Tài liệu Ảnh hưởng của văn hóa dân gian trong một số tiểu thuyết của vi hồng

  • Số trang: 105 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 43 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 27125 tài liệu

Mô tả:

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HOÀNG THỊ MINH PHƯƠNG ẢNH HƯỞNG CỦA VĂN HOÁ DÂN GIAN TRONG MỘT SỐ TIỂU THUYẾT CỦA VI HỒNG LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN Thái Nguyên – Năm 2011 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 1 http://www.lrc-tnu.edu.vn ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HOÀNG THỊ MINH PHƯƠNG ẢNH HƯỞNG CỦA VĂN HOÁ DÂN GIAN TRONG MỘT SỐ TIỂU THUYẾT CỦA VI HỒNG Chuyên nghành : Văn Học Việt Nam Mã số : 60.22.34 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS - TIẾN SĨ : NGUYỄN HẰNG PHƯƠNG Thái Nguyên – Năm 2011 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 2 http://www.lrc-tnu.edu.vn 1 MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Văn học của các dân tộc thiểu số Việt Nam ra đời tƣơng đối muộn. Nó chủ yếu đƣợc hình thành và phát triển từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945.Thơ ra đời sớm nhất, văn xuôi ra đời muộn hơn và đƣợc đánh dấu bằng những sáng tác của nhà văn Nông Minh Châu. Có thể nói truyện ngắn “Ché mèn đƣợc đi họp” viết năm 1958 của Nông Minh Châu là mốc đầu tiên cho sự ra đời của mảng văn học các dân tộc thiểu số. Năm 1964 tiểu thuyết của các dân tộc thiểu số mới ra đời với “Muối lên rừng” của Nông Minh Châu. Nhƣng phải đến hơn mƣời năm sau, tiểu thuyết các dân tộc thiểu số mới thật sự phát triển. Trong đó Vi Hồng là nhà văn có đóng góp đáng kể cho mảng văn học của các dân tộc thiểu số, đặc biệt là ở thể loại tiểu thuyết. Với hơn mƣời cuốn tiểu thuyết, mở đầu là “Đất bằng” (1980) và hơn chục năm tiếp theo hầu nhƣ cũng chỉ có tiểu thuyết của ông. Đó là “Vãi Đàng” (1980), Núi cỏ yêu thƣơng (1984), “Tháng năm biết nói” (1993), “Lòng dạ đàn bà” (1992), “Vào hang” (1990), “Đọa đày” (1997)… Sau Vi Hồng, còn có các nhà văn: Cao Duy Sơn (Tày), Vƣơng Trung (Thái), cũng viết tiểu thuyết song với số lƣợng tác phẩm ít hơn, điều đó cho thấy sức sáng tạo hăng say đầy hứng thú không biết mỏi của Vi Hồng thật đáng khâm phục. Có thể nói nhìn từ góc độ thể loại tiểu thuyết, Vi Hồng là nhà văn dân tộc thiểu số viết tiểu thuyết đạt đƣợc nhiều thành tựu nổi bật hơn cả. Tiểu thuyết của Vi Hồng đã đề cập đến rất nhiều mặt khác nhau về cuộc sống và con ngƣời miền núi. Đặc biệt qua tiểu thuyết của ông, chúng ta còn nhận thấy trong mỗi tác phẩm mang đậm những yếu tố của văn hóa dân gian. Trong những năm gần đây, sáng tác của Vi Hồng cũng đƣợc quan tâm nghiên cứu. Song có lẽ vẫn còn những khía cạnh chƣa đƣợc nghiên cứu đúng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 2 mức và có hệ thống để nhận diện rõ đƣợc phong cách sáng tác, nhất là ở thể loại tiểu thuyết của ông. Qua khảo sát một số tiểu thuyết của Vi Hồng, chúng tôi thấy nó ảnh hƣởng sâu sắc từ những yếu tố của văn hóa dân gian.Với những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài “Ảnh hƣởng của văn hóa dân gian trong một số tiểu thuyết của Vi Hồng”. Việc tìm hiểu bốn tiểu thuyết: “Đất bằng” (1980), “Phụ tình” (1994), “Đọa đày” (1997), “Mùa hoa Boóc loỏng” ( 2005), luận văn muốn chỉ ra sự ảnh hƣởng của văn hóa dân gian đến cả phƣơng nội dung và phƣơng diện nghệ thuật trong tiểu thuyết của Vi Hồng. Việc nghiên cứu “Ảnh hƣởng của văn hóa dân gian trong một số tiểu thuyết của Vi Hồng”, đối với chúng tôi, những ngƣời giảng dạy văn học ở miền núi thì ngoài ý nghĩa về khoa học, nó còn mang lại ý nghĩa sƣ phạm thiết thực. Những kết quả thu nhận đƣợc từ việc nghiên cứu này sẽ giúp chúng tôi có điều kiện so sánh, đối chiếu giữa các tác phẩm ngƣời Kinh viết về ngƣời dân tộc và miền núi (nhƣ Tô Hoài, Nguyễn Trung Thành, Nguyễn Tuân…) với tác phẩm của ngƣời dân tộc thiểu số viết về con ngƣời và cuộc sống của dân tộc mình. Đồng thời nó sẽ giúp đạt hiệu quả cao hơn đối việc giảng dạy văn học địa phƣơng. Một mảng mà văn học trong nhà trƣờng ở tỉnh ta chƣa đƣợc quan