Tài liệu ảnh hưởng của chính sách ngôn ngữ đối với việc tiếp thu và dùng ngôn ngữ nước ngoài trong đời sống hiện nay ở việt nam và hàn quốc

  • Số trang: 110 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 994 |
  • Lượt tải: 0
dangvantuan

Tham gia: 02/08/2015

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ------------ YOON SUNG YEON ẢNH HƯỞNG CỦA CHÍNH SÁCH NGÔN NGỮ ĐỐI VỚI VIỆC TIẾP THU VÀ SỬ DỤNG NGÔN NGỮ NƯỚC NGOÀI TRONG ĐỜI SỐNG HIỆN NAY Ở VIỆT NAM VÀ HÀN QUỐC Luận Văn Thạc sĩ chuyên ngành Ngôn ngữ Mã số: 60.22.01 Người hướng dẫn khoa học: GS.TS. Phạm Đức Dương HÀ NỘI, 2010 0 Mục Lục PHẦN MỞ ĐẦU .................................................................................................. 4 1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU ...................................... 4 2. MỤC ĐÍCH VÀ Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI .................................................... 5 3. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU ............................................................................... 6 4. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU .............................................. 8 5. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .................................................................. 8 6. NGUỒN TƢ LIỆU CỦA ĐỀ TÀI .................................................................. 9 7. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VĂN .......................................... 10 8. CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN .................................................................... 11 CHƢƠNG 1: CHÍNH SÁCH NGÔN NGỮ Ở VIỆT NAM........................... 12 VÀ HÀN QUỐC ................................................................................................ 12 1.1. Khái niệm chính sách ngôn ngữ................................................................ 12 1.2. Chính sách ngôn ngữ Việt Nam ................................................................ 13 1.3. Chính sách ngôn ngữ ở Hàn quốc............................................................. 17 Tiểu kết chƣơng 1 .............................................................................................. 27 CHƢƠNG II: ẢNH HƢỞNG CỦA CHÍNH SÁCH NGÔN NGỮ ĐỐI VỚI VIỆC TIẾP THU VÀ SỬ DỤNG NGÔN NGỮ NƢỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY.................................................................................... 28 2.1. Thực trạng của việc tiếp thu và sử dụng ngôn ngữ nƣớc ngoài ở Việt Nam............................................................................................................. 28 2.2. Ảnh hƣởng của chính sách ngôn ngữ đến hệ thống giáo dục ngoại ngữ ở Việt Nam .................................................................................................. 38 2.3. Ảnh hƣởng của chính sách ngôn ngữ đối với việc tiếp thu và sử dụng ngôn ngữ nƣớc ngoài ở Việt Nam .......................................................... 47 Tiểu kết chƣơng 2 .............................................................................................. 53 2 CHƢƠNG III : ẢNH HƢỞNG CỦA CHÍNH SÁCH NGÔN NGỮ ĐỐI VỚI VIỆC TIẾP THU VÀ SỬ DỤNG NGÔN NGỮ NƢỚC NGOÀI Ở HÀN QUỐC HIỆN NAY .................................................................................. 55 3.1. Thực trạng của việc tiếp thu và sử dụng ngôn ngữ nƣớc ngoài ở Hàn Quốc............................................................................................................ 55 3.2. Ảnh hƣởng của chính sách ngôn ngữ đến hệ thống giáo dục ngoại ngữ ở Hàn Quốc................................................................................................. 63 3.3. Ảnh hƣởng của chính sách ngôn ngữ tới việc tiếp thu và sử dụng ngôn ngữ nƣớc ngoài ở Hàn Quốc ................................................................... 