Tài liệu 10 truyện kinh dị

  • Số trang: 76 |
  • Loại file: DOCX |
  • Lượt xem: 557 |
  • Lượt tải: 2
Itteen

Đã đăng 56 tài liệu

Mô tả:

10 truyện kinh dị
EDGAR ALLAN POE (Mỹ) Edgar Allan Poe (1809 - 1849): Nhà văn Mỹ, sinh ở Boston. Từ nhỏ đã bộc lộ thông minh và tài năng, viết xuất sắc nhiều thể loại: lí luận, phê bình, thơ, truyện. Các tác phẩm chính: Con quạ và những bài thơ khác (thơ, 1849); Ulalium (thơ, 1849); Anaben Li (thơ, 1849); Con mèo đen (truyện ngắn, 1843); Sự suy sụp của gia đình Asơ (truyện ngắn, 1839); Cuộc phiêu lưu có một không hai của Hanx Pơphan (truyện ngắn, 1835); Ơrêca (truyện ngắn, 1848); Vụ giết người ở phố Morgơ (truyện ngắn, 1845); Con quỷ trên gác chuông (truyện ngắn, 1839)... Thơ và truyện của ông có ảnh hưởng nhiều đến văn học châu Âu, được tán thưởng ở ngoài nước nhiều hơn trên đất Mĩ. *** Về câu chuyện thân mật vào loại kì cục nhất mà tôi sắp hạ bút viết đây, tôi không chờ đợi cũng không yêu cầu ai tin cả. Mà có mất trí mới đi chờ đợi như thế, vì chính bản thân những cảm quan của tôi cũng không thừa nhận nó là có thật. Vâng, tôi không điên - và rất chắc chắc là tôi không mơ. Nhưng ngày mai tôi chết và hôm nay hẳn tôi phải trút đi gánh nặng trong tâm hồn tôi. Mục đích gần nhất của tôi là trình bày với mọi người những sự kiện trong gia đình một cách đầy đủ, gọn gàng mà không bình luận gì cả. Do hậu quả của nó, những sự kiện này đã làm tôi hoảng sợ, đã dày vò tôi, đã hủy hoại tôi. Nhưng tôi không có ý định trình bày quá tỉ mỉ. Đối với tôi, nó cũng không có ý khác hơn là cảm giác rùng rợn, nhưng đối với số đông thì họ ít thấy sợ hơn là thấy kỳ quặc. Sau này có thể có vài nhà trí thức nào đó sẽ làm cho những điều huyền ảo của tôi chỉ là chuyện thường, sẽ có một số trí tuệ nào đó bình tĩnh hơn, lôgích hơn và khó bị kích động hơn đầu óc của tôi, sẽ nhìn thấy rõ, trong những trường hợp tôi đã hết sức kinh ngạc kể lại rất tỉ mỉ, không có gì khác hơn là một chuỗi rất thông thường và rất tự nhiên của nhân và quả. Từ thuở nhỏ, tôi đã được chú ý vì tính tình dễ bảo và lòng nhân đạo. Tính tình hiền diệu của tôi trở thành một trò cười của bạn bè. Tôi đặc biệt rất thích loài vật và được cha mẹ nuông chiều cho chơi với rất nhiều loài vật. Tôi đã mất nhiều thì giờ với bọn này, và không gì làm cho tôi sung sướng bằng được cho chúng ăn, được vuốt ve chúng nó. Tính nết riêng biệt này cứ phát triển dần theo đà lớn lên của tôi, và khi đã trưởng thành thì nó trở thành một trong những nguồn vui chính của tôi. Với kẻ đã dành nhiều tình thương mến cho một con chó khôn ngoan, trung thành thì tôi không cần phải tốn công lí giải về tính chất và mức độ tình cảm đã dành cho nó. Trong tinh thần vị tha và tình thương đầy tinh thần hi sinh của con vật, có một cái gì đi thẳng vào lòng nó và thường tạo ra cơ hội để chứng minh tình bạn thấp kém và lòng trung thành rất mong manh của con người. Tôi lấy vợ sớm và rất sung sướng thấy tính tình của vợ tôi không khác gì tôi bao nhiêu. Nhận thấy tôi thiên vị đối với mấy loại thú trong nhà, cô ta không bao giờ để lỡ dịp tìm cho tôi những con vật dễ thương nhất. Chúng tôi có chim, có cá vàng, có một con chó rất xinh, có thỏ, một con khỉ con và một con mèo. Con mèo này là một con vật rất to và đẹp, đen tuyền, và khôn đến mức độ đáng kinh ngạc. Nói về trí thông minh của nó, vợ tôi, thực lòng không hề bị chút nào nhiễm phải óc mê tín, vẫn thường nhắc đến một quan niệm cũ trong dân gian cho rằng tất cả bọn mèo đen đều là phù thủy trá hình. Cô ta không hề coi chuyện đó là chuyện nghiêm túc - nhưng tôi ghi lại tất cả không vì lẽ gì khác hơn là những điều cho đến nay xảy ra đáng cho cô ta phải nhớ. Pluto - tên con mèo - là con vật tôi quý nhất, là người bạn của tôi. Chỉ có tôi cho nó ăn, và trong nhà tôi đi đâu là nó theo đó. Tới nỗi tôi phải rất khó khăn mới ngăn được nó, không cho theo tôi ra đường. Tình bạn của chúng tôi kéo dài theo kiểu đó trong nhiều năm; trong thời gian này tính khí và thái độ của tôi - do rượu chè quá độ - (tôi thật xấu hổ mà thú nhận) đã suy sụp về cơ bản, càng ngày càng xấu đi. Càng ngày tôi càng trở nên cáu kỉnh, bực bội và không nghĩ gì đến tình cảm của người khác. Tôi đã ăn nói thô lỗ với vợ. Dần dần đến mức dùng vũ lực với cô ấy nữa. Mấy con vật của tôi tất nhiên đã cảm thấy sự thay đổi của tôi. Tôi không chỉ bỏ lơ chúng nó, mà còn bạc đãi chúng nữa. Tuy nhiên, đối với Pluto, tôi còn quan tâm đến nó, còn kiềm chế không đến nỗi bạc đãi với nó, trong khi đó thì tôi không do dự gì mà không bạc đãi những con thỏ, con khỉ, hoặc ngay cả đến con chó nữa, khi, bất ngờ, vì tình cảm chúng nó luẩn quẩn trên đường đi của tôi. Nhưng căn bệnh của tôi cứ tăng lên - một thứ bệnh như bệnh nát rượu - rồi cuối cùng, đến cả Pluto nữa, lúc này đã bắt đầu già, và do đó đã có phần cáu kỉnh - cả Pluto nữa cũng bắt đầu chịu đựng sự thay đổi tính khí của tôi. Một buổi tối, khi từ quán nhậu quen thuộc ngoài phố về, say bí tỉ, tôi cho rằng con mèo cố ý tránh mặt tôi. Tôi nắm lấy nó. Trong khi hoảng hốt, sợ tôi đánh nó, nó đã cắn vào tay tôi, gây nên một vết thương nhẹ; trong phút chốc tôi tức điên lên như bị quỷ ám. Tôi không còn biết tôi là ai nữa. Hồn tôi lúc này như bỗng chốc bay ra khỏi xác - một cơn điên loạn độc ác làm rung tất cả các thớ thịt của tôi. Tôi rút trong túi áo ra một con dao con, kéo lưỡi dao ra, tôi nắm chặt lấy cổ con vật, tôi thư thái khoét một trong hai con mắt của nó! Thật tôi xấu hổ đến run lên khi viết lại cái hành động tàn ác khủng khiếp này. Sáng hôm sau, khi bình tĩnh lại - đã ngủ được đầy đủ sau một đêm trụy lạc - tôi cảm thấy nửa như ghê tởm, nửa như hối hận về tội ác mà tôi đã gây ra. Nhưng đó chỉ là một thứ tình cảm mơ hồ, yếu ớt, còn tâm hồn tôi vẫn hoàn toàn yên ổn, không hề bị chạm tới. Tôi lại lao vào nhậu nhẹt, và dìm sâu vào trong rượu tất cả mọi kí ức về hành động của tôi. Trong thời gian đó, con mèo dần dần phục hồi. Hốc con mắt bị mất trông bề ngoài dễ sợ thật, nhưng nó không còn phải chịu đựng bất cứ một nỗi đau đớn nào nữa. Nó lại đi loanh quanh trong nhà như cũ, nhưng, như ta có thể thấy trước, nó rất khiếp sợ khi thấy tôi đến gần. Trong lòng tôi hãy còn lại chút tình cảm cũ và ban đầu tôi thấy tội nghiệp cho cái phần rõ rệt là không có gì đáng yêu của một sinh vật có lần tôi đã thương yêu đến thế. Nhưng tình cảm này chẳng mấy chốc đã nhường chỗ cho sự phẫn nộ. Và tinh thần ngoan cố trong cái xấu đã đến với tôi như một sự suy sụp cuối cùng và dứt khoát. Triết học cũng chả làm gì được với tinh thần này. Thế là tôi không tin rằng, linh hồn tôi đáng sống, bằng tin rằng sự ngoan cố trong cái xấu là một trong những động lực ban sơ của lòng người - một trong những năng khiếu, hay tình cảm ban sơ và nguyên vẹn, không chia cắt được đã vạch ra phương hướng cho tính cách con người. Ai đã không hàng trăm lần, tự thấy mình phạm phải một hành động xấu xa hoặc ngu xuẩn mà không phải do một lí do nào khác hơn là bởi vì anh ta biết rằng anh ta không nên làm ? Có phải chúng có khuynh hướng lâu dài muốn vi phạm cái gọi là luật pháp, kể cả khi ta có nhận xét đúng nhất, chỉ vì chúng ta hiểu rằng nó phải như vậy đó không? Tinh thần ngoan cố trong cái xấu, như tôi nói đến với sự suy sụp cuối cùng của tôi. Đó là sự theo dõi chờ đợi một tâm hồn sâu không đáy tự gây phiền phức cho mình - dùng bạo lực cưỡng chế bản tính tự nhiên của nó - làm điều sai chỉ vì cả cái sai - đã thúc đẩy tôi phải tiếp tục và cuối cùng phải làm nốt việc gây thương tích cho con vật ngây thơ, vô tội. Một buổi sáng, tôi thản nhiên đưa một cái thòng lòng vào cổ nó, rồi treo lên cành cây; treo nó lên mà mắt tôi ướt đầm nước mắt, mà lòng xót xa ân hận vô cùng - treo nó bởi vì tôi biết nó thương tôi, và bởi vì tôi cảm thấy nó không làm gì cho tôi phải tức giận cả, treo nó bởi vì tôi biết làm thế là tôi đang phạm một tội ác - một tội ác nghiêm trọng đến nỗi nguy hại đến linh hồn bất diệt của tôi - nếu có thể có chuyện đó - và đưa nó ở xa tầm ơn đức vô biên của Đức Chúa Đại Nhân, Đại Trí, nhưng cũng đáng sợ vô cùng. Trong đêm của cái ngày xảy ra những hành động tàn khốc đó, tiếng kêu cháy nhà làm tôi giật mình thức dậy. Cái màn trên giường tôi bốc cháy. Toàn bộ ngôi nhà bị bắt lửa. Vợ tôi, người ăn kẻ ở trong nhà, và bản thân tôi nữa, đã rất khó khăn mới thoát ra khỏi đám cháy. Tất cả đều bị thiêu hủy hoàn toàn. Toàn bộ của cải tôi cháy rụi cả, và tôi cảm thấy cùng đường, tuyệt vọng. Tôi không còn đủ sức để suy nghĩ, tìm kiếm mối liên quan giữa nguyên nhân và kết quả, giữa tai họa và hành động tàn ác. Nhưng tôi phân tích kĩ cả một dây chuyền sự việc và cố cho không bỏ sót một khâu nào cả. Qua ngày hôm sau đám cháy, tôi đến xem lại hiện trường. Các bức tường - trừ một bức - đều sụp đổ hết. Bức tường này là của một gian phòng, không dày lắm, đứng vào khoảng giữa ngôi nhà và là chỗ dựa sát vào đầu giường của tôi. Vôi vữa ở đây đã có sức chống lửa rất lớn - một sự kiện tôi cho là do bức tường mới xây mà có. Một đám đông dày đặc tập hợp gần bức tường rất chăm chú và rất tỉ mỉ. Những tiếng “lạ thật”, “kì thật” và nhiều tiếng khác tương tự như vậy đã kích thích tính tò mò của tôi. Tôi lại gần, và nhìn thấy như chạm nổi trên nền trắng, bộ mặt một con mèo rất lớn. Nét in lên rõ và chính xác lạ lùng. Có cả sợi dây thừng quanh cổ con vật nữa. Khi lần đầu tiên tôi nhìn thấy sự hiện hình này vì tôi chẳng mấy khi nhìn thấy thế - thì sự kinh ngạc và khiếp sợ của tôi đã tới mức cùng cực. Nhưng dần dần về sau, sự suy nghĩ đã đến hỗ trợ tôi. Tôi nhớ con mèo bị treo cổ trong khu vườn sát bên nhà. Khi nghe tiếng kêu cháy nhà, thì lập tức khu vườn đông nghịt những người từ đâu kéo đến. Một trong những người này đã cắt dây treo cổ con vật khỏi cây và ném qua cửa sổ mở vào phòng tôi. Việc này chắc là chỉ cốt nhằm đánh thức tôi dậy. Những bức tường khác đổ xuống đã dè lên nạn nhân của tội ác của tôi; áp vào trong chất vôi vữa vừa mới tô lên. Những chất đó cùng với lửa và chất amoniac từ xác con vật đã tạo ra bức chân dung con vật mà tôi đã nhìn thấy đó. Mặc dầu tôi sẵn sàng dựa vào những lí lẽ của tôi, nếu không phải cả với lương tri của tôi nữa, bởi sự việc kì quặc mà tôi vừa mới kể lại rất tỉ mỉ, nó đã để lại một ấn tượng rất sâu trong óc tưởng tượng của tôi. Hằng mấy tháng trời tôi không sao thoát ra một cảm giác trở lại trong tâm trí tôi nó nửa như hối hận, nhưng không phải thế. Tôi thương tiếc con vật đã mất, và cố tìm chung quanh, trong những quán rượu xấu xa nhất mà tôi thường lui tới, để kiếm một con vật vào loại như thế, hoặc bề ngoài giống như thế để thay vào chỗ của nó. Một đêm, tôi đang ngồi trong một căn nhà lụp xụp, tồi tệ, đang thừ người ra, thì bỗng tôi chú ý đến một vật gì đen đen nằm trên nắp những thùng rượu Gin hay Rin gì đó, là những đồ vật chính ở trong nhà. Tôi nhìn kĩ mấy cái nắp thùng trong vài phút, và điều làm tôi ngạc nhiên là sao tôi lại không nhận ra ngay cái vật trên nắp thùng này. Tôi bước lại gần và lấy tay sờ vào xem. Đó là một con mèo đen - một con mèo rất to - to bằng con Pluto, và giống hệt như nó, nhưng con mèo này có một chòm lông trắng khá rộng, mặc dầu không rõ rệt lắm, phủ kín một vùng gần chỗ ngực nó. Khi tôi đụng vào nó, lập tức nó đứng lên, gào to lên, cọ mình vào tay tôi và có vẻ sung sướng thấy tôi chú ý đến. Đây đúng là con vật tôi đang tìm. Tôi liền xin ông chủ nhà cho tôi mua lại; nhưng ông ta không nói gì đến nó, không biết tí gì về nó, và trước đây cũng chưa bao giờ nhìn thấy nó. Tôi tiếp tục vuốt ve nó, và khi tôi chuẩn bị ra về, thì con vật tỏ ý muốn đi theo tôi. Tôi cho nó theo, và trên đường đi thỉnh thoảng tôi cúi xuống vuốt ve nó. Khi tôi về đến nhà, nó lập tức làm quen được ngay, và lập tức thành người bạn thân thiết của vợ tôi. Về phần tôi, chẳng mấy chốc tôi cảm thấy khó chịu đối với nó. Điều đó rõ ràng là trái ngược với điều tôi đã dự tính, nhưng - tôi không rõ thế nào và vì sao lại như vậy - vẻ yêu mến, thích thú của nó đối với tôi càng làm tôi thêm ghê tởm và chán ghét nó. Rồi dần dần những cảm giác chán ghét và ghê tởm này cứ tăng lên mãi thành một thứ căm thù dữ dội. Tôi tránh con vật, một cảm giác xấu hổ nào đó, và khi nhớ lại hành động tàn ác của tôi trước đây, tôi tránh không đụng tới cơ thể của nó. Hàng mấy tuần liền, tôi không đánh đập gì nó, hoặc dùng một thứ bạo lực nào khác đối với nó, nhưng dần dần - dần dần, rất chậm - tôi đã nhìn nó như một con vật rất ghê tởm, và âm thầm lẩn tránh, không nhìn bộ mặt xấu xa của nó, như lẩn tránh bệnh dịch vậy. Cái cộng thêm vào lòng căm thù của tôi đối với con vật, chắc là sự phát hiện ra, vào một buổi sáng sau khi đem nó về nhà, rằng nó giống con Pluto, nó cũng bị khoét mất đi một con mắt. Tuy nhiên trường hợp này lại làm cho vợ tôi thân với nó, như tôi đã nói, cô ta vốn đã sẵn có mối tình nhân đạo này đến cao độ, cũng như trước đây có lần nó đã là một đặc tính của tôi, và đã là nguồn gốc của nhiều trong những thú vui giản dị nhất và trong sáng nhất của tôi. Tuy vậy, dù bị tôi thù ghét, con mèo như cứ càng thêm thiên vị đối với tôi hơn. Nó cứ bám sát theo chân tôi đến mức khó có thể làm cho người đọc tin được. Bất cứ lúc nào, tôi ngồi, thì nó nằm tròn dưới ghế hoặc nhảy lên đầu gối tôi, giụi mình vào tôi. Nếu tôi đứng lên định đi thì nó sẽ chui vào giữa hai chân tôi và làm tôi suýt ngã, hoặc dùng móng nhọn và dài cào cấu vào áo tôi, và cứ như thế, trèo lên ngực tôi. Vào những lúc đó, mặc dầu tôi rất muốn cho nó một cú chí tử, tôi đã tự kiềm chế được, một phần vì nhớ tới tội ác của tôi trước kia, nhưng phần chính xác - xin cho tôi thú thật ngay bây giờ - vì quá khiếp sợ con vật. Sự khiếp sợ này đúng ra không phải khiếp sợ đối với một tội ác vật chất - nhưng tôi cũng không thể xác định cho rõ nó là cái gì. Tôi như tự thẹn với mình - vâng, ngay trong căn lều tội ác này tôi hầu như tự thẹn với mình - vì nỗi sợ hãi và ghê tởm mà con mèo đã gây ra cho tôi cứ được tăng lên mãi do một thứ huyễn tưởng mà ta có thể nhận ra được. Vợ tôi hơn một lần đã nhắc tôi chú ý đến tính chất của chùm lông trắng, mà vợ tôi đã có nói đến, và đó là chỗ khác nhau duy nhất giữa con vật lạ lùng này với con mà tôi đã giết. Bạn đọc chắc còn nhớ dấu hiệu này, dù là khá rộng, về cơ bản mà nói vẫn không rõ. Nhưng, dần dần - dần dần đến gần như không nhận thấy được và trong thời gian quá lâu lí trí của tôi cố tranh đấu để vứt bỏ đi coi như một thứ huyễn hoặc - về sau, dần dần nó cứ rõ dần ra. Và giờ đây nó là biểu hiện của một vật chỉ nói đến tên tôi cũng đã rùng mình rồi - và trên hết, đối với nó là tôi lẩn tránh, tôi khiếp sợ, và tôi muốn xua đuổi cái con quỷ dữ đó, tôi dám nói như vậy - giờ đây nó là hình ảnh của cái xấu xí, ghê tởm - của một vật khủng khiếp - của cái Giá treo cổ - một công cụ giết người rất dễ sợ của Tội ác của sự Rùng rợn - của Sầu não và của Chết chóc. Giờ đây, tôi quả thật là quá khốn khổ, hơn tất cả mọi thứ khốn khổ của Nhân loại - và một con vật đốn mạt - mà bạn của nó tôi đã giết chết một cách thản nhiên - con vật đốn mạt đời tôi phải trả nợ - vâng tôi, một con người được nặn ra theo hình ảnh của Đức Chúa Trời Cao Cả vốn quá nhiều nỗi khổ đau không sao chịu nổi! Chao ôi! Đêm cũng như ngày, không một lúc nào tôi còn được hưởng cái ân huệ của phút nghỉ ngơi, yên ổn nữa. Thời gian với con trước, nó không để cho được phút nào riêng một mình, còn đối với con sau, tôi từng giờ sa vào những giấc mơ khủng khiếp, sợ gặp phải hơi thở của con vật đó phả lên mặt tôi, và sức nặng ghê gớm của nó - nhập vào trong cơn ác mộng mà tôi không đủ sức lay chuyển nổi - mãi mãi đè nặng lên tim tôi. Dưới sức ép của những dằn vặt như thế này, cái phần thiện quá yếu ớt còn lại trong tôi đã sụp đổ. Những ý nghĩ tội lỗi trở nên những ý nghĩ duy nhất gần gũi, thân thiết với tôi - những ý nghĩ đen tối nhất và tội lỗi nhất. Tình trạng sầu não trong tính khí quen thuộc của tôi đã tăng lên khiến tôi căm thù mọi vật, căm thù cả loài người nữa. Trong khi tôi mù quáng buông thả mình vào cơn giận dữ dội đột ngột bùng ra thường xuyên, không điều khiển nổi thì bà vợ nhẫn nhục của tôi là người thường xuyên và kiên trì chịu đựng hơn cả. Một hôm, cô ta đi theo tôi vì một vài việc nhà, chúng tôi đi vào trong hầm rượu của một ngôi nhà cổ mà cảnh nghèo túng đã buộc chúng tôi phải ở. Con mèo theo tôi xuống bậc cầu thang, và làm tôi suýt nữa nhào đầu xuống, tôi giận như muốn điên lên. Tôi xách cái rìu lên, và trong cơn giận dữ tôi đã quên mất nỗi sợ hãi thơ ngây đã từng giữ tay tôi lại cho tới lúc này - tôi bổ một nhát xuống người con vật, và tất nhiên nếu nó rơi đúng như ý muốn của tôi thì chỉ trong phút chốc con vật đã toi mạng rồi. Nhưng bà vợ tôi đã kịp chặn tay tôi lại. Tôi lúc này càng giận hơn vì sự can thiệp này, và như một người bị quỷ ám, không còn biết gì nữa, tôi giật lấy chiếc rìu ra khỏi bàn tay cô ta và bổ luôn một nhát vào sọ cô ta. Cô ngã xuống chết ngay tại chỗ, không một tiếng rên. Hành động giết người bẩn thỉu này làm xong, tôi quyết định phải lo ngay việc cất giấu tử thi. Tôi biết không thể chuyển tử thi ra khỏi nhà, dù ngày hay đêm cũng vậy, mà có thể tránh được con mắt của hàng xóm. Nhiều phương án đã đến trong đầu tôi. Có một lúc tôi nghĩ đến việc chặt tử thi ra làm nhiều mảnh rồi thiêu hủy luôn. Lúc khác tôi lại tính đào một cái huyệt dưới nền hầm rượu và chôn vào đó. Lại cũng tính đến chuyện vứt xuống giếng ở ngoài sân - hoặc xếp vào trong một cái thùng, làm như là hàng hóa, xếp đặt bình thường rồi thuê người đem ra khỏi nhà. Cuối cùng tôi nghĩ ra một kế mà tôi cho là hơn cả mấy phương án kia. Tôi quyết định xây một bức tường chặn nó lại trong nhà hầm, như những tu sĩ thời Trung Cổ từng chắn nạn nhân của họ. Để thực hiện cho được ý đồ này, hầm rượu cần được sửa chữa tốt hơn. Những bức tường hầm trước đây xây dựng rất sơ sài, và phần vôi vữa mới trát gần đây không được tốt lắm, và độ ẩm trong không khí làm cho không cứng lại được hơn nữa, ở một trong mấy tường có một chỗ lồi ra, có lẽ do một ống khói giả, hay chỗ nhà hầm. Tôi tin chắc rằng tôi có thể lấy gạch ở chỗ này ra, nhét thi hài vào đó, rồi xây tường lại hoàn toàn như cũ và như thế thì không ai tìm ra vật cất giấu trong đó được cả. Tôi rất tin chắc vào cách tính toán này. Với một cái xà beng, tôi dễ dàng nạy những viên gạch ra, rồi cẩn thận đặt cái xác dựa vào bức tường phía trong, tôi đặt nó trong thế đứng trong khi chỉ hơi mệt một tí thôi tôi đã xây lại tất cả y như cũ. Tôi tìm cát, vôi hồ và tóc, và hết sức cẩn thận nhào trộn chế biến thành một thứ vữa giống hệt như loại vữa cũ, và với chất liệu đó tôi xây lại tường mới. Khi đã xong, tôi thấy bằng lòng vì tất cả đều rất tốt. Nhìn từ bên ngoài, không ai có thể biết bức tường đã bị xáo trộn chút nào cả. Rác rưởi trên sàn được dọn dẹp rất chu đáo. Tôi nhìn lại chung quanh có vẻ đắc thắng, và tự chủ mình: “Ít ra là ở đây, công lao động của mình không phải là vô ích”. Bước tiếp theo của tôi là đi tìm con vật đã gây cho tôi bao nhiêu chuyện khốn khổ này; bởi, cuối cùng tôi đã quyết định là phải giết nó. Giá tìm gặp nó vào lúc này, thì chắc chắn số phận của nó đã rõ, không còn gì phải nghi ngờ nữa. Nhưng hình như con vật tinh ranh này đã hoảng hốt khi nhìn thấy hành động dữ tợn trong cơn giận của tôi lần trước nên tìm đường tránh không chường mặt ra trong lúc tôi đang trong cơn giận lần này. Không thể nào mô tả hoặc tưởng tượng được cảm giác sung sướng, nhẹ nhõm sâu sắc nhất ở trong lồng ngực tôi khi thấy vắng mặt con vật đáng ghét này. Suốt cả đêm, nó cũng không xuất hiện. Và như thế, từ khi con vật nào vào trong nhà này, ít ra là được một đêm tôi có thể ngủ yên; vâng ngủ yên mặc dầu tội ác giết người vẫn đè nặng lên tâm hồn tôi. Ngày thứ hai, rồi ngày thứ ba trôi qua, con vật quấy rối tôi vẫn không đến. Lại một lần nữa tôi thở phào như một kẻ tự do. Con quái vật, trong cơn sợ hãi, chắc đã bỏ đi luôn rồi! Tôi sẽ không còn nhìn thấy nó nữa! Hạnh phúc của tôi thật là tuyệt vời! Tội lỗi về hành động đen tối kia cũng dằn vặt tôi chút ít. Một số ít câu hỏi được đặt ra, nhưng tôi đều sẵn sàng trả lời được cả. Có cả một cuộc thẩm tra, khám xét nữa - nhưng tất nhiên là không tìm ra được gì cả. Tôi cho rằng, sắp tới đây, hạnh phúc của tôi đã được bảo đảm chắc chắn rồi. Đến ngày thứ tư của vụ giết người, một đội cảnh sát rất bất ngờ kéo đến, vào trong nhà lùng sục, tìm kiếm một lần nữa rất kĩ. Tuy nhiên, tin chắc vào chỗ giấu không thể nào lộ ra được của tôi, tôi không cảm thấy bối rối chút nào cả. Không một xó nào, không một góc nào họ không tìm đến. Cuối cùng, đến lần thứ ba, hay lần thứ tư, họ xuống hầm rượu. Các thớ thịt của tôi vẫn bình thường, không rung động. Tim tôi vẫn đập bình tĩnh như tim của một người vô tội. Tôi đi lại trong hầm rượu từ đầu này tới đầu kia. Tôi khoanh tay lên ngực đi qua đi lại thoải mái, nhẹ nhàng. Cảnh sát xem chừng đã thỏa mãn và sắp sửa ra về. Niềm vui dậy lên trong tim tôi mạnh đến nỗi tôi không cầm lại được; tôi nóng lòng muốn nói lên dù chỉ một lần thôi, nhân dịp đắc thắng này, để làm cho họ tin thêm gấp đôi rằng tôi hoàn toàn vô tội. Cuối cùng, khi đội cảnh sát bước lên cầu thang: - Thưa quý ông, tôi rất sung sướng làm bớt đi sự nghi ngờ của các ông. Tôi rất mong các ông tất cả đều khỏe và lịch sự hơn một chút. Thôi xin chào các ông, và xin nói đây - đây là một ngôi nhà hết sức kiên cố (trong khi điên cuồng muốn được thoải mái một điều gì, tôi hầu như không biết tôi đang nói gì đây), tôi có thể nói ngôi nhà đã được xây dựng rất kiên cố, đến mức tuyệt vời. Những bức tường này - các ngài còn nhìn thấy không? - Những bức tường này đã được kết lại với nhau rất chắc chắn. Và nói đến đây, muốn tỏ ra dũng cảm tôi lấy một cây gậy gõ mạnh lên đúng vào chỗ bức tường gạch sau đó tôi đã dựng xác của người vợ yêu quý của tôi. Nhưng mong chúa che chở và cứu tôi thoát khỏi nanh vuốt của Ác Quỷ! Dư vang tiếng gõ của tôi chưa kịp chấm dứt, tôi đã nghe có tiếng đáp lại từ trong mộ vang ra - một tiếng kêu ban đầu như nghẹn ngào, rời rạc như tiếng khóc sụt sùi của trẻ con, nhưng rất nhanh chóng chuyển thành tiếng kêu dài, to lên và liên tục, một tiếng kêu rất lạ, không phải là tiếng người - một tiếng gào - một tiếng kêu nửa như hoảng hốt, nửa như đắc thắng, nghe như đâu từ địa ngục vang lên, đồng thời từ cổ họng của những linh hồn bị trừng phạt trong cơn sầu não, đau thương, và của những con quỷ cảm thấy hào hứng trong sự trừng phạt đó. Thật không biết nói thế nào đây về tình trạng tư tưởng của bản thân tôi. Tôi, tôi như bị mất trí, loạng choạng đi về phía bức tường đối diện. Đội cảnh sát đang ở trên cầu thang bỗng đứng sững bất động trong một chốc, phần vì quá khiếp sợ, phần vì quá kinh ngạc. Sau đó có mười hai cánh tay khó nhọc loay hoay chỗ bức tường. Cả bức tường đổ xuống ngay lập tức. Cái thi hài đã thối rữa hết, đang đứng sừng sững trước mặt mọi người. Trên đầu xác chết, con vật ghê tởm đang ngồi đó, với cái mồm mở rộng đỏ ngầu và con mắt cô độc như ngọn lửa, con vật mà thói tinh ranh của nó đã xúi tôi đi vào tội giết người và tiếng gọi báo tin của nó đã khép tôi thành người bị treo cổ. Tôi đã xây tường lấp kín con quỷ đó vào trong mồ. ĐÀO XUÂN QUÝ dịch từ tiếng Pháp. H.P.LOVECRAFT (Mĩ). Howard Phillips Lovecraft, (1890 - 1937) là nhà văn Mĩ chuyên viết thể loại chuyện kinh dị theo truyền thống của Edgar Poe. Lovecraft sống ẩn dật phần lớn cuộc đời mình ở Providence, Rhode Island (Mĩ). Tác phẩm của ông được in lần đầu tiên (1919) trên tờ “Little Magazines” nhưng từ năm 1923 đến khi ông qua đời, truyện của Lovecraft thường đăng tải trên tờ “Weird Tales” (truyện kinh dị). Chỉ có một cuốn “The shadow over Innsmouth” (1936) (Cái bóng trên xứ Innsmouth) được in khi ông còn sống. Đáng chú ý là các tác phẩm như “The colour out of space” (Màu ngoài vũ trụ); “The dreams of unknown Kadath” (Những giấc mơ của chàng Kadath vô danh) và “The case of Charles dexter ward” (Một sự cố xảy ra với Charles - Gã thanh tra thuận tay phải). Đầm Lầy Trắng Tôi không biết giờ đây Dennis Barry đang ở đâu, ở cái nơi xa thẳm khôn cùng và ảm đạm nào? Vào cái đêm khi chàng còn sống với mọi người lần cuối cùng, tôi cách chỗ chàng không xa và nghe thấy tiếng người ta đến bắt chàng đi, cùng những tiếng kêu xé lòng xé ruột của chàng. Nông dân và cảnh sát hạt Meath không tìm thấy cả Barry lẫn những người khác, mặc dầu họ đã kiên nhẫn sục sạo mọi nơi, mọi chốn. Còn tôi, sau tất cả những chuyện đã xảy ra, cứ mỗi khi nghe tiếng động ộp oạp của lũ ếch nhái đầm lầy vang tới hoặc bỗng nhiên tôi lạc tới một vùng đầy ánh trăng ở một chốn đồng mông quạnh nào là bất giác tôi lại thấy khắp người nổi gai ốc vì sợ hãi. Quen thân với Dennis Barry từ khi còn ở đất Mĩ, nơi chàng đã phất lên giàu có, nên tôi rất vui khi biết chàng đã chuộc lại tòa tòa lâu đài của dòng tộc mình tại vùng đầm lầy hoang vắng Kilderry. Chính đó là nơi chôn rau cắt rốn của chàng, và chàng những muốn được tận hưởng những thành quả giầu có của mình giữa những bức tường thân thuộc của cha ông. Thuở xưa, tổ tiên chàng sở hữu xứ Kilderry, tại đây họ đã xây cất một tòa lâu đài và sống hạnh phúc trong tòa lâu đài ấy, nhưng nay tất thảy điều đó đã trở thành quá khứ xa xăm. Đã bao năm tháng trôi qua kể từ khi tòa lâu đài trở nên hoang phế hoàn toàn. Sau khi trở về Ireland, Barry thường gửi thư cho tôi và kể chuyện việc quần thể kiến trúc cổ kính đó được tái sinh dần dần, hết ngọn tháp này đến ngọn tháp khác. Và sau bao thế kỉ những bức tường lâu đài lại được trang trí lại đẹp đẽ như xưa, còn nông dân thì không ngớt lời ca ngợi và tỏ lòng biết ơn chàng đã bỏ vốn đầu tư cho sự thịnh vượng của chốn quê hương. Nhưng sau đó mọi việc đã thay đổi, đám nông phu thôi không ca ngợi ông bạn tôi nữa, mà trái lại, họ bắt đầu tìm cách tránh xa chàng như tránh xa kẻ mang bệnh dịch hạch. Chính lúc đó Dennis đã viết thư cho tôi, yêu cầu tôi tới thăm vì chàng rất cô đơn trong tòa lâu đài, thậm chí chẳng có ai để mà nói chuyện nữa, ngoại trừ những người giúp việc và đám gia nhân chàng thuê từ miền bắc xuống. Khi tôi đến nơi, Barry kể cho tôi hay rằng nguyên do mọi chuyện là ở những đầm lầy bên cạnh. Tôi đến Kilderry lúc hoàng hôn, ánh mặt trời lúc chiều tà vẫn thếp vàng lên các ngọn đồi xanh và những cánh rừng, cũng như lên màu lục của khu đầm lầy. Nó chiếu sáng cả những phế tích cổ kính kì lạ trên hòn đảo nhỏ xa xa. Cảnh hoàng hôn thật đẹp, song nông dân ở Ballylow đã kịp phần nào khiến tôi lưu ý đến niềm tin của họ, khi họ quả quyết rằng Kilderry thật đáng nguyền rủa, và tôi dè dặt liếc nhìn những ngọn tháp nhỏ của tòa lâu đài đang ánh lên vàng rực dưới ánh nắng chiều. Tôi rời Ballylow bằng chiếc ô tô do người ta sai đến đón, vì Kilderry nằm cách đường xe lửa khá xa. Những người nông dân cố tránh xa chiếc ô tô và người tài xế quê miền bắc, nhưng khi thấy tôi chuẩn bị đi tới Kilderry, họ vẫn không kìm được vào báo trước cho tôi phải đề phòng nguy hiểm. Buổi tối, tôi đã có mặt trong tòa lâu đài, Barry đã kể tôi nghe mọi chuyện. Nông dân lũ lượt rời bỏ Kilderry chỉ vì Dennis Barry quyết định cho hút cạn cái đầm lầy lớn. Mặc dù tình yêu quyến luyến với xứ sở Ireland quê hương thật sâu đậm nhưng những lề thói quen thực dụng Mĩ đã ăn sâu bám rễ trong con người Barry, bởi thế chàng không chịu được với ý nghĩ để cho mảnh đất màu mỡ kia bỏ phí dưới làn nước đầm lầy, bởi đó chính là đầm than bùn và đất dưới nó còn có thể được sử dụng một cách khôn ngoan để sinh lợi nữa chứ. Chàng bỏ ngoài tai tất cả những câu chuyện truyền thuyết và những lời đồn đại mê tín gắn với khu đầm lầy. Chàng chỉ thấy tức cười khi lúc đầu, nông dân chối từ tham gia công việc, rồi sau đó khi thấy sự bướng bỉnh