tâm đúng mức. 2. Lịch sử vấn đề Nhà văn Vi Hồng đã trở nên quen thuộc với bạn đọc cả nƣớc qua rất nhiều truyện ngắn, tiểu thuyết. Tài năng của nhà văn đã đƣợc khẳng định qua các giải thƣởng lớn. Năm 1959, truyện ngắn “Ngôi sao cô đơn trên đỉnh núi Phia Hoàng” đã đƣợc nhận giải thƣởng của Tổng hội sinh viên Việt Nam. Năm 1962, ông nhận giải thƣởng của báo Ngƣời giáo viên nhân dân; năm 1985, tiểu thuyết “Đất bằng” đƣợc Hội nhà văn Việt Nam trao giải chính thức… Từ 1980 trở đi đến cuối đời (1997), Vi Hồng đã dồn toàn bộ tâm huyết Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 3 cho thể loại tiểu thuyết và để lại một di sản khá lớn gồm hơn mƣời tiểu thuyết và sáu bản thảo tiểu thuyết chƣa in. Đánh giá về tiểu thuyết Vi Hồng, các nhà nghiên cứu phê bình và bạn đọc đều thống nhất khẳng định: Vi Hồng là nhà văn dân tộc miền núi tiêu biểu cho bộ phận văn học dân tộc thiểu số Việt Nam sau cách mạng. Đọc bản thảo tác phẩm Đất bằng , nhà văn Nguyên Ngọc đã có nhận xét đầy ấn tƣợng về nghệ thuật viết tiểu thuyết của Vi Hồng: “Tôi thấy cách viết của anh rất khác với cách viết của ta – hay ít ra là của tôi – vẫn thường quen thuộc…. Cách viết, bao gồm cách hình dung về nhân vật, xây dựng nhân vật, dẫn dắt cốt truyện, lựa chọn tình tiết, tập trung chú ý tình tiết này hơn tình tiết kia…Cho đến kết cấu, bố cục tả người, tả cảnh, tả tình, đặt câu, chọn từ…” (Báo nhân dân ngày 19/4/1980). Trong cuốn văn học Thái Nguyên, tác giả Vũ Anh Tuấn, tác giả rất quan tâm đến mối quan hệ giữa sáng tác của các nhà văn, nhà thơ Tày với văn học truyền thống. Chẳng hạn, khi giới thiệu về những đặc điểm cơ bản của văn xuôi Thái Nguyên nói chung trong đó có Vi Hồng, tác giả đã nhận xét “Bắt đầu từ nhà văn Vi Hồng, cuộc sống, tâm hồn con người miền núi đã được miêu tả một cách phong phú, sâu sắc, đa dạng. Với sự vận dụng tối đa vốn văn hóa dân gian, Vi Hồng đã khởi xướng một cách viết mới về miền núi, mà có nhà văn đã nhận định đó là cách viết “Hiện đại hóa dân gian”. Sau này, không ít nhà văn người dân tộc ở Thái Nguyên và Việt Bắc ảnh hưởng Vi Hồng một cách sâu sắc và có hiệu quả”. Phó Giáo sƣ – tiến sĩ Vũ Anh Tuấn trong bài báo “Vi Hồng với mùa xuân Nặm Cáp” cũng khẳng định sức hấp dẫn của tiểu thuyết Vi Hồng đối với ngƣời đọc không chỉ bằng cách viết độc đáo mà còn bởi ông là một nhà văn có trái tim nhân hậu, giàu lòng nhân ái. Thành tựu lớn nhất mà Vi Hòng để lại cho đồng bào các dân tộc miền núi có lẽ đƣợc trầm kết trong những Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 4 trang văn. Mạch lạc và dứt khoát, đôi khi đến cực đoan trong đời riêng, trái tim nhà văn không ngừng đập giữa hai dòng yêu thƣơng và hờn giận. Song trƣớc sau, ông vẫn là một con ngƣời nhân hậu, giàu lòng yêu thƣơng và khát khao đƣợc yêu thƣơng. Hồ Thủy Giang cũng có nhận xét tinh tế về nghệ thuật xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết Vi Hồng: “Trong bút pháp xây dựng nhân vật, Vi Hồng ít đề cập đến sự phức tạp của tâm lý. Anh nghiêng về khắc họa những nét đẹp hoang sơ, thuần khiết của tâm hồn”. Cuốn “Văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại”, tác giả Lâm Tiến đã có bài nghiên cứu riêng về tiểu thuyết Thái Nguyên trong thời kỳ đổi mới (1986-2007), trong đó ông đặc biệt chú ý đến những tác phẩm của các nhà văn dân tộc Tày. Tác giả đã chỉ ra dấu ấn của văn hóa, văn học dân gian trong sáng tác của họ. Theo ông, Vi Hồng chịu ảnh hƣởng của văn học dân gian ở kiểu tƣ duy trực tiếp cảm tính, lối ví von, so sánh, ƣớc lệ và cách xây dựng nhân vật theo hai tuyến rõ rệt. Năm 2003, Hoàng Văn Huyên bảo vệ thành công luận văn thạc sĩ với đề tài: “Tính dân tộc trong tiểu thuyết Vi Hồng” tại trƣờng Đại học sƣ phạm Thái Nguyên. Có thể nói ở thời điểm đó đây là công trình nghiên cứu công phu về tiểu thuyết Vi Hồng. Luận văn đã chỉ ra cốt cách tâm hồn các dân tộc Việt Bắc trong hệ thống nhân vật của Vi Hồng. Đó là những con ngƣời giản dị, mộc mạc, khát vọng về tình yêu… Đồng thời luận văn cũng chỉ ra một số phƣơng diện nghệ thuật mang đậm bản sắc dân tộc trong tiểu thuyết Vi Hồng nhƣ: Lời văn mộc mạc, giản dị, sử dụng hình ảnh so sánh liên tƣởng gần gũi với ngƣời Việt Bắc. Tuy nhiên, luận văn mới chỉ dừng lại ở khía cạnh dân tộc mà chƣa tìm hiểu sâu sát về sự ảnh hƣởng của văn hóa dân gian trong tiểu thuyết của Vi Hồng. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 5 Trong hội thảo về nhà văn Vi Hồng do khoa ngữ văn Trƣờng Đại học sƣ phạm Thái Nguyên kết hợp với Hội văn học nghệ thuật tỉnh tổ chức năm 2006, có một số bài nghiên cứu về mối quan hệ giữa văn học dân gian và văn học viết. Trƣớc hết, phải kể đến bài: “Bản sắc văn hóa Tày trong truyện ngắn Vi Hồng” của hai tác giả Trần Thị Việt Trung và Nguyễn Thị Thanh Thủy. Hai tác giả đã khảo sát trên phƣơng diện nội dung và nghệ thuật tác phẩm của Vi Hồng và đi đến kết luận: Bản sắc văn hóa Tày thể hiện khá đậm nét ở đề tài, nội dung phản ánh, hình tƣợng nhân vật và một số đặc điểm nghệ thuật khác trong truyện ngắn của Vi Hồng. Các tác giả đã phát hiện ra chất trữ tình sâu lắng trong nội dung tác phẩm, vẻ đẹp khỏe khoắn, mộc mạc trong hình tƣợng nhân vật, nghệ thuật kể chuyện, hình ảnh so sánh giàu chất dân gian miền núi trong tác phẩm của Vi Hồng. Và khẳng định ông là một nhà văn ngƣời dân tộc tiêu biểu của văn học Việt Nam hiện đại. Về khía cạnh vận dụng ngôn ngữ dân gian trong truyện ngắn Vi Hồng, Hà Thị Liễu đã nhận xét: Vi Hồng ƣa thích và sử dụng với mật độ khá dày các thành ngữ, tục ngữ dân gian trong sáng tác của mình và đã đem lại hiệu quả biểu đạt tích cực. Mặc dù cũng đã đƣợc đề cập đến ít nhiều, song các bài viết dƣờng nhƣ mới chỉ dừng lại ở nhận định, những luận điểm để phục vụ cho những mục đích nghiên cứu khác nhau. Tóm lại, các tác giả đã nghiên cứu và nhấn mạnh tới sự tiếp thu, kế thừa các yếu tố văn hóa, văn học dân gian, chủ yếu ở thể loại truyện ngắn trong di sản sáng tác của Vi Hồng mà chƣa có một công trình nghiên cứu nào cho thấy sự ảnh hƣởng sâu sắc từ các yếu tố của văn hóa dân gian tới tiểu thuyết của Vi Hồng. Thực hiện đề tài này, chúng tôi dựa trên cơ sở kế thừa những ý kiến có tính chất gợi mở và định hƣớng của một số nhà nghiên cứu có tên tuổi và của Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 6 những ngƣời đi trƣớc để có thể tìm hiểu một cách toàn diện, hệ thống hơn về sự ảnh hƣởng của văn hóa dân gian trong một số tiểu thuyết của Vi Hồng. Từ đó giúp bạn đọc yêu thích những sáng tác của Vi Hồng có góc nhìn đầy đủ hơn, nhận diện rõ hơn về phong cách sáng tác của ông – nhà văn dân tộc thiểu số tiêu biểu của Việt Bắc. 3. Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu đề tài này, chúng tôi đặt ra những mục đích sau: - Chỉ ra những ảnh hƣởng sâu sắc của văn hóa dân gian tới phƣơng diện nội dung (đề tài, nội dung phản ánh…). - Chỉ ra những ảnh hƣởng của văn hóa dân gian tới phƣơng diện nghệ thuật (xây dựng cốt truyện theo mô tuýp dân gian, cách nói dân gian, cách xây dựng nhân vật). - Khẳng định những thành tựu, đóng góp của nhà văn trong sự hình thành và phát triển của văn học dân tộc thiểu số nói riêng và văn học Việt Nam nói chung. 4. Phạm vi nghiên cứu Do yêu cầu dung lƣợng của luận văn, chúng tôi đi sâu vào việc nghiên cứu và khảo sát: “Ảnh hƣởng của văn hóa dân gian trong một số tiểu thuyết của Vi Hồng” với những tiểu thuyết sau: - Đọa đầy. - Đất bằng - Phụ tình - Mùa hoa Bjoóc loỏng. Trong điều kiện có thể, luận văn nghiên cứu thêm một số tác phẩm của nhà văn để so sánh, đối chiếu. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 7 5. Phƣơng pháp nghiên cứu - Phƣơng pháp nghiên cứu tác gia văn học - Phƣơng pháp phân tích tác phẩm theo đặc trƣng thể loại - Phƣơng pháp thống kê phân loại - Phƣơng pháp đối chiếu so sánh - Phƣơng pháp nghiên cứu liên nghành 6. Cấu trúc luận văn Luận văn gồm có 4 phần: - Mở đầu. - Nội dung: Gồm có 3 chƣơng. Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tế của đề tài Chƣơng 2: Ảnh hƣởng của văn hóa dân gian về phƣơng diện nội dung. Chƣơng 3: Ảnh hƣởng của văn hóa dân gian về phƣơng diện nghệ thuật. - Kết luận. - Thƣ mục tài liệu tham khảo. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 8 NỘI DUNG CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TẾ CỦA ĐỀ TÀI Nhà văn Mạc Ngôn- nhà văn của làng quê Trung Quốc đã từng nói: làng quê là báu vật của tôi. Cái ập vào đầu óc tôi lại hoàn toàn là tình cảnh của quê hƣơng. Vi Hồng có lẽ có chung cảm xúc này với Mạc Ngôn. Bởi lẽ xúc cảm về quê hƣơng, văn hóa Tày tất cả nhƣ ngấm vào máu thịt tâm hồn ông để rồi tạo nên những mạch nguồn cảm xúc bất tận cho văn chƣơng. Đồng thời chi phối mạnh mẽ đến cách viết của ông. Đó chính là những yếu tố tự nhiên, xã hội, văn hóa, gia đình và chính cuộc đời tác giả. 1.1. Điều kiện tự nhiên, xã hội, văn hóa Cao Bằng là một tỉnh nằm ở phía Đông Bắc Việt Nam, nằm trong vùng văn hoá Việt Bắc: Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Hà Giang. Toàn tỉnh Cao Bằng có 12 huyện với địa hình là các cao nguyên đá vôi xen lẫn núi đất, có độ cao trên 200m, vùng sát biên có độ cao từ 600- 1300m so với mặt nƣớc biển. Núi non trùng điệp. Rừng núi chiếm hơn 90% diện tích toàn tỉnh. Từ đó hình thành nên 3 vùng rõ rệt. Miền Đông có núi đá, miền Tây núi đá xen lẫn núi đất, miền Tây Nam phần lớn là núi đá có nhiều rừng rậm.Tất cả tạo nên một vẻ đẹp dặc trƣng cho miền sơn cƣớc này. Vẻ đẹp “Sơn thủy hữu tình” của Cao Bằng khiến ai đã từng một lần đặt chân tới cũng bị thu hút trƣớc vẻ đẹp của một vùng non cao rừng thẳm, mảnh đất với nền văn hoá đặc sắc của lễ hội độc đáo, những làn điệu then, lƣợn ngọt ngào say đắm lòng ngƣời. Có ngƣời đã từng ví quê hƣơng Cao Bằng mang hình dáng của một cây đàn tính thiên nhiên mà núi đá là cần đàn, thị xã Cao Bằng là bầu đàn, và hai dòng sông Hiến, sông Bằng chính là hai dây đàn Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 9 huyền diệu. Gió đại ngàn khẽ chạm vào hai dây đàn ấy, tạo nên khúc nhạc du dƣơng với nhiều cung bậc khác nhau. Thiên nhiên Cao Bằng có cái nghiệt ngã của khí hậu vùng biên ải, núi đá trập trùng. Nhƣng cái dữ dội ấy lại đƣợc bọc trong cái bảng lảng của sƣơng núi, cái trầm sâu mơ màng của Đà giang mùa nƣớc êm. Sự hòa trộn giữa hai tính chất tƣởng chừng đối chọi nhau đó ở thiên nhiên cũng tạo ra hai đối cực trong tính cách con ngƣời nơi đây: lửa và nƣớc. Thiên tính lửa - sự dữ dằn - xuất hiện vì con ngƣời phải sinh tồn trong cái khắc nghiệt tất lẽ ở vùng đất địa đầu. Sóng đôi với nó là thiên tính nƣớc - sự hiền hòa, dịu dàng - đƣợc hình thành vì con ngƣời sống trong thi vị, trong sự bao bọc, bảo trợ nguồn sống của thiên nhiên. Hình nhƣ chính hai mạch nƣớc ngầm nƣớc - lửa ấy đã tạo ra hai đối âm tƣơng phản mà hòa hợp trong văn chƣơng Vi Hồng nói riêng và những nhà văn Cao Bằng nói chung: bút pháp vừa lãng mạn, vừa hiện thực, cảm xúc dữ dội mà dịu êm. Trong tiểu thuyết Vi Hồng, các tình huống truyện khốc liệt, bi kịch lên đến tận cùng… cũng đƣợc bọc trong sự thi vị của thiên nhiên, của tình nghĩa con ngƣời. Dân cƣ chủ yếu vùng Việt Bắc là ngƣời Tày, Nùng. Ngoài ra còn có một số tộc ngƣời khác nhƣ Dao, H’Mông, Lô Lô, Sán Chay. Cao Bằng là tỉnh có nhiều dân tộc sinh sống song chủ yếu là dân tộc Tày và Nùng. Dân tộc Tày, Nùng là những tộc ngƣời có dân số đông nhất nƣớc trong các dân tộc thiểu số ở nƣớc ta. Hai dân tộc Tày, Nùng có những nét văn hoá gần gũi, sự gần gũi giữa họ là tƣơng đối. Trong quan hệ với văn hoá Hán, ngƣời Nùng chụi nhiều ảnh hƣởng của văn hoá Hán nhiều hơn ngƣời Tày, ngƣời Tày lại chịu nhiều ảnh hƣởng của văn hoá Việt nhiều hơn. Về phƣơng diện tổ chức xã hội, cƣ dân Tày, Nùng chủ yếu sống trong các bản ven đƣờng, cạnh sông suối hay thung thũng. Bản là đơn vị cơ sở nhỏ nhất. Các gia đình trong bản và các thành viên hợp lại thành một cộng đồng dân cƣ và có tổ chức. Mọi tổ chức xã hội cao hơn bản đã mất. Thiết chế xã hội tồn tại là xã, tổng, châu hay huyện, Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 10 những thiết chế này thay đổi theo các thể chế chính trị, nhƣng bản thì không thay đổi. Thành tố cấu thành của các bản ngƣời Tày hay Nùng là những gia đình phụ quyền thuộc các dòng họ khác nhau, có bản có 2, 3 họ nhƣng cũng có bản có tới trên 10 họ. Thiết chế dòng họ mỗi nơi lại khác nhau nhƣng nhìn chung rất chặt