74 Tiểu kết chƣơng 3 .............................................................................................. 92 KẾT LUẬN ........................................................................................................ 94 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................... 99 PHIẾU ĐIỀU TRA .......................................................................................... 106 3 PHẦN MỞ ĐẦU 1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU Chính sách ngôn ngữ là vấn đề hết sức phức tạp, chịu tác động của nhiều yếu tố chính trị và xã hội. Chính sách ngôn ngữ cũng có thể làm sinh sôi nảy nở ngôn ngữ và cũng có thể làm diệt vong ngôn ngữ. Chính sách ngôn ngữ tác động đến thái độ và việc lựa chọn ngôn ngữ sử dụng của người dân. Vì vậy, nghiên cứu ảnh hưởng của chính sách ngôn ngữ là hết sức cần thiết đối với việc phát triển ngôn ngữ. Trong thực tế không có dân tộc nào là một cộng đồng ngôn ngữ và văn hoá thuần khiết, tự túc, tự mãn; và không có ngôn ngữ nào phát triển chỉ với chất liệu của mình mà còn phải kết hợp với chất liệu tiếp nhận của ngôn ngữ khác trong quá trình tiếp xúc. Tiếp xúc ngôn ngữ giữa các cộng đồng, dân tộc là vấn đề hết sức tự nhiên và cũng nhờ đó để thúc đẩy ngôn ngữ phát triển. Tuy nhiên, sự tiếp xúc giữa các ngôn ngữ có thể diễn ra bình đẳng hoặc bất bình đẳng “ngôn ngữ tồn tại, hành chức, và do đó phát triển trên cái nền xã hội của nó là nơi đã diễn ra, trong những điều kiện lịch sử nhất định, các quá trình tiếp xúc dân tộc, văn hoá và ngôn ngữ phức tạp và phong phú trên cái thế có thể là bất bình đẳng mà cũng có thể là bình đẳng giữa các dân tộc” [1. tr9] Trong lịch sử, Việt Nam và Hàn Quốc chịu ách thống trị của các quốc gia khác và trạng thái tiếp xúc ngôn ngữ giữa tiếng Việt, tiếng Hàn với các ngôn ngữ khác là không bình đẳng. Tiếng Việt tiếp xúc với nhiều ngôn ngữ khác nhau như tiếng Hán, tiếng Pháp, tiếng Nga và tiếng Anh..Vì vậy, tiếng Việt chịu ảnh hưởng rất lớn từ các ngôn ngữ mà nó tiếp xúc. Trong khi đó, tiếng Hàn tiếp xúc với tiếng Hán, tiếng Nhật và tiếng Anh và cũng giống như tiếng Việt, tiếng Hàn chịu ảnh hưởng của nhiều ngôn ngữ đặc biệt là tiếng Hán và tiếng Nhật. 4 Qua việc tiếp xúc ngôn ngữ nước ngoài, Việt Nam và Hàn quốc đang là những quốc gia tham gia tích cực vào quá trình toàn cầu hoá. Vì vậy, nhu cầu tiếp thu và sử dụng ngôn ngữ nước ngoài của người dân ngày càng tăng cao. Thực tế, do thiếu các biện pháp hữu hiệu nên chính sách ngôn ngữ của cả Việt Nam và Hàn Quốc chưa tạo ra được động lực và định hướng cho việc tiếp thu và sử dụng ngôn ngữ nước ngoài của người dân. Các mức độ ảnh hưởng của chính sách ngôn ngữ đến nhu cầu, thái độ, nội dung và hình thức tiếp thu ngôn ngữ nước ngoài chưa được đánh giá đúng mức. Việt Nam và Hàn Quốc là hai quốc gia khác nhau về lịch sử dân tộc, ngôn ngữ, chính trị, văn hoá. Vì vậy, nghiên cứu và so sánh những tác động của chính sách ngôn ngữ đối với việc tiếp xúc ngôn ngữ nước ngoài ở mỗi nước nhằm rút ra bài học để xây dựng và triển khai các chính sách ngôn ngữ là việc làm có ý nghĩa thiếu thực trong bối cảnh toàn cầu hóa. Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về chính sách ngôn ngữ ở Việt Nam và Hàn Quốc. Tuy nhiên, chưa có công trình nào đánh giá mức độ và phạm vi ảnh hưởng của những chính sách này đến việc tiếp xúc ngôn ngữ nước ngoài ở cả hai nước. Xuất phát từ những lý lo trên chúng tôi đã chọn vấn đề "Ảnh hưởng của chính sách ngôn ngữ đối với việc tiếp thu và sử dụng ngôn ngữ nước ngoài trong đời sống hiện nay ở Việt Nam và Hàn Quốc" làm đề tài nghiên cứu. 2. MỤC ĐÍCH VÀ Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI Chính sách ngôn ngữ có ý nghĩa to lớn đối với sự tồn tại, phát triển ngôn ngữ của một dân tộc, quốc gia. Một chính sách phù hợp là động lực và là điều kiện cần thiết đối với việc duy trì, phát triển một ngôn ngữ hay tiếp thu và sử dụng các ngôn ngữ mới. Chính vì