của chàng, họ bắt đầu nguyền rủa ông chủ của mình và bỏ đi tới Ballylow, chỉ mang theo những thứ thiết yếu nhất. Thấy vậy Barry bèn tuyển những người thợ từ miền bắc về, và khi cả đầy tớ gia nhân cũng bỏ tòa lâu đài ra đi, thì chàng lại phải thuê những người mới. Giờ đây xung quanh chàng toàn những kẻ xa lạ, bởi thế chàng thấy cô đơn và đã mời tôi về sống với chàng. Sau khi nghe kể chi tiết chuyện dân cư ở Kilderry sợ hãi điều gì, tôi cũng cả cười cùng ông bạn mình: hóa ra những mối e sợ của họ liên quan tới điều mê tín về vùng đầm lầy và kẻ canh giữ cau có nơi đây mà linh hồn của nó dường như sống ở chính trong đám phế tích cổ kính nhất mà tôi đã nom thấy lúc hoàng hôn là những mối lo sợ vớ vẩn. Người ta cũng truyền tụng những lời đồn đại về những tia lửa ma trơi nhảy múa trong bóng tối, về những cơn gió lạnh như băng giá vào lúc đêm hè nóng nực, về những bóng ma bận xiêm y trắng lửng lơ trên mặt nước và về những thành phố đá được che giấu dưới lớp bèo xanh của đầm lầy. Đám nông dân tin chắc rằng sự trả thù đang rình rập chờ đợi kẻ nào dám phá vỡ sự yên tĩnh của vùng này, hay toan tính hút khô cạn khu đầm lầy mênh mông. Những nông dân nơi đây còn nói chớ nên động đến một số điều huyền bí ở đây. Những điều huyền bí ấy tồn tại từ thời xa xưa khi một đại họa đã ập lên đầu con cháu của vua Partholan. Trong cuốn “Chinh phục tùng thư” có kể rằng những con dân xứ Hi Lạp đã chết ở Thollat, song các cụ già ở Kilderry lại khẳng định rằng dù sao một đô thị cuối cùng đã được cứu thoát bởi bị thần phù trì cho nó, là nữ thần Mặt Trăng. Thần đã che giấu đô thị ấy trong cánh rừng rậm trên các ngọn đồi và bởi thế đã giúp tránh thoát được quân xâm lược Nemed từ xứ sở Skif([1]) đến đây trên ba chục chiến thuyền. Chính những truyền thuyết ấy đã buộc những người nông dân rời bỏ Kilderry! Đến giờ thì tôi chẳng còn ngạc nhiên gì nữa cái ý định của Dennis Barry không đếm xỉa đến những lời đồn nhảm nhí ấy. Vả lại, chính chàng cũng có mối quan tâm sâu sắc tới thời xa xưa và chàng dự định nghiên cứu kĩ lưỡng cẩn thận vùng này sau khi tát khô đầm lầy. Chàng thường lui tới thăm khu phế tích trên đảo: tuổi của nó rõ ràng rất xưa rồi. Di tích hoang phế ấy có lối kiến trúc khác hẳn các công trình cổ xưa khác, nhưng vì cái vẻ ngoài tàn tạ kinh khủng của nó hiện giờ, nên khó có thể hiểu được khu hoang tàn ấy đã từng là như thế nào vào thời hoàng kim của nó. Mọi công việc bơm hút khô phải bắt đầu chuẩn bị rồi, những công nhân quê miền bắc sắp sửa dọn sạch khu đầm lầy bí ẩn khỏi rêu và bèo mầu đỏ nhạt, phá bỏ những con suối nhỏ đầy vỏ ốc, vỏ hến và làm mất đi vĩnh viễn cái mặt nước mầu xanh da trời mọc đầy lau sậy. Sau tất thảy những biến động trong ngày tôi đã thấy mệt và muốn đi ngủ. Đêm khuya và tôi thấy khó khăn phải nghe Barry kể nốt câu chuyện của mình. Một gia nhân dẫn tôi đến căn phòng dành riêng cho tôi ở một trong những ngọn tháp nhỏ. Qua khung cửa sổ nhìn thấy khu làng, cánh rừng thưa bên đầm lầy và xa hơn chút nữa là đầm lầy. Dưới ánh trăng tôi nom thấy những căn nhà chìm sâu trong giấc ngủ, nơi đang cư ngụ những người công nhân làm thuê từ miền bắc đến thế chỗ cho đám dân địa phương, tôi cũng thấy ngôi nhà thờ nhỏ xíu với cái nóc nhọn cổ kính, và phía xa sau cánh đầm than bùn ngái ngủ thấp thoáng khu phế tích trên hòn đảo nhỏ. Khi đang chìm vào giấc ngủ tôi bỗng nghe thấy - hay là tôi mường tượng thấy chăng? - tiếng tiêu nhè nhẹ yếu ớt vọng từ nơi xa, thanh âm ấy là một giai điệu hoang sơ, nguyên thủy nào đó. Điệu nhạc ấy khiến tôi lo lắng một cách lạ lùng khi nó đi vào những giấc mơ của tôi. Song buổi sáng khi tỉnh giấc, tôi hiểu tiếng nhạc đó là do mộng mị sinh ra, những giấc mộng thật lạ kì mà nếu so sánh với chúng thì ngay những âm thanh bí ẩn của tiếng tiêu cũng trở nên mờ nhạt hẳn đi. Có lẽ do ảnh hưởng từ những truyền thuyết do Barry kể mà tôi mơ thấy linh hồn mình lơ lửng trên cái đô thị hùng vĩ chìm trong đủ mọi loại cây xanh, nơi đây là những con đường lát đát cẩm thạch, những tòa biệt thự cùng những ngôi đền, những pho tượng, những họa tiết điêu khắc cùng những bài văn bia - tất cả đều nói lên sự vĩ đại xa xưa của xứ Hi Lạp. Tôi đã cùng Barry cười ngất trước giấc mơ đó, nhưng tiếng cười của tôi nghe to hơn vì lúc đó ông bạn tôi còn đang lo lắng trước thái độ của đám công nhân miền bắc. Đã sáu ngày liên tiếp họ ngủ dậy rất muộn, họ đi lại uể oải như đang ngái ngủ, và cả hôm nay nữa họ nom như hoàn toàn chưa được nghỉ ngơi, mặc dù đêm trước họ đều đi nằm sớm. Suốt cả buổi sáng tôi đi dạo trong ngôi làng tràn ngập ánh nắng mặt trời và nói chuyện với những người công nhân. Họ chẳng có công việc gì đặc biệt lắm để làm vì Barry đã hoàn tất mọi công tác chuẩn bị cuối cùng trước khi bắt đầu khởi sự, nhưng thâm tâm tất cả mọi người đều thấy hồi hộp, xao xuyến vì những giấc mơ bất an, khó hiểu mà họ đã thấy khi sáng sớm. Tôi cũng kể cho họ nghe về giấc mơ lúc đêm của mình, song họ tỏ ra hờ hững khi nghe tôi kể. Chỉ mãi đến khi tôi nhắc tới tiếng nhạc ma quái kì lạ thì họ mới trở nên chăm chú: chính họ cũng nhớ là đã nghe thấy điệu nhạc gì tương tự. Buổi sáng, sau bữa ăn chiều, Barry tuyên bố rằng mọi công việc sẽ bắt đầu sau hai ngày nữa. Tôi vui mừng khi nghe lời thông báo đó, mặc dù trong thâm tâm thấy tiếc nuối tất cả mọi thứ rêu và thạch thảo, mọi con suối và những cái hồ đầm nơi đây. Nhưng cũng rất muốn được thâm nhập vào những bí mật ấp ủ hàng bao thế kỉ nay có thể được chất chứa trong lòng cái đầm lầy than bùn kia. Đêm đó, tôi lại mơ thấy tiếng tiêu réo rắt và thành phố đá cẩm thạch, nhưng lần này giấc mơ bị ngắt đoạn đột ngột và kinh sợ. Tôi đã nhìn thấy một tai họa ập tới thành phố nơi thung lũng xanh tươi ấy - một trận sụt lở đất đá ghê gớm đã ào tới và chôn vùi mọi sinh vật lẫn con người. Chỉ duy nhất ngôi đền nữ thần Arteuris ([2]) ở trên đồi cao là không bị trận thiên tai khủng khiếp tàn phá. Tại ngôi đền này thần Mặt Trăng, bà Kleis, đức bà tư tế già nua đã nằm sóng sượt lạnh giá và im lặng với chiếc mũ miện bằng ngà voi trên mái đầu bạc. Như tôi đã kể, giấc mơ của tôi bị đứt quãng. Một cảm giác lo âu khó tả cứ bám riết không rời tôi dù chỉ một khoảnh khắc. Một lúc rất lâu tôi không hiểu tôi đang ngủ hay tôi đang thức nữa. Tiếng tiêu cứ tiếp tục văng vẳng trong tai. Song khi nhìn thấy những vệt ánh trăng lạnh giá trên sàn lỗ chỗ hình bóng chấn song của khuôn cửa sổ gôtích, tôi hiểu rằng dẫu sao mình vẫn đang trong tòa lâu đài Kilderry. Khi đâu đó đàng xa có tiếng chuông đồng hồ điểm hết lần này đến lần khác thì rốt cuộc tôi thấy rõ mình không ngủ. Nhưng mọi thanh âm của tiếng tiêu vẫn tiếp tục ấy là một điệu nhạc lạ lùng, xa xưa, nó gợi trí tưởng tượng tới những vũ điệu của các vị thần Satyr([3]) ở xứ Menadus xa xôi. Nhạc điệu ấy không cho tôi ngủ, và thế là sau khi nhỏm dậy khỏi giường, tôi bắt đầu lo lắng đi đi lại lại trong phòng. Hoàn toàn ngẫu nhiên tôi bước tới khuôn cửa sổ phía bắc, nhìn về phía ngôi làng đang ngủ mơ màng và cánh rừng thưa bên mép đầm lầy. Tôi hoàn toàn không định nhìn qua cửa sổ vì đang buồn ngủ chết đi được, nhưng những âm thanh của các cây tiêu đang thổi đã hành hạ tôi đến nỗi buộc tôi phải tìm cách lãng quên nó đi. Song những gì tôi nom thấy đã khiến óc tưởng tượng của tôi phải sửng sốt. Trên khoảng rừng thưa tràn ngập ánh trăng đang diễn ra một cảnh tượng mà một khi đã mục kích thì ai cũng phải ghi nhớ đến trọn đời vì quá đỗi kinh ngạc. Dưới tiếng tiêu vang vọng khắp trên vùng đầm lầy là những hình dạng kì ảo đang chuyển động nhịp nhàng và câm lặng trên khoảng rừng trống. Lúc đầu họ đu đưa mình theo nhịp, nhưng dần dần chúng đạt tới mức khoái cảm tột độ mà thời xa xưa đã từng choán ngợp các vũ công Sicilia ([4]) trình diễn vũ điệu dâng hiến thần Demeter([5]) vài đêm trăng rằm trước tiết thu phân ở gần thành Kyan. Khoảng rừng thưa phơi rõ dưới ánh trăng suông bàn bạc, những bóng ma khiêu vũ, tiếng tiêu lanh lảnh đơn điệu tất thảy những cái đó cùng một lúc khiến tôi gần như bị tê liệt, song dẫu sao tôi vẫn nhận ra rằng, một nữa những vũ công không hề mệt mỏi ấy là những người công nhân làm thuê mà theo sự hình dung của tôi thì nhẽ ra họ phải đi ngủ từ lâu rồi, một nửa còn lại là những con mà kì lạ bận đồ trắng, với chút ít đầu óc tưởng tượng thì có thể coi chúng là các nữ thần sông suối đang sống ở những chiếc hồ nhỏ vốn nuôi dưỡng cả khu đầm lầy. Tôi không biết đã đứng bên cửa sổ bao lâu để ngắm nhìn cảnh tượng ấy, chỉ nhớ vào một thời khắc nào đó, tôi bỗng chìm vào một giấc ngủ sâu nửa ngất lịm mà chỉ có ánh sáng chói lòa của mặt trời mới đưa tôi ra khỏi trang thái ngủ mê mệt ấy thôi. Niềm mong muốn đầu tiên của tôi khi thức dậy là đi tìm Dennis Barry để kể lại cho chàng giấc mơ quá đỗi sửng sốt kia, nhưng dưới ánh mặt trời mọi sự nom khác hẳn, và tôi bèn tự nhủ đó chỉ là một giấc mơ. Có thể tôi đã bị ảo giác, nhưng ảo giác ấy đâu mạnh đến nỗi khiến tôi không còn kiểm soát nổi mình nữa và cho rằng tất cả những gì nom thấy chỉ là giấc mơ. Tôi chỉ giới hạn ở việc gặng hỏi những người công nhân, nhưng quả như tôi đã tiên liệu, mặc dầu ngủ quá giấc hơn thường lệ, họ chẳng hề nhớ điều gì đặc biệt, ngoài tiếng nhạc. Tôi đã suy nghĩ hồi lâu về những âm thanh lạ lùng đó, tôi đoán chừng phải chăng lũ dế đã cất lên bài ca mùa thu của chúng sớm hơn thời điểm tự nhiên đã khiến cho người ta phải bồi hồi xao xuyến. Đến trưa tôi gặp Barry đang xem xét một lần nữa các bản vẽ của mình trước khi khởi sự công việc. Như vậy, sáng mai các công nhân sẽ bắt tay vào việc... Lần đầu tiên tôi thấy tim mình thắt lại vì khiếp sợ, và đã hiểu vì sao nông dân chạy trốn khỏi nơi đây. Vì một lí do mơ hồ nào đó tôi cũng thấy không chịu nổi với ý nghĩ rằng có ai đó sẽ quấy rầy, phá bĩnh khu đầm lầy cổ xưa này với biết bao điều huyền bí của nó được ẩn giấu khỏi ánh sáng mặt trời. Tôi bỗng hình dung ra những bức tranh kì ảo dưới lớp than bùn dày hàng thế kỉ này. Không nên bất cẩn mà phô bày cho bàn dân thiên hạ thấy tất cả những gì đã được giấu kỉ ở nơi đấy suốt bao thế kỉ như thế. Tôi những muốn tìm ra một nguyên cớ tiện lợi để từ giã khu lâu đài và cả chính ngôi làng này. Thậm chí tôi định nói về việc đó với Barry, nhưng tôi nhanh chóng kìm được vì bối rối trước tiếng cười nhạo báng của chàng. Tôi im lặng quan sát vầng mặt trời đang tỏa những sắc màu rực rỡ lên những ngọn đồi xa và tỏa xuống Kilderry thứ ánh sáng chói lọi màu vàng đỏ, một hiện tượng có vẻ như điềm gở. Tôi không biết những sự kiện diễn ra đêm qua là trong mơ hay thực. Bất luận thế nào đi nữa thì một trí tưởng tượng tinh tế nhất cũng không tài nào có thể sản sinh được điều gì hơn thế. Chẳng hạn, tôi không đủ sức nghĩ ra những lời giải thích tỉnh táo và hợp lí cho cái lẽ là sau đêm ấy mọi người trong lâu đài và khu làng đã biến đi đâu mất. Tôi về phòng mình sớm, nhưng trong lòng nặng trĩu những dự cảm nặng nề nên không tài nào ngủ được. Sự im lặng báo điều dữ ngự trị trong ngọn tháp xa này cứ hành hạ tôi. Mặc dầu trời tối nhưng quang đãng: những ngày này là lúc trăng hạ huyền và trăng mọc rất muộn. Tôi nằm và suy nghĩ về Dennis Barry, về những gì sẽ xảy ra với đầm lầy khi trời sáng, và cuối cùng những trăn trở ấy đã đẩy tôi tới trạng thái khiến tôi sẵn sàng vùng dậy, ngồi vào chiếc ô tô của bạn tôi - chủ nhân tòa lâu đài - lao thẳng tới Ballylow và thoát khỏi cái chốn đáng nguyền rủa này. Nhưng, chưa kịp đi đến quyết định cuối cùng thì tôi đã ngủ thiếp đi. Thế là trong cơn mơ tôi lại thấy thành phố nơi thung lũng, ảm đạm và thẫn thờ vì mối đe dọa diệt vong đang lơ lửng trên đầu. Có thể tôi lại bị đánh thức bởi những âm thanh của tiếng tiêu, song sau khi tỉnh dậy thì không phải tiếng nhạc làm bận trí tôi. Tôi nằm quay lưng về phía cửa sổ hướng đông nơi mặt trăng sắp mọc và bởi vậy tôi chờ đợi được nom thấy ánh hồi quang của trăng trên bức tường đối diện. Nhưng tôi đã nhìn thấy một sự khác hẳn. Trên tường có những vệt sáng, nhưng đó không phải những hồi quang do ánh trăng phản chiếu. Tôi kinh sợ khi hiểu rằng đó là ánh sáng đỏ tươi lọt qua khuôn cửa sổ gôtích. Nó tràn ngập cả căn phòng bằng một ánh hào quang chói chưa từng thấy. Hành vi lúc đó của tôi thực đáng sợ, và điều này chẳng có gì đáng ngạc nhiên vì chỉ có nhân vật trong sách mới xử sự một cách có tính toán tỉnh táo trong tình huống như thế. Thay vì nhìn xuống vùng đầm lầy để hiểu xem nguồn ánh sáng mới ấy từ đâu đến thì tôi thậm chí không quay lại phía cửa sổ mà liền vội vã mặc quần áo với niềm hi vọng mơ hồ nhanh chóng trốn chạy khỏi nơi đây. Tôi nhớ là đã mang theo khẩu súng lục và cái mũ, nhưng chúng chẳng hề hữu dụng cho tôi. Tôi đã đánh mất cả hai sau khi chẳng bắn được phát nào và cũng chẳng đội đến mũ. Dẫu sao trí tò mò vẫn mạnh hơn sự kinh sợ, cho nên tôi lén bước tới cửa sổ để nhìn vào vầng hào quang đỏ sậm khó hiểu kia, tôi vươn người ra ngoài và đúng phút ấy tiếng tiêu cất lên đến váng tai, khắp tòa lâu đài và ngôi làng tràn ngập những thanh âm ấy. Dòng ánh sáng rực rỡ màu đỏ sậm báo điều gở ấy xoáy thành tia trên mặt đầm lầy, nó phát ra từ đống phế tích hoàn toàn bí ẩn trên hòn đảo. Song khu hoang phế ấy đã thay đổi một cách lạ lùng. Tôi thật khó lòng mô tả được điều gì xảy ra, có thể tôi hóa điên, song tôi cảm thấy ngôi đền lại đang tọa lạc nơi đó với toàn bộ vẻ đường bệ oai nghiêm của nó mà chưa hề bị thời gian làm phôi pha với những cây cột bao quanh. Những ánh hồi quang của ngọn lửa đang cháy sáng trên mặt đá cẩm thạch của mũ cột vươn lên cao. Tiếng sáo ngân lên, tiếng trống vang vọng và trong khi tôi như một kẻ bị mê hoặc nhìn ngắm cảnh tượng ấy thì trên những bức tường cẩm thạch được chiếu sáng rõ bắt đầu xuất hiện hình dáng các vũ công. Tất cả những cảnh ấy nom thật phi thường khó tin là thật, ấn tượng tác động thật vô cùng sửng sốt. Tôi đứng lặng người tại chỗ, không thể rời mắt khỏi bức tranh kì dị, đồng thời ở bên trái tôi vang lên rất to tiếng tiêu dồn dập. Trong cơn phấn khích khó hiểu và choáng ngợp những dự cảm nặng nề, tôi liền băng ngang phòng đến chỗ cửa sổ phía bắc mà từ đó nom thấy ngôi làng và cánh rừng thưa. Chính đó là điều mà tôi đã thấy trước đây và lí trí của tôi đã chối từ chấp nhận và hiểu thấu, nhưng bây giờ thì tôi sửng sốt vô chừng: dọc theo cánh rừng thưa đẫm ánh sáng màu đỏ máu đang chầm chậm chuyển động một đoàn diễu hành mà có lẽ chỉ có thể hiển diện trong cơn ác mộng mà thôi. Lúc thì trượt trên mặt đất, lúc thì trôi trong không khí, những bóng ma đầm lầy chậm rãi đi theo hướng dẫn tới vùng hồ đầm lầy êm đềm nước lặng và đi tiếp tới khu phế tích, những bóng ma ấy choàng những bộ đồ mầu trắng, chúng cứ đi và tạo ra những hình thù phức tạp, dường như đang biểu diễn một điệu vũ nghi lễ cổ xưa. Những cánh tay không chút thịt da của chúng lắc lư nhẹ theo nhịp giai điệu the thé xé màng tai của những cây sáo vô hình, những cánh tay ấy mời chào, thu hút theo chúng cả những người công nhân làm thuê mà giờ đây đã xếp thành hàng lần lượt đi sau một cách mù quáng và tuân phục như những chú chó ngoan, dường như họ phải phục tùng một sức mạnh ma quỷ nào đó. Khi các nữ thần sông suối đi đến đầm lầy thì những nạn nhân mới đi ra khỏi lâu đài, họ lảo đảo với bộ điệu yếu đuối, xiêu vẹo. Họ xuất hiện từ chiếc cửa ra vào nằm ngay dưới cửa sổ phòng tôi, họ đi qua khu sân như đang trong cơn mơ ngủ, sau đó theo con đường làng hẹp họ tiếp nối hàng công nhân đang đi lảo đảo ở quãng cánh rừng thưa. Mặc dù có một khoảng cách giữa tôi với họ nhưng tôi hiểu ngay rằng đó là những gia nhân đến đây từ miền bắc, thậm chí ở một trong số những hình người quái đản và thê thảm nhất tôi đã nhận ra chị đầu bếp mà những cử động vụng về bình thường của chị ta lúc này với tôi thật bi thảm. Những cây sáo vẫn phát ra những thanh âm khó mường tượng như trước, và từ phía hòn đảo lại vang lên tiếng thôi thúc giục giã của những chiếc trống, và chính lúc này các nữ thần sông suối chầm chậm và duyên dáng bước xuống làn nước của khu đầm lầy cổ xưa. Còn những người đi theo sau các nữ thần ấy không hề chậm bước cũng bắt đầu xuống nước và chẳng bao lâu mất hút dưới làn nước vô tình. Trong ánh sáng hồng trên mặt đầm lầy thật khó nhận ra những vệt bong bóng khí lan trên nước. Người cuối cùng mà vực thẳm kia nuốt chửng là chị bếp béo, con người đã gợi nên nơi tôi sự thương cảm. Khi chị ta khuất hẳn dưới làn nước thì những cây sáo cùng trống im hẳn, cái ánh sáng do đống phế tích phát ra làm chói mắt cũng tắt; ngôi làng lại lặng đi trong ánh sáng thanh bình của vầng trăng vừa mọc. Tôi hoàn toàn bối rối. Liệu tôi có mất trí hay không đây? Tôi đang ngủ chăng? Liệu có phải những điều đó đã xảy ra trên thực tế hay không? Tôi nghĩ chính sự sững sờ mà tôi bất ngờ chìm đắm vào đã cứu tôi khỏi cái số phận bi thảm chung cho đám người ấy. Có lẽ tôi đã cầu nguyện thần Arteuris, thần Latona([6]), thần Persephone([7]) và thần Pluto([8]) . Tóm lại tôi đã cầu xin tất cả các vị thần mà tôi nhớ được trong văn học cổ điển, nỗi kinh hoàng vừa nếm trải đã biến tôi thành một kẻ mê tín. Tôi hiểu rằng tôi đã trở thành người chứng kiến cái chết của cả làng, - không còn nghi ngờ gì nữa: trong tòa lâu đài chỉ còn lại có tôi và Dennis Barry, chính sự khinh suất rồ dại của chàng đã dẫn đến thảm họa. Khi nghĩ về chàng thì trong tôi lại choáng ngợp nỗi khiếp đảm đến nỗi đôi chân khuỵu ngã xuống và tôi ngã lăn trên sàn nhà, mặc dầu tôi không hề bị ngất. Bất thình lình tôi cảm nhận thấy một cơn gió lạnh buốt từ phía đông nơi mặt trăng vừa mọc và tôi cũng nghe thấy những tiếng kêu tuyệt vọng ở tầng dưới của tòa lâu đài. Chẳng bao lâu sau tiếng kêu chuyển thành tiếng la hét thất thanh gớm ghê đến mức bây giờ tôi cũng còn thấy kinh hoàng khi nghĩ đến tiếng la hét ấy. Tôi có thể nói ngay rằng đó chính là tiếng gào thét của ông bạn tôi. Có lẽ, làn gió lạnh giá và những tiếng kêu khủng khiếp đã buộc tôi phải đứng dậy bởi vì, như tôi còn nhớ, tôi chạy hồi lâu dọc các căn phòng tăm tối và các dãy hành lang tối om cho đến khi lọt ra bên ngoài. Người ta tìm thấy tôi lúc rạng sáng các Ballylow không xa. Tôi đã đi lảo đảo như một kẻ không nhà không cửa, miệng lẩm bẩm điều gì trong trạng thái hoàn toàn mê man. Sự cố cuối cùng tôi thấy ở Kilderry đã đẩy tôi tới trạng thái khốn đốn cùng cực đó. Cái cảnh ấy thật quái đản, ghê sợ đến nỗi tôi sẽ không bao giờ quên được cho đến ngày nhắm mắt xuôi tay. Cảnh đó luôn luôn hiện lên trước mắt tôi nếu tôi bất thần đứng gần một đầm lầy vào đêm trăng nào đó. Vậy là sau khi rời bỏ tòa lâu đài khủng khiếp, đang phóng đi dọc bờ đầm lầy bỗng nhiên tôi nghe thấy những âm thanh gì mới lạ, chẳng có gì đặc biệt, nhưng ở đây, tại Kilderry, thì cho đến nay tôi chưa bao giờ nghe thấy. Làn nước tù hãm mà trong đó chẳng có chút sinh khí nào giờ thật khoái hoạt, sinh động. Mặt đầm lầy nhung nhúc biết bao những con ếch kềnh kêu ồm ộp liên tục. Ánh trăng lấp lóa hai bên lườn phồng mọng màu xanh của chúng, nhưng ánh sáng còn tia ra từ một nguồn sáng, và có lẽ những con ếch kềnh ấy đang chú ý dõi nhìn về phía tia sáng ấy. Tôi theo dõi một con ếch đặc biệt béo mỡ và xấu xí và nhìn thấy chính cái điều đã khiến tôi hoàn toàn mê muội. Một tia sáng nhấp nháy yếu ớt không phản chiếu trong mặt nước đầm lầy trải dài từ công trình bí ẩn trên hòn đảo nhỏ tới vầng trăng khuyết. Còn tôi thót tim khi nhìn thấy trên con đường mòn nhợt nhạt chết chóc một hình người quằn quại, một cái bóng mờ ảo đang cố sức cưỡng lại những con quỷ vô hình đang kéo cái bóng đó theo sau. Có thể là tôi điên, nhưng cái bóng dáng đó - một bức biếm họa quái đản man dại - đã khiến tôi nhớ một cách lạ lùng đến con người đã từng là Dennis Barry. NGUYỄN CHIẾN dịch từ tiếng Nga (trong Inostrannaja Literatura số 3/1992) Người Skif: tên gọi chung cho các bộ lạc du mục từng sống ở vùng phía bắc Hắc Hải và lân cận. [2] Nữ thần Arteuris: thần Mặt Trăng, săn bắn và rừng rú.(ND). [3] Thần Satyr: thần rừng và đồng nội.(ND). [4] Sicilia: đảo thuộc nước Italia ngày nay, có thủ phủ là thành phố Palermo.(ND). [5] Thần Demeter (hay Ceres): thần bảo trợ nghề cạnh nông.(ND). [6] Thần Latona: mẹ của hai thần Arteuris và Apollo.(ND). [1] Thần Persephone: con gái thần Zeus và là vợ của thần Hades (cai quản âm phủ). (ND). [8] Thần Pluto: Thần cai quản âm phủ. Ở đây nhân vật do hoảng sợ nên lẫn lộn các vị thần Hi Lạp và La Mã.(ND). [7] IAN FELLOWES-GORDON (Anh) Ian Fellowes-Gordon: Nhà văn, phát thanh viên truyền hình. Từ nhỏ rất thích đọc Edgar Allan Poe và sau chịu ảnh hưởng về sáng tác từ nhà văn này. Căn Phòng Áp Mái Họ dò dẫm trên chiếc cầu thang ọp ẹp dẫn lên căn phòng áp mái bụi bặm. Alastair cẩn thận đặt từng bước lên lối đi hẹp về phía căn buồng. Anh ta đẩy hai cánh cửa khép hờ ra. “Hãy tự nhiên như ở nhà”, anh ta nói, vẫy họ vào qua cánh cửa bên phải. “Cánh cửa kia vào buồng người hầu, nay mẹ tôi dùng chứa đồ tạp nham. Nếu cần mời anh sang đấy xem qua”. Bên trong căn buồng ngủ đêm của anh tối mịt, ngoại trừ chút ít sánh sáng yếu ớt mùa đông hắt vào qua ô cửa sổ bé xíu duy nhất. Anh bước về phía đó, sát góc buồng, mặt biển trải rộng ngút tầm mắt. Alastair cúi xuống bật đèn bàn. “Nguồn sáng duy nhất”, anh ta nói. “Tôi hi vọng nó đủ sáng”. Anh đặt va ki xuống giường. “Còn một chiếc đài nữa. Có thể làm anh vui được”. “Cám ơn”. Anh nhìn chiếc đài cổ lỗ, thô kệch. “Dù sao cũng xuống nhà làm ngụm nhỏ đã, trước khi ăn tối. Mẹ tôi muốn gặp anh lắm - gặp người đến bắt con ma ở Drumkattle này. Hay anh muốn xem trước?”. “Tôi xem qua mấy phút thôi”. Anh cẩn thận rà soát cánh cửa, ổ khóa to, chìa khóa cắm bên ngoài. Then cửa bên trong khá to, đã gỉ két. Anh ngó qua cái tủ tường ở góc buồng, to bằng một gã đàn ông. Ngó ra sau lưng nó, những tấm gỗ vẫn còn chắc chắn. Anh ngồi xuống giường, nhún lên nhún xuống, nhìn vào gầm giường. “Được rồi”, anh nói. “Sẽ xong thôi”. “Tốt quá. Thôi, xuống nhà đi”. “Ta quên một thứ”, Duncan nói. “Chiếc chuông...”. “Đúng rồi”. Alastair vươn về phía trước túm lấy sợi dây treo từ trên trần dài độ vài phân, lấy trong túi ra một sợi dây thô và buộc hai cái lại với nhau. “Để báo hiệu, Kevin cáo già ạ. Tôi sẽ để đầu dây ngay cạnh giường, nếu anh giật chiếc chuông nhỏ kia sẽ kêu. Nó có ở đây lâu lắm rồi, nhưng vẫn kêu tốt”. “Này”, Kevin nói, “tôi cóc cần cái chuông đỏ như máu kia của anh”. “Được rồi, anh sẽ không cần đến nó”. “Khoan một chút”, anh nói. “Tốt hơn nên nói với anh điều này”. Anh mở va li lấy ra khẩu súng ngắn. “Khẩu Smith and Wesson này no đạn đấy”. Rồi anh đặt nó xuống bàn. “Con ma nào dám trêu ngươi sẽ lĩnh ngay một viên vào bụng. Tôi sẽ nói rõ hơn trước khi chúng ta bắt đầu”. “Mày nghe rõ chưa ma?”. Alastair ngửa cổ lên trần nhà nói vui. “Nếu mày ló mặt, mày sẽ ăn đạn vào bụng đấy”. Họ rời căn buồng. Bà mẹ Alastair người nhỏ bé, sắc sảo đang ngồi trong phòng vẽ không đủ ánh sáng. “Mẹ, đây là Kevin Donaldson. Anh ấy đến từ Australia”. Bà mẹ già tươi cười hỏi han. Trước kia bà đã đến thăm đất nước Australia, từ khi chồng bà còn sống, và bà rất yêu đất nước đó. Còn giờ đây - làm sao để bắt được con ma của ngôi nhà Drumkattle? Alastair phân bua. Đó chỉ là sự đánh cuộc. Một trăm năm nay không có ai ngủ trong căn buồng có ma đó, không có hai từ cái đêm bà người hầu ngủ trên giường bất ngờ bị tấn công dữ dội và bị giết chết. Người ta không rõ hung thủ là ai. Kevin sẽ ngủ - hoặc là cố để ngủ - trong căn buồng đó. “Năm mươi pao thì nhiều đấy”, bà Moncrieff nói. “Nhiều, nhưng với con thôi. Còn Kevin - anh ấy giàu có - chính anh ấy mới là người sẽ phải trả...”. Kevin cười. “Tôi không tin thế”. Đã hơn mười một giờ đêm, một mình anh ở trong căn buồng áp mái, cửa khóa trái bên ngoài. Khẩu súng để ở vị trí thuận tiện sẽ giúp anh đỡ bị bất ngờ nếu bóng ma xuất hiện trong trang phục quái gỡ thế nào đi nữa. Đêm tháng mười hai không trăng. Căn buồng tối đen lại nếu anh tắt chiếc đèn bàn bên đầu giường. Chiếc cửa sổ hình chữ nhật, con mắt duy nhất nhìn ra biển Bắc, hắt một chút ánh sáng xanh xao yếu ớt. Anh để nguyên quần áo nằm trên giường, mắt liếc nhìn trang bìa sách nhưng tâm trí vang mãi lời hứa với Alastair. Chín tiếng nữa và mọi thứ sẽ trôi qua thôi. Nếu đến tám giờ sáng anh không rung chuông - họ sẽ bẽ bàng ra sao trước mắt anh, còn chuyện họ đi thông báo cho hàng xóm tin tức về anh nữa chứ - họ sẽ mở cửa cho anh ra và anh lấy về năm mươi pao tiền cược. Ý nghĩ thứ hai chợt đến, làm gì có ai để người trong nhà này đi thông báo; Drumkattle là ngôi nhà duy nhất dọc bờ biển hoang vắng này. Chắc chỉ có Alastair, Duncan và bà mẹ già của họ là nghe được tiếng chuông. Vậy thì khỏi rung chuông nữa. Anh đã thấy chán quyển sách, bật công tắc chiếc đài bên cạnh, lắng nghe chương trình “Nhạc đêm khuya” trên sóng đài Home. Anh chuyển sang sóng đài Light đang phát ra bản nhạc jazz, cuối cùng chọn đài Hamburg với nhạc vanxơ. Anh ngồi dậy cởi quần áo mặc ngoài. Khẩu Smith and Wesson nằm một bên giường, anh kiểm tra hộp đạn lần cuối và thấy yên tâm. Xong xuôi anh thả mình xuống chiếc giường gỗ hẹp - có thể tình trạng không thoải mái này sẽ đánh thức anh dậy trước lúc bình minh - với tay tắt đèn. Bản nhạc du dương nhưng được một lúc cơn ngáp ngủ ập đến, anh tắt nốt chiếc đài. Không dám chắc có phải mình thức giấc thật không nhưng rõ ràng anh nghe thấy tiếng động vào lúc một giờ sáng. Thoạt đầu anh không tài nào định hướng được âm thanh đó, dần dần như mái nhà thủng ra và nước nhỏ xuống sàn. Anh đợi một lúc cho chắc chắn và bất ngờ bật đèn. Thật lạ, không còn âm thanh nào. Không có nước trên sàn. Anh tắt đèn. Lần này, chỉ khoảng nửa tiếng sau, anh lại nghe thấy âm thanh đó, to hơn lần trước, cứ như thể nước đang rỉ xuống ngay giữa phòng. Anh thấy lạ khi có một tiếng động ngay cạnh đầu, bực mình quá, anh quay người sang bên kia, tim bắt đầu đập rộn, hai bên thái dương rần rật. Tiếng động của thứ chất lỏng nọ giờ thành đối âm với nhịp lưu thông của mạch máu trong người anh, và bất ngờ tiếng nước rỉ đổi vị trí cứ như có một lỗ thủng khác ở trên mái. Anh bật đèn lên, âm thanh nọ lại ngừng bặt. Anh bật dậy, nhìn qua ô cửa sổ, lại gần thò tay ra ngoài: trời có mưa đâu nhỉ. Quái lạ! Tìm thế nào đi nữa anh vẫn không thấy có vết nước trên sàn. Anh lại gần tủ, mở toang hai cánh ra, ngỡ tưởng Alastair hay Duncan nấp trong đó giả vờ làm tiếng động. Chiếc tủ trống rỗng. Để nguyên đèn sáng anh nằm vật xuống giường. Anh liếc nhìn đồng hồ, ba giờ rưỡi. Anh uể oải tắt đèn. Chắc anh đang ngáy, bỗng nhiên giật mình vì có tiếng người nói, anh bật chẳng dậy, tim đập mạnh. Đó là tiếng phụ nữ, giọng một cô gái, du dương. Anh căng tai, và từ rất xa, rất nhẹ, dường như nó gọi “Kevin”. Thật vô lí. Anh sẽ không tự biến mình thành thằng ngu bằng việc trả lời tiếng gọi nọ. Anh lại bật đèn - mọi thứ chìm vào im lặng. Anh nguyền rủa. Hơi mệt và bực dọc. Bóng đèn bỗng nhiên bị vỡ. Một cục nước miếng chặn ngang cổ họng, ran rát, tai nghe rõ nhịp đập của tim, anh thoắt với lấy khẩu súng. “Anh đang nằm”, giọng nói lại vang lên, “giữa vũng máu đỏ còn ấm. Máu của tôi, Kevin ạ”. Anh mở miệng hỏi lại giọng nói kia nhưng sao không lời nào thốt ra được. Mãi sau, bằng một giọng nói hoàn toàn không phải của mình, anh hỏi: “Sao..., sao lại thế...”. “Không làm ồn, Kevin. Tôi tới đây để giết anh”. Anh cười, tỏ vẻ can đảm. “Khá lắm thưa cô. Nhưng tại sao?”. “Kevin, bởi vì căn buồng này, chiếc giường anh vừa nằm là của tôi. Tôi đã chết trên chiếc giường đó”. Mọi thứ ngưng lặng chốc lát, tiếng đập trong tai anh to đến mức không còn chịu được nữa. “Tôi đã chết trên chiếc giường này, Kevin, trong vòng tay của một thằng đàn ông. Hắn ta đã giết tôi, khi tôi đang khóc tức tưởi...”