệp trên đầu người là 721m 2/người. Đất Lâm nghiệp 1.283 ha. Đặc điểm bãi bồi Kim Sơn thoải dần từ Bắc xuống Nam, từ Tây Bắc xuống Đông Nam. Cao độ trung bình ở trong đê Bình Minh II là +0,3 đến + 1,38, phần lớn ở cao trình +0,8 đến 1m; cao trình ở ngoài đê Bình Minh II từ +0,2 đến +0,1m, phần lớn từ +0,3 đến 0,7m. Kim Sơn chủ yếu là đất thịt nặng và đất sét tính dẻo và dính tăng, đất luôn bị ngập mặn ( Vùng ngoài đê Bình Minh II) Về mùa mưa phía đông gần như ngọt hoá, phía Tây độ mặn cũng giảm dần, về mùa khô ít mưa toàn khu vực bị nhiễm mặn. Nhiệt độ trung bình năm 23,20C, cao nhất là 39 0C và thập nhất là 6 0C. Độ ẩm trung bình 83%, lớn nhất là 90% và nhỏ nhất 70%. Lượng mưa trung bình: 1865 mm trung bình có 1631 giờ nắng / năm. 15 Hàng năm Kim Sơn thường chịu từ 2-6 cơn Bão biển với gió cấp 7-8 có khi đến cấp 12, thường đổ bộ vào gần như thẳng góc với đường bờ biển vì vậy ảnh hưởng rất lớn tới sản xuất và đời sống. Kim Sơn có chế độ nhật triều, trong có 2 kỳ con nước, mỗi kỳ có 8-9 ngày nước lớn với biên độ từ 1,5 đến 2,2m, giữa 2 kỳ nước lớn là kỳ nước kém kéo dài 5 – 6 ngày. Bãi Tài nguyên sinh vật Về thực vật, có 64 loài thuộc 28 họ thuộc ngành hạt kín, 47 loài thực vật thuộc lớp 2 lá mầm, 15 loài thuộc lớp một lá mầm. Các cây trồng được trồng với diện tích lớn: Vẹt, cói, và lúa chăm. Ngoài ra còn có rau, quả, cây bóng mát, cây lấy gỗ. Cây nguyên liệu làm chiếu, dệt thảm: Cói thân đứng, bông trắng có sản lượng lớn, giá trị kinh tế cao. Cây làm thuốc có 30 loài. Cây làm thức ăn gia súc có 10 loài. Cây có hoa cho nuôi ong mật như sú, trang. Thực vật nổi vùng cửa sông ven biển Kim Sơn chịu ảnh hưởng mạnh của dòng nước sông Đáy chẩy ra được xác định gồm 44 giống thuộc 4 ngành: Trong đó Tảo Khuê với 35 giống, Tảo Giáp, tảo Lam, tảo Lục với 3 giống. Tảo Khuê chiếm 84,6% Về động vật, các loài Tôm nước ngọt có mật độ lớn ở phía Đông nơi giáp cửa Đáy. Riêng tôm và cá giống có các loài Tôm Rảo, tôm moi, tôm rui, tôm càng mùa mưa có thể lên tới 36,5 com/m2, Các loài tôm He phân bố nhiều ở phía Tây giáp cửa Càn. Động vật nổi có nhóm chân chèo (Copepoda), nhóm rêu ngành (Clodocera), nhóm lưỡng túc (Ampipoda), trùng bánh xe (Rotatoria), tôm bột và cá bột. Trong đó 2 nhóm Copepoda và Clodocera xuất hiện nhiều, đặc biệt là nhóm Copepoda chiếm ưu thế kể cả màu khô và mùa mưa. Các loài nhuyễn thể có giá trị kinh tế cao: Ngao (Meretric meretrix L), Vọp (Mactra quadromgularia D) hai loài này phân bố ở bãi triều từ độ cao 0m HĐ tới 1,5m/0mHĐ, trong chất đáy là cát pha bùn (Vọp) và bùn pha cát ( Ngao). Các loài động vật khác có chim di cư về trú đông như Ngỗng trời, Vịt trời, Cò trắng, Vạc, Lele, Mòng, Két...v.v. Kinh tế xã hội Dân số tính đến năm 2006 là 172.399 người, mật độ dân số 832 người / km2 là vùng cố số dân theo đạo thiên chúa chiếm 42,93%, tỷ lệ tăng dân số tựnhiên 1,15%. Nguồn lao động tập trung chủ yếu vào nông nghiệp (chiếm 1/3 sản lượng lúa của Ninh Bình), Thủ công mỹ nghệ chiếu cói, nuôi trồng thuỷ hải sản. Tốc độ tăng trưởng kinh tế nhiều năm qua của Kim Sơn luôn giữ ở mức cao (trên 12%), bình quân lương thực năm 2009 đạt khoảng 600 kg/người ; công tác xóa đói, giảm nghèo có 16 những chuyển biến tích cực, hiện tỉ lệ hộ nghèo của huyện đã giảm xuống còn khoảng trên 8%. Trong nông nghiệp đã hình thành những vùng lúa cao sản, vùng lúa có chất lượng cao, vùng nuôi trồng thủy hải sản… đưa giá trị canh tác đất nông nghiệp đạt gần 70 triệu đồng/ha/ năm. Đối với lĩnh vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, bên cạnh việc xuất hiện hàng loạt ngành nghề mới, Kim Sơn vẫn duy trì thế mạnh của ngành sản xuất chế biến cói, giá trị của ngành này đạt gần 250 tỷ đồng/năm. Việc đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng được các cấp đặc biệt quan tâm, nhất là xây dựng đường giao thông, trường học và các công trình thủy lợi. Đến nay, trên 75% đường giao thông nông thôn của huyện đã được bê tông hóa, 682/738 phòng học được kiên cố, 38 trường học đạt chuẩn quốc gia, 25/27 xã đạt chuẩn quốc gia về y tế, các công trình thủy lợi ở vùng bãi bồi tại các xã trong huyện được đầu tư xây dựng và cải tạo… Kinh tế Kim Sơn có 3 thế mạnh về nông nghiệp (chiếm gần 1/3 sản lượng lúa của Ninh Bình), thủ công nghiệp truyền thống (sản xuất hàng chiếu cói) và nuôi trồng thủy sản (tổng diện tích NTTS khoảng 2.000 ha, hằng năm đạt giá trị sản phẩm thủy sản gần 200 tỷ đồng). Các loài thủy sản đươc nuôi gồm: tôm sú, cua biển, cá vược, cá rô phi đơn tính, tôm thẻ chân trắng, cá mú. Để giúp nông dân nuôi trồng đạt hiệu quả kinh tế cao, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức 11 lớp huấn luyện kỹ thuật, bồi dưỡng nghiệp vụ chăm sóc, phòng trừ dịch bệnh cho tôm sú, cua biển cho gần một nghìn lượt người ở các xã ven biển: Kim Trung, Kim Hải, Kim Đông. Bên cạnh đó, ngành nông nghiệp tỉnh Ninh Bình còn thực hiện các biện pháp vận động nhân dân trồng, chăm sóc rừng ngập mặn ven biển với diện tích 50 ha, trồng dặm 50 ha và 100 nghìn cây bao gồm phi lao, tai tượng. Nhiều dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân vùng ven biển tiếp tục được triển khai như dự án đường cứu hộ tránh bão phát triển kinh tế và bảo đảm an ninh (dự án đường 481) dài hơn 20 km từ cầu Ruy Lộc (xã Yên Lộc) đến đê biển Bình Minh II (xã Kim Đông) được trải thảm bê-tông kiên cố với tổng mức đầu tư hơn 436 tỷ đồng. Dự án cải tạo, nâng cấp quốc lộ 10 đoạn từ Ninh Phúc (TP Ninh Bình) đến cầu Điền Hộ dài 27 km với tổng vốn đầu tư hơn hai nghìn tỷ đồng giúp cho tàu cá có chỗ neo đậu tránh bão và đường liên xã bãi ngang. Dự án nâng cấp đê biển Bình Minh 2 đã bước sang giai đoạn II, tổng vốn đầu tư gần 70 tỷ đồng và tiếp tục nâng cấp đê Bình Minh III. Ngoài ra, Sở Khoa học và Công nghệ còn thực hiện dự án "xây dựng mô hình ứng dụng công nghệ sản xuất ngao giống và cá chẽm tại xã Kim Hải" bước đầu thành công với 10,5 triệu con ngao giống và 2,05 triệu con cá chẽm giống. Với tổng giá trị đầu tư hàng nghìn tỷ đồng. Đáng chú ý là tỉnh ủy Ninh Bình đã chỉ đạo các ban, ngành, đoàn thể ở địa phương thực hiện đề án sửa chữa, xây mới nhà dột nát cho hộ nghèo, gia đình chính sách cấp đất cho hộ nghèo ở ba xã bãi ngang Kim Đông, Kim Hải, Kim Trung, giúp gần 100 gia đình có chỗ ở ổn định, bền vững hơn. 17 Theo Viện Sinh thái và tài nguyên sinh vật và trung tâm nghiên cứu biển Hải Phòng thì quá trình lấn biển của Kim Sơn có tốc độ lớn nhất dải ven biển đồng bằng Sông Hồng (10-80m/năm) và được xác định là vùng đất mở. Với phương châm lúa lấn cói, cói lấn sú vẹt, sú vẹt lấn biển. Mặt khác khai thác biển là thế mạnh của Kim Sơn. Vì vậy Kim Sơn đang quy hoạnh tổng thể cho kinh tế lấn biển để khai thác một cách hợp lý và bảo vệmôi trường sinh thái vùng bãi bồi ven biển. Khai thác vùng bờ: Tổng diện tích bãi bồi ngoài đê Bình Minh II là 4.099ha trong đó diện tích ven đê Bình Minh II nhân dân tự bỏ tiền đắp đầm nuôi trồng thuỷ sản là 821,4ha chủ yếu vẫn khai thác tựnhieê chưa có sự quy hoạch, vì vận sản xuất hạn chế hiệu quả kinh tế thấp. Giá trị thu được bình quân hàng năm là 14 tỷ đồng. Kết hợp với khai thác vùng bờ hàng năm Kím Sơn tiến hành trồng rừng phòng hộ ven biển, tổng diện tích đất có thể trồng rừng 1700ha, hiện tại đã trồng được 620ha ngoài vùng đầm tôm với độ tuổi 1-5 tuổi. Khai thác xa bờ: Khai thác hải sản xa bờ của Kím Sơn là một nghề truyền thống nhưng do điều kiện kinh tế, cơ chế thay đổi mấy năm gần đây nghề này đang bị mai một. Hiện tại Kím Sơn chỉ còn 2 HTX đánh cá với 10 tầu công suất từ 130-260 CV, chủ yếu ở ngư trường Hải Phòng đến Nghệ An, sản lượng bình quân hàng năm 600 tấn các loại. Dự kiến tiếp tục tăng số tầu đánh cá, góp phần nâng cao sản lượng đánh bắt cá của các HTX. 5.2 Thông tin chung về người được phỏng vấn Tổng cộng đã có 99 người được phỏng vấn bằng bảng hỏi trong đó: • Phân chia theo địa phương: Ph ần tr ăm s ố n g ư ờ i đ ư ợ c p h ỏ n g vấn th e o từ n g tỉn h Nam Đ ịnh 34% Thái Bình 41% Ninh Bình 25% • Phân chia theo giới tính: 18 Phần trăm số người được phỏng vấn theo giới tính Nữ 22% Nam 78% • Phân chia theo chức vụ: Phần trăm người được phỏng vấn phân theo chức vụ 17% 15% 68% Cán bộ • Cán bộ đoàn thể Người dân Phân chia theo độ tuổi: Phần trăm số người được phỏng vấn theo độ tuổi 4% 19% 77% Dưới 30 tuổi • Từ 30 đến 60 tuổi Trên 60 tuổi Phân chia theo cấp quản lý: 19 Phần trăm cán bộ được phỏng vấn của từng cấp 59% 60% 50% 40% 27% 30% 15% 20% 10% 0% Cấp tỉnh Cấp huyện Cấp xã 5.3 Đánh giá chung về nhận thức của cán bộ, người dân về Khu DTSQ thế giới nói chung và Khu DTSQ SH nói riêng; Qua công tác khảo sát và phân tích thống kê các số liệu điều tra phỏng vấn qua bảng hỏi, hầu hết cán bộ, người dân đều hiểu được “Khu DTSQ thế giới” là danh hiệu quốc tế tuy nhiên còn rất hạn chế về mức độ hiểu biết các chức năng của Khu DTSQ thế giới, thậm chí còn có sự nhầm lẫn giữa Khu DTSQ với Khu bảo vệ thiên nhiên, có tới 38% ý kiến cho rằng Khu DTSQ chỉ có chức năng bảo tồn thiên nhiên. Địa phương có nhiều ý kiến trả lời đúng nhất về 03 chức năng của Khu DTSQ là tỉnh Thái Bình, có tới 65% câu trả lời đúng so với tổng số người trả lời phỏng vấn của tỉnh Thái Bình. Ti vi và báo chí là 02 kênh truyền thông chính tuyên truyền, phổ biến thông tin về Khu DTSQ SH ở các địa phương, bên cạnh đó còn có các kênh thông tin khác thông qua các cơ quan, tổ chức như VQG Xuân Thủy, Khu BTTN Tiền Hải, Trung tâm MCD. Phạm vi Khu DTSQ SH nói chung và vùng lõi Khu DTSQ SH nói riêng đều được đa số người phỏng vấn hiểu khá rõ, tuy nhiên sự hiểu biết của những người được phỏng vấn về các giá trị của Khu DTSQ SH còn khá thấp, chỉ có 45% các câu trả lời có sự lựa chọn đầy đủ và chính xác về 04 đặc điểm đặc trưng của Khu DTSQ SH. Điều này có thể được lý giải rằng do chưa hiểu rõ về các chức năng của 01 Khu DTSQ thế giới nên dẫn đến việc không xác định được đầy đủ các giá trị của Khu DTSQ SH. Thêm vào đó việc một số cán bộ, thậm chí ở cấp lãnh đạo các cơ quan chuyên ngành về tài nguyên môi trường còn thừa nhận rằng chỉ biết đến Khu DTSQ SH khi tiếp xúc làm việc với đoàn khảo sát đánh giá lần này đã cho thấy công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức về Khu DTSQ SH còn rất hạn chế và bất cập, phạm vi và nội dung tuyên truyền chưa đầy đủ. Hiểu biết về cấp công nhận Khu DTSQ Không có câu trả lời Quốc gia 4% Khu vực Quốc tế 10% 3% 83% 20
- Xem thêm -