thế, mục đích trọng tâm của chúng tôi là đánh giá những tác động của chính sách ngôn ngữ đối với 5 việc tiếp thu và sử dụng ngôn ngữ nước ngoài của người dân Việt Nam và Hàn Quốc trên ba phương diện sau: - Đánh giá hiệu quả và những tác động của hệ thống chính sách ngôn ngữ hiện tại ở Việt Nam và Hàn Quốc. - Nghiên cứu trạng thái tiếp xúc ngôn ngữ nước ngoài ở Việt Nam và Hàn Quốc qua những vấn đề nảy sinh cần giải quyết như từ vựng, ngữ âm, ngữ nghĩa và ngữ pháp trong quá trình tiếp xúc ngôn ngữ nước ngoài. - Đánh giá những ảnh hưởng của chính sách ngôn ngữ, đặc biệt là các chính sách về thuật ngữ của Việt Nam và Hàn Quốc qua việc tiếp xúc ngôn ngữ nước ngoài để tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt trong chính sách ngôn ngữ của từng quốc gia và những tác động của chúng đối với ngôn ngữ dân tộc. 3. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU Trong các quốc gia đa dân tộc, vấn đề tiếp xúc ngôn ngữ, với biểu hiện trực tiếp là hiện tượng song, đa ngữ, đã là một đề tài thu hút sự quan tâm, nghiên cứu của các nhà khoa học trong nhiều ngành như Ngôn ngữ học, Dân tộc học, Sử học, Khảo cổ học, Xã hội học v.v... Trên thế giới, vấn đề tiếp xúc ngôn ngữ được đề cập từ lâu, nhưng phải đến những năm 50, 60 của thế kỷ XX mới xuất hiện nhiều chuyên khảo về vấn đề này. Cuối những năm 60 đến đầu những năm 90 của thế kỷ này, những tài liệu liên quan đến vấn đề song, đa ngữ tiếp tục được giới nghiên cứu đào sâu phát triển thêm các luận điểm. Ở Việt Nam, trước và trong thập niên 70 của thế kỷ XX, các nhà nghiên cứu và giảng dạy ngôn ngữ học chủ yếu nghiên cứu về tiếp xúc ngôn ngữ, về các trạng thái song ngữ các dân tộc với tiếng Việt theo hướng xã hội học ngôn ngữ. Năm 1983, Phan Ngọc và Phạm Đức Dương cho công bố cuốn “tiếp xúc ngôn ngữ ở Đông Nam Á” gồm 2 phần: 1) Lý luận đại cương về tiếp xúc ngôn ngữ và việc tiếp xúc ngôn ngữ ở Đông 6 Nam Á. 2) Ba thời kỳ tiếp xúc của tiếng Việt: với các ngôn ngữ Đông Nam Á để hình thành tiếng Việt; với các ngôn ngữ Hán và Ấn để hình thành ngôn ngữ quốc gia Đại Việt; với các ngôn ngữ Pháp và Châu Âu để hiện đại hóa tiếng Việt.[6] Đây là công trình quan trọng mở đầu cho việc nghiên cứu tiếp xúc ngôn ngữ ở Việt Nam. Từ năm 1995 trở lại đây, xuất hiện một số công trình nghiên cứu những vấn đề về song/đa ngữ ở Việt Nam với các tác giả có tên tuổi trong giới ngôn ngữ học Việt Nam như Nguyễn Văn Khang [15],[16]; về lịch sử tộc người thông qua các hiện tượng song ngữ của Nguyễn Văn Lợi[19]; nêu vấn đề song/đa ngữ ở tầm vĩ mô của Nguyễn Văn Lợi ,[20],[34] và Lý Toàn Thắng [34]. Bên cạnh những công trình chủ yếu đề cập tới vấn đề lý thuyết có liên quan nhiều tới chính sách ngôn ngữ kể trên, đã xuất hiện một số bài viết về thực trạng song ngữ Ạnh- Việt, Pháp-Việt, Trung-Việt, song ngữ Hmông-Việt của một số tác giả. Cho đến nay, những nghiên cứu về tiếp xúc ngôn ngữ và trạng thái song ngữ Anh, Pháp, Trung, Nga - Việt còn tản mạn và chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống. Ở Hàn Quốc, vấn đề nghiên cứu ảnh hưởng của chính sách ngôn ngữ đối với việc tiếp thu và sử dụng tiếng nước ngoài hình như chưa được quan tâm nhiều. Các nhà nghiên cứu ở Hàn Quốc mới chỉ xác định tầm quan trọng của tiếng Anh trong thời kỳ hội nhập. Đặc biệt là nhà nghiên cứu Yim, Sung-Won đã có nhiều bài viết về chính sách giáo dục tiếng Anh được thay đổi đáng kể ở Hàn Quốc.[63]. Cả Việt Nam và Hàn Quốc còn thiếu những công trình nghiên cứu về hiện tượng sử dụng tiếng nước ngoài khi chịu tác động của những chính sách ngôn ngữ. Những công trình nghiên cứu một trạng thái song ngữ nào đó mới chủ yếu tập trung giới thiệu hay mô tả sự vận hành của trạng thái song ngữ đó trong những cảnh huống ngôn ngữ nhất định. 7 4. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 4.1. Đối tƣợng nghiên cứu Dựa trên các văn bản của Nhà nước Việt Nam và Hàn Quốc về chính sách ngôn ngữ, luận văn tiến hành nghiên cứu những ảnh hưởng của chính sách ngôn ngữ đối với việc phát triển tiếng Việt và tiếng Hàn trong những thời kỳ lịch sử nổi bật. Luận văn khảo sát động cơ, nội dung, hình thức và mức độ tiếp thu ngôn ngữ nước ngoài của người dân Việt Nam và Hàn quốc hiện nay. Từ đó tìm ra mối liên quan giữa các số liệu thu được với chính sách ngôn ngữ của mỗi quốc gia. 4.2. Phạm vi nghiên cứu Giới hạn về đối tượng và nội dung nghiên cứu: Chính sách ngôn ngữ là vấn đề rộng và phức tạp, ở trong luận văn của mình chúng tôi chỉ tập trung vào nghiên cứu những ảnh hưởng của chính sách ngôn ngữ đối với việc tiếp thu và sử dụng ngôn ngữ nước ngoài ở Việt Nam và Hàn Quốc, đặc biệt là tiếng Anh. Cụ thể, chúng tôi tập trung vào nghiên cứu những tác động của chính sách ngôn ngữ đến nhu cầu, thái độ, nội dung, hình thức, mức độ tiếp thu và sử dụng tiếng Anh ở hai nước. 5. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 5.1. Chính sách ngôn ngữ là một bộ phận của chính sách xã hội, nó có lịch sử hình thành và phát triển cụ thể. Vì thế nghiên cứu ảnh hướng của chính sách ngôn ngữ cần được đặt trong một phương pháp nghiên cứu toàn diện có tính lịch sử và hướng nghiên cứu ngôn ngữ xã hội học. Trong vài thập niên gần đây, phương pháp điều tra xã hội học được sử dụng tương đối phổ biến khi nghiên cứu những vấn đề xã hội. Chính vì thế, chúng tôi đã sử dụng các tài liệu thu thập được bằng phương pháp điền đã dân tộc học, và sử dụng phương pháp điều tra của xã hội học để nghiên cứu về 8 phương diện xã hội của tiếp xúc ngôn ngữ, nhằm đưa ra một cái nhìn tổng thể và nêu những dự báo cần thiết cho sự phát triển của ngôn ngữ. 5.2. Chính sách ngôn ngữ là một bộ phận của chính sách xã hội, nó có nguồn gốc và quan hệ mật thiết với các hiện tượng xã hội khác. Vì thế, khi nghiên cứu ảnh hướng của chính sách ngôn ngữ phải đặt trong mối quan hệ với các chính sách xã hội khác như chính sách kinh tế, chính sách văn hoá, chính sách dân tộc…. Những ảnh hưởng của chính sánh ngôn ngữ đối với việc tiếp thu và sử dụng ngôn ngữ, đặc biệt là ngôn ngữ nước ngoài của người dân ở mỗi vùng và trong mỗi giai đoạn lịch sử là khác nhau. Ở khu vực thành thị là nơi chịu tác động mạnh của xu hướng hội nhập, giao lưu và hợp tác quốc tế nên sự tác động của chính sách ngôn ngữ đến việc tiếp thu và sử dụng ngôn ngữ nước ngoài là rõ rệt hơn nông thôn và miền núi. Vì vậy, trong nghiên cứu ảnh hưởng của chính sách ngôn ngữ đến việc tiếp thu và sử dụng ngôn ngữ nước ngoài chúng tôi có xem xét những vùng miền cụ thể với những nhóm người cụ thể. 5.3 Ngoài ra, luận văn còn sử dụng phương pháp kế thừa các tài liệu có sẵn (bao gồm tài liệu thư tịch và tài liệu thống kê); và các phương pháp khác như thống kê, đối chiếu, so sánh. 6. NGUỒN TƢ LIỆU CỦA ĐỀ TÀI Để thực hiện đề tài này, luận văn đã sử dụng nhiều nguồn tài liệu khác nhau: Nguồn tài liệu chủ yếu là nguồn văn bản về chính sách ngôn ngữ của nhà nước Việt Nam và Hàn Quốc. Các bài báo và công trình khoa học của các học giả trong và ngoài nước. Các tài liệu về lịch sử ngôn ngữ và số liệu thống kê được thu thập dưới các hình thức: Phỏng vấn bằng bảng hỏi (an ket) đối với 1548 người Việt Nam và 1427 người Hàn Quốc. 9 Luận văn còn sử dụng các bài viết, công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước từ trước đến nay trên các sách, báo, tạp chí, báo cáo khoa học ... về chính sách ngôn ngữ, tiếp xúc ngôn ngữ, các yếu tố ảnh hưởng đến chính sách ngôn ngữ và ảnh hưởng của chính sách ngôn ngữ đến sự tiếp thu và sử dụng ngôn ngữ nước ngoài. 7. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VĂN 7.1. Những đóng góp về lý luận Luận văn đã chỉ ra được những ảnh hưởng cơ bản của chính sách ngôn ngữ đối với tiếng nước ngoài ở Việt Nam và Hàn Quốc trong việc phát triển tiếng Việt và tiếng Hàn, trên cơ sở đó phân tích ưu điểm và hạn chế của những ảnh hưởng đó. Luận văn đã làm rõ việc tiếp thu và sử dụng tiếng nước ngoài ở Việt Nam và Hàn Quốc (đặc biệt là tiếng Anh trong giai đoạn hiện nay) khi chịu ảnh hưởng của chính sách và những quy định đối với việc học ngôn ngữ nước ngoài ở Việt Nam và Hàn quốc. Luận văn đã phân tích rõ thực trạng tiếp thu, sử dụng ngôn ngữ ở Việt Nam và Hàn Quốc hiện nay và cũng chỉ rõ sự khác nhau về mức độ tiếp thu và sử dụng ngôn ngữ nước ngoài, đặc biệt là tiếng Anh ở hai quốc gia này. 7.2. Những đóng góp về thực tiễn Luận văn đã chỉ ra những ảnh hưởng của chính sách ngôn ngữ đối với việc tiếp thu và sử dụng ngôn ngữ nước ngoài ở Việt Nam và Hàn Quốc. Luận văn cũng phân tích sự khác nhau trong chính sách đối với việc tiếp thu và sử dụng ngôn ngữ nước ngoài ở Việt Nam và Hàn Quốc, trên cơ sở đó cũng chỉ ra mức độ tác động của chính sách ngôn ngữ đến nhu cầu, thái độ, nội dung và hình thức tiếp thu ngôn ngữ nước ngoài của người dân mỗi nước. 10 Những kết luận của luận văn là cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc xây dựng và hoàn thiện chính sách đối với việc tiếp thu và sử dụng ngôn ngữ nước ngoài ở Việt Nam và Hàn Quốc. 8. CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN Ngoài phần mở đầu, luận văn được cấu trúc thành 3 chương Chương 1: Chính sách ngôn ngữ ở Việt Nam và Hàn quốc Chương 2: Ảnh hưởng của chính sách ngôn ngữ đến việc tiếp thu, sử dụng ngôn ngữ nước ngoài ở Việt Nam hiện nay Chương 3: Ảnh hưởng của chính sách ngôn ngữ đến việc tiếp thu, sử dụng ngôn ngữ nước ngoài ở Hàn Quốc hiện nay Kết luận Danh mục tài liệu tham khảo Phụ lục 11 CHƢƠNG 1: CHÍNH SÁCH NGÔN NGỮ Ở VIỆT NAM VÀ HÀN QUỐC 1.1. Khái niệm chính sách ngôn ngữ Trong cách hiểu chung nhất, chính sách ngôn ngữ (viết tắt CSNN) là hình thức tác động có định hướng của xã hội lên ngôn ngữ. Nhưng khi luận giải về nội dung và tính chất của khái niệm này, các nhà nghiên cứu có nhiều ý kiến khác nhau. B.A. Avrorin, M.I. Isaev và một số người khác nói CSNN “là một bộ phận hữu cơ trong chính sách dân tộc của một nhà nước, một giai cấp hay một đảng phái nào đó” và định nghĩa nó như là “bình diện ngôn ngữ trong chính sách (cương lĩnh) của đảng và nhà nước về vấn đề dân tộc”[43 tr19]. L,B.Nikolskij cho rằng, nếu quan niệm về chính sách ngôn ngữ như vậy là phiến diện mà ở đây khái niệm CSNN phải được đặt vào cả trong các quốc gia đa dân tộc lẫn quốc gia đơn dân tộc, bởi vì “về mặt xã hội, CSNN là một bộ phận trong chính sách đối nội của giai cấp thống trị nhà nước trong một quốc gia nhất định” [44.tr11]. Theo chúng tôi dù xem CSNN là một bộ phận của chính sách dân tộc hay một bộ phận của chính sách đối nội của nhà nước, của giai cấp, đều chưa thoả đáng cả về lý thuyết lẫn thực tiễn. Chúng tôi tạm định nghĩa: CSNN là hệ thống các quan điểm chính trị của một nhà nước, một giai cấp, một đảng phái về các vấn đề ngôn ngữ và hệ thống các biện pháp do nhà nước, giai cấp, đảng phái đó tiến hành nhằm tác động lên sự hành chức và sự biến đổi của các ngôn ngữ và các hình thức tồn tại ngôn ngữ theo những mục đích chính trị nhất định. Như vậy có nghĩa là quan điểm chính trị trong nội dung khái niệm CSNN là một đặc trưng không thể thiếu được. Nội dung cơ bản của một chính sách là các quan điểm, các chủ trương chính trị của nó, thứ đến mới 12 là các biện pháp thực hiện. Trong CSNN, cần ý thức rõ ràng về hai yếu tố, của các chủ trương và các biện pháp. 1.2. Chính sách ngôn ngữ Việt Nam 1.2.1. Lược sử chính sách ngôn ngữ ở Việt Nam Hàng thế kỉ chịu ảnh hưởng của Trung Quốc, tiếng Hán và chữ Hán đã được sử dụng như là ngôn ngữ chính thức ở Việt Nam. Trong thời kì Bắc thuộc, chế độ phong kiến Trung Quốc đã thi hành một chính sách nhất quán là đồng hoá Việt Nam về chính trị và văn hoá. Tiếng Hán và chữ Hán trở thành một công cụ hữu hiệu trong hành chính và nhiều lĩnh vực khác. Thực tế vào thời Bắc thuộc, quan cai trị chỉ tổ chức dạy chữ Hán cho một số người Việt, đủ để làm công chức trong bộ máy cai trị của người Hán chứ chưa phải là dạy Nho giáo nhằm mục đích thi cử. Trong