. Một tia ý nghĩ vụt qua óc khiến anh chú ý đến chiếc công tắc đài. Nó vẫn ở vị trí tắt. Giọng cô gái lại cất lên. “Hãy tạo mối quan hệ hòa bình với Người Sáng Tạo ra anh, hỡi Kevin Donaldson, vì anh chỉ còn được sống vài phút nữa thôi. Anh đã nghe thấy tiếng máu của tôi chảy xuống sàn chứ? Chẳng bao lâu nữa sẽ là máu của anh”. Lạ thay - tiếng nhỏ giọt lại vang lên. Phải chăng có thể nhìn được lúc này: anh thầm nguyền rủa chiếc bóng đèn chết tiệt. Và tại sao, đúng, tại sao không nghĩ đến mang theo chiếc đèn pin? Anh nhớ đến chiếc bật lửa. Phải cố gắng lắm, anh nguyền rủa bản thân vì sự thực đó, anh mới với được chiếc áo khoác. Chiếc bật lửa Ronson tỏa ánh sáng dầu tù mù, anh không thấy gì cả. Nhưng giọng nói vang lên gần hơn. Lần nữa anh chú ý tới chiếc đài và chắc chắn nó phát ra từ đó, thậm chí công tắc vẫn tắt. Tức quá anh vung cú đấm vào mặt chiếc đài. Giọng nói vẫn tiếp tục nhưng có lẽ lúc này anh đã quá phấn khích và mệt nên không hiểu nó nói gì. Nhưng đúng là chiếc đài rồi. Nghĩ thế anh giật tung dây điện ra. Như cố tình trêu ngươi, giọng nói lùi ra xa. Nó đang nói gần bức tường. Tiếng nhỏ giọt phát ra từ đấy. Một cơn hốt hoảng mới thật hãi hùng ập đến, nhận ra nó vẫn ở trong phòng, anh ném chiếc đài xuống sàn làm nó nứt ra, chưa thỏa anh còn lấy giày đập loạn xạ đến khi nó vỡ thành hàng chục miếng nhỏ. Giọng nói lại càng rõ hơn. “Có ích gì hơn đâu, Kevin. Anh không thể thay đổi được số phận mà số anh là số chết. Chết ngay trong đêm nay”. Anh bật lửa, trong phòng trống rỗng. Bỗng nhiên có một tiếng động trong góc phòng khiến anh rùng mình. Tiếng nhỏ giọt đã trở thành tiếng chảy xối, anh đứng bật dậy, hoảng hốt, nhìn chong chong vào một điểm trong bóng tối. Anh nhìn không biết bao lâu, như bị hút hồn, chợt một cơn gió thoảng qua. Anh vòng qua giường lại gần nó, ở đấy chắc chắn có một cái gì đấy. Phát điên lên anh mắm môi mắm lợi bật lửa, phải đến bốn lần bật nó mới cháy. Anh kêu lên kinh hãi, hơi thở dồn dập. Ánh sáng quá yếu nhưng cũng đủ soi rõ một hình người, một hình người đứng gần tủ. Khuôn mặt - nếu được gọi đó là khuôn mặt - màu xanh tái, và quần áo - nếu cũng có thể gọi là quần áo - màu tối, có lẽ là màu máu đỏ. Hình như người ấy đang nói - vẫn giọng nói nọ, giọng nữ - nhưng hai môi không hề động đậy. Bóng người mỗi lúc một gần hơn. Anh quỵ xuống giường, người cứng đơ. “Ai... cút...” anh thét lên hoảng hốt. “Cô là ai! Sao vào được đây?... Tôi sẽ giết cô đấy, cô bạn. Lời cảnh cáo cuối cùng của tôi”... “Lời cảnh cáo cuối cùng...”. “Đạn không giết được tôi đâu, Kevin. Một người đàn ông đã làm thế với tôi. Giết chết tôi lúc tôi nằm ngay chỗ anh vừa nằm ấy, nhưng sẽ không còn thằng đàn ông nào nữa, và không còn viên đạn nào đâu...” “Tôi cảnh cáo lần cuối!” - Anh rít lên. Anh nổ súng, bắn thẳng vào hình người và kết quả làm anh chết lặng. Một ý nghĩ đen tối vẩn lên trong đầu anh. Khói súng vừa hết anh nhìn thấy một khuôn mặt trắng bợt, vẫn nguyên chỗ cũ. Anh thét lên, bắn, bắn tiếp, bắn nữa. Trong đám khói thuốc súng cay xè anh vẫn thấy hình người, đang tiến đến gần hơn. Nguy rồi! Đến nước này thì không thể không báo nguy cho mọi người. Nghĩ vậy, tay trái rung chuông, tay phải vẫn bắn cho đến khi khẩu súng chỉ còn phát ra những tiếng cạch... cạch... khô khốc. Hình người đã đè lên hình anh, anh thúc mạnh khẩu súng hết đạn nhưng nó rơi xuống như gặp phải lực cản quá mạnh. Da anh ướt đầm, không phải vị ngọt, máu, anh biết đó là máu. Tay chạm được dây chuông, anh dồn hết sức kéo mạnh. Chiếc chuông nhỏ của nhà thờ sứ Scots kêu lên ở đâu đó trên đầu anh. Hình người rung mạnh rồi đột nhiên mọi thứ đen sẫm lại. Im lặng. Tối mịt mùng. Mấy tháng sau Kevi Donaldson được đưa về Australia. Người ta không còn được tin tức gì về anh. Tầng trên cùng của ngôi nhà Drumkattle từ đó không một bóng người bén mảng cho đến khi cả tòa nhà đổ sụp xuống - hai, ba mươi năm sau này. TÔ ĐỨC HUY dịch (Rút từ tập Fifty Great Horror Stories, 1993) FRANK USHER (Anh) Frank Usher: Nhà văn, nhà báo và nhà nghiên cứu về tội phạm học. Với bút danh Charles Franklin nổi tiếng, ông đã xuất bản các tập truyện: Những vụ án thảm thương nhất thế giới. Những thử thách cam go. Thám tử của thế kỉ hai mươi. Con Dơi Trắng Khổng Lồ Có rất nhiều chuyện lạ kể về quyền uy của các vị tu sĩ Ai Cập cổ đại, đặc biệt là những lời thần chú của họ yểm giữ cho các ngôi mộ khiến chúng trở thành bất khả xâm phạm. Dân Ai Cập thường chôn theo người chết rất nhiều của cải và không có gì lạ nếu những phần mộ đó bị lũ kẻ cướp, hết thế hệ này sang thế hệ khác, đến cướp phá. Trong số những kẻ cướp phá đó, có không ít người là các nhà Ai Cập học hiện đại. Họ cướp phá dưới danh nghĩa khoa học, nhưng điều đó chẳng làm nên sự khác biệt nào. Những lời nguyền linh ứng với tất cả những kẻ nào xâm phạm tới nơi thiêng liêng của ngôi mộ, bất kể mục đích của họ là gì. Có rất nhiều câu chuyện lạ, ví dụ như chuyện kể về lời nguyền ở ngôi mộ của Tutankhamen và số phận của những kẻ cả gan xâm phạm. Trong những ngày đầu thế kỉ, giới Ai Cập học hết sức đông đảo. Những kẻ đào bới thuộc mọi quốc tịch bận rộn khai thác ở thung lũng, bất chấp những lời nguyền xa xưa. Đó là thời gian các nhà khoa học tiến bộ không còn coi trọng những lời nguyền xưa nữa. Phần lớn những người đột tử đều có thể đã đồng tình với đồng nghiệp của mình rằng cái chết của họ không có liên quan gì tới những điều mê tín dị đoan vớ vẩn. Tuy nhiên, quan điểm của Micheal Hendry lại hoàn toàn khác. Sự trải nghiệm quá kinh khủng tới mức không còn nghi ngờ gì nữa sự trả thù của các tu sĩ Ai Cập cổ đã ứng nghiệm vào ông bằng một cách thức thật ghê rợn. Hendry không phải là chuyên gia Ai Cập học mà cũng chẳng phải một nhà khoa học. Ông vốn là người Ailen, sang Mĩ từ khi còn trẻ và đã kiếm được lưng vốn kha khá tại sở chứng khoán New York vào thời của những tên tuổi như Astor, Rockefeller và Vanderbilt, khi mà bất kì một người buôn bán khôn ngoan nào cũng có thể trở thành triệu phú - đó là thời đại kinh tế hỏa tiễn của Hoa Kì thế kỉ XIX. Hendry làm giàu rồi về hưu. Ông kết hôn với một góa phụ già hơn ông hai mươi tuổi. Đó không phải là một cuộc hôn nhân vì vật chất. Ông đã rất yêu bà và bà cũng vậy. Bà không lấy ông vì tiền. Niềm say mê lớn trong cuộc đời ông là Ai Cập học, một sở thích vô thưởng vô phạt ở nước Mĩ tự do. Nhưng Mary Hendry nhanh chóng phát hiện ra ngôi nhà xinh đẹp, yên tĩnh ở Long Island, ngôi nhà bà đã từng ước ao, không phù hợp với bà. Hendry thì muốn dùng thời gian cuối đời để theo đuổi đam mê lớn của mình và điều đó đồng nghĩa với việc sang Ai Cập, đào bởi ở những khu vực chôn cất cấm kị của các vị Pharaon vĩ đại. Mary vì không thích lắm nên cũng không mấy hưởng ứng. Theo bà, ông nên từ bỏ ý định ấy đi vì dù sao ông cũng không còn trẻ. Khí hậu ở thung lũng sông Nile không có gì tốt cho ông và bà cho rằng phải nhanh chóng thuyết phục ông cư trú ổn định ở một nơi nào đó thật thoải mái và thuận tiện. Với bà, châu Âu hay châu Mĩ đều không quan trọng. Bà nghĩ nên về sống ở Ailen quê hương ông - nơi đó, mức sống vào những ngày ấy cũng khá cao, nếu không nói là cao hơn ở Mĩ. Nhưng chuyến đi Ai Cập thật thú vị. Họ ở khách sạn Shepheard, Cairo. Đó là những ngày thanh bình, một vài năm trước khi chiến tranh thế giới nổ ra. Bà Hendry đi theo các điểm du lịch thông thường, thăm các kim tự tháp, tượng nhân sư ở Giza, cưỡi lạc đà và du thuyền trên sông Nile. Hendry không sang Ai Cập với mục đích du lịch thông thường. Với ông, đây là chuyến du lịch tới vùng đất của các Pharaon. Ông vùi mình vào việc khai quật nhiều loại mộ ở thung lũng các Hoàng đế với niềm đam mê mãnh liệt. Hiểu biết của ông đã gây ấn tượng đối với nhiều nhà Ai Cập học chuyên nghiệp và sự giàu có của ông cũng khiến họ vị nể. Thời ấy, phần lớn các cuộc khám phá đều do tư nhân tự bỏ vốn và các nhà triệu phú Mĩ luôn được hoan nghênh, đặc biệt với một người có kiến thức như Hendry. Cũng vào thời điểm Hendry tới Ai Cập, cái chết bí ẩn của một nhà khảo cổ học người Đức mang tên Schaffer đã làm xôn xao dư luận. Ông ta đang tiến hành khai quật ngôi mộ của một vị tu sĩ có đẳng cấp cao của “Trường đại học các tu sĩ bí ẩn Hoàng Gia”, được Cheops thành lập vào triều đại thứ tư, khoảng 4000 năm trước Công nguyên. Các bác sĩ nói rằng Schaffer chết là do chứng tim đột quỵ nhưng theo những công nhân Arập mê tín thì lúc ấy, ngôi mộ đầy những linh hồn quỷ dữ và đó mới là nguyên do cái chết của Schaffer. Ngôi mộ mới chỉ đào được đến phần bên ngoài, và người Arập cho rằng chắc chắn phải có một phòng rộng hơn ở bên trong, đó là nơi để xác ướp của vị tu sĩ, chứa đầy ma quỷ quyền năng mang cái chết đến cho kẻ nào dám cả gan đột nhập vào. Hendry quyết định tiếp tục công việc khai quật của Schaffer. Những câu chuyện về sự tận số và tai họa không hề làm Hendry lay chuyển. Hơn nữa, ông cho rằng những ngôi mộ cổ đều đã bị đột nhập và bị không biết bao nhiêu kẻ đến cướp bóc từ trước đến nay và nếu lời nguyền của vị tu sĩ linh ứng thì những kẻ cướp bóc mê tín đã không mò đến. Vì thế, Hendry đã kiếm được giấy phép hợp lệ để tiếp tục công việc của Schaffer. Ông để người vợ muộn phiền lại Cairo, tới vùng thung lũng của các Hoàng đế. Tất cả những công nhân đã làm việc cho Schaffer, không ai còn dám tới gần ngôi mộ và Hendry phải mua chuộc những người bản địa khác để họ giúp ông, nhưng ai cũng từ chối vào phòng trong, nơi có xác ướp. Với sự trợ giúp của họ, Hendry đã mở tung được ba phòng và cuối cùng cũng tới được phòng chôn xác. Cánh cửa mang dấu niêm phong của Cheops - một con dơi có đôi cánh lớn. Đằng sau dấu niêm phòng là nơi bất khả xâm phạm. Dùng ánh điện lắp tạm thời, Hendry tiếp tục công việc một mình. Vào phòng trong, ông tìm thấy một cái quách lớn bằng vàng. Căn phòng được trang hoàng xa hoa, vì triều đại thứ tư là vương triều của sự giàu có huy hoàng, khi nghệ thuật vương giả đạt đến đỉnh cao nhất. Nhấc nắp quan tài bằng vàng lên, ông nhìn thấy xác ướp của vị tu sĩ vẫn còn hoàn hảo, thậm chí bộ râu trắng của ông ta vẫn nguyên vẹn. Trên ngực xác ướp có con bọ hung có cánh, hình dáng như một con dơi chứ không giống một con bọ cánh cứng thông thường. Con bọ bị buộc chặt vào chính những dải băng đã gói xác chết sau quá trình làm héo xác ướp. Ông nhặt nó lên, xé ra khỏi những lần vải buộc đã mục theo thời gian. Đó là một con bọ hung lớn và được khắc chạm bằng những câu viết bí ẩn. “Hình như”, sau đó ông nói, “hình như một cơn giận dữ khủng khiếp bao trùm lên tôi như một đám mây lúc tôi động vào con bọ. Ngọn đèn chỉ còn le lói. Một cơn gió lạnh lan tỏa khắp ngôi mộ và tôi nghe thấy tiếng vi vu trong không khí lướt qua mặt tôi. Tôi đoán đó là những con dơi”. Quá khiếp sợ, ông chạy ra khỏi phòng, trong tay nắm chặt con bọ. Trước đây ông cho rằng lũ dơi chỉ là sự hư cấu và lúc này đây, ông chỉ muốn thoát ra khỏi bầu không khí ngột ngạt rùng rợn của phòng huyệt, ra ngoài bầu trời trong lành. Ông thấy quá mệt và đau nên không đi tiếp được. Ông lập tức trở lại Cairo, trong lòng còn quá hoảng sợ vì những gì đã xảy ra. Ông đã đọc được ở đâu đó rằng trong suốt thời gian trị vì, hoàng đế Cheops rất sùng bái một con dơi và ông lập ra “Trường đại học của các tu sĩ bí ẩn” vì lòng sùng bái của mình. Liệu hoàng đế có hình dung ra rằng có dơi trong phòng huyệt? và phòng huyệt có thể sẽ không được mở ra trong mười thế kỉ. Chẳng có con dơi nào lại có thể sống ở đó. Về tới Shepheard, ông thấy mặt vợ trắng bệch và đang hết sức hoảng hốt. “Micheal, em lo cho anh quá. Suốt ngày nay, em linh cảm như có chuyện gì đó thật khủng khiếp đã xảy ra. Cảm ơn Chúa, anh vẫn bình an”. Hendry cũng cảm ơn Chúa. “Anh không thích nơi đó, anh sẽ không quay lại đó nữa”, ông nói. “Chúng mình hãy cùng nhau xuôi sông Nile xuống Luxor. Thay đổi không khí sẽ có ích cho chúng ta”. Mary tán thành ngay nhưng bà vẫn muốn rời khỏi Ai Cập càng nhanh càng tốt. Bà chẳng bao giờ muốn chồng mình cứ đi đào bới xung quanh những nơi kì bí cũng như ở các ngôi mộ cổ. Bà thấy có một chút sự thực trong những câu chuyện kể về các lực lượng siêu nhiên hiển linh tại nơi đó. Có lần bà nghe người ta kể rằng việc lấy xác ướp ra khỏi quan tài là một hành động cực kì báng bổ thánh thần và sẽ chỉ mang lại toàn tai họa. Còn nếu ai sờ hay đọc những chú giải thần bí ở chỗ xác ướp thì người đó nhất định phải chết. Chuyến du ngoạn xuôi sông Nile làm cho Hendry dần phục hồi khỏi cú sốc kinh hoàng nọ. Ông vẫn ngoan cố giữ con bọ vì ông không tài nào từ chối một kho báu từ thời cổ đại hiếm và quý đến vậy. Ông giấu kĩ trong tư trang, không hề nói với ai, kể cả vợ mình về điều đó. Trong khi cắm trại nghỉ bên bờ sông Nile, cách Luxor không xa, ông bị một tiếng động lạ đánh thức. Hé mắt nhìn ra cửa lều, ông thấy một con dơi khổng lồ, trắng toát, bay nhẹ nhàng không ngớt quanh căn lều, phát ra tiếng kêu chít chít. Nó khiến ông sợ hết hồn. Ông cố gắng đuổi nó đi nhưng nó cứ chao liệng vòng tròn, đôi lúc sà xuống gần ông và nhìn chòng chọc vào mặt ông bằng đôi mắt xoi mói rùng rợn. Ông chưa bao giờ thấy một con dơi nào như thế. Trông nó không giống như sinh vật ở thế giới này. Ông quay vào và đóng chặt cửa lều. Vợ ông nằm ngủ trên chiếc giường dã ngoại. Cám ơn Chúa và ít nhất bà ấy đã không bị đánh thức bởi con vật đáng sợ của đêm đen. Hendry không tài nào ngủ được. Ông nằm đó, lắng nghe con dơi the thé báo điềm gở cứ chao liệng bên ngoài. Có lúc cánh của nó tức tối đập vào vải bạt như muốn tìm cách chui vào lều. Hendry để ý thấy mặc dù vợ mình không tỉnh giấc nhưng bà cứ liên tục trở mình. Khi nhìn gần hơn vào mặt vợ, ông thấy mặt bà căng ra vì sợ, mồ hôi lấm tấm trên trán. Liệu tiếng kêu chít chít của sinh vật thuộc đêm đen ấy có ảnh hưởng đến giấc ngủ của con người không? Tiếp đập cánh ngưng được một lúc thì Hendry cẩn thận mở cửa lều nhìn ra. Ông thấy con dơi trắng khổng lồ lượn vòng tròn quanh căn lều một lần cuối rồi bay qua sông Nile, theo hướng Luxor. Ông thấy nó bay cao trên nền trời trắng bạc của đêm trăng tròn, về lại nơi nó xuất phát. Bên dưới nó, đằng xa là cảnh hoang tàn, đổ nát của “Ngôi đền Thebes” do Amenhotep đệ tam cho xây cất, cha của Pharaon dị giáo và Akhenaton. Nhưng giữa vị tu sĩ đắc đạo của Cheops và “Ngôi đền của Thebes” là khoảng thời gian sáu thế kỉ và cách xa nhau hàng trăm dặm. Chẳng có gì liên quan giữa con dơi trắng khổng lồ với con bọ ông vẫn cố tình cất giữ cẩn thận trong đống hành lí. Ông quay lại lều, cố dỗ giấc ngủ. Ông thấy, từ lúc con dơi bay đi, vợ ông ngủ bình thản hơn. Còn ông đêm đó chẳng được an giấc. Ông nằm đó, trằn trọc, bị nỗi sợ ám ảnh. Trong lúc nửa tỉnh nửa mơ lúc rạng sáng, ông thấy mình quay lại ngôi mộ của vị tu sĩ đắc đạo, ở đó tối om và toàn những cảnh khủng khiếp rợn người. Buổi sáng ngủ dậy, vợ ông u sầu, chán nản ghê gớm, bà chẳng hiểu tại sao mà cũng chẳng rũ bỏ được. Bà nói rằng mình có một cơn ác mộng kinh khủng. Khi ông nài ép, bà cố gắng tả lại nhưng bà không nói được gì ngoài câu, trong mơ, bà thấy có rất nhiều dơi và có một con dơi kì dị, khác thường cứ cố săn đuổi bà. Bà chán ngấy Ai Cập. Đây là nơi khiến bà bị căng thẳng thần kinh nhất. Hendry cũng quá ngán đất nước này. Ông đã mất gần hết lòng nhiệt thành đối với Ai Cập học nhưng ông vẫn không chịu chia tay với con bọ - kết quả thực tế trong lần khai quật duy nhất của ông giữa những đổ nát của quá khứ. Ông không tin vật đó lại có thể gây hại cho mình và ông không hề nghĩ rằng Mary sẽ gặp phải bất cứ hiểm họa gì. Họ sẽ rời Ai Cập, chuẩn bị tới Hi Lạp và sau đó tiếp tục sang Ý - nơi ông thấy vẫn tồn tại thế giới cổ kính mà không bị bao trùm những đám mây thần bí và không bị phù phép bởi các ma thuật khó hiểu của các tu sĩ. Nhưng không gì khiến họ có thể thoát ra khỏi sự đày ải, tai họa đã vây lấy họ. Đêm đó, bên bờ sông Nile, Mary Hendry mắc chứng nghẹt thở đến lịm đi rất kì lạ. Bà không còn vui vẻ, hoạt bát mà chìm sâu vào những cơn u sầu liên miên, ảnh hưởng đến cả tinh thần và thể xác. Bà rất ít khi ngồi dậy, ăn không thấy ngon miệng, mất hết sức sống, lúc nào cũng muốn nằm. Hendry đưa bà tới hết bác sĩ này đến bác sĩ khác, vị nào cũng đưa ra một loạt chuẩn đoán có vẻ hợp lí nhưng không ai thực sự tìm ra bệnh hoặc kê được đơn thuốc làm thuyên giảm bệnh tình của bà. Bà như không còn ở bên ông nữa, tự tuột ra khỏi cuộc sống. Sự việc không xảy ra từ từ mà chỉ trong vòng vài tuần, quá nhanh đến nỗi ông không kịp đưa bà quay lại Mĩ, nơi ông cho rằng có thể chạy chữa cho bà vì các bác sĩ bảo rằng bà không thích nghi được với chuyến đi vượt Đại Tây Dương. Còn với Hendry, giấc ngủ của ông chỉ toàn ác mộng. Vào một đêm, vợ ông có vẻ khá hơn suốt cả ngày, ông đi ngủ với trái tim tràn trề hi vọng. Ông có một giấc mơ rùng rợn, khủng khiếp. Ông đang đi qua một hội trường lớn, tiếp theo đó là nhà thờ rộng mênh mông, trong đó có những hình người Ai Cập khổng lồ được chạm khắc trên những công trình bằng đá. Đôi chân ông đi nhanh như chạy, như muốn vượt qua những căn phòng tráng lệ của thế giới sông Nile cổ xưa và ông cảm nhận rõ hương thơm kì lạ, hương thơm ấy càng ngày càng ngào ngạt hơn khiến ông không kìm nén được cơn buồn nôn. Giờ đây, những hội trường lớn Ai Cập khổng lồ được thay bằng những hành lang đá vô tận. Lúc đầu ông nghĩ đó là những hành lang trong kim tự tháp nhưng ông rảo chân qua các hành lang ngày càng hẹp hơn và ông biết đó là con đường dẫn tới trung tâm trái đất. Ông cũng biết mình đang bị săn đuổi. Ông không dám nhìn xung quanh nhưng ông biết rõ cái gì đang truy đuổi mình. Chính là hương thơm tỏa mùi đến phát ốm, chế ngự khắp nơi và mỗi lúc một ngào ngạt hơn. Cuối cùng, ông cũng kết thúc được hành trình và thấy mình nằm trong một phòng mộ bằng đá không có lối thoát. Khi đứng lên, mồ hôi lạnh túa ra, ông thấy căn phòng càng ngày càng hẹp hơn, tính đến từng giây, các bức tường và tấm trần cứ ép sát vào người ông. Giờ đây, ông đang nằm trên sàn, hoảng sợ tột độ, nghẹt thở vì hương thơm, hình như toàn bộ mùi thơm ở những ngôi mộ cổ Ai Cập đều ập đến. Khi ngửng lên, ông mới thấy kinh hoàng - con dơi trắng khổng lồ từ từ đậu xuống, hút dần sinh khí của ông. Hendry tỉnh hẳn dậy, tiếng kêu nghèn nghẹn như bị bóp cổ, ông ngồi dậy, mồ hôi túa ra như tắm và cảm giác khó chịu như có cái gì đó bám chặt ở cổ họng. Nỗi sợ tột cùng từ lúc tỉnh dậy vẫn chưa xua tan được thì khi nhìn quanh căn phòng ngập tràn ánh trăng, ông lại thấy con dơi trắng bay ngang qua, thoát ra ngoài cửa sổ để ngỏ. Ông nhảy khỏi giường, không chỉ sợ cho riêng mình. Ý nghĩ đầu tiên của ông là phải tiến lại cửa sổ, đuổi cái sinh vật ghê tởm ấy ra ngoài. Khi ông làm vậy, con dơi đậu yên bên ngoài tấm kính, đôi tai nhọn vểnh lên, đôi mắt thú tính sáng rực của nó nhìn ông chằm chặp. Ông lùi trở lại phòng và con dơi cất đôi cánh lên kèm theo tiếng đập cánh uyển chuyển và nhẹ nhàng bay theo hướng mặt trăng qua các ngôi nhà, bên trên các tán cây đến lúc nó chỉ còn là một chấm nhỏ trên cái thiên thể bạc. Từ phía cửa sổ, Hendry quay mình lại, nhanh chóng chạy sang buồng vợ qua chiếc cửa thông với phòng ông. Vừa bước vào phòng, ông vừa nhìn thẳng về phía trước, miệng gọi tên bà. Ông thấy bà nằm trên giường, trong tư thế không mấy tự nhiên như thể bị đánh thức bất ngờ. Bà không tỉnh dậy nữa. Bà nằm đó, hồn lìa khỏi xác, đôi mắt hoảng sợ mở trừng trừng. Hendry biết rằng đó là tại con dơi trắng, nó đã bay vụt sang phòng bà khi ông vừa tỉnh khỏi cơn ác mộng. “Chứng đột tử vì tim”, bác sĩ kết luận. Tôi không thể đưa ra một lời giải thích nào khác, có lẽ là một cú sốc. Vâng, điều đó hoàn toàn có sơ sở, trong tình trạng u uất như vậy, một giấc mơ mạnh cũng có thể giết chết bà ấy. Hendry vô cùng đau khổ. Ông yêu vợ và họ càng yêu nhau hơn từ khi những chuyện rắc rối ở ngôi mộ vị tu sĩ đắc đạo bắt đầu xảy ra. Mọi thứ trượt dần khỏi quỹ đạo. Vào ngày đưa tang vợ, ông nhận được tin tức nghiêm trọng từ New York. Hai nơi ông tập trung phần lớn tài sản của mình để đầu từ bỗng nhiên thất bại và ông phải hứng chịu thiệt hại rất lớn trong việc phá sản tiếp sau. Tiếp đến, một người bạn đáng tin cậy ở New York biển thủ 50.000 đô la của ông rồi tự tử. Người cha già ở New Orleans cũng bỗng nhiên chết vì cơn đột quỵ không rõ nguyên nhân. Trong tình trạng tuyệt vọng, Hendry đi hết nước này sang nước khác nhằm thoát khỏi con dơi trắng toát giờ đây cứ liên tục săn lùng ông. Nó luôn xuất hiện vào ngày rằm, và mỗi lần nó đến, ông đều gặp phải cùng một cơn ác mộng: ông nằm trong phòng huyệt của vị tu sĩ, không khí ngột ngạt toàn mùi hương ngạt ngào ấy. Căn phòng cứ hẹp vào, hẹp vào mãi, ép sát vào ông khiến ông bị ngạt thở vì hương thơm trong nỗi hãi hùng. Ông tỉnh dậy với cảm giác kinh hoàng là có cái gì đó cứ bám chặt ở cổ, hút dần sinh lực của ông. Bên ngoài cửa sổ, trong ánh sáng của đêm rằm, con dơi cứ nhìn ông bằng đôi mắt linh lợi y như mắt người. Không giống những con dơi khác ông đã gặp, nó chỉ mang đến toàn điềm gở, chứa đầy tai họa và ông cho rằng nó không thuộc về thế giới này. Mặc kệ những nỗi sợ không tên, Hendry với bản chất ngoan cố, vẫn giữ con bọ, bỏ ngoài tai những lời khuyên của các bạn bè, những người ông kể chuyện, rằng ông phải trả nó về nơi ông đã lấy nó. Nhưng Hendry như đã bị bỏ bùa mê. Ông không hoàn trả nó về chỗ cũ. Ông đã mất hết mọi thứ trong cuộc đời và có lẽ, bất kể con dơi có làm gì thì cũng không còn có nghĩa với ông nữa. Ở Luân Đôn, ông tham khảo ý kiến các nhà Ai Cập học và các sinh viên về chuyện huyền bí này. Đầu tiên, người ta nghi ngờ câu chuyện của ông và có người đã bảo với ông rằng, những con bọ không hề được biết đến ở triều đại thứ tư, đó là thời gian trị vì của Cheops, hay Khufu gì đó và con bọ được tìm thấy trên xác ướp của vị tu sĩ đắc đạo có lẽ đã được đặt vào ở triều đại sau. Nếu thực thế, Hendry tin rằng, một thời gian sau, trong thời kì Ai Cập cổ đại, các vị tu sĩ đã đưa ra những lời nguyền độc địa đầy quyền năng. Và chắc họ, khi thấy ngôi mộ bị đột nhập đã niêm phong nó bằng những lời nguyền khủng khiếp, hơn thế, họ còn cho gắn con bọ có cánh lên xác ướp. Hendry nhớ ra ông đã gặp con dơi trắng khổng lồ ở “Ngôi đền của Thebes”, được xây dựng hai nghìn sáu trăm năm sau thời Cheops. Điều huyền bí ấy đã được tìm ra, không phải nhờ các nhà Ai Cập học hay những chuyên gia về chuyện bí ẩn, những người có thừa lòng ham mê, đầy một mớ lí thuyết nhưng không giúp được ông điều gì. Có một người mượn ông con bọ rồi ngay ngày hôm sau đã trả lại ông không chút do dự và kể rằng ông ta đã có một cơn ác mộng cực kì rùng rợn, sau đó ông nhìn thấy con dơi trắng khổng lồ nhẹ nhàng đập cánh ngoài cửa sổ. Ông ta nài nỉ Hendry mang con bọ quay lại Ai Cập, trả nó về với xác ướp của vị tu sĩ nọ. Nhưng Hendry không đời nào lại đi hứa làm việc đó. Đêm đêm, ông hoảng sợ lê bước đến bên giường và càng trì hoãn được việc đó càng lâu càng tốt. Sau những cơn ác mộng liên tiếp về dơi, ông tỉnh dậy, thấy cổ họng mình sưng lên và cứng lại. Bác sĩ chuẩn đoán ông bị một loại côn trùng có nọc độc cắn. Câu chuyện kết thúc tại Paris. Con dơi trắng xuất hiện lần cuối cùng khi ông đang ngụ tại một khách sạn ở đường Fayette. Nửa đêm, trong khách sạn vang lên một tiếng thét dài ghê sợ. Sáng hôm sau, người ta thấy Hendry chết cứng trên giường. Bác sĩ nói rằng ông đột tử vì tim ngừng đập. Người hầu phòng nói rằng, tối hôm trước, ông nhất định đóng chặt các cửa chớp phía ngoài khuôn cửa sổ phòng ông. Nhưng khi ông chết, các cửa chớp và cửa sổ đều mở rộng. Người ta không tìm thấy con bọ trong đống hành lí của ông. Nó đã biến mất và từ đó trở đi, con dơi trắng khổng lồ cũng không xuất hiện nữa. VÕ THỊ MINH HÀ dịch (Rút từ tập Fifty Great Horror Stories, 1993) HANS HEINZ EWERS (Đức) Hans Heinz Ewers (1871-1943): Nhà văn, nhà thơ, nhà soạn kịch, và viết tiểu luận người Đức. Ông là tác giả các tiểu thuyết như: “Học trò thầy phù thủy, hay là Người săn quỷ” (1910), “Alraune” (1911), “Ma cà rồng” (1920), “Chàng kị sĩ trong bóng đêm miền Đức quốc” (1932), và nhiều tập truyện ngắn, trong số đó có “Những nỗi kinh hoàng” (1918), “Đám tang tôi” (1917). Con Nhện Lilit. Chính nơi ấy là ý chí không hề báo cái chết. Ai hiểu thấu được bí ẩn của ý chí với tất thảy sức mạnh của nó? Joseph Glanvill([1]) Chàng sinh viên y khoa Richard Brakemon đã chuyển đến phòng số 7 tại khách sạn nhỏ “Stevence” ở số 6 phố Alfred Stevence sau khi liên tiếp vào ba ngày thứ sáu trước tại chính căn phòng đó có ba người treo cổ tự tử trên cái xà ngang cửa sổ. Người thắt cổ đầu tiên là một tay chào hàng người Thụy Sĩ. Chỉ mãi đến tối thứ bảy người ta mới phát hiện ra xác anh ta, bác sĩ đã xác định được rằng anh ta chết vào quãng giữa năm và sáu giờ chiều thứ sáu hôm qua. Cái xác treo lủng lẳng dưới một cái móc to được đóng chặt vào khung cửa sổ ở đúng chỗ mà cái khung ấy tạo ra một cái giá chữ thập, và có lẽ nó được dùng để treo áo. Kẻ tự tận đã treo mình bằng cái dây rèm, cửa sổ đóng. Bởi lẽ cửa sổ rất thấp nên hai đầu gối của kẻ xấu số thõng chạm sàn phòng, điều đó chứng tỏ anh ta phải bộc lộ sức mạnh ý chí ghê gớm lắm để thực hiện cái ý định quyên sinh của mình. Sau đó người ta biết thêm được là anh ta đã có vợ và cái chết này khiến anh ta bỏ lại bốn đứa con; ngoài ra, người ta cũng biết hoàn cảnh kinh tế của người chết là hoàn toàn sung túc và anh ta là người vui tính và vô tư lự. Vụ tự tử thứ hai trong căn phòng này không khác lắm với vụ thứ nhất. Nghệ sĩ Krauze vốn biểu diễn các trò ảo thuật tung hứng trên xe đạp cho một rạp xiếc và các tiếc mục ảo thuật của anh rất ăn khách, anh ta cũng chuyển tới phòng số 7 hai ngày sau đó. Vì anh ta không tới rạp xiếc vào ngày thứ sáu sau đó nên ông giám đốc cử một nhân viên soát vé và xếp chỗ đến gọi anh ta. Ông nhân viên đã thấy nhà nghệ sĩ ảo thuật chết treo dưới cái xà ngang cửa sổ trong căn phòng số 7 không khóa: đúng như cái khuôn cảnh mà vị khách trọ đầu tiên đã chết. Vụ tử vẫn này chẳng kém bí ẩn hơn vụ đầu. Nhà nghệ sĩ rất được công chúng ái mộ này được trả lương rất cao, anh mới chỉ hai mươi lăm tuổi và đã nếm đủ mọi niềm vui sướng của cuộc đời. Và người quá cố cũng chẳng để lại một dòng thư tuyệt mệnh cũng như bất kì lí do gì giải thích hành vi của mình. Sau cái chết của mình anh không còn ai thân thích, trừ bà mẹ mà cứ ngày đầu tiên hàng tháng cậu con trai đều cẩn thận gửi 200 mark về chu cấp cho bà. Đối với bà Dubonnais, nữ chủ nhân khách sạn này, nơi rất hãn hữu có khách hàng là người thuộc đám nghệ sĩ của các nhà hát tạp kĩ ở khu Monmartre kế cận, thì vụ tự sát bí ẩn thứ nhì kia quả đã có những hậu quả thật tồi tệ. Một số khách trọ đã rời khách sạn. Còn những khách hàng thường xuyên khác của bà thôi không còn ghé lại đây nữa. Bà liền tới hỏi ý kiến và lời khuyên của ông bạn thân, ngài chánh cẩm khu vực IX, ông này hứa với bà là sẽ làm tất cả những gì thuộc thẩm quyền mình. Và trên thực tế, ông ta không chỉ bắt tay điều tra nguyên do tự vẫn của hai vị khách trọ một cách mẫn cán, nhiệt tâm mà còn tìm được cho bà ta một khách trọ mới cho căn phòng bí ẩn kia. Charles Maria Cheaumie phục vụ ở cục cảnh sát và tình nguyện đồng ý đến ở phòng số 7, ông ta từng là một con sói biển già đời đã tòng ngũ thủy quân mười một năm ở hạm đội. Khi ông ta còn mang hàm trung sĩ thì đã ngược xuôi tới vùng Bắc Kì và Trung Kì Việt Nam nhiều lần, từng một mình đứng gác trên vọng gác nhiều đêm ròng và nhiều lần chơi cho bọn cướp biển hàng tràng đạn liên thanh khi chúng mang cờ vàng mon men đến gần chòi gác trong bóng tối mịt mùng. Bởi thế nên người ta có cảm giác ông ta sinh ra trên đời để sẵn sàng đón gặp “những bóng ma” mà bây giờ đã làm cho dãy phố Alfred Stevence trở nên khét tiếng. Ông Cheaumie dọn vào phòng ở chiều tối chủ nhật