chẽ. Gia đình Tày, Nùng là gia đình phụ hệ ngƣời cha hay ngƣời chồng nắm quyền làm chủ mọi tài sản và quyết định mọi công việc trong gia đình, ngoài làng. Do vậy, ý thức trọng nam khinh nữ khá đậm nét, sự phân biệt đối xử còn thấy rõ trong việc phân chia mặt bằng sinh hoạt trong nhà. Nhà ngoài bao giờ cũng giành cho đàn ông. Trừ các bà già, phụ nữ không bao giờ đƣợc ra nhà ngoài. Tộc ngƣời Tày, Nùng sinh sống ở các thung lũng miền núi phía Bắc, canh tác nông nghiệp ruộng nƣớc là chính, trình độ phát triển xã hội cũng cao hơn so với các tộc ngƣời khác, văn hoá cũng khá phát triển, có ảnh hƣởng nhất định đối với các dân tộc thiểu số khác. Dân tộc Tày, Nùng tiêu biểu cho dân cƣ vùng thung lũng, văn hoá thung lũng. Về trình độ phát triển văn hoá, nhất là trình độ sáng tạo và hƣởng thụ văn hoá, thì các tộc ngƣời này có một không gian văn hoá thuộc loại trung bình so với các tộc ngƣời thiểu số khác thuộc loại không gian xã hội hẹp hơn. Trải qua các thời kì lịch sử, từ những ngày đầu mới dựng nƣớc cho đến nay, dân tộc Tày, Nùng đã hun đúc, xây dựng nền văn hoá truyền thống mang đậm dấu ấn riêng của mình. Chính vì thế mà ngƣời Tày, Nùng có một di sản văn hoá dân gian đồ sộ. Tìm hiểu về văn hoá của ngƣời Tày, Nùng ngƣời ta thấy đƣợc những lễ hội dân gian rất đặc sắc nhƣ lễ hội Lồng Tồng (lễ hội xuống đồng), lễ hội Nàng Hai, các trò chơi dân gian nhƣ tung còn, kéo co, đánh quay… Đặc biệt ngƣời Tày, Nùng có những phong tục, tập quán, tín ngƣỡng độc đáo. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 11 Dân tộc Tày, Nùng cũng có nền văn học dân gian phát triển ở trình độ khá cao về nghệ thuật, phong phú về loại hình. Với loại hình tự sự dân gian ngƣời Tày, Nùng để lại một di sản phong phú với những thể loại: truyền thuyết, cổ tích, thần thoại, truyện cƣời, truyện thơ, truyện ngụ ngôn… Riêng với thể loại thần thoại đã làm nên bản sắc rất riêng của văn học dân gian Tày, Nùng với hình tƣợng Pựt Luông sáng tạo ra thế giới muôn loài, hình tƣợng ngƣời khổng lồ Tài Ngào, hình tƣợng ngƣời khoẻ tài ba, hình tƣợng ngƣời hiền lành, ngƣời em út… Ngƣời Tày, Nùng cũng có một kho tàng truyện cổ tích phong phú, mang đậm bản sắc của dân tộc mình . Nói đến văn học Tày, Nùng không thể không nhắc đến kho truyện thơ dân gian rất đặc sắc và có khối lƣợng đồ sộ, với những đề tài phong phú thể hiện rõ nét đời sống tâm tƣ tình cảm của ngƣời dân Tày, Nùng. Trong đó phải kể đến những tác phẩm đạt đến trình độ cao về nghệ thuật nhƣ: Nam Kim Thị Đan, Lƣu Đài – Hán Xuân, Kim Quế… Bên cạnh đó, Ngƣời Tày, Nùng còn có một mảng “Văn học dân gian phô diễn tâm tình” nhƣ sli, lƣợn, phong slƣ, những bài ca nghi lễ nhƣ mo, then pựt…và biết bao câu ca dao tục ngữ, câu đố, đồng dao… Tất cả đã ảnh hƣởng sâu sắc trong các tiểu thuyết của Vi Hồng. Quê hƣơng Hòa An của ông chính là một trong những cái nôi sản sinh và bảo tồn văn hóa Tày Việt Bắc. Nhà văn lớn lên và đƣợc nuôi dƣỡng trong một không gian văn hóa của những phong tục tập quán mang tín ngƣỡng đặc trƣng: những lễ hội độc đáo vừa đậm chất sinh hoạt vừa mang phong vị của cuộc sống lao động dân dã bình dị (thi cấy), những buổi gặp gỡ để trai gái bén duyên và hò hẹn (lễ hội lồng tồng và kết bạn)… Vi Hồng còn đƣợc nuôi dƣỡng trong bầu sữa dân gian của những làn điệu dân ca mƣợt mà tình nghĩa (then, quan làng), đằm thắm và chan chứa yêu đƣơng (sli, lƣợn…). Bản thân Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 12 gia đình ông cũng giàu truyền thống văn hóa dân gian. Bà nội và bá cả của nhà văn chính là một “kho tàng” dân ca Tày, nên nhà văn sớm đƣợc dạy hát Then, hát Lƣợn. Ngay từ khi 5 tuổi, cậu bé Vi Hồng đã đƣợc ông nội “cấp” cho vốn văn học dân gian, và trở thành “thính giả tí hon và nhiệt tình nhất của truyện cổ bản mường” [15]. Tuổi thơ của Vi Hồng sớm đƣợc đắm say trong những tiếng ca trữ tình của bà nội, đƣợc bay bổng mộng mơ theo những câu chuyện huyền thoại của “đời già”, “đời cũ kĩ”. Và hình nhƣ ngay từ lúc ấy, những truyện cổ tích Tày, những bài ca sli, lƣợn đã ngấm dần vào tâm hồn cậu bé có tố chất văn chƣơng để rồi hồn văn, hồn dân ca cứ thấm sâu và từ từ chuyển hóa vào cách ông viết văn mang đậm phong vị dân gian. Cũng chính quê hƣơng đã bồi đắp cho nhà văn tình yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống giản dị của ngƣời dân miền núi. Vi Hồng yêu cả cái thật thà, chất phác, mộc mạc của ngƣời Tày. Đƣợc sống giữa môi trƣờng văn hóa bao bọc và do có tố chất nghệ sĩ, Vi Hồng dần trở thành một trong những nhà văn dân tộc thiểu số hiếm hoi đã “đột nhập vào những trung tâm phát sáng của tâm hồn dân tộc” [14,65] và chiếu tỏa ánh sáng đó, qua những tác phẩm của mình, đến với những bạn đọc miền xuôi. Tóm lại, môi trƣờng văn hoá đã ảnh hƣởng rất lớn đến quá trình sáng tác của nhà văn nói chung và nhà văn Vi Hồng nói riêng. Sinh ra trong nôi văn hoá Tày, Nùng chính những tài sản tinh thần của quê hƣơng đã trở thành nguồn cảm hứng bất tận cho qua trình sáng tác của ông. Vì thế chúng tôi nhận thấy trong các tác phẩm đặc biệt là ở thể loại tiểu thuyết của Vi Hồng mang đậm dấu ấn của văn hoá dân tộc Tày, Nùng. 1. 2. Văn hóa và văn hoá dân gian 1.2.1. Khái niệm văn hóa Trên thế giới cũnh nhƣ ở Việt Nam có hàng trăm định nghĩa khác nhau về văn hoá. Văn hoá hay văn minh, theo nghĩa rộng về tộc ngƣời học, nói Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 13 chung gồm có tri thức, tín ngƣỡng, nghệ thuật, đạo đức, pháp luật, tập quán, một số năng lực và thói quen khác đƣợc con ngƣời chiếm lĩnh với tƣ cách là một thành viên xã hội. Theo nghĩa này thì văn hoá và văn minh là một: nó bao gồm tất cả mọi lĩnh vực liên quan đến đời sống của con ngƣời, tri thức, tín ngƣỡng đến nghệ thuật, đạo đức pháp luật… có ngƣời ví định nghĩa này mang tính “bách khoa toàn thư” vì nó liệt kê mọi lĩnh vực sáng tạo của con ngƣời. Có ý kiến lại cho rằng, văn hoá là tổng thể các phản ứng tinh thần, thể chất và đã hành động định hình nên hành vi của cá nhân cấu thành nên một nhóm ngƣời vừa có tính tập thể vừa có tính cá nhân trong mối quan hệ với môi trƣờng tự nhiên của họ, với những nhóm ngƣời khác, với những thành viên trong nhóm và của chính các thành viên này với nhau. Trong tiếng Việt, văn hóa đƣợc hiểu theo nghĩa thông dụng để chỉ học thức (trình độ văn hóa), lối sống (nếp sống văn hóa); theo nghĩa chuyên biệt để chỉ trình độ phát triển của một giai đoạn (văn hóa Đông Sơn)... còn theo nghĩa rộng thì văn hóa bao gồm tất cả, từ những sản phẩm vật chất đến các giá trị tinh thần và các hoạt động. Song những năm gần đây ngƣời ta thƣờng vận dụng định nghĩa do UNESCO “Văn hóa hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và cảm xúc quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội. văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống giá trị, những tập tục và tín ngưỡng:Văn hóa đem lại cho con người khả năng suy xét về bản thân. Chính văn hóa làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lí tính, có óc phê phán và dấn thân một cách đạo lí. Chính nhờ văn hóa mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tự biết mình là một phương án chua hoàn thành đặt ra để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những công trình Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 14 vượt trội của bản thân” [30.24]. Nhƣ vậy, văn hóa không phải là lĩnh vực riêng biệt văn hóa là tổng thể nói chung các giá trị vật chất và tinh thần do con ngƣời sáng tạo ra. Văn hóa cũng chính là chiếc chìa khóa của sự phát triển. Theo Văn hóa học và văn hóa Việt Nam của Trần Ngọc Thêm thì "Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với mồi trường tự nhiên và xã hội". [31.6] Tác giả Trần Ngọc Thêm cho rằng văn hóa có các đặc trƣng và chức năng của nó. Tính hệ thống: Đặc trƣng này giúp phát hiện những mối liên hệ mật thiết giữa các hiện tƣợng, sự kiện thuộc một nền văn hóa, phát hiện các đặc trƣng, quy luật hình thành và phát triển của nó. Chính vì thế tính hệ thống thực hiện đƣợc chức năng tổ chức xã hội, thƣờng xuyên làm tăng ổn định của xã hội. Tính giá trị: Giúp phân biệt giá trị với phi giá trị. Nó là thƣớc đo mức độ nhân bản của xã hội và con ngƣời. Nhờ có đặc trƣng tính giá trị mà văn