thời kì này, các chùa mới là các trung tâm văn hoá và nhân dân học chữ Hán ở các chùa chứ không phải ở các trường do người Trung Quốc dựng nên. Từ năm 938, Việt Nam giành được độc lập từ tay người Hán. Do nhu cầu phải đua tài với Trung Quốc để củng cố độc lập bằng văn hoá, Việt Nam có nhu cầu tiếp thu văn hoá Hán. Việc học chữ Hán có quy mô chỉ bắt đầu từ thời độc lập. Khi đất nước giành được quyền độc lập, định hướng cơ bản về ngôn ngữ văn tự là: tiếp tục dùng chữ Hán, coi đó là nền văn tự chính thức của nhà nước. Hệ thống chữ viết sớm nhất của Việt Nam, được gọi là Chữ Nôm, được hiểu như là một biểu tượng nhận dạng của quốc gia, nó được đưa vào sử dụng vào cuối thế kỷ 13. Từ khi xuất hiện chữ Quốc ngữ, thế tương quan giữa các ngôn ngữ, văn tự trên diễn đàn văn hoá Việt Nam khác với các giai đoạn trước: Có hai ngôn ngữ là tiếng Việt và văn ngôn Hán, với ba loại chữ viết là chữ Hán, chữ Nôm và chữ Quốc ngữ. 13 Dưới thời cai trị của thực dân Pháp (1861–1945), trên diễn đàn văn hoá Việt Nam, có ba ngôn ngữ là tiếng Pháp, tiếng Việt, văn ngôn Hán và bốn văn tự là Pháp, Quốc ngữ, Nôm và Hán. Sự tranh chấp giữa ba ngôn ngữ diễn ra theo chiều hướng tiếng Pháp vươn lên chiếm vị thế số một, vai trò của văn ngôn Hán ngày càng giảm, vị thế của tiếng Việt càng ngày càng được đề cao. Đây cũng là thời kì thay thế dần chữ Hán và chữ Nôm bằng chữ Pháp và chữ Quốc ngữ. Như vậy, ngoài tiếng Pháp, tiếng Việt và tiếng Hán cũng đã được sử dụng trong giáo dục, đặc biệt là ở cấp độ căn bản. Sau 1945, chính sách ngôn ngữ chủ yếu là chính sách ngôn ngữ của Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà cũng như Nhà nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Ngoài ra, cũng nói đến chính sách ngôn ngữ của những chính quyền thân Pháp, thân Mĩ ở Sài Gòn trước đây. Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, nên ở Việt Nam ngoài tiếng Việt ra còn có ngôn ngữ các dân tộc thiểu số, vì thế, sau cách mạng tháng tám năm 1945 khi đề cập đến các chính sách ngôn ngữ ở Việt Nam thường phải nói đến ba chính sách cụ thể là: chính sách đối với các ngôn ngữ của các dân tộc thiểu số; chính sách đối với tiếng Việt; chính sách đối với các ngoại ngữ. 1.2.2. Chính sách ngôn ngữ ở Việt Nam đối với việc tiếp thu và sử dụng ngôn ngữ nước ngoài hiện nay Hiện nay, việc dạy và học ngoại ngữ được đổi mới toàn diện trong hệ thống giáo dục quốc dân. Chương trình được triển khai thực hiện ở tất cả các cấp học nhằm đào tạo lớp thanh niên Việt Nam sau khi tốt nghiệp trung cấ p, cao đẳ ng và đa ̣i ho ̣c có đ ủ năng lực ngoại ngữ sử dụng độc lập, tự tin trong giao tiếp, học tập, làm việc trong môi trường hội nhập, đa ngôn ngữ, đa văn hoá; biến ngoại ngữ trở thành thế mạnh của người dân Việt Nam, 14 phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Để đạt được mục tiêu đó chính sách đổi mới cụ thể như sau: Về chương trình thực hiện: - Triển khai chương trình giáo dục ngoại ngữ 10 năm, bắt đầu từ lớp 3. - Đào tạo tăng cường ngoại ngữ đối với giáo dục nghề nghiệp. - Đào tạo tăng cường ngoại ngữ đối với giáo dục đại học. Đổi mới việc dạy và học ngoại ngữ trong chương trình giáo dục thường xuyên với nội dung, chương trình đào tạo phù hợp với các cấ p ho ̣c , trình độ đào tạo, góp phần tích cực vào công tác bồi dưỡng, nâng cao trình độ ngoại ngữ cho nguồn nhân lực, đội ngũ cán bộ, viên chức; thực hiện đa dạng hoá các hình thức học tập, đáp ứng nhu cầu người học. Chương trình triển khai dạy và học ngoại ngữ được minh học bởi biểu đồ sau: Ghi chú: Các cấp học đào tạo ngoại ngữ Sơ đồ 1.1. Mô tả hệ thống giáo dục ngoại ngữ ở Việt Nam 15 Về nội dung Tiếng Anh là môn ngoại ngữ chính được quy định dạy và học trong các cơ sở giáo dục quốc dân ngoài ra cón có một số ngôn ngữ khác như Tiếng Pháp, Tiếng Nga và Tiếng Trung Quốc. Bên cạnh đó tiếng Hàn, Tiếng Nhật, tiếng Tây Ban Nha... vẫn được khuyến khích đào tạo nhằm đáp ứng nhu cầu của người lao động có nguyện