và sau khi ngủ ngon lành, thầm cảm ơn bà chủ khách sạn Dubonnais đã khoản đãi bữa ăn tối thật ngon và thịnh soạn. Hàng ngày vào buổi sáng và buổi chiều tối phải Cheaumie đến gặp chánh cẩm để báo cáo ngắn gọn về mọi sự. Mấy ngày đầu những báo cáo ấy chỉ giới hạn ở lời thông báo rằng tất cả đều ổn thỏa và ông không hề thấy gì hết. Song vào chiều tối thứ tư thì ông ta cho biết bắt đầu dò được những dấu vết nào đó. Với yêu cầu của ngài chánh cẩm cần trình bày rõ hơn thì ông ta chối từ và nói thêm rằng hiện thời ông ta chưa tin chắc liệu sự phát hiện đó có mối liên hệ nào với hai vụ tự tử trong căn phòng này hay không. Vả lại ông cũng bảo rằng ông sợ trở nên lố bịch, buồn cười và rằng ông ta sẽ kể tỉ mỉ hơn khi có đủ tự tin. Ngày thứ năm ông ta xử sự kém tự tin hơn và đồng thời có vẻ nghiêm trọng hơn, nhưng ông ta chẳng kể ra điều gì mới mẻ cả. Vào sáng thứ sáu ông có vẻ bị kích động mạnh, ông ta nói nửa đùa nửa thật rằng dù thế nào đi nữa thì cái cửa sổ đó thực sự có một sức thu hút kì lạ nào đó. Song ông Cheaumie khẳng định điều này tuyệt nhiên không có mối liên hệ gì đến việc tự sát và chắc người ta sẽ chế nhạo ông nếu ông nói thêm điều gì đó vào những gì đã kể. Buổi chiều tối hôm ấy ông không đến đồn cảnh sát nữa: người ta thấy ông chết treo cổ ở thanh xà ngang cửa sổ trong căn phòng đã ở. Lần này thì cảnh huống tự tử cũng hệt như hai vụ trước đến từng chi tiết nhỏ: hai chân kẻ thắt cổ chạm sàn nhà, thay vì dây thừng thì một sợi dây lấy từ rèm cửa được dùng để tự vẫn. Cửa sổ mở, cửa ra vào không khóa; cái chết đến vào lúc sáu giờ chiều. Mồm kẻ chết treo cứ há hốc, lưỡi thè lè ra ngoài. Hậu quả của vụ chết người thứ ba ở trong căn phòng số 7 là vào hôm ấy, tất cả các khách trọ của khách sạn “Stevence” đã ra đi; ngoại trừ một ông giáo người Đức ở phòng số 16, song việc ở lại này có lí do của nó: ông ta lợi dụng vụ việc này để giảm được tiền thuê phòng xuống một phần ba: một sự an ủi quá nhỏ nhoi cho bà Dubonnais là việc ngày hôm sau cô Mary Garden, minh tinh nhà hát Opera - Comique đã đi một cỗ xe ngựa rất sang trọng đến gặp bà và trả hai trăm frăng để mua sợi dây màu đỏ mà kẻ xấu số đã dùng để treo cổ tự vẫn. Cô ấy làm như vậy là vì cái vật đó sẽ mang lại hạnh phúc và hơn nữa, người ta sẽ viết về việc này trên báo chí. Nếu việc nói trên lại xảy ra ngay và mùa hè, tháng bảy hay tháng tám chẳng hạn thì bà Dubonnais chắc sẽ nhận được số tiền bán nhượng sợi dây kia gấp ba lần vì lúc đó báo chí có thể dành trọn cả một tuần viết kín các cột báo về chủ đề này. Nhưng vào giữa mùa chính trị sôi nổi này thì báo chí còn vướng bận biết bao đề tài: nào bầu cử, nào các sự kiện ở Marốc, ở Ba Tư, nhà băng vỡ nợ tại New York, rồi ba vụ án chính trị, và thực tế báo chí không còn chỗ để đăng tải sự vụ kia nữa. Kết quả là biến cố trên phố Alfred Stevence thu hút ít sự chú ý hơn là nó đáng có. Nhà đương cục đến lập biên bản ngắn ngủi - và chỉ có thế là vụ án kết thúc. Chàng sinh viên y khoa Richard Brakemon chỉ biết có biên bản đó thôi khi quyết định thuê cho mình căn phòng ấy. Chàng hoàn toàn chẳng biết một yếu tố, một chi tiết nhỏ, vả lại chi tiết đó lại nhỏ nhoi và tầm thường đến nỗi ngài chánh cẩm và chẳng ai trong số những nhân chứng thấy cần cần thiết phải thông báo cho các phóng viên biết đến. Chỉ mãi sau này, sau khi câu chuyện kì lạ xảy ra với chàng sinh viên, người ta mới sực nhớ đến sự việc bé nhỏ ấy. Sự thể là khi các nhân viên cảnh sát gỡ viên trung sĩ Charles Maria Cheaumie ra khỏi cái thòng lọng oan nghiệt thì một con nhện đen to kềnh bò từ mồm ông ta ra. Người hầu phòng lấy ngón tay búng con nhện và thốt lên: - Quỷ tha ma bắt, lại cái con côn trùng độc địa này. Sau đó trong thời gian điều tra vụ việc liên quan đến Brakemon, anh ta thông báo rằng khi lôi xác người chào hàng Thụy Sĩ kia ra khỏi sợi dây thắt cổ thì đúng con nhện này đã bò từ vai ông ta xuống. Nhưng Richard Brakemon không hề biết việc đó. Chàng đã dọn tới ở phòng số 7 hai tuần sau vụ treo cổ tự tử thứ ba, ấy là vào ngày chủ nhật. Chàng ghi vào nhật kí tất cả những gì đã nếm trải trong căn phòng ấy.zzzzz NHẬT KÝ CỦA RICHARD BRAKEMON, CHÀNG SINH VIÊN Y KHOA Thứ Hai, ngày 28 tháng Hai. Mình bắt đầu ở trong căn phòng này ngày hôm qua. Sau khi mở hai gói đồ mình bỏ các đồ đạc ra và sau đó đi nằm nghỉ. Mình ngủ thật ngon, đồng hồ điểm chín giờ khi có tiếng gõ cửa đánh thức mình dậy. Đó là bà chủ mang bữa ăn sáng lên cho mình. Bà ấy đặc biệt quan tâm đến mình, điều đó được thấy rõ theo món trứng, món giăm bông và li cà phê tuyệt ngon mà bà đích thân mang vào phòng. Mình rửa mặt và mặc quần áo, rồi sau đó bắt đầu quan sát xem người hầu phòng dọn dẹp phòng mình thế nào. Đồng thời mình châm tẩu. Thế là mình đã ở đây rồi. Mình hiểu rõ là mình đã can dự vào một trò chơi nguy hiểm, nhưng cùng lúc ấy mình nhận thức được rằng sẽ đạt được nhiều điều nếu lần ra được dấu vết đích thực. Nếu như trước đây Paris thật dễ sống, giờ đây để tồn tại ở Paris ấy đâu có rẻ như trước, thì mình bất luận thế nào cũng có thể đặt cược cái cuộc đời chẳng lâu dài gì của mình. Nhưng chính ở đây có một cơ hội: thật là tuyệt, mình sẽ thử vận may của mình. Tuy nhiên cả những người khác cũng muốn được thử vận may. Không ít hơn hai mươi bảy người, một số tới cơ quan cảnh sát, số khác tới thẳng chỗ bà chủ để yêu cầu được ở căn phòng đó. Trong số những kẻ kì vọng có cả ba phụ nữ. Như vậy chẳng thiếu người trong cuộc cạnh tranh này: có lẽ tất thảy mọi người đó cũng nghèo kiết như mình. Nhưng mình “đã được cuộc”. Vì sao nhỉ? Chà, có lẽ, mình là người duy nhất đã phỉnh được cảnh sát nhờ một “ý tưởng”. Còn phải nói, ý tưởng ấy quả là hay! Tất nhiên, đó chẳng gì khác hơn một tin vịt mà thôi. Chính những lời tường trình ấy là được dành cho cảnh sát, và bởi thế nên giờ đây mình khoái trá muốn nói với các ngài ấy rằng mình đã khéo phỉnh phờ được họ. Nếu ngài chánh cẩm là một con người khôn ngoan thì ông ta sẽ nói: “Hừm, chính vì thế mà tay Brakemon ấy là người thích hợp hơn cả”. Tuy vậy mình cũng thờ ơ, chẳng xao động gì nếu sau này ông ta có nói như thế. Giờ đây, dù thế nào đi chăng nữa, mình đã ngồi đây rồi. Và mình cho cái việc mình xỏ mũi được các đức ông ấy là một điềm tốt đẹp. Mình bắt đầu từ việc đến gặp bà Dubonnais, nhưng bà đẩy mình lại cơ quan cảnh sát. Suốt một tuần mình lui tới đó và hàng ngày chỉ nhận được độc một câu trả lời rằng đề nghị của mình đã “được nhận để cứu xét” và rằng mình phải đến vào ngày mai. Phần lớn những kẻ tranh đua với mình đã nhanh chóng lùi bước, rất có thể là họ muốn làm việc gì đó khác hơn là cứ ngồi trong cơ quan cảnh sát ngột ngạt để chờ đợi hàng giờ liền. Còn đối với mình thì có lẽ sự kiên trì của mình đã khiến thậm chí ngài chánh cẩm không thể nhẫn nại hơn được nữa. Cuối cùng ông ta tuyên bố với mình một cách kiên quyết để mình không còn tới đó nữa, vì việc này sẽ chẳng dẫn đến kết quả gì hết. Ông ta bảo là rất cảm ơn mình cũng như cảm ơn mọi người khác do thiện ý của mình, nhưng những “lực lượng tài tử, không chuyên nghiệp” không hề cần thiết cho công việc này. Nếu như mình chẳng hề có một kế hoạch hành động được soạn thảo kĩ lưỡng thì sẽ chẳng ăn nhằm gì hết... Mình đã bảo ông ta rằng có một kế hoạch hành động. Lẽ đương nhiên mình đã chẳng có kế hoạch nào sất và mình không thể nói cho ông ta hay dù chỉ một lời về cái kế hoạch ấy. Nhưng mình đã tuyên bố với ông ta rằng mình sẽ công bố kế hoạch của mình, một kế hoạch rất hay, nhưng rất nguy hiểm, có thể đem lại các kết quả mà hoạt động của các viên cảnh sát nhà nghề vẫn dẫn tới, chỉ trong trường hợp nếu ông ta hứa với mình rằng sẽ đích thân nhận thực hiện kế hoạch đó. Nhờ có thế mà ông ta hết lòng cảm ơn mình và bảo ông ta chẳng có chút thì giờ nào để soạn ra được một kế hoạch như thế. Nhưng ở đây mình đã nhận thấy là có chỗ dựa, hơn thế nữa, ông ta hỏi liệu mình có thể tiết lộ kế hoạch đó cho ông ta biết hay không. Mình đã làm điều đó. Mình kể cho ông ta nghe một thứ huyễn hoặc vô cùng mà trước đó một giây mình chẳng có một chút khái niệm nào hết, tự mình cũng chẳng hay điều đó xuất hiện từ đâu mà lọt vào đầu mình. Mình bảo ông ta rằng trong mọi thời khắc của một tuần thì nổi bật lên một giờ có ảnh hưởng thần bí, kì lạ nào đó đến con người ta. Ấy là giờ chúa Kitô biến khỏi ngôi mộ của Người để xuống địa ngục, tức là giờ thứ sáu buổi chiều ngày cuối cùng của tuần lễ theo lịch Do Thái. Mình cũng nhắc ông ấy rằng chính vào giờ đó, thứ sáu, giữa năm và sáu giờ đã xảy ra ba vụ tự sát. Mình không thể nói gì hơn nữa với ông ta, mình nhắc ông ta như thế, nhưng sau đó có đề nghị ông ấy chú ý đến Mặc Khải của thánh Giăng. Ngài chánh cẩm nhíu mày tựa hồ như đã hiểu được điều gì đó, ông ta cảm ơn mình và đề nghị đến buổi chiều lại đến nữa. Mình vốn là người chính xác về giờ giấc nên đã đến đúng giờ hẹn tại văn phòng ông ta. Trước mắt ngài cẩm ở trên bàn có cuốn Kinh Tân Ước. Vào thời gian xảy ra chuyện ấy mình cũng có phần khảo cứu tương tự: mình đã đọc hết sách Khải Huyền và chẳng hiểu lời nào trong đó cả. Rất có thể ngài chánh cẩm thông thái hơn mình, bất luận thế nào thì ông ta cũng rất nhã nhặn tuyên bố rằng bất chấp sự ngụ ý tối nghĩa của mình thì ông ta cũng đoán định được kế hoạch mình đưa ra. Sau đó ông ta bảo là sẵn sàng ủng hộ ý muốn của mình và trợ giúp mình ở mức có thể được. Phải thừa nhận rằng ông ta cực kì ân cần, cởi mở với mình. Ông ta đã kí kết với bà chủ khách sạn một điều kiện mà theo đó bà ta có bổn phận chăm nuôi mình hoàn toàn trong khách sạn. Ngài chánh cẩm cũng giao cho mình khẩu súng lục rất nhạy và một chiếc còi cảnh sát; các viên cảnh sát trực ban được lệnh phải thường xuyên hơn nữa đi tuần phòng dọc con phố nhỏ Alfredfred Stevence và sẵn sàng tới chỗ mình ngay khi có một dấu hiệu mình đưa ra. Nhưng quan trọng hơn hết là việc ngài đã đặt trong phòng mình một chiếc điện thoại để bàn, tạo cho mình điều kiện có thể luôn luôn liên lạc được với đồn cảnh sát. Đồn cảnh sát cách đây cả thảy có bốn phút đi bộ, và bởi thế mình sẽ được trợ giúp rất nhanh nếu có xảy ra chuyện gì khẩn trương. Sau khi lưu ý đến tất cả những lẽ nói trên thì mình không thể hình dung mình sợ cái gì cơ chứ. Thứ Ba, ngày mồng Một tháng Ba Cả hôm qua lẫn hôm nay chẳng có chuyện gì xảy ra. Bà Dubonnais đã đem đến một sợi dây mới để lồng rèm cửa lấy từ phòng bên cạnh, vì giờ đây trong khách sạn này phần lớn phòng là trống vắng. Nói chung, bà tận dụng bất cứ dịp nào đến chỗ mình, và mỗi lần ấy bà đều đem một cái gì đó tới. Mình đề nghị bà kể lại một lần nữa cho mình nghe toàn bộ chi tiết về những gì đã xảy ra trong căn phòng mình đang ở, song mình chẳng biết thêm điều gì tới nữa cả. Bà ta có một ý kiến độc đáo riêng về nguyên nhân các vụ tự sát. Đối với nhà nghệ sĩ thì bà nghĩ rằng ở đây có dính líu đến một cuộc tình bất hạnh: trước vụ việc đó một năm thì anh này cũng đã từng sống ở đây và có một thiếu phụ trẻ thường ghé thăm anh ta, nhưng lần này thì chẳng thấy bóng dáng cô ta đâu nữa. Còn về ông người Thụy Sĩ thì bà ta không rõ điều gì đã buộc ông ta đi đến một quyết định chết người đến thế, nhưng làm sao mà hiểu hết lòng người? Chà, còn ông trung sĩ thì chẳng nghi ngờ gì nữa, ông ta tự tử chỉ là để chọc tức cô gái ấy mà thôi. Phải nói rằng những lời giải thích của bà Dubonnais mang cái nét nông cạn nào đấy, nhưng mình cứ để bà ta thả sức nói dông nói dài vì dẫu sao điều đó cũng khiến mình được giải trí. Thứ Năm, ngày mồng 3 tháng Ba Vẫn chưa có điều gì mới. Ngài chánh cẩm gọi điện cho mình chừng hai lần một ngày, mình đáp lại rằng mình thấy rất khỏe, có lẽ lời báo cáo ấy không hoàn toàn làm ông ta thấy thỏa mãn. Mình lấy các cuốn sách y học ra và bắt đầu nghiên cứu, như vậy sự giam hãm tự nguyện sẽ mang lại cho mình ít ra một lợi ích nào đó chứ. Thứ Sáu, ngày mồng 4 tháng Ba, 2 giờ chiều Mình ăn trưa thật ngon miệng: bà chủ đã đãi mình một nửa chai sâm banh cho bữa trưa. Đó quả là bữa ăn thịnh soạn đích thực dành cho kẻ tử tội. Bà ấy nhìn mình tựa hồ mình đã chết đến ba phần tư rồi. Khi rời phòng, nước mắt lưng tròng, bà ấy đề nghị mình đi theo ra cùng: có lẽ bà ấy sợ mình cũng sẽ treo cổ tự vẫn “để chọc tức cô ấy”. Mình cẩn thận xem xét cái dây mới treo rèm cửa. Như thế có nghĩa là bây giờ mình phải thắt cổ bằng nó chăng? Hừm, mình có quá ít mong muốn để làm việc đó. Hơn nữa, cái dây này cứng quèo và thô nhám khó mà buộc thành thòng lọng được; cần phải có một ham muốn lớn lao để mà theo gương ba kẻ xấu số kia. Giờ mình ngồi bên bàn, bên trái là cái điện thoại, bên phải có khẩu súng lục. Mình không hề cảm thấy dù chút ít hoảng sợ, nhưng trong thâm tâm có sự tò mò. 6 giờ chiều Chẳng gì xảy ra cả, suýt chút nữa mình nói: thật tiếc! Cái giờ độc địa chết chóc ấy đã đến và đã qua, và nó hoàn toàn giống như các thời khắc khác mà thôi. Tất nhiên mình sẽ không phủ định rằng có những khoảnh khắc mình cảm thấy một nỗi ham muốn không gì chế ngự nổi được lại gần cửa sổ, quả đúng như vậy, nhưng mà hoàn toàn vì những động cơ khác! Ngài chánh cẩm đã gọi điện dễ đến mười lần vào khoảng giữa năm giờ và sáu giờ, ông ta cũng tỏ vẻ sốt ruột như chính mình vậy. Nhưng đối với bà Dubonnais thì bà ta thấy hài lòng: qua suốt một tuần rồi mà tay khách trọ ở phòng số 7 vẫn không treo cổ tự vẫn. Thật không tin được! Thứ Hai, ngày mồng 7 tháng Ba Mình bắt đầu tin rằng sẽ chẳng phát hiện ra điều gì hết và mình có khuynh hướng nghĩ về việc tự tử của ba người trước đây ở căn phòng này là một sự ngẫu nhiên đơn giản. Mình đã yêu cầu ông cẩm thông báo lần nữa toàn bộ các chi tiết của ba vụ tự sát, bởi vì mình thấy rõ là nếu thâm nhập kĩ vào toàn bộ các cảnh huống thì cuối cùng có thể đối mặt với nguyên nhân thực sự. Còn đối với mình thì mình sẽ ở đây lâu chừng nào có thể tùy theo sự việc. Tất nhiên mình không biết Paris, nhưng mình ở đây không mất tiền và được cấp dưỡng rất tốt. Cần phải nói thêm là mình học nhiều, tự cảm thấy rất hài lòng với việc học tập. Và cuối cùng còn có một nguyên nhân níu giữ mình ở đây nữa. Thứ Tư, ngày mồng 9 tháng Ba Như vậy, mình đã tiến thêm một bước. Nàng Clarimonda. Chà, chính mình còn chưa kể gì về nàng Clarimonda cả. Thế là, nàng là “nguyên nhân thứ ba” của mình mà vì đó mình muốn ở lại đây, và vì nàng mà mình đã muốn lại chỗ cửa sổ vào cái giờ “tai ương” ấy, song tuyệt nhiên không phải là để treo cổ. Clarimonda - nhưng vì sao mình lại gọi nàng như vậy? Mình không có một khái niệm dù nhỏ bé nhất nào về tên gọi của nàng, nhưng vì sao lúc đó ở nơi mình bỗng xuất hiện ý muốn gọi nàng là Clarimonda. Và mình sẵn sàng đánh cuộc rằng chính tên nàng là như thế nếu như khi nào đó mình có dịp hỏi tên nàng. Mình đã nhận ra Clarimonda vào ngày đầu tiên. Nàng sống ở phía bên kia của con phố rất hẹp mà khách sạn nơi mình ở nằm tại đó: cửa sổ nhà nàng ở đối diện đúng cửa sổ phòng mình. Nàng ngồi sau tấm rèm bên cửa sổ. Tiện đây cần nói rằng nàng bắt đầu nhìn mình trước khi mình nhìn nàng, rõ ràng là nàng quan tâm đến mình. Ở đây chẳng có gì đáng ngạc nhiên, cả phố biết vì sao mình ở đây, bà Dubonnais đã săn sóc cho việc mình cư ngụ nơi bà. Cam đoan rằng mình không thuộc số những người rất đa tình, mình luôn thận trọng trong những mối quan hệ với phụ nữ. Khi mà người ta từ tỉnh lẻ tới Paris để học nghề y khoa và túi tiền vơi cạn thậm chí cũng không đủ để ít ra được ăn no một lần trong ba ngày thì đâu còn dám nghĩ tới tình yêu. Như vậy, mình không nổi trội về kinh nghiệm ái tình và lần này, có lẽ, mình đã xử sự thật quá ngốc nghếch. Dù thế nào đi nữa thì nàng khiến mình bởi vì nàng đúng là con người như thế. Lúc đầu mình đâu có dám nghĩ đến việc gây dựng quan hệ với cô nàng hàng xóm sống đối diện phòng mình. Mình quyết định là sống ở đây chỉ để tiến hành các quan sát; nhưng nếu là như vậy thì dù mình có muốn thì ở đây cũng chẳng có gì mà làm, thế cho nên mình liền bắt đầu quan sát cô hàng xóm. Người ta không thể nào mà cứ suốt ngày cắm cúi đọc sách chẳng dứt ra để ngẩng đầu lên. Hơn nữa, mình đã nói là có lẽ Clarimonda sống một mình trong căn phòng nhỏ ấy. Phòng có ba cửa sổ, nhưng nàng luôn luôn ngồi bên cánh cửa sổ đối diện cửa sổ phòng mình, nàng ngồi và kéo sợi bên cái xa quay sợi cổ xưa xinh xinh. Mình đã từng được thấy một cái xa quay sợi như thế ở nhà bà mình, nhưng bà không bao giờ sử dụng nó mà giữ gìn nó như một hoài niệm về một người thân nào đó của bà đã đi xa; thậm chí mình còn không biết là thời nay người ta còn dùng những cái xa quay sợi như thế. Cần nói thêm là cái xa quay sợi của Clarimonda nhỏ xinh và duyên dáng, màu cái xa ấy trắng hết và có lẽ nó được làm bằng ngà voi; có thể nàng xe những sợi chỉ cực thanh mảnh bằng cái xa quay sợi ấy. Nàng ngồi sau rèm cửa suốt ngày và làm việc không nghỉ, nàng chỉ ngừng việc khi trời đổ tối. Dĩ nhiên vào những ngày trời ảm đạm này thì ở trên phố mình ở chóng tối lắm, vào lúc năm giờ chiều là đã nhập nhoạng rồi. Nhưng chẳng bao giờ mình nhìn thấy ánh sáng đèn trong phòng nàng cả. Vẻ ngoài của nàng thế nào nhỉ? Điều đó thì mình chẳng biết rõ ràng. Mái tóc đen của nàng vồng lên như sóng, còn khuôn mặt nàng nom rất xanh xao. Mũi nàng hẹp và nhỏ với đôi cánh mũi phập phồng, đôi môi nàng cũng lợt lạt và mình có cảm giác hàm răng nhỏ của nàng sắc như răng dã thú. Trên đôi mí mắt có những vết quầng thẫm, nhưng khi nàng ngước mắt nhìn lên thì cặp mắt to đen thẫm của nàng long lanh. Song mình cảm nhận tất cả những vẻ ấy có lẽ nhiều hơn là thực tế. Vì thực khó mà nhận ra cái gì đó rành rẽ sau tấm rèm buông. Có một chi tiết. Nàng luôn luôn vận chiếc áo váy màu đen cao cổ có những chấm hạt đỗ màu tím nhạt. Nàng lúc nào cũng đi đôi găng tay dài màu đen, có thể nàng làm vậy do sợ hỏng đôi bàn tay vì công việc. Những ngón tay thanh mảnh và dài ấy thoăn thoắt lựa các sợi chỉ và kéo căng chúng gợi lên nơi mình một ấn tượng lạ lùng: nom chúng hệt như những con côn trùng nào đó có những cái cẳng dài. Còn quan hệ giữa chúng mình với nhau thì sao đây? Phải thừa nhận rằng hiện thời những quan hệ ấy rất hời hợt, nhưng dẫu sao mình vẫn cảm thấy trên thực thế chúng sâu sắc hơn rất nhiều. Mọi sự bắt đầu từ việc nàng nhìn sang cửa sổ phòng mình và mình nhìn sang cửa sổ phòng nàng. Nàng nom thấy mình và mình nhìn thấy nàng. Và có lẽ mình được nàng thích bởi vì có một đôi lần khi mình đi lại nhìn nàng thì nàng mỉm cười với mình, và tất nhiên mình mỉm cười đáp lại. Vậy là suốt hai ngày bọn mình mỉm cười với nhau nhiều hơn. Sau đó gần như cứ một tiếng mình lại quyết định cúi chào nàng, nhưng mỗi lần định như thế thì, một tình cảm vô thức nào đó lại bảo mình chớ có làm. Cuối cùng thì mình cũng quyết định thực hiện ý định này: hôm nay sau bữa ăn trưa. Và Clarimonda đã đáp lại cái cúi chào của mình. Tất nhiên khó nhìn thấy vẻ gật đầu của nàng nhưng dù sao mình cũng nhìn thấy điều đó thật rõ. Thứ Năm, ngày 10 tháng Ba Hôm qua mình đã ngồi lâu với đống sách vở. Mình không thể nói rằng mình đã học thật chuyên tâm. Không, mình đã xây những lâu đài cát và mơ ước về Clarimonda. Mình ngủ không yên giấc, nhưng mình đã ngủ quá giấc đến gần trưa. Khi mình đến gần cửa sổ thì mình nom thấy Clarimonda. Mình chào nàng và nàng gật đầu đáp lại. Nàng mỉm cười và nhìn mình hồi lâu không rời mắt. Mình muốn học, nhưng mình không thể tìm được sự yên tĩnh trong tâm. Mình ngồi bên cửa sổ và bắt đầu ngắm nàng. Lập tức mình thấy nàng cũng đặt hai bàn tay lên đầu gối. Mình bèn giật sợi dây để kéo tấm rèm sang bên. Nàng cũng làm y hệt như thế hầu như cùng một khoảnh khắc. Cả hai bọn mình đều cười và nhìn nhau. Mình mường tượng cả hai ngồi như thế suốt cả một giờ. Sau đó lại bắt tay vào việc xe chỉ của mình. Thứ Bảy, ngày 12 tháng Ba Thời gian trôi nhanh quá. Mình ăn, uống và ngồi bên bàn viết. Hút xong một điểu tẩu, mình cắm cúi đọc sách. Nhưng mình chẳng đọc được một dòng nào hết. Mình cố gắng tập trung, nhưng mình đã biết trước rằng việc đó chẳng dẫn đến đâu cả. Sau đó mình tiến lại cửa sổ. Mình gật đầu, Clarimonda đáp lại. Bọn mình mỉm cười với nhau và ngắm nhìn nhau không rời mắt suốt hàng giờ. Hôm qua vào lúc sáu giờ chiều có một cảm giác lo âu choán ngợp lấy mình. Trời đổ tối rất sớm và mình cảm thấy ghê sợ thế nào ấy. Mình ngồi bên chiếc bàn viết và chờ đợi. Mình cảm thấy có một sức mạnh nào đó không thể cưỡng nổi hút mình lại cửa sổ, tất nhiên, mình không có ý định treo cổ đâu mà chỉ đơn thuần muốn nhìn Clarimonda. Cuối cùng mình nhảy ra khỏi ghế và nấp mình sau tấm rèm. Mình có cảm giác chưa bao giờ lại nhìn thấy nàng rõ ràng đến thế mặc dù trời đã khá tối rồi. Nàng vẫn đang xe sợi nhưng đôi mắt nàng đã hướng về phía mình. Cảm giác hạnh phúc tràn ngập trong lòng mình, nhưng đồng thời mình nếm trải một nỗi khiếp sợ mơ hồ. Tiếng chuông điện thoại reo vàng. Mình nổi cáu với lão chánh cẩm khó chịu này, người ta đã cắt đứt dòng suy tưởng của mình khỏi những phút mộng ảo kia bằng những câu hỏi xuẩn ngốc liên miên. Sáng nay ông ta cùng bà Dubonnais đến phòng mình. Bà chủ rất hài lòng với mình, bà ta thấy hoàn toàn vui vẻ với việc mình đã sống hai tuần trong phòng số 7. Song ngài chánh cẩm đòi hỏi có những kết quả cụ thể. Mình đã nói với ông ấy một số ngụ ý bí ẩn về việc mình đã lần ra một dấu vết rất lạ lùng và con lừa đó đã tin mình. Bất luận thế nào thì mình cũng sẽ còn sống ở đây lâu, và đấy chính là điều mong muốn duy nhất của mình. Nhưng mình mong ở đây không phải vì những món ăn và cái hầm rượu của bà Dubonnais, lạy Chúa, mình mau chóng trở nên thờ ơ với tất cả những điều đó khi mà hàng ngày được ăn được uống đến no nê. Cái lí do chính chỉ là vì cái cửa sổ mà bà ta ghét cay ghét đắng và sợ hãi, nhưng mình lại yêu quý vì từ đó mình thấy được Clarimonda. Khi bật đèn phòng mình thì mình không còn nhìn thấy nàng nữa. Mình căng mắt để xem liệu nàng có ra khỏi nhà không, nhưng chưa bao giờ mình nom thấy nàng ngoài phố cả. Mình có một cái ghế bành tiện lợi và êm ái cùng một cái chao màu xanh lá cây che ngọn đèn, và cái đèn ấy tỏa cho mình sự ấm áp và tiện nghi. Ngài chánh cẩm đã mang cho mình một gói thuốc hút, chưa bao giờ mình được hút loại thuốc ngon như thế... tuy nhiên mình cũng không thể học hành được cho dù có tất cả những thứ đó. Mình tự bắt mình phải đọc hết hai hay ba trang, nhưng sau đó trong đầu mình xuất hiện một ý nghĩ cho thấy mình chẳng hiểu chữ nào trong số những điều vừa đọc. Mắt mình ghi nhận các con chữ nhưng đầu óc mình chối bỏ tư duy. Thật lạ lùng! Cứ như trong đầu mình đã treo tấm khẩu hiệu: “Cấm vào” vậy. Cứ như trong đầu chỉ cho phép vào độc một ý nghĩ: Clarimonda. Chủ nhật, ngày 13 tháng Ba Sáng hôm nay mình nhìn thấy một cảnh tượng nhỏ. Mình đi đi lại lại ngoài hành lang khi người hầu phòng đang dọn dẹp phòng mình. Trên khuông cửa sổ bé trông ra sân có một cái mạng nhện, con nhện vườn béo mẫm đang ở giữa mạng. Bà Dubonnais không cho phép quét bỏ đi vì giống nhện mang vận may mắn tới, và nếu trong nhà không có nhện thì sẽ gặp điều bất hạnh. Bỗng nhiên mình nhìn thấy một con nhện khác, nhỏ hơn con nhện kia, nó cẩn thận chạy quanh tấm mạng: đó chính là con nhện đực. Nó bò có vẻ không tự tin lắm dọc theo sợi tơ rung rinh vào đến giữa, nhưng con nhện cái chỉ cần động đậy là con nhện được lập tức sợ hãi chạy ngược trở lại. Nó bò về phía khác và định từ đó tiếp cận con nhện cái. Cuối cùng, con nhện cái ở giữa tấm mạng đã chiều theo những lời khẩn cầu của con đực: nó không động đậy nữa. Lúc đầu con nhện đực cẩn thận giật giật một sợi tơ vì thế cái mạng nhện rung rung rinh, song con nhện cái yêu dấu của nó nằm im. Thấy thế nó mau chóng, nhưng hết sức cẩn trọng tiến lại gần người yêu. Con cái tiếp nó một cách điềm tĩnh và dành cho nó những cái ôm âu yếm; cả hai con nhện treo mình bất động giữa tấm mạng nhện to tướng suốt vài phút. Sau đó mình thấy con đực chầm chậm rút từng chân ra, dường như nó muốn khẽ khàng lui đi và để người yêu lại một mình trong những giấc mơ tình ái. Bỗng nhiên nó lập tức thoát ra và bỏ chạy thật nhanh khỏi tấm mạng nhện. Nhưng cũng khoảnh khắc ấy con cái bộc lộ sự lo lắng tột độ và lao theo con đực thật nhanh. Con đực yếu ớt kia xuôi xuống theo một sợi tơ, nhưng người yêu của nó giờ đây cũng làm theo cách đó. Cả hai con nhện rơi xuống bệ cửa sổ; con đực gắng hết sức bình sinh để thoát khỏi sự tróc nã. Nhưng muộn mất rồi, bạn tình của nó đã cùng những cặp cẳng mạnh khỏe quặp chặt lấy nó và kéo nó về giữa tấm mạng. Đó chính là nơi vừa mới hoan lạc của chúng, giờ trở thành nơi xử trảm. Thoạt đầu gã tình nhân kia toan kháng cự, nó nguều ngoào co giật những cái chân yếu mềm của nó nhằm cố thoát ra khỏi những gọng kìm ghê khiếp kia. Song cô bạn tình không nhả nó ra chút nào. Nó dùng tơ nhện quấn chặt con đực trong vài phút để nó không thể động cựa được dù chỉ một cái chân. Sau đó con cái dùng những gọng kìm bám chặt kia đè con đực và bắt đầu ngấu nghiến hút dòng máu tươi trẻ từ cơ thể gã bạn tình của nó. Mình đã nom thấy lúc cuối cùng con cái khinh bỉ hất ra khỏi tấm mạng nhện cái cục lầy nhầy méo mó kia gồm những cái cẳng và lớp da bị những sợi tơ quấn chặt. Ái tình của những con côn trùng kia là như vậy đấy! Chà, mình rất mừng vì mình không phải là con nhện đực trẻ trung đó. Thứ Hai, ngày 14 tháng Ba Mình hoàn toàn thôi không nhìn vào sách vở nữa. Suốt ngày mình ngồi bên cửa sổ. Thậm chí khi trời sập tối mình vẫn tiếp tục ngồi đó. Những lúc ấy mình không còn thấy nàng nhưng mình nhắm mắt lại và hình ảnh của nàng hiển hiện trước mắt. Chà, trong nhật kí mình đã kể về bà Dubonnais, về ngài chánh cẩm, về hai con nhện và về nàng Clarimonda. Nhưng chưa có lời nào về những phát hiện mà mình phải có trong căn phòng này. Mình có lỗi trong việc ấy hay không nhỉ? Thứ Ba, ngày 15 tháng Ba Bọn mình đã nghĩ ra một cuộc chơi lạ lùng gồm Clarimonda và mình, và hai đứa mình chơi trò chơi ấy cả ngày. Mình gật đầu với nàng và nàng cũng đáp lại ngay bằng một cái gật đầu. Sau đó mình bắt đầu gõ các đầu ngón tay lên mặt kính; khi nàng vừa nhận ra điều đó là nàng thực hiện cũng hệt như thế ngay. Mình ra hiệu với nàng bằng tay, nàng cũng đáp như vậy; mình mấp máy môi như đang nói chuyện với nàng và nàng bắt chước ngay lập tức. Mình vuốt mái tóc lại đằng sau gáy và nàng cũng đưa tay lên trán tức thì. Những điều đó có vẻ hoàn toàn như con trẻ vậy, thế là cả hai bọn mình đều cười. Tuy nhiên thực ra nàng không cười, mà chỉ khẽ mỉm cười, còn mình cũng có cảm giác mình cũng mỉm cười y hệt như thế. Song tất thảy những điều đó tụyệt không đến mức mù quáng, ngốc nghếch như đã có vẻ là vậy. Đó không phải một sự bắt chước nhau một cách đơn thuần vì nếu vậy thì cả hai chúng mình sẽ mau chán lắm. Không, ở đây sức mạnh ái tình của các ý nghĩ giữ một vai trò tích cực. Sự thể là Clarimonda tức thời bắt chước cử động dù chỉ nhỏ nhoi nhất của mình: khi nàng vừa nhìn thấy điều mình làm thì nàng làm điều đó ngay tắp lự; đôi khi mình mường tượng thấy toàn bộ các cử động của nàng trùng đồng thời với các cử động của mình. Chính điều đó đã khiến mình thán phục vì mình luôn luôn thực hiện những gí mới mẻ, không lường trước, bởi vậy có thể thực sự sửng sốt khi thấy nàng nắm bắt tất cả thực nhanh. Đôi khi mình bỗng nảy ý định làm cho nàng bối rối. Mình làm vài cử động liên tiếp nhau, sau đó lặp lại lần nữa và lần nữa. Cuối cùng, đến lần thứ tư mình vẫn làm cùng điều đó nhưng theo trình tự khác hay cố ý bỏ sót một động tác nào đó và làm một cử động mới thay vào. Việc đó tựa hồ trò chơi của trẻ con “Đàn chim bay”. Và thực khó lòng tin được khi thấy Clarimonda không khi nào nhầm hết, mặc dù mình thực hiện các cử động ấy nhanh đến mức dường như không thể nào nắm bắt ngay được những cử động đó. Suốt nhiều ngay trôi qua như thế. Nhưng