hóa thực hiện đƣợc chức năng quan trọng thứ hai là chức năng điều chỉnh xã hội, giúp cho xã hội duy trì trạng thái cân bằng động, không ngừng hoàn thiện và thích ứng với những biến đổi của môi trƣờng, giúp định hƣớng các chuẩn mực, làm động lực cho sự phát triển của xã hội. Tính nhân sinh: Cho phép phân biệt văn hóa nhƣ một hiện tƣợng xã hội (nhân tạo) với các giá trị tự nhiên (thiên tạo). Văn hóa là cái tự nhiên biến đổi bởi con ngƣời. Sự tác động của con ngƣời vào tự nhiên có thể mang tính vật chất (nhƣ việc đẽo gỗ, luyện quặng ...) hoặc tinh thần (nhƣ việc đặt tên cho các cảnh quan thiện nhiên...) Do mang tính nhân sinh, văn hóa trở thành Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 15 sợi dây nối liền con ngƣời với con ngƣời, nó thực hiện chức năng giao tiếp và có tác dụng liên kết con ngƣời lại với nhau. Tính lịch sử: Tạo cho văn hóa một bề dày, một chiều sâu, cho phép phân biệt văn hóa nhƣ sản phẩm của một quá trình tích lũy qua nhiều thế hệ với văn minh nhƣ một sản phẩm cuối cùng, chỉ ra trình độ phát triển của từng giai đoạn. Tính lịch sử đƣợc duy trì bằng truyền thống văn hóa, những giá trị tƣơng đối ổn định, đƣợc tích lũy và tái tạo trong cộng đồng ngƣời qua không gian và thời gian, đƣợc đúc kết thành những khuôn mẫu xã hội và cố định hóa dƣới dạng ngôn ngữ, phong tục, tập quán, nghi lễ, luật pháp... Truyền thống văn hóa tồn tại nhờ giáo dục. Cho nên văn hóa còn đảm nhiệm chức năng giáo dục. Nhƣ vậy, có nhiều định nghĩa, nhiều cách hiểu khác nhâu về văn hóa song có thể thấy rằng tựu chung lại các cách hiểu ấy đều thống nhất : văn hóa là sản phẩm đƣợc sáng tạo bởi con ngƣời. Các sản phẩm văn hóa đó có thể thấy có tính hệ thống, tính giá trị, tính lịch sử, tính giáo dục đồng thời nó cũng chính là thƣớc đo trình độ phát triển của con ngƣời. Bởi lẽ, trong quá trình sáng tạo văn hóa thì văn hóa lại có tác động ngƣợc trở lại con ngƣời khiến cho đời sống của con ngƣời trở nên văn minh hơn và từ đó con ngƣời lại sản sinh ra vô vàn văn hóa khác trong đó có văn học nghệ thuật. ở đây chúng tôi nghiên cứu đề tài theo quan điểm của tác giả Trần Ngọc Thêm. 1.2.2. Văn hóa dân gian Mỗi một dân tộc có nền văn hoá khác nhau mang đậm những dấu ấn riêng. Văn hoá dân gian là một bộ phận của văn hoá dân tộc. Nói tới văn hoá dân gian là nói tới sản phẩm truyền thống của một nền văn hoá. Về phƣơng diện lịch sử nó đƣợc chuyển giao qua các thế hệ, nó chứng tỏ “những lối cũ” có ƣu thế hơn cái mới và chỉ ra một cảm quan chung về tính cộng đồng. Nếu các yếu tố của văn hoá dân gian đƣợc một ngƣời hoặc một cộng đồng ngƣời Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 16 sao chép lại thì nó vẫn mang theo những lí tƣởng mạnh về ngọn nguồn mà chúng đƣợc tạo ra. Nhƣ vậy, văn hóa dân gian là bộ phận của văn hoá dân tộc, bao gồm văn học dân gian (ca dao, dân ca, truyện cổ tích, thần thoại, truyền thuyết, truyện cƣời... trƣớc kia đƣợc lƣu truyền bằng miệng trong dân gian); nghệ thuật dân gian (ca múa nhạc dân gian, tranh dân gian…); phong tục, tập quán, đặc điểm lễ nghi thịnh hành trong dân gian.... Có những trƣờng hợp ngƣời ta dùng từ Folklore của Tiếng Anh, một thuật ngữ quốc tế để thay thế từ văn hóa dân gian. Do nội hàm của khái niệm văn hoá dân gian khá rộng, để phù hợp với phạm vi nghiên cứu của đề tài chúng tôi xin đƣợc tìm hiểu sự ảnh hƣởng của văn hóa dân gian trong bốn tiểu thuyết đó là: Đất bằng, Phụ tình, Đọa đầy, Mùa hoa Bóoc Loỏng ở một số phƣơng diện sau: văn học dân gian, phong tục, tập quán, tín ngƣỡng, lễ hội dân gian, hủ tục của xã hội phong kiến miền núi, cách xây dựng cốt truyện, nhân vật mang dấu ấn dân gian … 1.3. Vài nét về cuộc đời Vi Hồng và tiểu thuyết của ông 1.3.1. Vài nét về cuộc đời Vi Hồng tên thật là Vi Văn Hồng, sinh ngày 13/7/1936, tại bản Phai Thin, xã Đức Long, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng. Ông là nhà văn tiêu biểu của Việt Bắc, có nhiều đóng góp quan trọng vào sự hình thành và phát triển của nền văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại. Có nhiều lý do để Vi Hồng đến với văn chƣơng nói chung và