vọng để xuất khẩu lao động. Tiêu chuẩn đánh giá: Xây dựng và ban hành khung trình độ năng lực ngoại ngữ thống nhất, chi tiết, gồm 6 bậc, tương thích với các bậc trình độ ngoại ngữ quốc tế về trình độ, năng lực, nghe, nói đọc, viết tương thích với các tiêu chí xác định 6 bậc do Hiệp hội các tổ chức khảo thí ngoại ngữ châu Âu đã ban hành (viết tắt là KNLNN) trong đó bậc 1 là bậc thấp nhất và bậc 6 là bậc cao nhất. cụ thể các bậc được đánh giá cho các cấp học như sau: - Tốt nghiệp tiểu học đạt trình độ bậc 1 theo KNLNN. - Tốt nghiệp trung học cơ sở đạt trình độ bậc 2 theo KNLNN. - Tốt nghiệp trung học phổ thông đạt trình độ bậc 3 theo KNLNN - Tốt nghiệp trường nghề tối thiểu đạt bậc 2 KNLNN. - Tốt nghiệp trung cấp chuyên nghiệp tối thiểu đạt bậc 3 KNLNN. - Tốt nghiệp đại học không chuyên ngữ, phải đạt trình độ tối thiểu là bậc 3 theo KNLNN. Đối với các cơ sở giáo dục đào tạo chuyên ngữ: tốt nghiệp cao đẳng đạt trình độ bậc 4 theo KNLNN. Tốt nghiệp đại học đạt bậc 5 và bắt buộc người học phải đồng thời được đào tạo 2 ngoại ngữ trong một khóa học, một ngoại ngữ chính (ngoại ngữ 1) và một ngoại ngữ phụ (ngoại ngữ 2). 16 Bậc 1 2 3 Cấp độ đạt Tốt nghiệp tiểu học Tốt nghiệp trung học cơ sở Tốt nghiệp trường nghề Tốt nghiệp trung học phổ thông Tốt nghiệp trung cấp chuyên nghiệp Tốt nghiệp đại học không chuyên ngữ 4 Tốt nghiệp cao đẳng đối với các cơ sở giáo dục đào tạo chuyên ngữ 5 Tốt nghiệp đại học đối với các cơ sở giáo dục đào tạo chuyên ngữ 6 Tốt nghiệp thạc sĩ trở lên Chính sách ngôn ngữ đối với việc tiếp thu và sử dụng ngoại ngữ hiện nay không chỉ bó hẹp ở cấp độ trường học mà được khuyến khích nhân rộng ra toàn thể cộng đồng. Nhiều mô hình đào tạo đã được thành lập như các trung tâm ngoại ngữ, các câu lạc bộ ngoại ngữ ... và thu hút nhiều người quan tâm. 1.3. Chính sách ngôn ngữ ở Hàn quốc 1.3.1. Lược sử chính sách ngôn ngữ Hàn Quốc Từ thời điểm sáng chế Bảng chữ cái (Hangul) đến năm 1945 Hàn ngữ âm các chữ cái được gọi là Hangul bây giờ là một ví dụ về ý thức quy hoạch ngôn ngữ có từ rất sớm trong lịch sử Hàn Quốc. Tất cả các quyết định liên quan đến quy hoạch ngôn ngữ của bất kỳ chính phủ Hàn Quốc nào cũng được kết nối với cuộc thảo luận về vai trò và phạm vi sử dụng Hangul này: nó là lý do tại sao các phân tích của bảng chữ cái này thực sự thú vị từ một điểm nhìn mang tính khoa học. 17 Tên gọi ban đầu của Hangul là 'Hun-min-Jeong-eum', các phiên bản rút gọn, 'Jeong-eum,' hiện đang được sử dụng như một tên trung lập trong quan hệ ngoại giao giữa Bắc Triều Tiên và Hàn Quốc. Trung Quốc (đơn âm) và Hàn Quốc (đa âm) là hai loại hình ngôn ngữ rất khác nhau. Những người Hàn Quốc đã thông qua văn bản của Trung Quốc trong suốt các thế kỷ trước công nguyên, và các ngôn ngữ cổ điển Trung Quốc (trong hanmun Hàn Quốc) đã trở thành một ngôn ngữ chính thức. Cùng với các ký tự Trung Quốc (trong han-cha) Hàn Quốc đã thông qua (hoặc sau này tự phát triển) từ ký tự Trung Quốc (han-cha-o). Bây giờ những từ này đại diện cho khoảng 60 phần trăm của vốn từ vựng Tiếng Hàn Quốc. Do không thể có khả năng để viết các từ thuần Hàn Quốc mà không có bất kỳ sự sửa đổi của việc đọc qua các hình thức ký tự Trung Quốc, người Hàn khám phá cách ghi âm tiếng mẹ đẻ của mình với sự giúp đỡ của các bộ chữ của Trung Quốc. Trong quá trình đó họ dùng âm thanh và ý nghĩa gắn với từng sự vật. Kết quả những nỗ lực của họ dành cho việc viết tiếng mẹ đẻ đã được đọc theo cách „Idu‟ chính thức và các yếu tố tương tự như hệ thống văn bản. Thiết bị này chắc chắn đã được một người tiền nhiệm của hệ thống chữ viết của Nhật Bản là Katakana vì Idu - như Katakana – được đơn giản hóa các nét của các ký tự Trung Quốc. Năm 1443 một văn bản ngữ âm (Hangul) do một vài học giả tâ ̣p trung quanh vua Sejong (họ thuộc về một văn phòng chính phủ gọi là Chipyon-jon – có thể tạm coi là nhóm các học giả) sáng tạo nên. Các văn bản mới, ban đầu có 28 biểu tượng, do vua ban hành vào năm 1446 