chưa bao giờ mình có cảm nghĩ đang tiêu phí thì giờ, ngược lại, mình có cảm giác chưa bao giờ lại làm một công việc quan trọng hơn thế. Thứ Tư, ngày 16 tháng Ba Liệu có lạ lùng hay không khi mình chưa bao giờ nảy ra ý nghĩ chuyển những mối quan hệ của mình với Clarimonda sang một cơ sở thực tế hơn chứ không chỉ giới hạn bằng trò chơi này? Đêm qua mình nghĩ lâu về điều này. Vì mình chỉ cần đội mũ, mặc áo bành tô rời tầng hai xuống đất. Chỉ cần đi năm bước qua phố và sau đó lại leo thang gác lên tầng hai. Trên cửa ra vào dĩ nhiên có treo tấm biển nhỏ có đề chữ “Clarimonda”. Chà, cái tên Clarimonda, và sau đó là gì nữa? Mình không biết phải làm chính điều gì nữa, nhưng tên nàng Clarimonda được viết trên tấm biển cơ mà. Sau đó mình gõ cửa và... Mình hình dung tất cả những điều ấy hoàn toàn rõ ràng, mình tưởng tượng thật rành rẽ, rõ ràng từng cử chỉ nhỏ nhất mà mình sẽ thực hiện. Thế nhưng mình không tài nào hình dung được điều gì sẽ xảy ra sau đó. Cánh cửa ra vào mở ra, điều này mình có thể tưởng tượng được. Nhưng mình dừng lại trước cửa và nhìn sâu vào bóng tối nơi mà mình không tài nào nhận thấy cái gì cả. Nàng không xuất hiện vì mình chẳng thấy gì hết, vả lại, nói chung thì ở đó chẳng có gì cả. Mình chỉ nhìn thấy bóng tối đen kịt. Đôi khi mình có ý nghĩ rằng có lẽ chỉ tồn tại có nàng Clarimonda người mà mình nom thấy ở đó bên cửa sổ và đang cùng tham gia trò chơi với mình. Thậm chí mình không thể hình dung người đàn bà ấy sẽ có dáng vẻ thế nào khi đội mũ hoặc vận chiếc áo váy khác chứ không phải bộ áo váy điểm các chấm màu tím nhạt; mình không tài nào tưởng tượng được ra nàng khi chẳng có đôi găng tay màu đen ấy. Nếu như mình có gặp nàng ngoài phố hay khi nàng đang ăn hay uống trong tiệm, hoặc đơn thuần khi nàng đang tán gẫu, không, thậm chí nghĩ đến điều đó cũng thật nực cười rồi, mình không thể hình dung bức tranh ấy đến mức như vậy được. Thảng hoặc mình tự hỏi xem mình có yêu nàng không. Mình không thể trả lời điều này được vì mình đã được yêu bao giờ đâu. Nhưng nếu cái tình cảm mà mình đang trải nghiệm với Clarimonda thực tế là tình yêu thì đây là cái gì đó hoàn toàn khác những gì mình đã biết nơi bạn bè hay mình đã đọc trong tiểu thuyết. Mình quả là khó hiểu rõ những cảm giác của chính mình. Nói chung là khó suy nghĩ về một lí do gì đấy không liên quan trực tiếp đến Clarimonda, hay đúng hơn, đến trò chơi của bọn mình. Bởi không thể phủ nhận rằng thực chất trò chơi này và chỉ trò chơi này là choán hết tâm khảm mình chức không phải điều gì khác. Và dù thế nào đi chăng nữa, mình hiểu ra cái lí do ấy. Ôi nàng Clarimonda... Ôi chao, tất nhiên nàng quyến rũ mình phải khao khát nàng. Nhưng có một cảm giác khác hòa lẫn với điều đó, dường như mình sợ hãi một điều gì đấy. Mình sợ chăng? Không, không phải thế, đó có thể là sự ngượng ngùng, với mình thì nỗi hoảng sợ mơ hồ trước một cái gì đó vẫn chưa hề rõ rệt. Nhưng chính nỗi hoảng sợ ấy lại là cái gì đó đè nén, một cảm giác gì đấy ngọt ngào, nhưng nó không cho phép mình tiếp cận nàng. Mình cảm thấy dường như mình đang chạy quanh nàng trong một cái vòng rộng, thỉnh thoảng đến gần nàng, sau đó lại chạy xa khỏi nàng, lao tới một nơi khác, lại tới gần và lại chạy xa. Nhưng rốt cuộc, mình tin chắc như vậy, muốn gì thì gì mình cũng chẳng thể tiếp cận được với nàng. Clarimonda ngồi bên cửa sổ và xe chỉ. Nàng xe những sợi chỉ dài, mảnh, mảnh vô cùng. Từ những sợi chỉ ấy nàng sẽ dệt nên tấm vải. Không biết cái gì sẽ được làm nên từ vải đó. Mình thậm chí không hiểu làm sao nàng có thể dệt được vải từ những sợi chỉ mỏng mảnh êm ái đó mà không làm rối tung và làm đứt. Trên tấm vải nàng dệt sẽ có những hoa văn kì ảo, những con thú cổ tích và những khuôn mặt kì lạ. Ồ mình đang viết gì nhỉ? Thì đúng là mình cũng không thấy nàng đang xe cái gì vì những sợi chỉ của nàng quá mỏng mảnh. Tuy nhiên mình cảm nhận rằng công việc của nàng chính là việc mà mình đang hình dung khi mình nhắm mắt lại. Chính là công việc đó. Một cái lưới lớn với nhiều hình nơi ấy: những con thú cổ tích với bao khuôn mặt thực kì lạ. Thứ Năm, ngày 17 tháng Ba Mình có một trạng thái lạ lùng. Hầu như mình chẳng nói chuyện với ai, thậm chí cả với bà Dubonnais nữa, với người hầu phòng thì mình chỉ chào hỏi qua loa. Ngay thời gian dành để ăn cũng phải dè xẻn vì mình chỉ muốn ngồi bên cửa sổ và tiếp tục trò chơi với nàng. Trò chơi đó gây hưng phấn, thực vậy, nó kích thích mình. Và lúc nào mình cũng có cảm giác dường như ngày mai phải có một điều gì đó sẽ xảy ra. Thứ Sáu, ngày 18 tháng Ba Đúng, đúng, hôm nay phải xảy ra một cái gì đó. Mình tự nhắc lại thật to để nghe thấy giọng nói của mình. Mình tự nhủ rằng mình ở đây chỉ là vì việc đó. Nhưng sự thể tồi tệ hơn cả là việc mình thấy hoảng sợ. Đó là nỗi sợ cái điều có thể xảy ra với mình chính là những gì đã xảy đến với những kẻ xấu số ở đây từ trước tại căn phòng này, nó hòa trộn với nỗi kinh sợ trước nàng Clarimonda. Mình không thể tách biệt được nỗi sợ này với nỗi sợ kia nữa. Mình thấy hoảng hốt, mình những muốn kêu lên. 6 giờ chiều Lúc đầu là đôi lời, sau đó mình sẽ cầm lấy mũ và áo bành tô. Khi đồng hồ điểm năm giờ, sức lực mình đã cạn. Ồ, giờ đây mình biết rõ là có một điều đặc biệt nào đó vào sáu giờ của ngày trước ngày cuối trong tuần. Bây giờ mình đã không còn cười nhạo cái câu chuyện đùa cợt mà mình đã nghĩ ra để phỉnh ngài chánh cẩm nữa. Mình ngồi trong ghế bành và hết sức bình sinh cố gắng không rời khỏi ghế. Nhưng mình bị thu hút, bị giật ra tới cửa sổ. Mình muốn được chơi đùa với Clarimonda bằng bất kì giá nào, nhưng nỗi kinh hoàng trước cái cửa sổ đã len lỏi tới. Mình cũng thấy người Thụy Sĩ, vóc dáng to lớn với cái cổ mập béo và chòm râu bạc. Mình cũng thấy tay nghệ sĩ dáng cân đối và ông trung sĩ vạm vỡ, khỏe mạnh. Mình đã nom thấy cả ba người, người này tiếp sau người kia treo cổ trên cửa sổ dưới chính cái móc kia, mồm họ há hốc và những cái lưỡi thè dài ra. Rồi sau đó mình cũng nhìn thấy chính mình bên cạnh họ. Ôi, thật kinh khủng! Mình cảm thấy nỗi kinh hoàng choáng ngợp trước cái thanh ngang cửa sổ và cái móc ghê khiếp kia cũng như trước nàng Clarimonda. Nàng hãy tha thứ cho mình, nhưng mọi sự là như thế, trong nỗi kinh hoàng khốn khổ của mình lúc nào hình ảnh nàng cũng len đến cùng với hình ảnh ba con người bất hạnh bị chết treo, chân họ thõng quệt xuống sàn. Sự thật là chẳng có khoảnh khắc nào lại xuất hiện sự mong muốn tự treo cổ nơi mình cả; vì thế nên mình không sợ mình sẽ làm điều đó. Không, đơn thuần là mình sợ một cái gì đó khủng khiếp, vô định mà chắc phải xảy ra. Nơi mình có một nỗi ước mong khát khao khó cưỡng được là đứng dậy và tiến lại chỗ cửa sổ bất chấp tất cả. Và chính mình đã muốn làm điều đó... Vừa khi ấy điện thoại réo vang. Mình nhấc ống nghe, và chẳng hề nghe thấy những gì người ta nói, mình liền kêu to: “Xin hãy đến ngay! Đến ngay bây giờ!”. Dường như tiếng kêu thất thanh ấy đã xua tan mọi bóng đen khủng khiếp trong mình ở một khoảnh khắc. Mình thấy yên tâm trong phút giây ngắn ngủi. Mình lau mồ hôi rịn ra trên trán và uống hết cốc nước, đoạn bắt đầu suy tính xem cần nói gì với ngài chánh cẩm khi ông ta tới. Cuối cùng mình lại cửa sổ, gật đầu và mỉm cười. Cả Clarimonda cũng gật đầu đáp lại và mỉm cười. Năm phút sau ngài chánh cẩm đã có mặt trong phòng. Mình bảo ông ra rằng đã dò ra được dấu vết đích thực. Nhưng hôm nay ông phải chiều mình đừng gặp hỏi gì hết, mình sẽ kể ông ấy nghe vào thời gian gần nhất. Cái dáng tức cười nhất là ở chỗ khi mình bịa ra điều đó thì mình đã tin tưởng chắc chắn là mình nói sự thật. Và bây giờ đây thì có lẽ mình thấy điều đó là trái với lương tâm mình. Hoàn toàn có thể ông ta đã nhận ra trạng thái tâm thần lạ lùng của mình, và đặc biệt khi mình thấy khó khăn trong việc giải thích tiếng kêu trong điện thoại và toan tính một cách phí công muốn thoát ra khỏi cảnh huống khó khăn này. Ông ta chỉ nói với mình rất nhã nhặn để mình không bối rối trước ông ta vì ông hoàn toàn phục tùng mình, bổn phận của ông ta là như thế. Ông ta cứ đến một cách vô ích mười hai lần thì tốt hơn là cứ bắt mình phải đợi khi ông thấy có nhu cầu cần đến. Sau đó ông ta mời mình đi cùng ông vào buổi tối hôm ấy để nguôi ngoai đi phần nào vì cứ ở một mình lâu trong phòng thì chẳng khỏe khoắn chút nào. Mình nhận lời mời của ông mặc dù mình thấy điều này là rất khó chịu, thế là mình chẳng thích thú gì phải chia tay với căn phòng mình bây giờ. Thứ Bảy, ngày 19 tháng Ba Mình và ngài chánh cẩm đã ghé quán “Gaite Rochehouart”, sau đó đến “Cigale” và “Lune Rousse”. Ngài chánh cẩm nói đúng: với mình quả thật rất có ích khi được ra hít bầu không khí trong lành và mới mẻ. Lúc đầu mình có cảm giác khó chịu, dường như mình là một kẻ đào ngũ, trốn chạy là cớ của mình. Nhưng rồi sau đó cái cảm giác đó trôi qua: ngài chánh cẩm và mình đã uống nhiều, cười rồi tán gẫu. Sáng nay khi bước tới cửa sổ, mình nhìn thấy Clarimonda và mường tượng rằng mình đã đọc được sự trách móc trong cái nhìn của nàng. Nhưng có thể đó là sự tưởng tượng của mình thôi vì thực ra làm sao nàng biết được việc mình chiều qua đi vắng? Vả lại mình chỉ cảm nhận thấy điều đó trong một khoảnh khắc, rồi sau đó lại nhận ra nụ cười nơi nàng. Bọn mình đã theo cuộc chơi cả ngày. Chủ nhật, ngày 20 tháng Ba Chỉ có hôm nay mình mới viết được vì bọn mình chơi suốt ngày hôm qua. Thứ Hai, ngày 21 tháng Ba Hai đứa mình chơi cả ngày. Thứ Ba, ngày 22 tháng Ba Vâng, hôm nay bọn mình vẫn tiếp tục việc thường ngày. Không có gì khác cả. Đôi khi mình tự hỏi: thực sự mình đang làm điều đó để làm gì? Hoặc: điều này sẽ dẫn đến cái gì, bằng việc ấy mình muốn đạt được điều gì đây? Nhưng chưa có khi nào mình trả lời những câu hỏi ấy bởi vì mình không hề muốn gì khác ngoài chỉ một điều mà thôi. Và điều phải xảy ra chính là cái mà mình đang khao khát. Vào những ngày khi bọn mình nói chuyện với nhau, tất nhiên không hề phát âm một lời nào cả. Đôi khi hai đứa mấp máy môi, nhưng phần lớn thời gian bọn mình chỉ nhìn ngắm nhau. Nhưng cả hai đứa rất hiểu nhau. Mình đã đúng: Clarimonda đã quở trách vì việc mình bỏ đi vào thứ sáu tuần trước. Thế là mình phải xin lỗi và bảo rằng về phía mình như thế thật ngốc ngếch và tồi tệ. Nàng tha lỗi và mình hứa sẽ không đi chơi vào thứ sáu tới nữa. Rồi bọn mình hôn nhau, áp chặt đôi môi vào cửa kính. Thứ Tư, ngày 23 tháng Ba Giờ đây mình đã hiểu là mình đang yêu nàng. Đúng, đúng là như vậy vì mình đã phải lòng nàng say đắm. Cứ để cho mọi người khác nghĩ tình yêu phải là cái gì khác hơn thế cơ. Nhưng chẳng lẽ lại có một cái đầu, một cái tai, một cánh tay lại giống hệt nhau ở hàng nghìn người chăng? Tất thảy mọi người đều khác nhau, bởi vậy tình yêu cũng luôn luôn chẳng giống nhau ở từng người. Thật ra mình biết tình yêu của mình hoàn toàn đặc biệt. Nhưng chẳng nhẽ vì thế mà cuộc tình này kém nồng cháy và tươi đẹp hơn sao? Mình hầu như hoàn toàn hạnh phúc trong tình yêu của mình. Giá như chẳng có nỗi kinh sợ như thế! Đôi khi nỗi sợ ấy ngủ thiếp đi và lúc đó mình quên nó đi. Nhưng điều này diễn ra chỉ vài phút thôi, sau đó nỗi sợ lại bừng tỉnh trong mình như một con chuột nhắt đáng thương đang tranh đấu với con rắn đẹp đẽ to lớn nhằm thoát ra một cách vô vọng khỏi những cái vòng quấn chặt chẽ. Này hỡi nỗi sợ nhỏ nhoi ngu xuẩn kia, mi hãy cứ đợi, chẳng bao lâu tình yêu vĩ đại sẽ nuốt chửng mi. Thứ Năm, ngày 24 tháng Ba Mình vừa có một phát hiện; không phải mình đang chơi với Clarimonda mà nàng đang chơi với mình. Phát hiện đó nảy sinh thế này. Hôm qua mình cứ nghĩ như mọi khi về cuộc chơi của bọn mình. Và mình đã viết ra năm loạt cử động mới khác nhau mà mình dự định dùng để khiến nàng ngạc nhiên vào hôm sau, mỗi động tác được đánh số nhất định. Mình đã luyện tập các cử động này để sau đó thực hiện nhanh hơn, lúc đầu sẽ theo trình tự thuận, sau đó sẽ theo trật tự ngược. Làm việc đó rất khó, nhưng nó đem tới cho mình một nỗi khoan khoái cực lớn, điều này tựa hồ đã làm cho mình gần gũi với Clarimonda thậm chí cả vào những giây phút mình không nhìn thấy nàng. Mình luyện các động tác đó suốt nhiều giờ, cuối cùng mọi sự đã thuần thục như cháo chảy. Và sáng nay mình đến gần cửa sổ. Bọn mình chào nhau và sau đó trò chơi bắt đầu. Thực là khó tin khi mình thấy nàng hiểu mình thật nhanh và bắt chước mình ngay lập tức. Vào phút ấy có ai đó gõ cửa; đó là người hầu phòng mang đôi ủng vào cho mình. Sau khi nhận đôi ủng và trở lại chỗ cửa sổ, mình ngẫu nhiên nhìn vào tờ giấy ghi các động tác mình đã luyện tập. Và ngay khi ấy mình đã hiểu rằng khi nãy đứng trước cửa sổ mình chẳng thực hiện bất kì động tác đã ghi nào hết. Mình lảo đảo, vịn tay vào lưng ghế bành và thả mình xuống ghế. Mình không tin là như vậy, thế là mình lại nhìn vào những dòng ghi trên tờ giấy. Nhưng đó là sự thật: ban nãy, trước cửa sổ mình đã thực hiện cả loạt động tác, nhưng không có động tác nào là của mình hết. Và nơi mình lại xuất hiện cái cảm giác ấy: cánh cửa, cánh cửa phòng nàng mở rộng. Mình đứng trước cánh cửa mở toang và nhìn: chẳng nhìn thấy gì hết trừ bóng tối mịt mùng dày đặc. Khi ấy mình đã thấy rõ một điều: nếu bây giờ mình bỏ đi thì sẽ được cứu thoát; và mình cảm thấy giờ đây mình có thể ra đi được. Paris đã tỏ ra mạnh hơn nàng Clarimonda trong một khoảnh khắc. Chà, giờ đây mình hoàn toàn chẳng nghĩ gì về điều đó nữa. Lúc này mình chỉ cảm nhận được tình yêu của mình và nỗi sợ êm đềm sung sướng với nàng. Nhưng vào thời khắc ấy, nỗi sợ này đã tiếp thêm cho mình sức mạnh. Mình đọc lại lần nữa bản ghi chép các động tác và cố gắng ghi nhớ chúng. Sau đó mình lại gần cửa sổ. Giờ mình hoàn toàn hiểu rõ: mình đã không làm một động tác nào trong số những gì mình muốn làm. Khi ấy mình quyết định lấy ngón tay trỏ để xoa mũi nhưng mình lại hôn cửa kính thay vì điều đó. Mình muốn gõ vào kính nhưng thay vì làm thế thì mình lại dùng tay xoa mái tóc. Vậy giờ đây mình đã thấy rõ: không phải Clarimonda bắt chước cái mình làm, mà ngược lại, mình bắt chước nàng. Và mình thực hiện những cái đó nhanh như chớp đến nỗi mình có ấn tượng dường như quyền chủ động xuất phát từ chính mình. Còn mình vốn tự hào là có ảnh hưởng tới nàng, thì ngược lại mình lại chịu ảnh hưởng của nàng. Tuy nhiên, ảnh hưởng đó êm ái và trìu mến đến mức mình đã suy nghĩ rằng trên thế gian này chẳng có gì tốt đẹp như thế. Mình còn tiến hành vài thử nghiệm nữa. Mình đút cả hai tay vào hai túi quần và quyết tâm không cử động; mình đứng và chăm chú dõi theo nàng. Mình thấy nàng giơ tay lên, nàng cười và nhẹ nhẹ dứ ngón tay trỏ dọa mình. Mình không động đậy. Mình cảm thấy tay phải cứ muốn thoát ra khỏi túi quần, nhưng mình áp chặt các ngón tay vào lớp vải lót. Sau đấy chầm chậm, chầm chậm sau vài phút, các ngón tay rời ra, thế là mình rút tay ra khỏi túi và giơ lên. Rồi mình mỉm cười và cũng dứ ngón tay dọa nàng. Mình cảm thấy không phải mình làm điều đó mà là một kẻ nào khác, cái kẻ mà mình đang theo dõi. Không, không, không phải là như vậy. Chính mình, mình đã làm việc đó, còn kẻ nào khác kia chính là cái gã đầy sức mạnh đã mong muốn có một phát hiện vĩ đại, nhưng đó không phải là mình đâu. Mình - mình có thiết gì những phát hiện như thế đâu - mình ở đây là để làm theo ý chí của nàng Clarimonda, người mà mình đang yêu trong nỗi sợ ngọt ngào. Thứ Sáu, ngày 25 tháng Ba Mình đã cắt đứt dây điện thoại. Mình không muốn ngài chánh cẩm xuẩn ngốc ấy quấy rầy mình bất cứ phút nào, vả lại mình là việc đó vào đúng cái lúc giờ khắc khủng khiếp đó đã đến. Trời ơi, mình viết tất cả những điều này để làm gì chứ? Trong toàn bộ những điều đó không có lời nào là sự thật. Mình có cảm giác như ai đó điều khiển cây bút của mình. Nhưng mình muốn, rất muốn ghi lại những gì đang xảy ra với mình. Để làm được điều này mình phải hết sức tập trung ý chí. Nhưng mình sẽ làm được việc đó. Chỉ còn có một lần để làm điều mà mình mong muốn... Mình đã cắt đứt dây điện thoại... chà! Mình đã phải làm việc đó! Thế đấy! Cuối cùng đã xong! Vì mình phải, phải làm. Hôm nay hai đứa đứng bên cửa sổ và chơi. Từ ngày hôm qua cuộc chơi của bọn mình đã thay đổi tính chất. Nàng thực hiện một cử động nào đó, còn mình cưỡng lại đến chừng nào có thể được. Hiện thời mình không chịu thua về yếu ớt không tuân phục những gì mà nàng muốn. Và mình không thể diễn tả được cái niềm hoan lạc đến thế nào khi nhận thức mình đã thua, đã chiến bại, cái niềm hạnh phúc đến thế nào khi mình phải tòng phục ý chí của nàng. Bọn mình đã tiếp tục cuộc chơi. Sau đó bỗng nhiên nàng đứng dậy và đi sâu trong phòng. Phòng nàng tối đến nỗi mình không còn nom thấy nàng nữa, dường như nàng đã tan ra trong bóng tối. Nhưng sau đó nàng lại xuất hiện bên cửa sổ, trong tay giữ một cái máy điện thoại để bàn hoàn toàn giống cái điện thoại đặt trong phòng mình. Nàng mỉm cười để cái điện thoại trên bậu cửa, đoạn lấy con dao và cắt đứt sợi dây và lại cất điện thoại đi. Mình đã cưỡng lại nàng suốt mười lăm phút. Nỗi sợ của mình mạnh hơn trước đây, nhưng chính thế khiến cho việc cảm nhận mình bị lệ thuộc, chèn ép trở nên ngọt ngào hơn nữa. Cuối cùng, mình lấy cái máy điện thoại ra, đặt nó lên cửa sổ, cắt đứt dây nối và lại để nó lên bàn. Điều đó đã xảy ra như vậy. Mình ngồi sau bàn viết, mình uống li trà, người hầu phòng vừa mang cốc tách đi. Mình đã hỏi anh ta mấy giờ rồi vì đồng hồ của mình chạy sai. Năm giờ mười lăm, đúng năm giờ mười lăm. Mình biết chỉ cần mình ngẩng đầu là Clarimonda sẽ làm động tác gì đó. Nàng sẽ làm một cử chỉ nào đó mà mình cũng sẽ phải làm theo. Và dẫu sao mình cũng đã ngẩng đầu lên. Nàng đứng nơi cửa sổ và cười. Bây giờ - giá như mình có thể ngoảnh mặt đi - giờ nàng đã tiến lại gần cái rèm cửa sổ. Nàng tháo sợi dây - sợi dây màu đỏ giống hệt sợi dây rèm cửa sổ phòng mình. Nàng quấn thành cái thòng lọng. Nàng quấn sợi dây vào cái móc trên thanh ngang cửa. Sau đó nàng mỉm cười và ngồi xuống. Không, cái mà mình đang cảm nhận không phải là nỗi sợ. Đó là nỗi kinh hoàng lạnh lùng, tê tái mà dẫu sao mình sẽ chẳng đồng ý đổi lấy bất cứ cái gì trên thế gian này. Ấy là một sự nô dịch, cưỡng ép kì lạ nào đó, nhưng đồng thời trong nỗi kinh hoàng không gì chế ngự được ấy tiềm tàng một khoái cảm vô cùng độc đáo. Mình rất có thể chạy lại gần cửa sổ và làm ngay cái mà nàng muốn, nhưng mình chờ đợi vì trong tâm khảm mình đang diễn ra cuộc tranh đấu, mình đang cưỡng lại. Mình cảm thấy từng phút một trôi qua là cái sức mạnh kia càng trên nên không thể cưỡng chống được mạnh hơn nữa. ... Ồ, giờ đây mình lại ngồi bên bàn. Mình đã nhanh chóng chạy lại cửa sổ và thực hiện cái điều mà nàng mong đợi ở mình: lấy sợi dây ra, làm một cái thòng lọng và treo nó lên móc. Bây giờ mình sẽ không đứng dậy nữa, bây giờ mình sẽ chỉ nhìn xuống tờ giấy thôi. Mình hiểu rõ việc nàng sẽ làm nếu mình chỉ cần nhìn vào nàng vào giờ thứ sáu ngày trước ngày cuối cùng trong tuần đó. Nếu mình nhìn nàng thì mình sẽ phải làm theo điều nàng muốn, khi đó mình sẽ phải... Mình sẽ không nhìn nàng. Lúc này mình cất tiếng cười vang. Không, mình không cười, ấy là cái gì đó trong con người mình cất tiếng cười. Mình biết cười cái gì: nó cười nhạo cái “mình không muốn” của chính mình. Mình không muốn, nhưng dù sao có lẽ cũng biết là phải làm việc đó. Mình phải nhìn nàng, phải, phải làm việc ấy... và sau đó là những gì còn lại. Mình chỉ chờ đợi để kéo dài nỗi cực hình đau đớn - những nỗi đau khổ mà vì nó mình nín thở, mà đồng thời đem lại khoái lạc vô biên. Mình viết và cứ viết để ngồi lâu hơn bên bàn, để kéo dài những thời khắc đau khổ này, những nỗi thống khổ làm gia tăng hạnh phúc tình yêu của mình đến vô tận... Thêm chút nữa, còn chút nữa... Lại nỗi kinh sợ ấy, lại lần nữa! Mình biết mình sẽ nhìn nàng, sẽ đứng dậy, sẽ đưa cổ vào cái thòng lọng, nhưng mình sợ không phải điều đó. Ồ không, điều đó thật đẹp đẽ, điều đó thật tuyệt vời. Nhưng có một cái gì đó, cái gì đó khác lạ... cái điều sẽ xảy ra sau đó. Mình không biết đó là điều gì, nhưng chắc chắn sẽ xảy ra bởi vì hạnh phúc của những nỗi đau nơi mình thật vô cùng vĩ đại. Phải, mình có cảm giác, cảm giác là tiếp theo sau chuyện này sẽ xảy ra một cái gì đó thật khủng khiếp. Chỉ cốt sao đừng nghĩ đến... Phải viết ra bất cứ cái gì nảy ra trong đầu, cho dù là gì cũng được. Chỉ cần nhanh hơn nữa, không cần suy nghĩ... Tên của mình là Richard Brakemon, Richard Brakemon, Richard... Trời, mình không thể viết hơn... Richard Brakemon... Richard Brakemon... bây giờ... bây giờ... mình phải nhìn nàng đã... Richard Brakemon... mình phải... chưa... Richard... Richard Brake... ... Ngài chánh cẩm khu vực số IX đã không thể nghe được tiếng đáp lại sau nhiều lần ông ta quay số gọi điện thoại. Thế là ngài tới khách sạn “Stevence” lúc sáu giờ năm phút. Trong căn phòng số 7 ông nhìn thấy chàng sinh viên Richard Brakemon đã chết treo dưới thanh ngang cửa sổ hoàn toàn giống như cái cảnh huống của ba kẻ xấu số trước đây đã thắt cổ tự vẫn trong căn phòng này. Chỉ có điều là trên khuôn mặt chàng đọng lại cái vẻ mặt khác: nét mặt chàng bị biến dạng méo mó vởi một nỗi kinh hoàng, hai mắt chàng mở to trừng trừng và hầu như lồi ra hố mắt. Đôi môi chàng tòe ra, nhưng hai hàm răng chàng cắn chặt vào nhau. Và giữa hai hàm răng ngậm chặt ấy là một con nhện đen to kềnh với những nốt lấm chấm màu tìm nhạt lạ lùng bị xiết bẹp. Trên bàn là cuốn nhật kí của chàng sinh viên. Ngài chánh cẩm đã đọc tất cả và sau đó lần xuống gác đi sang ngôi nhà bên dãy đối diện. Ở đó ngài chánh cẩm đã xác nhận rằng suốt vài tháng nay tầng hai ngôi nhà đó trống không chẳng một ai ở trọ cả. NGUYỄN CHIẾN dịch từ tiếng Nga (trong “Inostrannaja Literature” số 3/1992 Joseph Glanvill (1636-1680): Linh mục, triết gia Anh, tác giả chuyện luận “Sự vô ích của tín điều” (1661). [1] JEAN RAY (Bỉ) Jean Ray (tên thật là Raymond Jean Mari de Kremer; 1887-1964) - là nhà văn Bỉ. Ông có nhiều bút danh khác nhau, chủ yếu ông viết các loại truyện phiêu lưu, trinh thám, cùng những cuốn sách theo tinh thần mộng ảo Gothique “Người dạ thác vĩ đại” (1942) “Chuyện những bóng ma” (1947), v.v.... Truyện ngắn “Chiếc gương đen” rút từ tuyển tập “Những vòng hoảng sợ” (1943). Chiếc Gương Đen Ông Thorndye chủ nhân thư viện khu Stepl-inn, đã nhiều lần nhìn sang mấy ngôi nhà kì quái có mặt tiền ốp gỗ đối diện với cửa sổ phòng ông. Phòng đọc kê những dãy bàn gỗ đen ngổn ngang sách báo giờ đây không còn một bóng người và ông không thể nào được nói dăm câu ba điều với một người nào đó rằng ông đánh giá hết sức đặc biệt phong cách kiến trúc tuy-đo của những công trình này, rằng chỉ riêng những công trình đó mới có thể trụ lại được qua bao nhiêu lần hỏa hoạn và chấn động mà Siti phải chịu đựng từ thế kỉ XV. Không một bóng người... Nói chung thì cũng hoàn toàn không phải như vậy, nhưng cái ông khách duy nhất đang uể oải lần giở những tập sách nhẵn bóng vì dầu mỡ không được người thủ thư tính đến. Bác sĩ Baster Brown là một thầy thuốc bình thường trong khu; ông sống ở phố Nhà thờ, thuê hai phòng trong một ngôi nhà cao tầng u ám ở ngoại vi công viên Clissold, ông không có riêng một tủ sách, một phòng thí nghiệm, còn những người khách bệnh nhân ít ỏi thì ông tiếp khám trong cái phòng khách xoàng xĩnh có mấy cái ghế bành đen đủi nhồi lông ngựa. Mỗi tuần hai lần ông lê gót xuyên qua thành đô đến Hallborn để vào cái phòng đọc đầy bụi của ông Thorndye, tại đây ông ngồi một vài giờ và cuối cùng ra về với một cuốn sách nhỏ với giá đặt cược là sáu pence. Ngoài trời mưa lâm thâm, mà cái bàn ông ngồi lại kê vào góc tối nhất của thư viện. Tuy thế ông Thorndye cũng không nghĩ đến chuyện thắp lên một trong số những cây đèn chao xanh vì một độc giả chẳng lấy gì làm giàu có như ông. Ông Baster Brown không đọc mà chỉ ngồi lật qua lật lại những trang sách “Lịch sử nước Anh”, và từng tí một ông dần dần nhét xuống dưới tập sách này một cuốn sổ mỏng lấm tấm những chấm rỉ sắt và đã bị bọ sách cắn thủng. Đúng lúc này cô Boze bước vào và ông Thorndye trịnh trọng cúi chào. Cô Boze chẳng những đã mượn của thư viện những sách quý hiếm, mà cô còn thích chuyện trò với ông chủ, những lúc như thế ông lại có dịp trình bày nhận thức của mình về mặt lịch sử. - Cô Boze này, lần trước khi tôi được vinh hạnh và được vui sướng tiếp kiến cô trong tệ xá của mình, chúng ta đã nói đến Ren, đến việc sau vụ cháy năm 1666 ông ấy đã xây lại Hild-Hall([1]). Ông Baster Brown đứng dậy, cuốn sổ mỏng ông nhẹ nhàng cho vào túi áo bành tô, còn một tay ông cầm một cuốn tiểu thuyết gì đó mới được xuất bản. - Xin cám ơn ông, chào ông - người thủ thư vừa nói mấy tiếng khô khan, vừa đưa hai ngón tay kẹp lấy đồng xu mà ông thầy thuốc đưa ra. Cái bóng dáng thấp bé của ông bác sĩ nhòa đi trong màn mưa bụi của Hallborn. - Làm việc như thế thì cũng chả lấy gì làm no đủ, - ông Thorndye lẩm bẩm. Sau đó ông lại mỉm cười và tiếp tục bài giảng của mình cho cô khách hàng thường nhật. Tuy nhiên cũng cần phải thừa nhận rằng những ngọn tháp mà Ren xây dựng cho Tu viện Westminster không được hài hòa lắm với cái vẻ hùng vĩ của Tu viện... Đứng ở góc phố Hallborn chờ xe buýt giữa cái đám người âu sầu chịu đựng, quần áo ướt sũng, ông Baster Brown lấy tay giữ khư khư cái túi căng phồng của mình, dường như trong đó có cái ví đầy tiền. Thế nhưng trong đó chỉ vẻn vẹn có một cuốn lịch thư cổ của Warren năm 1857 mà cho đến nay thật là may mắn ông Thorndye không đem ra nhóm bếp hoặc không rơi vào tay gã Do Thái buôn đồ cổ Paans cứ mỗi năm hai lần đến mua tất cả những cuốn sách không còn cho mượn được nữa. Ông Baster Brown về đến nhà thì đã muộn, ở lối cầu thang ông đụng phải cô chủ nhà Skinner, cô xì ra một tiếng không hài lòng và không đáp lại lời chào của ông. Lẽ ra mình phải tìm cách trả cho cô ấy một phần tiền nhà, - ông thầy thuốc lẩm bẩm một cách chán chường khi leo lên tầng tư về phòng mình trên những bậc cầu thang trải một tẩm thảm đã trụi lông xơ xác. Lửa trong lò sưởi đã hết cháy, còn ở cái vòi hơi có cái màn chắn rách nát bằng amiăng thì chỉ còn một chút ánh sáng leo lét. Ông Baster Brown đặt cuốn lịch thư Warren xuống cái bàn tròn có lớp vécni đã hơn tróc nham nhở bên cạnh chai rượu uýtxki và một cái ống điếu cáu bẩn vì nước bọt; sau đó ông thận trọng kiểm tra xem cửa đã đóng chặt chưa, ông vo một mảnh giấy nhét vào lỗ khóa và cẩn thận kéo bức rem vải bông màu xanh che kín cửa sổ. - Chà..., ông thở một hơi dài - Nhưng đầu tiên phải gọi cái điếu Polli giúp đỡ cái đã. Ông vớ cái ống điếu, nhét vào đó một dúm thuốc vo tròn lồng phồng lấy ra từ một túi giấy màu xám và rít một hơi khoan khoái. Nàng Polli tốt bụng của tôi ơi! - Ông thốt lên với cái giọng dịu dàng thô thiển. Nàng Polli phần nào đã tô điểm được cho cuộc đời đơn côi của ông, con người ít ỏi về tiền nong mà lại bị bao nhiêu rủi ro khăng khăng theo đuổi; còn ông thì bắt chước nhân vật trong một cuốn tiểu thuyết trinh thám của ông đã đọc được hồi nào để đặt cho ống điếu một cái tên nghe thật phụ nữ, thậm chí còn khắc lên đầu nó ba dấu thập ác - ông làm thế chỉ cốt để đánh dấu quyền sở hữu của mình và sự ràng buộc đặc biệt. “Một thứ siêu đẳng” - đã có lần ông tự nói với mình khi nhớ lại cái ngày ngẫu nhiên có tiền ông đã mua cái ống điếu theo kiểu “chesterfild” bằng thứ vỏ bạch dương dày cộp của Anh này với giá khá đắt. - Chà... Baster Brown đọc sách, hai tay ôm đầu và cắn môi vì căng thẳng: “Năm 1842 bộ sưu tập đồ quí hiếm của Horas Wallpol ở Stroberri Hill được đem ra bán đấu giá. Trong những thứ khác lạ có một chiếc gương đen của bác sĩ John Dee, một người thầy thuốc, một nhà phẫu thuật và một nhà chiêm tinh của nữ hoàng Anh Elizabeth. Đó là một tấm than đá màu đen cực kì, được đánh bóng và đẽo gọt tinh xảo hình bầu dục có cán bằng một khúc ngà voi màu sẫm. Ngày trước tấm gương này được lưu giữ trong bộ sưu tập của các bá tước Peterborough với một dòng chữ đề “Huyền thạch - vật cầu thần của bác sĩ Dee”. Khi đem bán bộ sưu tập của Wallpol chiếc gương này được một kẻ lạ mặt mua đi với giá mươi hai bảng, và từ đó tới nay, mặc dầu người ta đã mất bao công sức tìm kiếm nhưng vẫn không sao tìm được. Người ta biết rằng trong dòng họ Peterborough, cũng như trong dòng họ Wallpol chưa bao giờ có ai có ý định sử dụng cái đồ vật bé nhỏ này, họ chỉ thờ ơ lưu giữ, đề phòng có những tai họa lớn có thể gây ra sự tò mò không đúng chỗ của ai đó. Alias Ashmol, tác giả cuốn sách kì lạ và rùng rợn “Theatrum Chemicum” ([2]) có kể về một chiếc gương đen theo những lối nói sau đây: “Nhờ khối đá thần thông này có thể nhìn thấy mọi gương mặt mà ta muốn, dù gương mặt đó ở phương trời nào đi nữa, dù nó có lẩn trốn vào những hang sâu khuất nhỏ nhất nằm sâu tít trong lòng đất”. “Cần biết rằng mãi về sau này những người giữ chiếc gương vì khiếp sợ cái uy lực đó mà không dám đem thử...”. Ông Baster Brown thôi không đọc phần cuối bài báo nói đến số phận bi thảm của ông John Dee bí ẩn, mà đi lấy một chiếc kính lúp để soi xét mấy dòng chữ bé líu xíu bên lề sách: “Phải, nhưng tên đạo tặc Edward Kelli đã theo sát như hình với bóng cái lão Dee khôn ngoan ăn người, tên đạo tặc này đã sử dụng gương để đi tìm kho báu và để gây ra những tội ác bí ẩn. Trong tay tên bất lương cái vật nhỏ kì diệu này, không còn nghi ngờ gì nữa... (đến đây mảnh giấy bị mọt đục, vì thế mất một đoạn)... cái được GIẤU KÍN trong gương”. Hai chữ GIẤU KÍN được gạch chân và viết đậm. Đoạn ghi chú bên lề được kết thúc bằng mấy dòng viết thân bằng một loại nét chữ khác: “Gương này đã bị bọn Kwaiter-feidzi ăn trộm. Chúng dùng gương để tìm các kho báu (đoạn này lại bị mọt ăn)... nguyền rủa chúng suốt đời”. Ông Baster Brown thở một hơi dài và sâu theo thói quen, ông ấn vào cái lò xo ở một chiếc hộp kín của chiếc bàn nhỏ kì cục làm theo kiểu dedlou, đặt cuốn lịch thư Warren vào đó bên cạnh một cái túi da. Trong túi này có những dụng cụ quý giá tinh xảo bằng thép bóng loáng. Đó là những vật đắc dụng đã một thời là tài sản của Stenton Miller biệt danh Con Dê mà một buổi sáng tháng ba người ta đã treo cổ hắn ở nhà ngục Newgate, cũng vào lúc đó mưa lớn lẫn với mưa đá to đã đập vỡ hết kính cửa những ngôi nhà ở Paternoster-Road. Ông thầy thuốc lắc đầu; ông đã ra tay cứu giúp Stenton Miller khi hắn được chở đến đồn cảnh sát ở Roterhight, thừa sống thiếu chết vì đòn thù của một đám đông. - Ông bác sĩ, ông cầm lấy cái này thay cho tiền chữa, - con người bất hạnh ấy thều thào, lúc một viên cảnh sát bỏ đi giây lát - Có lúc dùng đến đấy. Mà tôi cũng không muốn để người ta lục thấy trong túi tôi. “Cái của nợ này” cũng chẳng thấy có ảnh hưởng gì đến kết cục vụ việc của chính Stenton Miller, thế nhưng nó cũng có chút ích lợi cho ông Baster Brown, bởi vì thường mỗi tuần ông không kiếm nổi lấy một đồng bảng. - Chà, Polli... - ông vừa thốt ra mấy tiếng, vừa nhả lên trần một làn khói. Ba ngày sau ông được biết rằng hầu tước cuối cùng Kwaiterfeidzi đang sống ở Estis-Road trong một ngôi nhà cũ nát lụp xụp với mấy cái cửa sổ bụi bậm nhưng lại được che chắn bằng những chiếc rèm gấm nặng nề, đắt tiền. - À, cái lão bần tiện ma quỷ Kwaiterfeidzi - trời chu đất diệt cái lão ấy đi! - một cô bán rau kêu lên đúng lúc Baster Brown vô tư dạo chơi trên đường Estis-Road. Và ông nhìn thấy cái lão già đầu nhỏ xíu, ăn mặc chỉnh tề theo kiểu Bremmel ([3]) đang lần bước trên bực thềm nhà. Estis-Road là một phố nhỏ heo hút ở Kenonberi, đến ban ngày cũng ít người qua lại, còn đêm khuya thì hoàn toàn không có bóng người. Lối vào biệt thự của nhà Kwaiterfeidzi; có một cánh cửa chắc chắn có then cài và hai vòng khóa xích, ngược lại thì cánh cửa sân vườn, lối ra kênh đào Olvin không sâu lắm, chỉ cần một que sắt năm mươi phân là có thể mở được. Ông Baster Brown đi qua một vạt sân nhỏ đọng đầy nước mưa, tựa như một nhánh sông nhỏ, mở cái chốt cửa sổ phòng giặt và dễ dàng tìm được đường vào các phòng tầng trên. Phải, cái thằng cha Stenton Miller nói đúng, những dụng cụ của hắn cũng có ích thật sự đấy chứ! Ông Baster Brown tin như thế khi ông cắt tấm ốp bằng tấm thép của cái két sắt kì cục được trang trí bằng một thứ sợi mạ vàng và những hình hoa văn cầu kì diễm lệ. Ông đang sắp hoàn thành công việc của mình thì hầu tước Kwaiterfeidzi bước vào, trong tay cầm một cái que chọc lò. Bác sĩ giật ra khỏi tay ông cái vũ khí nực cười ấy và đập một nhát vào cái hộp sọ bé nhỏ hình trái lê của ông. Ông già rít lên một tiếng như tiếng chim rồi ngã vật xuống; kinh nghiệm nghề nghiệp mách bảo Baster Brown rằng không cần đến nhát thứ hai nữa. Không hề vội vã lúng túng ông lục soát hết mọi thứ trong tủ và phát hiện trong đó có mười hai đồng bảng tiền giấy, một vốc đồng shilling mới và chính cái gương của bác sĩ Dee đựng trong một cái túi bằng lụa mà đỏ. * * * Về đến nhà ông Baster Brown nốc đến ba phần tư chai uýtxki rồi rút cái gương trong bao ra. Thở một hơi dài ngao ngán, ông đặt Polli lên bàn vì trong túi ông không còn một chút thuốc nào. Sau đó ông thận trọng bắt tay vào nghiên cứu cái vật kì quái ma thuật. Cái khuôn bầu dục nhỏ hẹp và tăm tối ánh lên như một mảnh trời đêm không trăng sao, ông nhận thấy rằng nó lấp lánh, không phản chiếu một thứ ánh sáng nào, vả lại trong cái bề sâu u tối của gương ông cũng chẳng phát hiện thấy có gì đặc biệt. Để tập trung tư tưởng và tinh thần ông bắt đầu nhắc lại tên tuổi của con người bí hiểm tạo ra chiếc gương, đôi khi ông còn kết hợp cả vào đó tên của Edward Kelli. Một giờ sau lưng ông bắt đầu toát mồ hôi, tay ông thì run rẩy lập cập vì một sức nóng không biết từ đâu sinh ra. Gần đến sáng ánh đèn hơi đã yếu đi bởi vì ông Baster Brown quên không thả một đồng xu vào cái kheo đồng hồ tính tiền. Ánh sáng tắt hẳn và bây giờ ông thầy thuốc mới thấy một ánh xanh tuyệt vời hắt ra từ lòng gương. Động tác đầu tiên của ông là cử chỉ run sợ - ông chạy vội sang phòng bên và khóa trái cửa lại. Tuy nhiên, gần như ngay lập tức ông nguyền rủa mình vì tội nhát gan, và mặc dầu toàn thân run rẩy một cách thiểu não, ông vẫn quay về chỗ bàn. Ánh sáng ấy vẫn tiếp tục hắt ra, dù không mạnh lắm. - Cần phải... nghiên cứu hiện tượng này... nhằm mục đích khoa học. - Ông thầy thuốc lẩm bẩm. - Cái ánh xanh này dường như là ánh sáng từ một đầu cực... Vậy thì, nếu ta đứng sang bên trái gương, ta sẽ nhìn thấy... Ôi chao, quả đúng như thế! Ông đã nhìn thấy - dù rằng, không còn nghi ngờ gì nữa, bây giờ ông chỉ mong sao trên cái mặt đen lạ lùng kia không hiện ra một hình ảnh nào nữa, mặc dầu ông đã từng ham muốn được chính mình sử dụng cái sức mạnh bí hiểm của nó. Hình ảnh hiện ra khá là mờ mịt và ông Baster Brown phải vận dụng hết trí lực của mình mới có thể phân biệt được một số đường nét. - Có vẻ giống như là... hừm, nhưng rất rõ ràng đó là một cái gì như thể một bộ áo dài... mà có lẽ, như là một chiếc áo blu. Hừm,... à à, đây là cái đầu... còn đây là chân. Hình ảnh dần dần nét hơn. Cái đầu đội mũ hiệp sĩ lộ ra phía trên một chiếc khiên rộng không rõ hình thể. Cặp chân khẳng khiu dài quá cổ, bên ngoài mặc một thứ quần kì dị mà người ta dùng để mô tả trên những bức chạm khắc cổ xưa các nhà hiệp sĩ cuối cùng của cuộc chiến tranh Hoa hồng đỏ và Hoa hồng trắng. - Đẹp thì chả đẹp, mà ý nghĩa thì không có gì, - ông Baster Brown kết luận trong một giây lát hăng hái. Tuy nhiên, ông cũng không có ý định hăng máu vịt trước một điều bất tri, ông hiểu rằng bức tranh khó hiểu và không mạch lạc sẽ tạo ra quanh mình một không khí ghê sợ hãi hùng. Cái ánh sáng xanh kia đủ mạnh để soi sáng các vật xung quanh và ông đã nhìn thấy chai rượu uýtxki và chiếc điếu Polli được bao phủ bởi một lớp ánh lân tinh mờ mờ. Đó là những đồ vật quen thuộc, thậm chí còn rất đáng yêu của ông, những đồ vật sinh hoạt bình thường, thế mà giờ đây ông nhìn chúng một cách khiếp sợ, tựa hồ chúng cũng là một bộ phận của sự bí ẩn nguy nan đã nảy sinh ngay bên cạnh ông. Đúng lúc này cái hình ảnh nhòe nhoẹt kia chợt đậm đặc lại mấy giây rồi lại nhanh chóng dãn ra; đầu tiên là cái khiên biến đi, bộ quần áo bỗng thảng thốt như sương, rồi sau đôi chân như hai con rắn chợt tan hòa vào thứ bóng tối lung linh. Thế rồi, thoắt một cái, giống như sau tiếng “tách” của công tắt điện, tất cả đồng loạt tối thui và căn phòng chìm vào bóng đêm. - Đồng hồ tính tiền, mau lên! - Ông Baster Brown kêu lên và điên cuồng chạy khắp phòng tìm những đồng xu. Ông kịp bỏ tiền vào khe đồng hồ khi nghe thấy sau lưng tiếng thủy tinh vỡ loảng xoảng và tiếng nước chảy đổ. Một phút sau chiếc đèn hơi sáng lên rực rỡ. Chai rượu đã vỡ vụn chảy thành hai dòng trên mặt bàn. Chiếc gương đen lại giống như một chiếc đĩa thường. - Có thể đó là do trí tưởng tượng bệnh hoạn của ta sinh ra mà thôi? - Ông bác sĩ ca cẩm. Nhưng ngay lập tức ông lắc đầu: - Vậy tại sao cái chai lại vỡ, lại còn... Ông mở to mắt, đứng như trời trồng, nhìn chằm chằm lên bàn: chiếc điếu Polli đã biến mất. * * * Phải mất một tuần trôi qua ông Baster Brown mới lấy lại được can đảm để thử nghiệm điều bí ẩn của chiếc gương ma quái trong một đêm đen tĩnh mịch. Không có gì xảy cả. Dũng cảm hơn, đêm nào ông cũng thử nghiệm; để có vẻ li kì thậm chí ông đã bắt đầu kêu gọi cả đến bóng dáng của Dee và Kelli, hơn thế nữa, cả những thực thể của thế giới bên kia, khi tìm thấy tên tuổi của họ trong sách khảo luận cổ xưa về ma thuật của Nodzerx. Ông đã thất vọng. Ông đã thôi mơ ước có những cuộc tìm kiếm thần hiệu những kho báu và thậm chí ông đã tự nói với mình rằng thật sự ông không bao giờ tin vào chuyện đó. - Liệu đó đáng công hay không... liệu có đáng công hay không... đôi lúc ông cứ lẩm bẩm như vậy. Tuy nhiên, ông không nói hết ra ý nghĩ của mình và chắc tự ông cũng không thể nói được rằng liệu sự hối tiếc của ông có liên quan đến vụ giết người ở Estis-Road hay không. Dù thế nào đi nữa thì tội ác cũng đã mang đến cho ông mười hai đồng bảng và mấy shilling; nhưng những đồng tiền ấy đã tiêu veo đi như tuyết tan dưới ánh mặt trời. Vào cái ngày khi đồng shilling cuối cùng được đem ra tiêu để mua một ít đường và trà thì ông được cô Skinner cho hay là cô sẽ tới thăm ông. Cho hay là tới thăm - nói như thế thì trang trọng quá; trên thực tế cô chỉ sai người đầy tớ gái Diana Pabsi chuyên làm những việc bẩn thỉu đến báo cho bác sĩ biết rằng ông “không được ra khỏi nhà, khi chưa nói chuyện với cô Skinner, nếu ông không muốn thì quay về nhà phải nhìn thấy trên cửa nhà mình những dấu niêm phong lớn màu đỏ”. Cô Skinner là một cô chủ nhà khá giàu tính chịu đựng và cô chưa bao giờ tuyên chiến một mất một còn với người ở thuê vì cái chuyện chậm trả tiền nhà, nhưng ông Baster Brown nợ tiền cô đã tám quý, ấy là chưa kể những khoản lặt vặt mà cô cho vay vao những phút tâm hồn sảng khoái. Cô chủ đến đúng hồi mười một giờ, tức là hai tiếng sau Diana Pabsi, cô đeo trên mũ chiếc kính đồi mồi và cầm trên tay một sổ nợ khổ lớn. - Thưa bác sĩ Brown, - cô mở đầu, - việc này không thể kéo dài hơn nữa. Sức chịu đựng của tôi thì rất lớn, tôi còn có thể chịu đựng được hơn nữa, nếu như tôi không có một nhu cầu rất lớn về tiền. Xin ông vui lòng nhìn bảng kê này, ông sẽ thấy rằng ông còn thiếu của tôi... Bỗng nhiên cô ngừng bặt, cô hít ngửi một hơi, vẻ tởm lợm rồi kêu lên: - Trời đất ơi, quái quỷ thật... Có cái gì thối tha trong cái ống điếu của ông thế, hả ông bác sĩ! Tôi không thể ngồi ở đây được nữa. Thối tha quá... Ông đi ngay đi, ông cút ngay khỏi nhà tôi đi... Ôi! Làm sao lại có cái mùi như thế được chứ? Cô vùng chạy ra ngoài, còn cái sổ nợ (trường hợp không tiền khoáng hậu trong biên niên sử của ngôi nhà này) trượt khỏi tay cô, rơi tung tóe xuống sàn nhà. Ông Baster Brown mừng vì thoát khỏi những lời chỉ trích và đe dọa của cô, tuy vậy ông nhíu trán ngồi yên sau cái bàn tròn như chết lặng: từ khi mất Polli, dể tiết kiệm tiền ông đã không mua điếu mới, và vì thế ông đã bỏ hút! Mặt khác, dù ông có đánh hơi ngửi khắp nơi đi nữa, ông cũng không thấy một chút mùi khói thuốc nào, có chăng chỉ là mùi nặng nề của cái xô rác trong bếp và chút mùi của mấy lọ thuốc. Ông nhún vai nhìn vào cái ngăn kéo bí mật trong góc bàn. Chiếc gương đen vẫn nằm đó, vẫn tăm tối và lấp lánh, nhưng chẳng có gì hấp dẫn và lạ kì; nó vẫn là những công cụ bằng thép nằm trong bao da. Baster Brown mỉm cười cầm chúng lên tay. Đúng giây phút đó từ tầng dưới nhà có tiếng rú lên kêu cứu: - Bác sĩ, bác sĩ ơi! Cô ấy sắp chết rồi! Người thầy thuốc nhận ra ngay cái giọng the thé của Diana Pabsi. Ông bắt gặp người hầu gái trước cửa phòng bếp mở rộng. Cô ấy la khóc và mặt mũi ướt đẫm nước mắt. - Cô chủ về phòng và bảo: “Cái mùi thuốc... chà, sao mà nó thối đến thế!” sau đó cô ấy ngã xuống. Rồi cô ấy không động đậy được nữa! Trời ơi là trời! Ông Baster Brown đã nhìn thấy cô Skinner nằm xỉu trên nền gạch nung trắng đỏ; cặp kính của cô văng xa vào một góc đã vỡ vụn. Gương mặt cô chủ nhà méo mó một cách thảm hại. - Cô ấy không động đậy nữa, ông thấy đấy! - Cô hầu gái nức nở. “Cô ấy sẽ không bao giờ động đậy được nữa”, - người thầy thuốc tự nhủ, bởi vì ông đã xác định được rằng kẻ bất hạnh đã chết. Ông ngồi viết một tờ kết luận ngắn gọn cho các chuyên viên y tế của sở cảnh sát thành phố rồi lên gác về phòng mình, sau đó cất cả túi da vào chỗ cũ. Vì ông là người đầu tiên xác nhận cái chết của cô Skinner cho nên theo luật pháp ông sẽ phải tham gia điều tra, và với cả hai tư cách ấy ông sẽ được một khoản tiền thù lao là ba bảng sáu shilling. Với số tiền ấy ông có thể ung dung kéo dài cuộc sống thêm mấy ngày nữa. * * * Vì sao kể từ ngày đó ông cứ luẩn quẩn với ý nghĩ phải bán đi cái điếu ống Polli? Cái ống ấy đối với ông dần dần trở nên một cái gì tựa như một cô bạn gái mà trong thời độc thân khốn khó của mình ông không thể nào có được, còn bây giờ thì ông lại gắn bó với nó đến mức không muốn tìm vật thay thế, thậm chí ông đã không còn ham muốn hút nữa. Nhưng mối quan tâm bé nhỏ ấy chẳng bao lâu đã bị che lấp đi bởi những điều phiền toái lớn lao hơn: chẳng những ông ngồi không không kiếm được đồng nào, mà hơn thế nữa ông còn mắc nợ đầm đìa đến nỗi ông chẳng còn hi vọng nuôi nổi thân mình. Những khách bệnh nhân trước kia thỉnh thoảng còn đến thì nay hết hẳn; một bọn du đãng nào đó ban đêm đã gỡ đi khỏi cửa cầu thang tấm biển kẽm có ghi họ tên ông và giờ tiếp khách. Ông cũng chẳng nghĩ đến chuyện gắn lại nó nữa, vì chừng ông đã tin điều ấy vô bổ. - Chao ôi, Stenton Miller, - ông lẩm bẩm, - tôi lại phải nhớ đến anh, người anh em sống hèn chết khổ của tôi. Ông lại lấy từ trong ngăn kéo ra túi đựng những dụng cụ bằng thép bóng loáng. Bên cạnh đó, trong cái túi riêng bằng lụa đỏ là chiếc gương của bác sĩ John Dee. Ông ném sang bên ấy một cái nhìn bực dọc và khinh bỉ. - Mày đấy à! - ông càu nhàu, - mai ngày kia thì mày xuống đáy sông mà tác oai tác quái! Từ trước tới nay, trong những lần trộm vặt ban đêm, ông gần như toàn tâm toàn ý tin vào một ngôi sao hạnh phúc vô hình nào đó. Nếu có ngoại lệ thì chỉ là chuyến làm ăn đổ máu ở Estis-Road khi ông cướp trắng gương đen này. Còn chuyện hành nghề lần này nhằm cứu ông khỏi rơi vào cảnh khốn cùng thì ông đã chuẩn bị cẩn thận hơn thế. Ông đã tăm thấy một ngôi nhà ở Blumsfild không có người ở. Chủ nhân của nó, bà Aberllou đang phải điều trị trong bệnh viện Kosuell-Road và mang tất cả đầy tớ theo mình. Ông biết được tất cả những điều đó qua cuộc trò chuyện của các bác sĩ đồng nghiệp, họ không hề chú ý hoặc quan tâm đến việc ông lắng nghe câu chuyện một cách chăm chú. Một trong những cửa sổ tầng dưới không được đóng kín, còn ông thì lại có thừa kinh nghiệm để biết rằng nó không gây trở ngại gì lớn cho một cuộc đột nhập về đêm. Khi ông rời xe buýt trên đường Cornhill thì trời đã lạnh và tối. Khi ông đi bộ tới London Wall, một đường phố u ám và sầu muộn đến nỗi ông thấy như chính mình là quỷ uất hận, thì đường phố đã dần dần tràn ngập sương mù. Ở chỗ này chỗ kia những cây đèn đường thỉnh thoảng lại nhỏ xuống những giọt nước mắt màu nâu đỏ vào trong cái lớp sương mù đầy những bóng ma ấy; thậm chí ở đây những tiếng động cũng âm u đi và những tiếng còi tàu dọc đường bờ sông Victoria cũng tựa hồ bị sương mù nhét giẻ vào mồm, chỉ u u rền rĩ ở phương xa. Ông Baster Brown thở một hơi dài khoan khoái. Cho dù ông có bịt kín mắt bằng vải đen ông cũng tìm ra được đường đi tới phố Blumsfild, nhà bà Aberllou, tới cái cửa sổ có cánh cửa đóng không chặt. Ông lẻn vào được trong nhà không mấy khó khăn, cây đèn pin nhỏ hắt ánh sáng trắng trên những tấm vải bao giường màu trắng như màu tang tóc và những tấm thảm cuộn lại trong cái phòng khách nghiêm trang thời Victoria. Ông bước lên cầu thang xoắn ốc khổ rộng dựa tít lên trên cao, tới một nơi nào đó trong bóng tối, ở tầng hai ông thấy một cái cửa, xem ra thì hình như nó dẫn vào phòng ngủ của bà Aberllou. Ông mở cửa ra và đứng khựng lại vì cơn khiếp đảm đột ngột, dường như trước mắt ông có con quái vật nào đó vùng dậy. Thực ra căn phòng làm ông khiếp sợ chỉ vì một lẽ là nó sáng quá. Ngọn đèn chùm mười hai bóng với các loại râu tua vẫn rực rỡ, đằng sau chiếc ghế nhung vàng là cây đèn đứng có chao hồng. Người khách không mời mà đến, tức là ông, không thể dự liệu được rằng khi ra đi những người trong nhà đã quên không tắt đèn, căn phòng vẫn nguyên trống vắng, và mặc dù có ánh sáng như trong ngày hội, nó vẫn hoàn toàn là không có người ở. Ông Baster Brown lắc lắc đôi vai tựa hồ có một gánh nặng đang khiến ông nghẹt thở trong lồng ngực. - Thôi, cứ thế, cứ thế... - Ông lẩm bẩm, - cần phải làm vậy... nếu không thì hỏng hết. Cái nhìn của ông gắn vào một tấm gương trong xanh kiểu Venise, treo ở tường hậu. Ông bước tới và nhấc lên: có bốn chiếc nút đồng hiện ra như bốn con mắt trên cánh cửa nhỏ một chiếc két chìm trong tường. Những dụng cụ bằng thép liên tiếp được sử dụng và chẳng mấy nỗi ông đã vượt qua được chướng ngại vật. - Có thế chứ... có thế chứ... - ông Baster Brown đắc chí, - và quả thật trên má ông ướt nhòe những giọt nước mắt sung sướng không gì tả nổi khi ông nhìn thấy trước mắt những gói ngân phiếu lớn và ba đồng tiền vàng. Ông nhét đầy chặt các túi rồi đắc thắng khua lên cái que thép đã giúp ông phút cuối cùng mở khóa. Bỗng nhiên toàn thân ông bị một cơn co giật: ở tầng dưới một cánh cửa đóng sầm lại, có những bước chân vội vàng đi lên cầu thang; thậm chí ông còn nghe thấy tiếng cò súng lên đạn. Toàn thân ông hóa đá. Ông không nhích được một bước ngay cả khi có bóng một người đàn ông lực lưỡng, nặng nề xuất hiện trong khuôn cửa mở rộng, ngay cả khi cái nòng dữ tợn, tròn trặn và bé nhỏ của khẩu súng lục tự động đã đặt vào trán ông. Thế nhưng cái tiếng nổ khốc liệt đã không vang lên, còn người đàn ông thì không kịp kêu bắt cướp hoặc kêu cấp cứu. Cây gậy thép rời khỏi tay ông Baster Brown, nó rít lên cái tiếng xé gió của tên lửa trong không khí rồi văng vào một nơi nào đó trong bóng tối. Ông Baster Brown không đụng đậy nữa, cái cơ thể kia đổ rụi xuống sàn, mặt úp sấp, từ một mảng đầu máu tuôn xối ra. Căng thẳng đến khủng khiếp, ông nhón chân khỏi sàn nhà, chân ông tựa như mắc trong đám sình lầy vô hình. Nhưng rồi ông lấy lại được sức mạnh và nhẩy đại một cái qua được xác chết. Đến chiếu nghỉ cầu thang ông mới nhìn lại. Mười hai ngọn đèn vẫn đang rót những ánh sáng chói lòa vào cái tủ két đã bật mở và cái hộp sọ đã vỡ óc của người gác cổng bị đập chết, trong ánh sáng dịu dàng của chiếc đèn cây... Trời ơi! Baster Brown, con người mà đến cảnh ghê sợ của cái chết bạo tàn cũng gần như không làm động tâm, thì đúng giây phút này lại suýt bật kêu lên vì khiếp đảm: ở cái khoảng không gian giữa chao đèn và mấy cái gối đi văng, đang treo lơ lửng cái ống điếu Polli của ông ở cái tư thế như có một người hút thuốc vô hình cắn chặt vào răng. Ông nhận ngay ra nó một cách chính xác nhờ cái mỏm đầu của nó bị cháy đen và ba cái dấu thập ác. Bây giờ ông bỗng khát khao được quay ngược lại chỗ cũ, được nhẩy ngược trở lại qua cái xác chết máu me và được giằng lấy cái ống điếu yêu quí của mình, cái ống điếu bị mất đi một cách kì quặc, thì bỗng nhiên đúng lúc đó từ cái ống điếu bay ra một vòng khói tròn, rồi đến vòng thứ hai, thứ ba, và giờ đây cái ống điếu được hút hết sức, nó tỏa vào không khí một đám sương mù xanh đặc; nó tự hút một mình... trong căn phòng trống vắng... trống vắng đến rợn người. Và thế là ông Baster Brown cắm đầu cắm cổ chạy, ông lao vào bóng tối và sương mù, ông lạc đường trong bóng đêm mỗi lúc một đặc quánh lại, phải mất suốt ba tiếng đồng hồ ông mới mò về được Clissold-Park, về căn phòng lạnh băng của mình. Trong lúc ông đi vắng một cơn gió mạnh đã mở toang cửa sổ, và bây giờ xung quanh ngọn đèn là một quầng sương mù bao bọc và di động như trong một điệu hoàn vũ ma quỷ. * * * Mười năm sau, làm quen với bác sĩ Baster Brown, liệu ai có thể nghĩ được rằng trong cái ngăn kéo chứa đầy những thứ tạp pí lù kia ông lại vẫn còn đang lưu giữ cái thứ vũ khí hùng mạnh nhất và dữ dội nhất mà hồi trước những sinh thể từ thế giới vô hình đã để lại cho mọi người - chiếc gương đen của bác sĩ John Dee? Dù chúng ta có nói gì đi nữa về chiếc nhẫn của Tot, về những cuốn sách kì bí của Salon, về những chiếc ống nghiệm cao cổ của Carpenter, thì chỉ riêng chiếc gương đen cũng đã khiến mọi người phải thoát ra khỏi cái lồng xác thịt thô thiển của mình để hòa vào những đám mây đậm đặc căm thù, yêu đương hay trí tuệ mà bay đi khắp nơi không hề lạc bước, những đám mây mà Đấng trí tuệ tối cao đã dùng để tạo ra các lại ma quỷ và những thần linh bất tử. Ông Baster Brown đã mua được ở Kemdeltown một phòng nhỏ dùng để khám chữa bệnh. Ở tuổi bên kia dốc núi, người thầy thuốc cấp quận huyện chỉ mơ ước có một căn nhà nhỏ ở một nơi nào đó cạnh một dòng sông có cá hồi tại quê hương Devolshear của ông. Bây giờ ông thấy hoàn toàn hạnh phúc và yên tĩnh. Ông béo đẫy ra, để ria mép theo kiểu gall, da mặt bóng nhẫy, bởi lẽ ông đã quen ăn uống ngon lành. Ông mặc những bộ quần áo kẻ carô của anh em nhà Kerzon, ăn ở nhà hàng Bakki, nơi ông rất thích nhắm món thỏ rừng với thịt lươn rán và rượu mạnh. Ông cũng tham gia vào hội chơi bài uýt ở quán “Kingfisher” và ông chơi không đến nỗi tồi. Trong suốt những năm tháng ấy chỉ có ba bốn lần ông phải rút gương đen kì diệu khỏi chiếc bao màu đỏ. Không tò mò và cũng không sợ hãi ông lại cúi mình trước vật kì bí câm lặng ấy và ông cũng không hề tỏ ra có ham muốn cầu xin sức mạnh ẩn tiềm trong lòng khối đá đen kia. Mặc dù thờ ơ như thế nhưng ông không hề quên điều gì, và đôi khi trước đôi mắt vô hình của kí ức ông lại thấy thoáng hiện về hình bóng lạ kì của con người hiệp sĩ mang khiên và mặc giáp. Còn về phần Polli thì có một số sự cố rất đáng quan ngại làm ông không sao quên được. Đầu tiên là câu chuyện đau buồn của Slamber. Ở Kemdeltown ông Baster Brown thuê được mộc trong những căn nhà nhỏ xinh xắn, mà những ông chủ cho thuê thường lấy làm tự hào vào khoảng năm 1820 và họ đã giữ được trong từng viên đá hiền lành cũ kĩ của mình khá nhiều những điều ma giáo và lần nào họ cũng thông minh không để bị rơi vào tay những bọn làm ăn hám lợi, những kẻ thường phá đi những ngôi nhà cũ để dựng thay vào đó những tòa nhà mới cao tầng. Tầng một là một dãy phòng liên thông trần thấp gồm có tiền sảnh để chuẩn bị đón khách, một phòng tiếp khách và một phòng thí nghiệm nhỏ xíu, trong đó chính ta ông Baster Brown đã chế ra gần một tá các loại thuốc cao và thuốc xirô khá là nổi tiếng và được nhiều người ưa dùng. Trên tầng hai có một phòng khác với những đồ gỗ mới tinh bóng loáng và những thứ đồ kim loại giả theo kiểu dinan, tại đây ông thường nghỉ nghơi thoải mái trong khu nội thất tuyệt vời của mình. Ông rất ít tiếp khách ở đây, bởi vì mặc dù là một con người cường tráng và luôn luôn thành đạt, nhưng ông vẫn cứ là kẻ cô đơn ẩn dật như xưa. Trong số rất ít những người bạn mà ông vui lòng mở cổng khu thiên đàng nhỏ bé nơi trần thế của mình có ông Slamber hết sức đáng yêu mà ông đã được làm quen ở “Kingfisher”. Trước đây ông Slamber là giáo viên trung học, sống nghèo khổ và lần hồi kiếm sống bằng nghề sửa bài cho các nhà xuất bản loại xoàng. Ở quán ăn không bao giờ cho phép mình bỏ ra quá hai đồng bạc để ăn bữa tối, còn nếu như ông uống đến đồng tiền thứ ba thì đó là lúc ông Baster Brown trả thay. Người ta nói rằng khi ăn tối ở nhà ông cũng ít khi từ bỏ những món ăn quen: một quả trứng luộc duy nhất hoặc món kipper([4])chính vì thế ông bác sĩ thường phải mời ông đến để cùng chia sẻ những bữa ăn đầy ắp thức ăn - món thịt gia súc hoặc gia cầm ướp muối lạnh mà bác sĩ đặt một nhà hàng gần đó mang đến tận nhà. Trong lúc đó chuyện ông Slamber ít có gì nổi bật, nếu như câu chuyện không lái sang một chủ đề đặc biệt - những phương thức chiếu sáng thời xưa. Ông Slamber thật thà tốt bụng đã trở thành hết sức lãng mạn khi nói đến những ngọn nến, những đĩa đèn hoặc những cây đèn của Karsel. Vì thế, trong con mắt mờ đục của ông giáo về hưu ông Baster Brown gần như trở thành thượng đế vào cái ngày mua được của lão bán hàng tạp hóa ở Triside một chiếc đèn cây thật cao bằng kính to màu xanh có lắp một thấu kính chứa nước đặt trên một đòn tay bằng đồng và tỏa ra một thứ ánh sáng màu xanh mướt mát. - Tôi cam đoan với ông rằng đó là Kanterpruk! - ông Slamber phấn khích kêu lên. - Kanterpruk? - Đó là tên của một nghệ nhân hàng thiếc nổi tiếng, - ông Slamber tự hào đáp, - ông ta sống ở Borough([5]) khoảng năm 1790 và đã được vang danh vì tài chế tạo những cây đèn như thế. Ông Baster Brown chẳng có gì để nói về chuyện ấy, và từ đó cứ mỗi lẫn ông giáo cũ tới thăm thì cây đèn Kanterpruk lại khiến trái tim nhân hậu, dịu dàng kia vui sướng vì thứ ánh sáng như ánh trăng huyền ảo của nó. Một lần vào ban đêm ông Baster Brown bị đánh thức dậy vì những đợt sóng lạ kì báo hiệu nguy hiểm. Đã từ nhiều năm ông không dám ngủ trong phòng tối thui và vẫn để ở đầu giường một ngọn đèn đêm nho nhỏ có cả phao dầu; ánh lửa màu vàng mơ hồ của nó có sức chiến đấu chống lại những đạo quân âm thầm của bóng tối. Ngọn lửa bé nhỏ ấy bỗng rọi sáng trước mắt ông Baster Brown vừa tỉnh ngủ một hình bóng tan loãng đầy đe dọa trong bóng tối và sẵn sàng tấn công ông; trong những tia sáng của nó loáng lên hình một lưỡi dao lạnh và dài. Ông Baster Brown nhìn thấy con dao sáng loáng ấy được giơ cao lên một cách hung tợn và từ trong bóng tối có một khuôn mặt bịt băng đen hiện ra như hân hoan đón chờ cơn hấp hối của ông sắp đến. Ông cảm thấy mình đã chết, nhưng bỗng có một điều khó hiểu xảy ra. Con dao bỗng rơi xuống, cắm phập xuống sàn gỗ, rung lên bần bật, từ bên trong mặt nạ thoát ra một tiếng xì nhỏ, sau tiếng xì là tiếng rên lên đau đớn và tuyệt vọng rồi cả cái thân hình dữ dội kia đổ vật xuống sàn. Ông bác sĩ nhảy một bước tới chỗ tên dạ khách, lột chiếc mặt nạ đen, và một giọng hấp hối thều thào cất lên: - Tha lỗi cho tôi. Tôi muốn lấy Kanterpruk... Tên cướp tắt thở ngay sau lời thú nhận đáng thương, người ấy không phải ai khác, mà chính là ông Slamber xấu số. Ông bác sĩ đã gần đoán ra được điều kì diệu nào đã gây ra cơn đau tim quật chết ông bạn cũ và cứu sống cuộc đời cho chính ông thì bỗng ông nhìn thấy Polli. Cái ống điếu treo lơ lửng trong không khí bên trên ngọn đèn đêm đang nhả ra những vòng khói ở ngang chỗ đầu ông có hình ba dấu thập ác. Những vòng khói rất đẹp, đầy đặn và trọn trặn, tựa như chính chúng cũng thấy hài lòng với cái dáng tròn tuyệt vời của mình. Ông Baster Brown kêu lên một tiếng gằn giọng và đưa tay về phía ống điếu động