tiểu thuyết nói riêng. Song có lẽ trƣớc hết là tình yêu văn chƣơng, tiềm năng văn chƣơng, nỗ lực không mệt mỏi. Ông sinh ra trong một gia đình nghèo, giàu truyền thống văn hóa dân gian. Gia đình ông là kho truyện cổ dân gian, đặc biệt bà nội làm Then và hát rất hay. Quê hƣơng Hòa An của ông là một trong Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 17 những cái nôi bảo tồn, lƣu giữ lâu đời truyền thống văn hóa Tày. Ông từng nói mình là khán giả tí hon và nhiệt tình của các câu truyện cổ tích. Lên bảy tuổi, ông bắt đầu học chữ từ ngƣời cha của mình. Đó là chữ Hán, Nôm mà ngƣời Tày gọi là Slƣ nam, thứ chữ giống nhƣ những cái gai xếp vào nhau. Vi Hồng đã bắt chƣớc các thầy (Sảy) ghi lại những truyện cổ. Ông nói: lúc ấy, mình mới lên mƣời một tuổi. Năm mƣời ba tuổi, Vi Hồng biết làm thơ, chủ yếu là thể phong Slƣ một thể thơ tự tình trao duyên của dân tộc Tày. Tâm hồn của Vi Hồng bắt đầu nảy nở từ đây. Năm mƣời bốn tuổi, Vi Hồng đỗ thẳng vào lớp ba trƣờng làng. Hòa bình lập lại, năm 1955, Vi Hồng là một trong chín học sinh Cao Bằng đƣợc xuống học ở trƣờng Phổ thông trung học Lƣơng Ngọc Quyến - Tỉnh Thái Nguyên. Chính nơi đây đã mở ra một chân trời khoa học cùng với sự ham hiểu biết và giàu nghị lực. Sau khi tốt nghiệp phổ thông trung học, Vi Hồng thi đỗ Đại học sƣ phạm I Hà Nội. Học chăm, giỏi, tốt nghiệp đại học ông đƣợc giữ lại ở trƣờng giảng dạy, nhƣng ông đã từ chối và xung phong lên công tác tại miền núi. Năm 1960, ông lên Hà Giang và dạy học tại trƣờng cấp III Hà Giang. Năm 1961, ông trở lại quê hƣơng Cao Bằng của mình, dạy học ở trƣờng cấp III Cao Bằng. Năm 1963, Vi Hồng trở về trƣờng Đại học sƣ phạm I giảng dạy và nghiên cứu văn học. Trên cƣơng vị giảng dạy, Vi Hồng là một ngƣời tận tụy, có tinh thần trách nhiệm cao, có tâm huyết với nghề. Nhà văn Dƣơng Thuấn ngƣời học trò của Vi Hồng, từng đánh giá "Ai mà học với thầy Vi Hồng sẽ không bao giờ quên những giờ giảng của ông. Lũ học trò chúng tôi ví ông như một nhà folklore có biệt tài làm sống lại không khí dân gian trên bục giảng. Những câu chuyện cổ chúng tôi đọc với nhau thấy bình thường, nhưng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 18 khi nghe ông kể và phân tích sao mà hay đến thế. ông thường tìm những câu ca dao đặc sắc phân tích cho cả lớp nghe và ông so sánh đâu là cách diễn đạt của người miền xuôi, đâu là cách diễn đạt của người miền núi… Những bài giảng không chỉ có học sinh khoa văn nghe mà nhiều học sinh ở các khoa tự nhiên và một số cán bộ giảng dạy cũng đến nghe. Ông có một trí tuệ quảng bác và nghệ thuật nói hấp dẫn. Học sinh nghe ông giảng như bị thôi miên, quên đi cuộc sống thực tại, hoá thân vào những câu chuyện trong thần thoại cổ tích trường ca…và theo ông “dân gian mỗi câu là vàng ngọc cả” [29.14] Dƣới góc độ của nhà nghiên cứu văn hóa, văn học dân gian, Vi Hồng đã không ngừng sƣu tầm, tích lũy những di sản văn hóa dân gian của các dân tộc. May mắn hơn, ông có thủa thơ ấu sống trong nôi đậm nét văn hóa dân gian. Điều đó giúp ông rất nhiều trong các công trình nghiên cứu sli, lƣợn, dân ca trữ tình Tày - Nùng, thì thầm dân ca nghi lễ, Khảm hải. Trong đó có những công trình nghiên cứu đạt giải thƣởng lớn. Có thể nói, dù làm gì và đi bất cứ nơi đâu, thì tâm hồn, tình cảm của Vi Hồng luôn gắn bó máu thịt với quê hƣơng Cao Bằng, nơi ông sinh ra và lớn lên. Những sáng tác của Vi Hồng dù ngắn, dù dài đều bắt nguồn từ vùng quê ấy. Chính chất dân gian quê mẹ đã tạo nên một đôi cánh rộng mở để tác phẩm của ông bay cao. Về điều này, Lâm Tiến đã nhận xét “Người vận dụng văn hoá, văn học dân gian phải kể đến Vi Hồng…Vi Hồng là nhà văn rất có ý thức tự giác để thể hiện dược bản sắc văn hoá dân tộc trong tác phẩm của mình”. [28.17] Đến với văn chƣơng ni chung và tiểu thuyết nói riêng còn một lý do nữa, đó là cuộc sống riêng của Vi Hồng đầy bất hạnh, vất vả lam lũ từ thủa ấu thơ. Ông cũng là một nạn nhân của những hủ tục trên. Mƣời hai tuổi buộc phải lấy vợ trong khi chƣa biết thế nào là vợ, tình yêu, hạnh phúc. Phải sống Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
- Xem thêm -