trong một cuốn sách „Hun-min-Jeong-eum‟(có nghĩa la giảng dạy âm thanh chính xác cho mỗi tầng lớp nhân dân). Thực ra có rất nhiều lý thuyết về nguồn gốc hình dạng của chữ Hangul, nhưng các cuộc thảo luận bị ngừng lại vào năm 18 1940 khi một tài liệu được gọi là hoàng gia Hun-min-Jeong-eum-hae được tìm thấy. Theo nhiều nhà ngôn ngữ học hangul Hàn Quốc và nước ngoài hiểu một cách đơn giản và khoa học, các hệ thống văn bản của thế giới, nhưng do có những ảnh hưởng văn hóa mạnh mẽ của Trung Quốc, nó chỉ đựợc sử dụng rộng rãi trong thế kỷ 20 như là một biểu tượng của dân tộc. Bây giờ nó được coi là sự kiện đáng chú ý nhất trong lịch sử văn hóa của nhân dân Triều Tiên. Han-gul sử dụng bút hoặc bàn chải nét khác nhau để chỉ ra địa điểm và cách thức về cách phát âm trong tiếng Hàn Quốc. Những vị trí phát âm trong tiếng Hàn Quốc là: âm môi, lưỡi, và âm họng. Cách phát âm là: âm bật, mũi, âm xì và âm hút. Hình dạng của Jamo được thiết kế để phản ánh cách lưỡi, vòm miệng, răng, và cổ họng khi nhìn từ Hàn Quốc được phát âm. Hangul đã được nhóm lại thành năm loại theo các âm thanh; các âm thanh mềm nhất trong mỗi năm nhóm đã được lựa chọn; các mô hình miệng trong phát âm những âm thanh mềm nhất đã được đơn giản hóa và năm phụ âm cơ bản đã được thực hiện. Trong số các phụ âm cơ bản /g, kk, kh‟, ư/ là một đơn giản hình thức miệng-velar(âm vòm mềm)-với sự trở lại của lưỡi trên vòm miệng mềm của miệng mở, /d, tt, th‟,s, ss, n, l/alveolar(âm chân/ổ răng)-với mũi của lưỡi chạm vào alveoli trên; /b, ch, tsh, ts/-alveopalatal (âm lợi)-vị trí của răng trong cách phát âm, /h /-glottal(âm họng)- với việc sử dụng âm tắc trong cách phát âm. Các chữ cho các nguyên âm đã được thực hiện từ một góc độ hoàn toàn khác nhau. Đó là theo triết lý phương Đông, ba yếu tố quan trọng nhất của thiên nhiên đã được tượng trưng bằng một đường thẳng đứng (người đàn ông), một đường ngang (đất) và vòng một dấu chấm (trời), tạo cho chúng các số liệu của các nguyên âm cơ bản. 19 Sejong và các nhà phát minh của han-gul chắc chắn đã không thấy trước được những sự thú vị là được chơi trong sự phát triển của ngôn ngữ dân tộc thông qua ngôn ngữ văn học Hàn Quốc và tiếng Hàn Quốc. Mặc dù không tạo ra một phong trào giáo dục theo kiểu từ chối Nho giáo hoặc phủ nhận đạo đức Nho giáo nhưng các nhà phát minh Han-gul đã xây được nền tảng vững chắc cho một thể chế xã hội tốt-Đó là ngôn ngữ tiếng nói và chữ viết cho dân tộc. Văn bản Hàn ngữ mang tính dân tộc mà họ nghĩ ra được coi là một phương tiện đặc biệt hữu ích để đơn giản hóa các điển cố Trung Quốc thông qua các lời bình luận và dịch thuật cho dân thường dễ hiểu. Điểm đặc biệt của các văn bản mới đã được chứng minh ngay sau khi sáng chế: năm 1446, vua đã ra lệnh biên soạn các bài hát của Flying Dragons to Heaven (Yong-bi-o-chon-ga), lâu đời nhất còn tồn tại trong văn học sử dụng Hangul. Sau đó nhiều công trình xuất sắc của văn học Hàn Quốc đã được viết bằng Hangul sự tồn tại của các ký tự Trung Quốc vẫn rất mạnh: chỉ khoảng 5 phần trăm văn học Hàn Quốc đã được viết không theo lối cổ điển Trung Quốc mà theo lối Hàn Quốc (với sự giúp đỡ của hangul). Năm 1897, là năm thứ 26 vua của triều đại Choson (1392-1910), chịu ảnh hưởng của phương Tây và các ý tưởng đầy áp lực của Nhật Bản, tự xưng là Hoàng đế của Hán (một tên cổ xưa cho bộ lạc Hàn Quốc, không nên nhầm với các triều đại Trung Quốc cùng tên), đã tuyên bố bình đẳng với các Hoàng đế Trung Quốc và khẳng định độc lập về chính trị. Một tên mới cho đất nước được đặt ra: Tae-han-che-Guk ('Đế quốc Đại Hán'). Tình trạng chính thức của ngôn ngữ cổ điển Trung Quốc đã được bãi bỏ và ở Hàn Quốc, „Han-gul‟ đã trở thành ngôn ngữ chính thức duy nhất. Từ „Hangul‟ là tên gọi của tiếng Hàn Quốc, do Ju Sigyeong năm đặt ra vào năm 1912. Điều này rất quan trọng dối với Hàn Quốc và Bắc Triều Tiên mặc dù Bắc Triều Tiên gọi „Han-gul‟ là „Gul-Cho-Sun‟ nhưng hai từ này thực chất 20
- Xem thêm -