tác của ông không được khéo léo khiến ngọn lửa nhỏ bé yếu ớt trong cây đèn đêm tắt ngấm. Khi ông châm lại được thì ống điếu không còn nữa, tuy vậy cả căn phòng vẫn còn đượm mùi thuốc cháy khét lẹt. Ông không phải mất nhiều thời gian để cứu lại thanh danh cho ông Slamber; ông cất giấu đi mặt nạ và con dao của ông bạn rồi kéo xác ông ấy đi cách nhà một trăm bước đến chiếc ghế đá ngoài khuôn viên. * * * Cô Eddy Bronks có thể đã là xinh đẹp, thậm chí là rất xinh đẹp, nếu như căn bệnh bướu cổ không làm cho đôi mắt màu xanh nhan nhát của cô có vẻ như là hơi dọa nạt người khác một chút. Ông Baster Brown quen với cô tại nhà người bán hàng thuốc ở Korihill tên là Littelwood, người mà ông hứa chuyển cho cả phòng thí nghiệm và cả những công thức thuốc cao của mình. Cô Eddy thích nói chuyện tào lao với cả hai người, và như cô thường nói ra không kém phần tự hào, cô là người “chuyện trò chuyên nghiệp”. Trên thực tế cô là hộ lí trong bệnh viện “New Charte”. Ông Baster Brown chưa bao giờ chú ý đặc biệt đến phụ nữ, nhưng hình ảnh cô Eddy Bronks chẳng mấy chốc đã không buông tha ông. “Lần sau gặp nàng ta sẽ xin cưới nàng làm vợ”, - nhiều lần ông đã tự nói như vậy. Lần gặp sau, rồi sau đó là nhiều lần gặp trôi qua, nhưng lời cầu hôn vẫn không sao thoát ra khỏi miệng ông, và mọi câu chuyện đều chỉ qui về việc xem xét các loại thuốc viên nhà Littelwood, các phương thức điều trị bệnh bướu cổ và các trường hợp mắc bệnh đặc biệt mà bác sĩ đã từng gặp trong thực tế. Một buổi tối mùa thu ông Baster Brown bắt gặp Littelwood ủ rũ tì tay trên quầy thuốc, môi run lên, bàn tay lạnh ngắt. - Ông biết không, - Littelwood rền rĩ, - cô Bronks khốn khổ vừa mới ở đây, tâm thần hoảng loạn. Cô ấy mới bị đuổi khỏi bệnh viện sau một cuộc cãi cọ với thượng cấp. Cô ấy bảo rằng cô ấy muốn chết đi cho rồi... Không, không, ông Brown, tôi hiểu những chuyện này... Ông đừng quên rằng bệnh tình của cô ấy có thể dẫn đến thần kinh hỗn loạn. Cô ấy vừa chạy ra phía hồ nước. Ông Littelwood có một chân tập tễnh nặng nên không thể chạy đuổi theo cô gái tuyệt vọng. Như điên, ông Baster Brown cắm đầu chạy trên đường phố dài và tối, vừa chạy ông vừa thở dốc, tim đập thình thịch. Ông dừng lại khi thấy trước mặt mình làn nước hồ phẳng lặng dưới ánh trăng. - Eddy! Eddy! - Ông gào lạc giọng. Và ông thấy cô cúi gập mình qua cái hàng rào ọp ẹp, đầu nghiêng xuống mặt nước tối đen. - Cô Eddy yêu quí ơi... tôi hết lòng mong muốn... Chính ở cái nơi không bình thường này, trong cái hoàn cảnh hết sức không bình thường này ông đã tỏ tình với cô và xin đính hôn. Cô Eddy Bronks đã theo ông về, người phờ phạc và mắt đẫm lệ. Ông nhóm lửa trong lò sưởi phòng khách, thắp hết mọi đèn, kể cả cây đèn mặt trăng Kanterpruk và với đôi bàn tay lóng ngóng ông đã pha được hai li rượu kiểu cốctay. - Em thân yêu, ngày mai anh sẽ đi xin giấy phép thành hôn. Cô không nghe ông nói mà ngửa đầu nhìn lên trần nhà, trong giây lát cái bướu cổ càng khắc họa nét buồn bực sâu sắc trong đôi mắt cô. - Anh có cái gì thế này, bác sĩ Brown? - Cô vừa thở vừa hỏi. - Cái gì ấy à? Cô để rơi mình xuống một chiếc ghế bành sâu lõm bên cạnh lò sưởi. - Em xin lỗi... em chóng mặt... buồn nôn. Ôi, bác sĩ ơi, anh đừng hút thuốc nữa! Ông Baster Brown để rơi xuống sàn li rượu mới pha. - Nhưng anh có hút đâu, em yêu! Cô Eddy Bronks đứng bật dậy. - Kìa kìa, trong góc nhà kia kìa... có người đội mũ sắt... nó trốn... em nhìn thấy chân nó dưới bàn... trời ơi, chân nó như con rắn. Rồi bỗng cô rít lên: - Nó ra đây này... nó châm thuốc ở chỗ đèn ấy! Lạy chúa cứu thế! Cô vùng chạy ra phía cửa; ông Baster Brown muốn giữ cô lại, nhưng cô đã đẩy ông ra với một sức mạnh khủng khiếp. Ông lảo đảo, mất cân bằng và ngã giúi đầu vào chiếc ghế bành nơi cô vừa ngồi. Lúc kịp đứng dậy thì ông nghe tiếng cửa ra vào đập mạnh và ông chỉ còn cách lao ra chỗ cửa sổ. Trong ánh trăng rực rỡ ông nhìn thấy cô gái đang chạy trên đường phố vắng lặng, ông thò đầu ra gọi cô, xin cô quay lại, nhưng bỗng nhiên ông nhìn thấy một bóng đen dữ dội khủng khiếp lướt đuổi theo cô không một tiếng động trên đường phố ngập tràn ánh trăng. Hôm sau người ta vớt được thi hài cô Eddy Bronks ở hồ nước số hai khu Kemdeltown. * * * Một năm sau cái chết bi thương ấy ông Baster Brown qua đời. Có một thời gian ông bị bệnh hen và không thể chữa dứt được. Ông Littelwood vẫn thường đến thăm. Ông là người cho chúng tôi biết về những phút cuối cùng của bác sĩ. Ông ấy hành động rất thiếu lí trí, điều đó làm hại ông, - người bán thuốc nói - Bạn ông là bác sĩ Ressendl đã kê đơn chỉ định chế độ sinh hoạt và ăn uống, còn ông ta thì lại cứ mải đi những đâu đâu. Mưa trút nước và ông trở về như chuột lột. Tôi mắng cho ông một trận kịch liệt rồi bắt lên giường nằm ngay. - Ông điên hay sao mà đi phố bây giờ, - tôi gắt lên. - Không thể hiểu được làm sao trời này lại dám ra đường. - Tôi vừa thoát được một gánh nặng. Tôi cặp nhiệt cho ông: gần bốn mươi độ, - và tôi hiểu rằng ông đang mê sảng. Ông bắt đầu lảm nhảm gì đó, đặc biệt là về một cái gương. - mất bao nhiêu năm tôi mới hiểu được... Trong đó có... cô ấy... cô ấy... Hai chữ cô ấy ông nhắc lại mỗi lúc một to đến nỗi mấy lần tôi phải lên tiếng bắt ông thôi nói và nằm yên. Đến gần sáng ông dịu đi, tôi cho rằng ông đã ngủ say, hơn nữa nhiệt độ cũng đã giảm. Tôi nghĩ, tôi cũng có thể nghỉ một lát, tôi bèn thu mình vào ghế bành và chẳng bao lâu thiếp đi. Bỗng tôi bừng tỉnh vì ông thét lên. Ông đã bật ngồi dậy trên giường thở hổn hển, ngực phập phồng như bễ lò rèn, và một điều thật là kì lạ tôi chưa từng thấy là ông hút thuốc, quanh người ông là một đám mây thuốc đậm đặc. - À, đúng nó rồi... đúng nó rồi... bây giờ thì tôi hiểu, tôi hiểu cô ta là ai... Chà, đồ chết tiệt, nó ăn cắp của tôi cái điếu! Ông đổ vật suống nằm bất động và không bao giờ tỉnh lại nữa. Nhưng khi đổ xuống ông đã dùng tay làm một cử chỉ lạ lùng, tựa như bắt một cái gì trong không gian. Và đến khi cánh tay rơi xuống thì trong đó có một cái ống điếu dày bằng vỏ bạch dương, trên đầu có khắc ba dấu thập ác. Người ta không thể nào rút được cái ống điếu ra khỏi tay ông, và có lẽ người ta đã đưa nó theo ông xuống huyệt. ĐỨC MẪN dịch từ tiếng Nga Tòa thị chính thành phố Luân Đôn (từ đây về sau là chú thích của người dịch). [2] Phòng thí nghiệm hóa học” (tiếng Latinh). [3] George Brian Bremmel (1778-1840) - người ăn diện nổi tiếng nước Anh. [1] Tiếng Anh: món cá hun khói. [5] Tên cửa miệng của khu Southwalk của Luân Đôn. [4] STEFAN GRABINSKI (Ba Lan) Stefan Grabinski (1887-1936): Nhà văn Ba Lan. Tác giả các tiểu thuyết Salamandra (1924); Cái bóng của Bafomet (1926). Vào những năm 20 xuất bản các tập truyện ngắn Trên đỉnh hoa hồng, Con Quỷ chuyển động, Câu chuyện kinh dị và một số cuốn khác. Truyện ngắn dưới đây rút trong tập Cuốn sách lửa (1922). Sự Báo Thù Của Các Sinh Vật Lửa Antoni Tcharnotski, giám đốc sở cứu hỏa thành phố Rakshava, đặt tờ thống kê các đám cháy sang một bên rồi mệt mỏi nằm dài ra trên đi văng, khoan khoái hút điếu xì gà Cu Ba. Bấy giờ là quãng hơn bốn giờ chiều, tiết trời tháng bảy nóng nực. Qua tấm mành buông kín, ánh sáng ban ngày mờ mờ nhuốm vàng căn phòng, bầu không khí oi bức ngột ngạt như cuộn lên thành những làn sóng vô hình. Tiếng ồn ngoài đường phố như ngái ngủ vì nóng nực vọng vào đều đều, trên các ô cửa sổ, những con ruồi mệt lử bay vo vo rời rạc và yếu ớt. Tcharnotski phân tích các ghi chép, đối chiếu các ngày tháng, xếp loại những tư liệu đã tích lũy được trong nhiều năm, rút ra các kết luận. Ai có thể nghĩ ngợi được rằng từ các số liệu thống kê lãnh đạm lại hiện lên một bức tranh thú vị đến thế, mà tất cả chỉ vì chúng được nghiên cứu một cách có phương pháp và cực kì kĩ lưỡng. Ai mà ngờ từ những con số ngày tháng khô khan, thoạt nhìn chẳng nói lên điều gì, lại có thể lấy ra được những kết quả khiến người ta bàng hoàng cả người, lại giúp ta nhận thấy trong mớ hỗn độn các sự việc tưởng như khó phân biệt, lặp đi lặp lại rất đơn điệu, những hiện tượng kì lạ đến thế! Nhưng để nhìn ra một điều gì như vậy, để nắm bắt được một điều gì như vậy, cần phải có một linh cảm đặc biệt, và thậm chí có lẽ cần cả một cấu tạo thể chất đặc biệt. Hiển nhiên Tcharnotski chính là một trong những người như thế và ông hiểu rất rõ điều đó. Đã nhiều năm ông nghiên cứu về các đám cháy, tìm hiểu chúng ở Rakshava và ở bất cứ đâu, thu thập hết sức cẩn thận các bài cắt ở báo chí, lục lọi sách báo chuyên ngành, xem nhiều bản thống kê so sánh. Trong các cuộc nghiên cứu khác thường, những tấm bản đồ chi tiết các hầu hết các vùng trên thế giới đã giúp ích cho ông rất nhiều; các ngăn tủ trong phòng thư viện của ông xếp chặt những cuốn sách dày cộp. Ở đó có sơ đồ các thủ đô, các thành phố và khu dân cư với tất cả những phố, những ngõ chằng chịt, những quảng trường và xó xỉnh, những vườn cây và công viên, những công trình xây dựng, nhà thờ và nhà cửa, tóm lại, đó là những sơ đồ vẽ rất tỉ mỉ: bất kì ai dù mới đến lần đầu, dựa vào bản hướng dẫn ấy cũng dễ dàng định hướng được, như thế đó là thành phố quê hương vậy. Các sơ đồ ấy đều được đánh số cẩn thận, được sắp xếp theo từng huyện, từng vùng, sẵn sàng phục vụ: chủ nhân chỉ cần đưa tay ra là những tờ trình vuông và hình chữ nhật, bằng vải, bằng ni lông hay bằng giấy cung cấp ngay mọi chi tiết muốn tìm. Tcharnotski cắm cúi hàng giờ trên các tấm bản đồ, nghiên cứu và so sánh cách sắp xếp nhà cửa và đường phố của những thành phố khác nhau. Công việc ấy cực kì tỉ mẩn, đòi hỏi một sự kiên nhẫn ghê gớm. Không phải bao giờ các kết luận cũng tự nhiên bật ra, nhiều khi phải chờ đợi rất lâu mới tóm được một kết quả nào đó. Nhưng Tcharnotski bấu chặt như con ve, con bọ chét. Hễ thấy một chi tiết ngờ ngợ, là ông bám riết ngay lấy, rồi không cho phép mình nghỉ ngơi hay trì hoãn, sớm muộn ông cũng tìm ra được những khâu trước đó hoặc những khâu tiếp theo. Sau nhiều năm gian khổ, ông đã có được những “tấm bản đồ hỏa hoạn” đặc biệt, ngoài ra, ông còn có được cái gọi là những “biến thể của các đám cháy”. Trên các tấm bản đồ có đánh dấu những nơi, những công trình xây dựng và nhà cửa, từng bị hỏa hoạn, bất kể thiệt hại không đáng kể hay là bị thiêu rụi hoàn toàn. Còn trên những bản vẽ gọi là “biến thể các đám cháy” thì ghi lại những thay đổi diễn ra trong quy hoạch xây dựng sau vụ hỏa hoạn; tất cả mọi thay đổi, dù nhỏ nhất, đều được ghi lại cẩn thận. So sánh các tấm bản đồ hai loại kể trên, dần dần Tcharnotski đi đến những kết luận lí thú. Nếu nối những điểm xảy ra hỏa hoạn ở một vùng nào đó, thì trong tám mươi phần trăm các trường hợp, sẽ hiện lên đường viền những sinh vật kì lạ, đôi khi chúng giống như những đứa trẻ quái thai, nhưng thường thường, đó là hình những con thú nhỏ thú vị - những con vượn cáo đuôi dài xoắn vặn rất ngộ, những con sóc nhanh nhẹn thân uốn vồng, những con khỉ trông buồn cười đến mức dị dạng. Tcharnotski lấy từ trong các sơ đồ ra cả một bộ sưu tập như thế, ông tô màu sặc sỡ rồi đưa chúng vào một cuốn anbom độc đáo, chắc hẳn không ai có, ngoài bìa đề dòng chữ “Anbom các sinh vật lửa”. Phần hai bộ sưu tập của ông là những “trích đoạn và phác thảo” - rất nhiều những hình kì cục không rõ ràng, chu tuyến chưa hoàn chỉnh, chỉ có thể lờ mờ phỏng đoán. Ở đây phác họa những cái đầu, những mẩu thân thể, những khúc chân tay, những cái cẳng tẽ ngón lông lá, đây đó còn hiện lên những hình hình học, những hình như vết mực nhòe hoặc như một đám những con thủy túc nhộn nhạo. Cuốn anbom của Tcharnotski khiến ta nhớ tới một bộ sưu tập những hình ngộ nghĩnh hoặc sáng tác của một họa sĩ có óc tưởng tượng mãnh liệt; thích thú với sự quái dị, ông đưa lên mặt giấy trắng cả một đám những tạo vật như báo điểm gở - những quái vật chỉ tồn tại bên ngoài lương tri con người. Ai không hiểu rõ vấn đề lắm có thể sẽ nghĩ rằng mình đang xem loạt tranh kì cục vẽ bằng màu đỏ của một họa sĩ thiên tài ghi lại những giấc mơ huyền hoặc. Nhưng nhìn một số bức tranh tưởng tượng ấy, người ta sởn gai ốc... Sau nhiều năm dài, nhà nghiên cứu độc đáo phát hiện ra thêm một quy luật nhờ các quan sát riêng của ông gợi ý cho: các vụ hỏa hoạn thường xảy ra vào thứ năm. Các con số thống kê xác nhận con quỷ ác hại ấy thường thức dậy chính vào ngày đó trong tuần. Và điều này hoàn toàn không phải ngẫu nhiên. Thậm chí Tcharnotski còn tìm ra một cách giải thích ít nhiều phù hợp. Theo ông, đó là tại bản chất của ngày thứ năm, được phản ánh ngay trong tên gọi tượng trưng của nó. Bởi từ xưa, ngày đó vẫn được coi là ngày của thần Zeus sấm sét, và do vậy nảy sinh tên gọi ngày ấy ở nhiều thứ tiếng. Không phải bỗng dưng chủng tộc Đức gọi thứ năm là ngày sấm sét: Donnerstag và Thursday, A giovedi, Juever và Jeudi ([1]), với sức mạnh la tinh thực sự - lẽ nào nghe không mang máng tên thần Jupiter? Sau khi đi đến hai kết luận cực kì quan trọng ấy, Tcharnotski tiến tiếp theo con đường suy lí. Vốn yêu thích triết học và những khái quát siêu hình, trong những giờ rảnh rỗi ông đọc các tác giả thần bí thời kì đầu Cơ đốc giáo và nghiền ngẫm kĩ những luận văn thời trung cổ mà ông quan tâm. Sau nhiều năm nghiên cứu các vụ hỏa hoạn và những hiện tượng kèm theo, ông nghiêng về ý nghĩ cho rằng chắc hẳn có những tạo vật cho tới nay chúng ta chưa biết, một thứ gì đó đại loại như khâu trung gian giữa con người và loài vật, và chúng lộ ra trong bất kì tai họa tàn phá nào. Dẫn chứng cho thuyết của mình, Tcharnotski nêu ra các tín ngưỡng của nông dân và các truyền thuyết cổ xưa ma quái, nàng tiên cá, quỷ lùn, thần lửa và các thiên tinh. Ngày nay, ông đã không còn chút nghi ngờ nào về sự tồn tại của các sinh vật lửa. Ông cảm thấy chúng có mặt ở mỗi đám cháy cho nên ông gắng sức đè bẹp thói càn bậy của chúng. Dần dần, đối với ông, cái thế giới bí mật mắt thường không trông thấy ấy trở thành một thế giới cũng thực như thế giới của bản thân ông, tức là thế giới con người. Và thế là nổ ra một cuộc đấu tranh kiên trì và không khoan nhượng, giờ đây hoàn toàn đã được nhận thức rõ. Nếu trước kia Tcharnotski đấu tranh với lửa như với một hiện tượng mù quáng không kìm lại được, thì bây giờ, càng hiểu ra bản chất thực của nó, ông dần dần có thái độ khác đối với nó. Năm này qua năm khác, trong cái sức mạnh hủy diệt phi lí là đám lửa, ông đã nhận ra một con thú dữ ác ý, ham tàn phá, mà ông phải thanh toán. Rồi sau đó, qua một số dấu hiệu, ông thấy phía địch đã nắm bắt được sự thay đổi trong chiến thuật của ông. Và thế là cuộc chiến tranh đã mang tính chất cá nhân. Phải nói rằng Antoni Tcharnotski, giám đốc sở cứu hỏa ở Rakshava, đúng là người sinh ra cho một cuộc chiến tranh như thế, có lẽ hơn bất kì ai khác trên thế gian này. Bản thân thiên nhiên phú cho ông những năng lực đặc biệt dường như đã phân công cho ông vai trò người chế ngự lửa. Thân thể ông tuyệt đối không cảm thấy lửa; ở giữa ngọn lửa ngùn ngụt, giữa đám cháy hoành hoành dữ dội, ông hoạt động hết sức an toàn, không bị một vết bỏng nhỏ nào. Mặc dù chức vụ giám đốc không yêu cầu ông phải trực tiếp tham gia dập lửa, nhưng không tiếc thân mình, luôn là người đầu tiên lao vào đám cháy. Thân hình ông - cao lớn và mềm mại, mái tóc rậm như bờm sư tử nhô ra dưới chiếc mũ cứu hỏa, - nổi cao lên như vị thần hộ mệnh giữa những cuộn khỏi lửa tua tủa hàng ngàn cái nọc đỏ lừ. Đôi khi tưởng như chắc chắn đi vào cõi chết, nơi mà không một người lính cứu lửa nào đám thò mũi vào, nhưng - kì diệu chưa! - từ chốn địa ngục ấy ông lại xuất hiện bình an vô sự, với nụ cười hiền lành và hơi bí ẩn trên gương mặt dũng cảm, rọi sáng bởi những ánh lửa đỏ rực; rồi sau khi hít đầy không khí vào lồng ngực nóng bỏng, ông lại xông vào lửa. Bạn bè ông tái mặt khi ông cực kì can đảm leo lên những tầng gác ngùn ngụt lửa, trèo lên những ban công đang cháy, liều lĩnh chạy len lỏi giữa những khung thép nóng giãy. - Một con quỷ! Ông ấy đúng là một con quỷ!! - Đám lính cứu hỏa thì thầm với nhau, khiếp hãi và kính nể nhìn theo thủ trưởng của họ. Chẳng bao lâu ông có biệt danh “Chịu Lửa” và trở thành thần tượng của lính cứu hỏa và dân chúng thành phố. Xung quanh ông, người ta thêu dệt nhiều chuyện, trong đó, ông được mô tả như một nhân vật hai mặt - là thượng đẳng thiên sứ Mikhail, đồng thời là con quỷ. Về ông có nhiều lời đồn đại, trong đó khiếp sợ và cảm phục xen kẽ nhau một cách kì lạ. Còn hiện nay, Tcharnotski được coi là một pháp sư tốt bụng có quen biết các thế lực bí ẩn. Đối với mọi người, mỗi bước chân, mỗi cử chỉ của ông Chịu Lửa đều chứa đựng ý nghĩa đặc biệt. Điều khiến mọi người ngạc nhiên hơn cả là tính chất “amiăng” của Tcharnotski dường như được truyền sang quần áo ông, bởi chúng cũng không bị cháy trong các vụ hỏa hoạn. Hồi đầu, người ta tưởng khi chữa cháy ông mặc bộ quần áo may bằng loại vải đặc biệt, chịu được lửa, nhưng hóa ra hoàn toàn không phải thế. Đó là những lần bị kẻng báo động đánh thức giữa đêm đông giá lạnh, ông vội vã mặc luôn bộ quần áo đầu tiên ông trông thấy ở trạm cứu hỏa, mà khi ra khỏi lửa ông vẫn bình yên vô sự. Ở địa vị ông, giá thử người khác thì đã tận dụng tài năng đặc biệt đó để kiếm tiền, ví như sẽ làm thuật sĩ lãng du hoặc một tay đại bịp, nhưng đối với ông Antoni chỉ cần mọi người quý trọng và cảm phục là đủ. Điều duy nhất ông tự cho phép mình là những “thử nhiệm” vô tư trong phạm vi đồng nghiệp hoặc những người quen thân làm cho các khán giả phải sững sờ. Chẳng hạn, ông đặt trên lòng bàn tay mấy hòn than hồng khoảng mười lăm phút hoặc lâu hơn nữa mà không có dấu hiệu đau đớn gì, đến lúc ông lại vứt than vào lửa, trên tay ông không hề có vết bỏng. Khả năng của ông truyền “tính chịu lửa” của mình cho người khác cũng gây nhiều thích thú. Chỉ cần ông cầm tay ai, là người đó cũng “chịu lửa” được một khoảng thời gian nhất định. Một nhóm bác sĩ địa phương chú ý đến ông, họ đề nghị ông “biểu diễn” vài buổi với một số tiền thù lao lớn. Tcharnotski tức giận từ chối và sau đó, một thời gian dài ông không tình bày “thử nghiệm” ngay cả trong phạm vi hẹp. Người ta còn kể về ông nhiều chuyện hết sức lí thú khác nữa. Một số lính cứu hỏa từng phục vụ dưới quyền ông không ít năm đã đem các thánh thần ra mà cam đoan rằng trong các đám cháy, ông Chịu Lửa thường phân thân ra làm hai, làm ba: họ kể rằng nhiều lần, họ thấy ông đồng thời ở hai, ba chỗ nguy hiểm nhất giữa đám lửa ngùn ngụt. Kshishtof Slutch, đội trưởng cứu hỏa, thề rằng một lần, khi đám cháy đã dịu bớt, anh ta tận mắt thấy ở mé trong một hốc bán nguyệt còn nguyên vẹn có ba thân hình ông Antoni giống hệt nhau, - chúng nhập vào nhau làm một, còn ông Tcharnotski thì đang thản nhiên xuống cầu thang. Chẳng ai biết trong những lời đồn đại ấy có bao nhiêu thật, bao nhiêu bịa. Nhưng có một điều chắc chắn - Tcharnotski là một người khác thường và dường như sinh ra là để đấu tranh với hỏa hoạn. Và ông đã chiến đấu thực sự - ngày càng quyết liệt, ông hiểu sức mạnh của ông, năm này qua năm khác ông hoàn thiện các phương pháp tự vệ, dựng ngày càng nhiều chướng ngại trên con đường hoành hành của lửa. Đối với Tcharnotski, dần dần cuộc đấu tranh ấy trở thành ý nghĩa cuộc đời; ông liên tục phát minh ra những phương pháp đáng tin cậy để phòng cháy. Như hôm nay, buổi trưa tháng bảy nóng nực này chẳng hạn, ông nằm xem những ghi chép mới nhất, phân loại những tài liệu tích lũy được cho cuốn sách đang viết về các đám cháy và các biện pháp phòng cháy. Ông đang định viết một cuốn sách lớn, hai tập, kết quả nghiên cứu của ông trong nhiều năm. Chốc chốc lại rít một hơi điếu xì gà thơm Cu Ba, Tcharnotski ngẫm nghĩ bố cục cuốn sách và trình tự các chương... Hút nốt điếu thuốc, ông giụi nó vào cái gạt tàn, rồi mỉm cười mãn nguyện, ông đứng dậy. - Không đến nỗi tồi! - Ông tự khen mình, hài lòng về những điều ước tính. - Có vẻ ổn lắm. Ông thay quần áo, rồi đến quán cà phê yêu thích chơi cờ... Vài năm trôi qua. Hoạt động của Tcharnotski ngày càng tiến triển. Giờ đây, không chỉ Rakshava biết đến ông. Người ta nói tới ông Chịu Lửa cả ở những nơi xa thành phố này. Nhiều người đến gặp ông và tỏ lòng khâm phục ông. Cuốn sách của ông về các đám cháy có tiếng vang lớn, và không chỉ trong ngành cứu hỏa; trong một thời gian ngắn, nó đã được in lại mấy lần. Nhưng không phải mọi việc đều suôn sẻ. Trong khi trực tiếp tham gia chữa cháy, đã mấy lần ông bị thương. Hôm cháy kho củi ở Viteluvka, một thanh rầm đang cháy đột nhiên rơi xuống khiến xương quai xanh của ông bị thương nặng; ở hai vụ hỏa hoạn khác, trần nhà đổ sụp làm ông bị thương chân và vai; còn hôm Giáng sinh mới rồi, suýt nữa ông mất tay phải; một thanh xà bằng sắt rơi từ tít trên nóc xuống chạm một đầu vào ông - chỉ một li nữa là ông nát xương... Trước những chuyện không may ấy, Tcharnotski cừ khôi cực kì bình tĩnh. - Ta còn chịu thua lửa, nên nó mới ném các thanh xà vào ta, - ông thường nói thế, miệng mỉm cười khinh khỉnh. Nhưng thời gian gần đây, các lính cứu hỏa dõi theo từng bước của ông và không để ông lao vào lửa quá sâu, nhất là ở những chỗ có nguy cơ sập nhà. Tuy nhiên, mối nguy hiểm vẫn rình rập ông thường xuyên đến mức kì lạ, cả ở những nơi tưởng như an toàn nhất. Hình như hễ cứ có mặt Tcharnotski là ma quỷ kéo đến: bên cạnh ông bỗng dưng rơi xuống những khúc gỗ chỉ vừa mới bén lửa, những thanh xà trên trần lửa còn chưa lan tới, cả những tảng vôi, vữa nặng trịch, to bằng viên đại bác, có khi rơi đúng chỗ Tcharnotski vừa đứng. Còn Tcharnotski chỉ nhếch mép cười, thản nhiên hút xì gà. Thế nhưng các bạn bè của ông băn khoăn cau mày và sợ hãi tránh ông cho xa. Rốt cuộc họ đã hiểu ra rằng ở bên cạnh ông không phải là không nguy hiểm. Cũng đã xảy ra vài sự việc thuộc loại ấy, nhưng ở trong nhà sếp của họ, nên không ai biết. Tất cả mọi chuyện bắt đầu từ làn khói khét lẹt, ngột ngạt: một ngày nọ, ngôi nhà tràn ngập mùi khét như thể có miếng giẻ rách cháy âm ỉ ở xó nhà. Mùi khó chịu như những lớp sóng vô hình lan tỏa vào các hành lang, đọng mùi hôi trong các phòng, như một tấm màn nặng nề rủ từ trên trần xuống. Mùi ấy thấm vào đồ đạc, quần áo, chăn đệm. Quạt máy và hệ thống thông gió có hoạt động cũng không ăn thua. Và mặc dù các cửa ra vào và cửa sổ đều mở toang hầu như suốt ngày, - mà đó là giữa lúc ngoài trời lạnh âm mười tám độ, - cái mùi ghê tởm ấy vẫn không bay đi. Gió lùa và giá lạnh cũng không xua được nó, nó cứ xộc vào mũi nồng nặc. Mọi cố gắng tìm ra nguồn gốc mùi ấy đều không đi tới đâu, nên đành chịu vậy. Cuối cùng, một tháng sau, khi không khí trong nhà đã khá lên đôi chút, thì lại xảy ra một tai họa khác: thán khí. Mấy ngày đầu, còn có thể đổ tình trạng này là do đám gia nhân vụng về, vì lơ đãng đã đóng sớm các lò sưởi, nhưng về sau phải công nhận vấn đề hoàn toàn không phải ở đó, dù các lò đã được theo dõi rất cẩn thận, mùi thán khí ngột ngạt vẫn đầu độc không khí ngày một nhiều hơn. Việc thay đổi chất đốt cũng không ăn thua: mặc dù Tcharnotski đã cho đốt lò bằng củi và không đóng cửa lò nữa, ban đêm trong nhà vẫn có người bị trúng độc hơi than, còn bản thân ông, sáng dậy thấy đầu nhức như búa bổ và buồn nôn. Sự việc đến mức ông buộc phải đi ngủ nhờ ở người quen chứ không ngủ nhà nữa. Vài tuần sau, thán khí bớt hẳn, và ông lại thở phào nhẹ nhõm trở về nhà. Ông không biết ngay tại sao nhà ông gặp nhiều tai biến như thế, nhưng lật đi lật lại vấn đề, cuối cùng ông hiểu ra rằng ẩn sau tất cả những cái đó là một mục tiêu: làm cho ông sợ, hạ nhiệt tình chiến đấu của ông. Nhưng các quỷ kế như vậy chỉ đổ thêm dầu vào lửa - ông bị chạm đến chỗ đau nhất, và quyết chiến thắng bằng bất kì giá nào. Hồi ấy, Tcharnotski đang nghiên cứu một hệ thống mới cho bơm chữa cháy; ông hi vọng nó sẽ đạt hiệu quả cao hơn tất cả các loại bơm trước đây. Thứ được dùng để dập tắt lửa sẽ không phải là nước, mà là một chất gas đặc biệt, chất này sẽ bọc kín dày đặc tòa nhà bị cháy khiến ôxi không lọt vào được nữa: bằng cách ấy, ông có thể dập tắt lửa từ lúc nó mới manh nha. - Tôi bảo đảm đó sẽ là một ngọn roi của Trời đối với các đám cháy, - ông hồn nhiên khoe với một kĩ sư ông quen khi chơi cờ. - Rất có thể khi bằng phát minh của tôi được chứng nhận, lửa hầu như sẽ không còn gây hại nữa. Và ông tự mãn vân vê bộ ria. Bấy giờ là quãng giữa tháng giêng: Tcharnotski định hoàn thành đề án chi tiết trong vài ba tháng rồi gửi lên bộ. Tối này qua tối khác, ông cặm cụi trên các bản vẽ, nhiều khi ông ngồi đến tận nửa đêm... Một lần, đang ngồi làm việc lúc nửa đêm như thế, ông lơ đãng nhìn Martin, người đầy tớ già, kều than trong lò ra, và bỗng dưng mẩu gỗ cháy dở ấy thu hút sự chú ý của ông. - Gượm đã, - ông giữ Martin lại ở ngưỡng cửa. - Bác rắc tro than lên tờ báo này cho tôi. Martin hơi bối rối, làm theo lời ông chủ. - Thế! Tốt rồi. Thôi, bác về ngủ đi. Còn lại một mình, Tcharnotski một lần nữa nhìn kĩ các hòn than. Đập ngay vào mắt ông là hình dạng các hòn than. Không hiểu lửa cháy thế nào mà các hòn than có đường viền mang hình các chữ cái. Ông kinh ngạc xem xét những đường viền rõ nét ấy; không còn nghi ngờ gì nữa, trước mắt ông là những con chữ lớn bằng than được “gia công” rất khéo. Một câu đố hóc búa độc đáo, ông nghĩ và tò mò xếp các hòn than hết kiểu này đến kiểu nọ. Biết đâu ông xếp được chúng thành cái gì đó? Thế rồi chưa đầy mười lăm phút, dưới bàn tay ông đã xuất hiện các từ: “Nung Nóng”, “Tia Lửa”, “Dọa Nước”, “Thổi Khói”. - Cái hội này vui ra phết, - ông lẩm bẩm, ghi lại những cái tên lạ lùng ấy cho khỏi quên. Đầy đủ thành phần bọn lưu manh lửa. Bây giờ ta hãy xem nên đặt biệt danh cho bọn mi như thế nào. Đúng là một cuộc viếng thăm độc đáo, nhưng các tấm danh thiếp lại càng độc đáo hơn. Nhếch mép cười, ông cất tờ giấy vào tủ. Từ hôm ấy, ông dặn Martin ngày nào cũng đem tro than cho ông, và lần nào ông cũng phát hiện trong đó những lời nhắn gửi. Những lời ấy ngày càng gợi tò mò hơn. Sau các tấm danh thiếp là những bức thông điệp từ thế giới bên kia - những câu rời rạc với nội dung răn đe và rồi cả với nội dung dọa nạt. “Cút đi!”, “Để chúng tao yên!”, “Chớ đùa với bọn ta!”, “Coi chừng đấy!” - Các bức thông điệp lửa thường kết thúc như vậy. Tcharnotski không coi trọng những lời ấy, với chúng ông có thái độ hài hước. Say sưa nghiên cứu ông xoa xoa tay và chuẩn bị đánh một đòn chí mạng. Chắc chắn ông sẽ thắng. Cần nói thêm rằng mọi chuyện bất ngờ khó chịu vẫn rình rập ông ở các đám cháy nay không lặp lại nữa, những trò ác xảy ra ở nhà nay cũng chấm dứt. “Nhưng ngày nào ta cũng phải trao đổi thư từ như ta và chúng quen thân nhau vậy, - ông mỉm cười, sáng sáng xem “những lời nhắn gửi của than lò”. - Có lẽ các sinh vật này không biết hướng năng lượng ác độc của chúng tới vài điều xấu xa cùng một lúc. Hiện giờ chúng chuyển sang fire - message([2]), cho nên chưa thấy trước được sẽ có gì khác. Về mặt này thì ta gặp may bọn mi cứ viết đi, càng lâu càng tốt, ta bao giờ cũng là một độc giả không vô ơn”. Nhưng quãng đầu tháng hai, “thư từ” bỗng ngưng lại. Một thời gian, các hòn than vẫn còn giống đường viền các chữ cái, nhưng dù cố mấy, Tcharnotski cũng không xếp được thành từ nào ít nhiều hiểu được; ông chỉ xếp được thành mấy kết hợp phụ âm vô nghĩa hoặc những chuỗi dài nguyên âm. Rõ ràng “thư từ” đã cạn kiệt, và cuối cùng, các hòn than không còn có đường viền giống các chữ cái nữa. “Fire - message” đã chết, Tcharnotski kết luận và vạch một vạch đỏ dưới mục “Nhật ký thông điệp lửa”. Trong vòng một - hai tuần, mọi chuyện êm ả. Khoảng thời gian đó, Tcharnotski hoàn chỉnh cấu trúc thiết bị dập lửa bằng hơi gasvà bắt đầu lo chuyện lấy bằng chứng nhận. Nhưng công việc nghiên cứu vất vã đã làm ông mệt lả - sang tháng ba, ông cảm thấy sức đuối đi rất nhiều, thỉnh thoảng ông lại bị chứng toàn thân cứng đờ - hồi xưa ông đã từng bị chứng này do có tổn thương thần kinh. Người ngoài không biết tình trạng của ông, vì các cơn cứng đờ thường xảy ra ban đêm, trong giấc ngủ. Thức giấc buổi sáng, ông cảm thấy rã rời như vừa đi một chặng đường dài. Phải nói rằng chính ông cũng không nhận thấy những cơn đó, vì sự chuyển từ trạng thái này sang trạng thái kia diễn ra nhẹ nhàng và hoàn toàn không đau đớn gì, chỉ có điều giấc ngủ trở nên nặng nề hơn khi dần dần từ giấc ngủ bình thường sang giấc ngủ cứng đờ. Lúc thức giấc, tuy mệt mỏi nhưng ông lại nhớ lại được rất rõ và rất sống động những chuyến lãng du trong mơ. Suốt đêm, Tcharnotski leo các ngọn núi, thăm các thành phố xa xôi, lang thang trên các miền đất lạ. Sự suy mòn thần kinh làm ông kiệt sức lúc ban sáng hình như chính là tại các chuyến phiêu bạt ban đêm của ông. Và thật kì lạ: chính ông cũng giải thích như vậy về sức khỏe yếu kém của ông. Các chuyến đi trong mơ được ông cảm nhận như một điều gì đó hoàn toàn hiện thực. Nhưng Tcharnotski không tâm sự chuyện đó với ai - vì chẳng cần thế, ông cũng đã bị để ý quá nhiều rồi. Cho người khác biết đời sống thầm kín của tâm hồn mình để làm gì? Tuy nhiên, nếu gần gụi mọi người hơn, có thể ông sẽ nghe họ xì xào những gì, và chắc chắn ông sẽ lo lắng cho bản thân ông. Việc đầu tiên là ông chú ý đến Martin - bây giờ, bác ta nhìn ông chủ với một thái độ nghi ngờ kì lạ và thậm chí còn có vẻ sợ hãi. Bác ta có cơ sở như vậy, và không chỉ một lần. Một đêm khuya vào quãng đầu tháng ba, bác ta cầm nến đi từ bếp về phòng mình ở ngay sát cạnh phòng ngủ của ông chủ, bỗng bác ta thấy bóng Tcharnotski đang đi xa dần ở cuối hành lang. Hơi ngạc nhiên, Martin quyết định thử kiểm tra xem hay đó chỉ là cảm giác mà thôi, bác ta liền vội vã theo sau. Nhưng tới cuối hành lang thì ông chủ đã biến mất, như ông đã độn thổ vậy. Martin băn khoăn nhón chân rón rén vào phòng ngủ của ông chủ - và bác ta thấy gì? Tcharnotski đang ngủ trên giường như chẳng hề có chuyện gì xảy ra. Vài ngày sau, cũng ban đêm, Martin lại trông thấy ông chủ của mình - nhưng lần này là ở cầu thang - ông đứng trên bậc thang, cúi người qua tay vịn và nhìn xuống dưới bằng cái nhìn siêu thoát. Martin sởn gai ốc, bác ta lao tới kêu lên: - Ông định làm gì thế? Ông hãy biết sợ Chúa Trời, vì như thế là có tội! Nhưng bác ta chưa kịp chạy đến gần, thì hình bóng Tcharnotski đã biến dạng một cách kì lạ, nhòa đi rồi như thấm vào tường, không một tiếng động. Martin làm dấu thánh rồi không suy nghĩ lâu, bác ta lao vào phòng ngủ của ông chủ - lạ chưa, cũng như lần nọ, ông đang ngủ rất say. - Quái thật! - Martin lẩm bẩm - Ma quỷ hay sao nhỉ? Mình có say rượu đâu. Bác ta đã định về đi ngủ, thì bỗng trông thấy ở cuối phòng có một điều kì lạ: phía trên đầu ông chủ quãng một mét, lơ lửng một ngọn lửa đỏ bập bùng. Về hình dạng, nó giống như bụi cây đang cháy, và hình như những cái xúc tu rực lửa của nó đang cố túm lấy Tcharnotski. - Lạy chúa! - Martin kêu lên và chạy tới con quái vật lửa. Thế là bụi cây đang cháy thu ngay lại những cái lưỡi lửa đang vươn về phía Tcharnotski, cuộn lại thành một cột lửa dày đặc rồi lập tức tắt ngấm, có tiếng xèo xèo nhè nhẹ. Trong phòng ngủ khá tối, chỉ có ánh sáng yếu ớt của ngọn nến Martin để dưới sàn. Tcharnotski ngủ trên giường, người duỗi cứng đơ như gỗ... Hôm sau, Martin thận trọng nói bóng gió với ông chủ rằng ông mệt mỏi, có cần gọi bác sĩ không, nhưng Tcharnotski nói lảng đi bằng một câu đùa mà không biết tiếp đó sẽ có chuyện gì. Hai tuần sau thì xảy ra một tai họa... Sự việc xảy ra vào đêm 28 rạng ngày 29 tháng ba đáng ghi nhớ đối với dân chúng trong thành phố. Tcharnotski về nhà rất khuya, mệt rã rời - hôm ấy, đội cứu hỏa phải dập một đám cháy lớn ở khu kho nhà ga. Ông tỏ ra rất dũng cảm, không chỉ một lần coi thường nguy hiểm để cứu mấy nhân viên đường sắt ngủ say ở các xó xỉnh trong khu kho. Về nhà quãng gần mười giờ, ông để nguyên quần áo nằm lăn ngay xuống giường và ngủ như chết. Những ngày gần đây, lo lắng cho chủ, Martin như một con chó trung thành canh giữ sự yên tĩnh của ông ở phòng bên, bác ta không tắt đèn, thỉnh thoảng lại ngó sang phòng ngủ của ông chủ. Đêm ấy bác ta buồn ngủ quá, mái đầu bạc nặng nề ngả sang vai và cuối cùng gục xuống bàn. Bác ta thức giấc vì có một tiếng động đáng ngại. Cố rũ đi cơn buồn ngủ, bác ta giụi mắt và lắng nghe. Tiếng động không lặp lại nữa. Bác ta bèn vớ lấy chiếc đèn chạy sang phòng ngủ của ông chủ. Nhưng hỡi ôi, đã quá muộn. Mở cửa ra, bác ta thấy lửa bao quanh ông chủ như một vầng sáng, hình như hàng nghìn cái vòi lửa đang mút chặt vào thân thể ông. Martin chưa kịp chạy đến giường thì quầng lửa đã như thẩm thấu vào thân thể người đang ngủ không còn dấu vết gì - cứ như chưa hề có lửa bao giờ vậy. Run như cầy sấy, Martin luống cuống nhìn kĩ ông chủ. Đột nhiên mặt Tcharnotski biển đổi một cách kì lạ: đang bất động nó bỗng nhăn nhóc như thể bị co thắt hay bị động kinh, đến mức khó nhận ra. Như bị một sức mạnh bí ẩn nhập vào thân thể, Tcharnotski bỗng bật dậy, rú lên một tiếng man dại rồi lao thẳng ra khỏi nhà. Lúc ấy là bốn giờ sáng, phía trên thành phố, các ảo ảnh ngái ngủ đang đuổi nhau trong điệu vũ vòng tròn, lũ quỷ ác mộng ngán ngẩm cụp những đôi cánh hư ảo của chúng lại, miễn cưỡng chuẩn bị quay về, còn các thiên thần trầm ngâm cúi trên những chiếc giường của trẻ thơ thì vội vã đặt lên trán đứa trẻ nụ hôn tạm biệt... Chân trời phía đông đã có những vệt tím. Bình minh xám nhạt, run rẩy trước cái lạnh buổi sớm, lan dần về phía thành phố như những làn sóng thức tỉnh, tỏa sáng, đổi mới. Đàn quạ thành phố thức dậy sau một đêm gà gật, bay một, hai, ba lần thành những vòng tròn màu đen phía trên tòa thị chính, rồi vừa kêu quàng quạc vừa đậu xuống những cành cây trụi lá trước mùa xuân. Lũ chó hoang lang thang ban đêm trong các ngõ tối, bây giờ kiếm cái ăn ngoài chợ... Đột nhiên ở nhiều điểm trong thành phố vọt lên những ngọn lửa, lửa như một bông hoa nở tung những cánh hoa đỏ rực nhuốm hồng phía trên các mái nhà, vươn cao lên trời. Chuông nhà thờ gióng lên, sự yên tĩnh buổi sớm bị vỡ tung ra bởi những tiếng kêu, tiếng gào, tiếng hét: - Cháy! Cháy! Ở ngoài chợ, các đám người chạy loạn xạ, các ô tô phóng như bay, cứu hỏa rú ầm ĩ. Một người mặc đồng phục lính cứu hỏa, mái tóc tung bay, tay cầm đuốc đang ra sức len qua đám đông. - Ai đấy nhỉ? Ai? - Bắt lấy nó! Bắt lấy! Tên đốt nhà! Hàng nghìn cánh tay hướng về phía hắn. - Tên đốt nhà! Tên tàn ác! - Đám đông điên cuồng giận dữ gầm lên. Có ai đó hất ngọn đuốc ra khỏi tay hắn, có ai đó ôm nghiến lấy hắn. Hắn vùng ra, sùi bọt mép, xô ngã những người xung quanh... Cuối cùng hắn cũng bị thuần phục. Và người ta đã dẫn giải hắn trên quảng trường - tay hắn bị trói chặt, quần áo hắn rách bươm. Mọi người chằm chằm nhìn vào gương mặt đang được ánh bình mình yếu ớt chiếu sáng. - Ai thế này? Những người áp giải bất giác buông thõng tay xuống. - Ai thế này? Mấy người lính canh khiếp sợ cứng họng không nói được nữa. - Sao mặt trông quen quen?! Trên vai kẻ điên rồ lủng lẳng những cái ngù vai bị tuột ra trong lúc ẩu đả, đó là ngù vai của giám đốc sở cứu hỏa, còn trên áo sơ mi rách lấp lánh tấm huy chương “Vì có công chữa cháy”, lóe sáng cây thập tự vàng “Vì lòng dũng cảm”. Và gương mặt kia - một gương mặt biến dạng đi trông như thú vật, với hai con mắt xếch đỏ ngầu máu!... Suốt một tháng ròng sau đám cháy khủng khiếp đã thiêu rụi bảy công trình xây dựng đẹp nhất thành phố ấy, đêm nào Martin cũng trông thấy bóng ma Tcharnotski. Bóng kẻ điên rồ trườn vào phòng ngủ, cúi xuống chiếc giường bỏ trống lục lọi ở đó tìm thân thể - có lẽ để lại nhập vào? Hỡi ôi, chỉ tổ uổng công... Mãi tới cuối tháng tư, sau khi ông giám đốc sở cứu hỏa bị nhốt ở bệnh viện của bác sĩ Zhegota, trong tình trạng mất trí nhớ đã nhảy qua cửa sổ tầng gác xuống đất và chết tại chỗ, bóng ma của ông ta mới thôi không về nơi ở cũ nữa... Nhưng mãi tới nay mọi người vẫn còn kể cho nhau nghe câu chuyện hoang đường về hồn ma của ông Chịu Lửa: nó đã để lại thân xác của nó trong giấc ngủ, rồi không quay trở về được nữa bởi các sinh vật lửa đã chiếm mất. VŨ ĐÌNH BÌNH dịch từ tiếng Nga (Trong “Inostranaja Literature” số 3/ 1992) Thứ năm (tiếng Đức, Anh, Ý, Tây Ban Nha, Pháp). [2] Thông điệp lửa (tiếng Anh). [1] VIDA DERRY (Anh) Vida Derry: Nữ nhà văn, nhà báo Anh. Tác giả của nhiều tiểu thuyết, truyện ngắn được dịch ra nhiều thứ tiếng ở nước ngoài. Xác Chết Báo Hận Có lẽ ngay cả những ai ít bị gây ấn tượng nhất đôi khi cũng cảm nhận thấy những điều, những hiện tượng không nhìn thấy, đặc biệt là tại một địa điểm xác định và vào thời điểm xác định, khi các thế lực vô hình nào đấy tồn tại quanh ta. Có phải người chết mãi mãi rời xa chúng ta, hay họ vẫn ám ảnh cuộc sống dương thế của chúng ta? Lí giải sợi dây liên hệ là không tưởng, nhưng hồn ma người đã chết có đủ sức mạnh lởn vởn quanh ta, và có thể còn hiện hình làm cho chúng ta cảm thấy như bị bắt quả tang. Họ thường trở về có mục đích rõ ràng, để phù hộ ta hoặc đe dọa ta. Vợ của Arthur Noakes có tính ghen ảo giác. Số là chồng cô rất yếu đuối trước phụ nữ nên Edith ghen tuông đã phải chịu nhiều cay đắng, nhục nhã và những cơn đau tim hồi còn sống. Trước lúc qua đời cô thề độc rằng nếu Arthur cứ tiếp tục tán tỉnh phụ nữ và quan hệ chăn gối với họ, cô sẽ trở về ám ảnh để cho ông thậm chí không còn dám nhìn mặt bất cứ một người khác giới nào. Những gì chưa làm được trên đời cô hi vọng sẽ làm được từ cõi âm. Arthur Noakes không thèm quan tâm tới lời đe dọa của người vợ quá cố, ông nhanh chóng lao vào tìm kiếm một người đàn bà hấp dẫn. Từ tâm khảm, Arthur nghĩ giờ đây ông đã là người tự do và có thể hưởng thụ cuộc sống tự do đó cho cạn nhiệt huyết trong tim mình. Có lẽ ông sẽ cưới vợ nữa kia. Vợ chắc chắn có ích, nhưng còn nhiều thì giờ chán. Là ông chủ cửa hàng vải và đồ tạp phẩm duy nhất ở thị trấn Sussex nhỏ bé, Arthur có khả năng lựa chọn rộng rải trong số các bà, các cô khách hàng, thế nhưng hầu hết người đẹp đều dửng dưng đối với người đàn ông đã có vợ. Là người góa vợ nhưng đẹp mã, ông hi vọng có sự lựa chọn thoải mái hơn. Chẳng bao lâu sau con mắt lang thang của ông chú ý đến một quả phụ trẻ thường xuyên đến cửa hàng mua đăng ten và dải lụa, dường như cảnh sống góa bụa không hề làm mất nét đẹp tự nhiên và tình yêu cuộc sống của cô. Dẫu sao, khi Arthur tìm cách lại gần thì cô ta có tỏ ra hơi lưỡng lự, tuy đôi mắt xanh đẹp tuyệt thì biểu lộ lời thúc giục cứ tiếp tục đi. “Ông Noakes, việc ông tìm kiếm người đàn bà khác trong khi người vợ tội nghiệp của ông còn chưa kịp lạnh dưới mồ có vội vã quá không đấy?”. Arthur rùng mình lưỡng lự nhưng sự nóng lòng sở hữu người đẹp đoan trang giả tạo này nhanh chóng xâm chiếm lòng ông. Ông cũng nhận ra cô Mabel, vốn sinh ra trong một gia đình nghèo túng điển hình, đơn giản là đang đắn đo trước danh tiết của mình. “Thưa cô yêu quý, mọi việc diễn ra như thể tôi đã yêu cô từ lâu lắm rồi và tôi không thể giữ kín tình cảm của tôi với cô mà không nói cho cô biết được. Nếu cô ngại đi ngoài phố bên cạnh tôi - và tôi đánh giá cao sự dè dặt đó - sao chúng ta không thể hẹn gặp nhau ở một nơi nào đó ngoài thị trấn để không ai bắt gặp chúng ta được?”. Đôi mắt Mabel lúc này đang ngắm vẻ tao nhã của chính cô, đôi giày bấm khuy, chân phải đung đưa làm đỏm. Hi vọng của Arthur càng tăng khiến ông càng sốt ruột khi ông dán mắt vào hai cổ chân mảnh mai, vào sự run rẩy của đôi gò má và sự bẽn lẽn trong nụ cười của cô gái. Cô gái ngước mắt nhìn ông. “Thế chúng ta có thể gặp nhau ở nơi nào mà không bị phát hiện?”. Cô giả vờ xấu hổ khi hỏi ông câu ấy. Arthur đã biết chỗ đó. Trước đây ông đã từng đến đấy. Sống giữa một cộng đồng nhỏ bé, sự bí mật đôi khi thật hữu ích để tiến hành công việc riêng tư thành công. Ông kể với Mabel về địa điểm ấy bằng giọng nói mơ mộng và cô đồng ý gặp ông tối hôm sau. Đấy đúng là địa điểm thơ mộng, lí tưởng cho những người yêu nhau, bên cạnh một chiếc cầu bắc ngang con suối chảy yên bình. Arthur đến trước và người tình mới không để ông phải đợi lâu. Niềm vui của ông được trọn vẹn ngay khi ông nhìn thấy cô gái qua cầu. Trước nay không mấy ai đi bộ qua đây, ngay cả vào những đêm hè mát mẻ này. Họ gặp nhau nhiều lần, hôn nhau, làm tình mà không phải lo lắng bị quấy rầy. Một tối Mabel đến muộn, Arthur mỗi lúc một sốt ruột, liên tục nhìn lên cây cầu chập chờn ánh đèn pha ô tô. Chuyện gì xảy ra nhỉ? Có lẽ cô cố tình bắt ông chờ để khiến ông hăng hái hơn. Có lẽ cô không đến được tối nay? Vừa lúc ông định đi về thì thấy bóng cô vội vã băng qua cầu. Chợt nghĩ hay là cho cô một bài học, ông nấp sau một gốc cây chờ đến tận khi cô tới chỗ hẹn hò quen thuộc, ông mới nhẹ nhàng lại gần và đột ngột ôm gọn eo lưng thon thả của cô gái. Arthur chợt rùng mình. Dường như cô đã tan ra thành hư vô, đúng lúc đó cô quay mặt về phía ông. Kinh khủng quá - kinh khủng không tài nào tả được. Thay vì gương mặt tươi cười xinh đẹp, đôi mắt nhí nhảnh, đôi má hồng của Mabel, ông nhìn thấy gương mặt đã chết của vợ ông trắng bệch như phấn, đôi mắt đờ đẫn đầy tử khí đang đe dọa ông làm ông hoảng hốt sợ hãi. Ông nhảy bật trở lại, thét lên khiếp đảm. Bóng ma chỉ một ngón tay cảnh cáo về phía ông rồi biến mất ngay trước mắt ông. Ông bỗng nhớ lại lời nguyền bên giường chết của vợ và bỏ chạy thục mạng khỏi chỗ hẹn trên đôi chân run rẩy. Lên đến chân cầu, chạy được quãng ngắn, ông thấy Mabel đang đi về phía mình. Nhưng đó có phải cô gái góa trẻ đẹp hay hồn ma kinh khủng nọ mặc quần áo của Mabel? Ông đợi trong nỗi sợ hãi, run lẩy bẩy, thở hổn hển sau cơn vận động quá sức không quen vừa qua, ông chưa bao giờ chạy nhanh như thế trong đời mình, và trong bóng tối nhập nhòa ông không dám chắc thật giả cho đến khi cô gái đến gần. “Anh sốt ruột quá phải không anh yêu?”. Cô cười nhẹ nhàng, hai tay ôm choàng lấy cổ ông hôn lấy hôn để. Ông thở phào nhẹ cả người bởi cơ thể cô gái có hơi ấm và ngửi thấy mùi nước hoa huệ quen thuộc của Mabel. Arthur run rẩy gỡ tay cô gái ra, ông lại nhớ đến mùi mộ người chết và ngón tay cảnh cáo của bóng ma vợ cũ. “Có chuyện gì thế anh Arthur? Người anh run bắn lên kìa. Anh giận em đến muộn phải không? Hay cái gì đó nhảy chồm vào anh từ sau bụi rậm?”. Arthur cố lùi người ra xa và tránh né câu hỏi bằng cách tỏ vẻ khó chịu vì sự chậm trễ của cô gái. Ông hỏi việc gì đã khiến cô đến muộn. “Em xin lỗi đã đến muộn, Arthur. Bà mẹ nuôi em tới thăm em nên em không thể nào bỏ bà ở lại được. Nhưng có gì đâu, giờ em ở đây rồi. Đến chỗ chúng ta vẫn ngồi đi rồi em sẽ kể cho”. Cử chỉ của cô đầy quyến rũ, cô âu yếm ông mà nếu như ngày thường hẳn đã làm máu trong người ông nóng lên rồi. Nhưng tối nay, ông run rẩy sợ hãi với ý nghĩ trở lại nơi đã gặp người vợ quá cố của ông vừa hiện về đe dọa. Ông đề nghị tối nay họ nên đi nghe hòa nhạc. Ông thích nơi công cộng vui vẻ, giải trí và nhất là vài giọt Scotch giúp ông quên đi cơn ác mộng vừa qua. Nhưng Mabel khăng khăng từ chối đến bất cứ nơi công cộng nào với ông và khi ông nhất định không thay đổi ý kiến thì cô nói rằng ông không còn yêu cô nữa. “Nếu anh tới những nơi đó anh sẽ tìm được bọn đàn bà cũng chỉ chăm chăm tới đó để tìm bạn tình. Arthur Noakes ạ”. Arthur phân bua giải thích rằng ông vẫn yêu cô, nhưng Mabel mặc cảm và cố chấp, cảnh cáo nếu ông bỏ cô đi đến chỗ đó bây giờ cô sẽ không thèm gặp ông nữa, bởi như thế có nghĩa là tình yêu và sự âu yếm của cô không còn là nỗi khát khao và cần thiết đối với ông; thế thì quan hệ của họ nên chấm dứt từ đây. Nhưng Arthur vẫn run lắm. Mabel tỏ ra nhỏ nhen, vụn vặt và ông không tin là cô sẽ từ chối gặp nhau lần sau nếu được đề nghị. Có một việc ông chắc chắn nhất - ông sẽ không bao giờ dùng địa chỉ trữ tình đó bên bờ sông để làm nơi hẹn hò nữa. Arthur đến phòng hòa nhạc một mình và sau vài cốc rượu, trong không khí sôi động của âm nhạc, ông chỉ còn nghĩ sự việc vừa qua là sự tưởng tượng. Làm sao một người chết có thể hiện về như thế được? Sáng hôm sau Arthur gặp Mabel đến cửa hàng nhưng lần này bên cạnh cô là một bạn trai mới và cô phớt lờ ông. Ô, thưa bà quả phụ trẻ, nếu cô làm như thế thì tôi cũng sớm tìm người khác, một người hấp dẫn hơn và không sợ bị nhìn thấy ở nơi công cộng như cô. Sự lựa chọn tiếp theo của ông là một cô chồng còn sống nhưng ở trong hải quân, phải xa nhà quanh năm. Tên cô ấy là Alice. Cô không đẹp nhưng dễ nhìn, có trái tim nồng nàn và cơ thể rất khêu gợi. Cô thường mời ông đến nhà chơi. Alice nấu một bữa ăn ngon, có cả bia và rượu gin. Cô còn mời ông hút xì gà, có lẽ của chồng cô, Arthur nghĩ thầm, tự tay châm cho ông hút rất ân cần. Ông ngả người xuống ghế, lòng tràn ngập cảm giác dễ chịu, khoan khoái. Alice ngồi bên ông, họ vuốt ve, âu yếm và hôn nhau. Lát sau cô đứng dậy. “Hút nốt điếu xì gà của anh đi còn em đi thay quần áo đây, Arthur”. Mắt cô nhìn ông khêu gợi, mời mọc. “Lúc nào em gọi anh lên nhé”. “Em biết là anh nóng lòng mà,” ông đáp lại, “đừng lâu quá nhé em yêu”. Dường như khoảng một hay hai phút sau, Alice quay xuống, quần áo vẫn mặc trên người, nhưng là bộ quần áo khác, xung quanh cô là luồng không khí lành lạnh ghê ghê. Ông đứng chồm dậy, điếu xì gà rơi xuống thảm, không còn tâm trí đâu để thấy nó đã bắt lửa cháy âm ỉ. Một nỗi sợ hãi ập đến, không phải Alice đang đứng trước mặt ông mà là hồn ma của Edith, khuôn mặt người chết trắng mốc nhìn ông lừ lừ. Mới vài phút trước đây ông còn đứng chỗ này lòng tràn ngập hạnh phúc và thèm khát, còn giờ đây hai chân ông chôn chặt xuống sàn, cứng người vì sợ, hai cánh tay khô khốc, xương xẩu và lạnh lẽo ôm lấy cổ ông, hai con mắt nguyền rủa ông, từ hai vành môi xám xịt phun ra luồng hơi thối của cơ thể người chết đang phân hủy. Đúng lúc đó giọng nói nhẹ nhàng từ trên gác vọng xuống: “Anh lên được rồi đấy, Arthur yêu dấu”. Bóng ma lại biến mất. Nhưng cảm giác hai cánh tay toàn xương vẫn đè trên cổ ông, mùi xì gã không át nổi mùi mộ và cơ thể người chết. Ông bị kích động. Ông chạy bổ đi mặc bóng người mời gọi ông đã xuất hiện trên cầu thang. Alice hốt hoảng thấy ông lao vụt ra ngoài không còn kịp đóng cửa lại. Arthur chạy nhanh như bị ma đuổi sau lưng. Cuộc tình ngắn ngủi với Alice chấm dứt ở đấy. Suốt cả tuần sau đó ông chỉ ở rịt trong nhà tự an ủi bằng rượu Scotch. Cửa hàng gặp khó khăn vì ông bỏ bễ công việc. Arthur nhận thấy không thể tiếp tục như thế này được nữa. Ông quyết định đóng cửa hàng và chuyển lên London. Ở thành phố lớn đó, bóng ma Edith không còn ám ảnh được ông nữa và ông có thể bắt đầu cuộc sống mới. Công việc tiến hành thuận lợi khiến ông cảm thấy hạnh phúc và tinh thần thoải mái hơn. Arthur có hai cô trợ lí và một cô tên là Mary Thompson nhanh chóng hấp dẫn ông. Chẳng bao lâu sau quan hệ của họ đi xa hơn quan hệ bè bạn. Cũng có khi nỗi ám ảnh ngày xưa trở về đe dọa ông. Như cái hôm ông cùng Mary đi xem vở Vụ án mạng ở kho thóc màu đỏ.Đến cảnh người đàn ông rủ bạn gái vào kho thóc rồi giết hại cô ông giật nảy người; quyển sách đang cầm trên tay tuột rơi xuống sàn. Mary đứng cạnh thấy người ông run rẩy. Ông sợ hãi quay sang nhìn cô. Có phải Mary bằng xương bằng thịt không? Hay Edith trở về thay chỗ bạn tình mới của ông? Ông nắm chặt bàn tay đang chìa ra, nó ấm và mềm mại. Ông cố gắng trấn tĩnh và an ủi Mary rằng mọi thứ đã ổn, có lẽ vừa rồi là do nhiễm lạnh và hơi mệt. Thế nhưng từ lúc đó ông không thể từ bỏ được ý nghĩ rằng hồn ma đáng ghét vợ ông đã theo ông lên London. Vở kịch kết thúc, Mary khẩn khoản đòi đưa ông về nhà, trên đường cô ghé tiệm rượu mua thêm chai whisky. “Anh cần một cốc rượu nóng và sữa”, cô nói. “Anh phải uống hết em mới về”. Ngày thường Arthur hẳn đã vui vẻ chấp nhận, nhưng hôm nay ông sợ và tìm mọi cách xua đuổi cô. “Anh hứa với em anh sẽ uống sữa nóng và whisky. Em không phải bận tâm quá vậy, em rất tốt với anh, Mary thân yêu”. Nói thế nhưng ông không từ chối mãi được. Arthur mở cửa cho Mary vào, không quên quay lại sau lưng nhìn xem có bóng nào không. Ông bật bếp ga đun sữa. Mary buồn cười khi thấy ông hôm nay làm gì cũng nhanh vội, thậm chí ông còn không thèm hôn cô suốt từ khi họ vào trong nhà; hiếm khi ông bỏ lỡ dịp nào chỉ có hai người với nhau. Họ đang hôn nhau thì ông giật mình khi nghe thấy tiếng đập cửa dưới gác. Mary cũng nghe thấy và nói có lẽ ông vẫn để mở cửa ngoài lúc vào nhà. “Anh xuống khóa cửa lại đi”, cô nói. Ông lưỡng lự. Ông thấy ớn lạnh trong lòng. Chắc chắn ông đã khóa cửa cẩn thận lúc họ vào nhà nhưng làm sao đây khi ông không thể nói với Mary rằng ông sợ bóng tối và sẽ chết khiếp nếu ông gặp người đó dưới tầng một. Ông vội vàng chạy xuống, mau mau chóng chóng cho xong việc. Cửa vẫn đóng, ông gạt thêm chiếc then cửa bằng mấy ngón tay run rẩy. Thình lình ông ngửi thấy mùi xác chết, ông hoảng hốt quay lại, khiếp sợ vì biết trước sẽ nhìn thấy gì. Cô ấy đứng kia, đứng ngay giữa đường đi, chặn đường lên gác của ông. Mặt cô đã chuyển sang màu lục, hai gò má chảy rữa kinh tởm, môi bị gặm gần hết khiến hai hàm rằng nhô cả ra ngoài. Lúc hai cánh tay chỉ còn xương đưa lên cổ ông buộc ông phải nhìn thẳng vào hai hốc mắt sâu hoắm không còn con ngươi, sức chịu đựng của ông đã hết. Đúng lúc đó Mary gọi ông trên gác, bóng ma biến mất để lại mình ông ớn lạnh đến tận chân tóc, người run rẩy đến mức làm cho các cơ thịt méo xệch đi, lộn mửa vì mùi người chết rữa vừa hít phải. Khi Mary nhìn ông cô cũng chết khiếp: người ông trắng bệch, run lẩy bẩy không ngớt. Việc duy nhất ông ước ao bây giờ là phải rời xa cô gái này. Nhưng Mary quá sốt sắng, bắt ông phải đến ngồi bên lò sưởi và đưa cho ông sữa nóng cùng rượu whisky. “Chắc anh vừa trải qua một nỗi sợ hãi kinh khủng, Arthur yêu dấu, vì thế em nghĩ anh nên nằm nghỉ cả ngày mai cho khỏe. Bọn em có thể quản lí cửa hàng được, lúc nào rỗi em sẽ lên thăm anh ngay”. Lời đề nghị chân tình của Mary lại khiến Arthur cảnh giác. Edith đời nào chấp nhận chuyện đó! Bóng ma đó trở về dọa ông lần nữa thì ông chết mất. Thế thì chẳng còn cách nào khác là Mary phải ra đi, nhưng nhất thời ông chưa biết nói với cô thế nào. Cuối cùng Mary cũng ra về, ông lên giường nhưng giấc ngủ mệt mỏi thỉnh thoảng bị ngắt quãng bởi những cơn ác mộng hãi hùng. Người vợ quá cố cùng ngủ trên giường với ông, mùi xác chết không tan khỏi hệ khứu giác của ông. Hai cánh tay xương xẩu nặng nề vắt ngang ngực ông khiến ông thở nặng nhọc. Ông không tài nào thức dậy được dù cố bao nhiêu đi nữa. Một sức nặng vô hình đè chặt lên ông không cho ông thoát. Ông vật lộn mãi với nó, cuối cùng thức dậy lúc nào không biết. Sáng hôm sau Mary khóc sướt mướt khi ông viện đủ lí do để chấm dứt mối quan hệ nửa chừng của họ. Ông thấy thương cô gái nhưng có thể làm gì bây giờ. Edith là người thắng cuộc. Lời nguyền của cô ấy trước lúc chết đã trở thành sự thật. Ông không thoát đi đâu được. Dạo này ông hay bỏ bễ công việc ở cửa hàng, đến quán rượu thường xuyên, về muộn, say mèm. Mary cảm thấy ái ngại. Cô gái tốt bụng thuê về một tay nhân viên trẻ, nhưng hắn tỏ ra không thích hợp. Arthur cũng không quan tâm. Hồn ma Edith không còn về dọa ông nữa nhưng sức khỏe Arthur yếu đi trông thấy. Ông ăn ít, uống nhiều. Một buổi sáng chủ nhật, ông đi lang thang rồi thế nào lại bước chân tới nhà thờ. Bóng người chẳng thấy đâu chỉ thấy bóng Edith. Một Edith trẻ tuổi như hồi họ mới cưới. Cô đề nghị ông đi theo ra nghĩa địa. Ông sốt sắng đi theo, bước chân xiêu xiêu vẹo vẹo đến bên mộ Edith. Đứng bên cạnh ngôi mộ đá ẩm ướt. Edith giang rộng hay tay chờ đón ông và ông lao vào vòng tay ấy như đứa trẻ sà vào lòng mẹ. Hai cánh tay chết vừa khép lại thì bộ mặt Edith ông nhìn thấy lần cuối cùng hiện về - vẫn hai gò má chảy rữa, hốc mắt rỗng sâu hoắm. Tim ông đập dữ dội, cổ họng tắc nghẽn không thở được. Giống như cơn ác mộng ông phải chịu đựng bao lâu nay, nhưng không phải giấc mơ, bởi ông cảm thấy rõ ràng những giọt nước mưa - hay nước mắt - ướt nhòa mặt ông. Sáng hôm sau, người ta tìm thấy xác Arthur nằm ngang mộ vợ. Họ không nhận ra ông nếu không tìm thấy chiếc ví ở trong túi. Ông được chôn cất cẩn thận ngay cùng ngôi mộ của vợ. Bạn bè đều nghĩ ông muốn được bên vợ ở thế giới bên kia. Mãi sau này nhiều người đồn ông hiện về tổ chức cuộc họp mặt nói rõ nguyên nhân cái chết năm xưa. Không ai dám chắc thực hư thế nào. TÔ ĐỨC HUY dịch (Rút từ tập Fifty Great Horror Stories, 1993) PHÙNG MỘNG LONG (Trung Quốc) Phùng Mộng Long (thế kỉ 17): Biệt hiệu là Long Tử Do, Mặc Hàn Trai, người huyện Minh Ngô. Sáng tác kịch khúc, đam mê sưu tầm truyện dân gian và cải biên Liệt quốc chí thành Tân Liệt quốc chí mà ở ta quen gọi là Đông Chu liệt quốc. Ông đã thu thập những thoại bản và tiểu thuyết mô phỏng thoại bản, biên tập sửa chữa và sáng tác thêm thành ba bộ tổng tập (120 quyển): Dụ thế minh ngôn; Cảnh thế thông ngôn (1624); Tĩnh thế hằng ngôn (1627). Ngoài ra còn có hai bộ Phách án kinh kì vàTam ngôn nhị phách, riêng Tam ngôn nhị phách được coi là một tài sản quý báu trong kho tàng văn học Trung Hoa. Truyện Bên hồ Kim Minh, Ngô Thanh gặp Ái Ái dưới đây rút từ bộ Cảnh thế thông ngôn. Bên Hồ Kim Minh Ngô Thanh Gặp Ái Ái Dưới đèn Lưu Sảnh gặp Chu Văn ([1]) Sư Hậu Yên Sơn ngộ cố nhân([2]) . Sống chết tách rời luôn thế mãi, Thâm tình cần nhất chốn nhân gian. Năm Trung Hòa thời Đại Đường, ở Bắc Lăng có một người tài tử, họ Thôi tên Hộ, rất mực phong lưu tuấn nhã, tài mạo vô song. Bỗng gặp lúc triều đình mở khoa thi, Thôi Hộ thu xếp đàn kiếm hòm sách, đi đến Trường An dự thi. Lúc đó đã cuối xuân, Thôi Hộ tạm rời chỗ trọ, đến khu vực Nam Giao ngoài thành du ngoạn. Bỗng cảm thấy miệng rát họng khô, môi bỏng mũi nóng. Nguyên nhân là đi gấp gáp, thời tiết lúc đó đã bắt đầu nóng. Thôi sinh miệng khát, chẳng có suối đầm để uống. Chỉ thấy có một chỗ: hoa đào rực rỡ như lửa, thùy liễu biếc xanh như khói, hàng rào trúc, nhà tranh, tường đất vàng, cửa sổ trắng, tiếng chó gâu gâu trong đào nguyên, tiếng vàng anh líu lo trong liễu biếc. Thôi Hộ đến gõ cửa, tìm một ngụm nước uống. Đứng hồi lâu, không thấy ai ra. Đang lúc không biết làm thế nào, bỗng nghe thấy trong nhà có tiếng cười. Thôi sinh vội tiến đến nhìn qua khe cửa: tiếng cười đó nguyên là của một cô gái, khoảng mưới sáu tuổi. Người con gái đó ra mở cửa. Thôi sinh nhìn thấy, miệng thấy rát, họng thấy khô, môi thấy bỏng, mũi thấy nóng. Vội vàng vòng tay tiến lên thi lễ, nói: “Xin bái chào tiểu nương tử”. Người con gái cất giọng thánh thót du dương đáp lễ chúc lời vạn phúc, nói: “Quan nhân chiếu cố đến nhà tranh, có gì dạy bảo?”. Thôi sinh nói: “Tiểu nhân là Thôi Hộ ở Bác Lăng, chẳng có việc gì khác, chỉ vì đường xa miệng khát, đến xin một thìa nước để uống rồi đi”. Cô gái nghe xong, không nói gì. Vội vàng đi vào trong, dùng bàn tay ngọc, lấy âu sứ, rót ra nửa âu trà, đưa cho Thôi sinh. Thôi sinh nhận lấy, đưa lên miệng, thật là mát thấu ruột gan. Cảm ơn rồi ra đi. Vì muốn mưu cầu công danh, nên phải đi thi. Nào ngờ vận may chưa đến, bảng vàng không thấy tên, liền rời Trường An, vội vội vàng vàng trở về quê nhà. Thoắt đã một năm, lại đến khoa thi. Thôi sinh lại lên đường đi dự thi. Nhớ tới cố nhân, tạm xếp việc thi cử sang một bên, vội đi đến phía nam đô thành, trên đường đi ngó đông ngó tây, chỉ sợ không nhận ra chỗ ở của cô gái năm ngoái. Chẳng mấy chốc đã đến trước cửa nhà tranh, vẫn đào thắm liễu xanh, chó sủa oanh kêu. Thôi Hộ đi đến trước cửa, thấy vắng vẻ không người, trong lòng nghi hoặc. Đi đến khe cửa nhìn vào, cũng chẳng thấy bóng dáng một ai. Bồi hồi một lúc, đi đến bên cửa sổ gỗ trắng, viết một bài thơ bốn câu: Ngày này, năm ngoái, cửa đây, Hoa đào, mặt ngọc, hây hây ánh hồng. Mặt ngọc đâu, để vắng không? Hoa đào bỡn cợt gió đông vẫn cười. Để rồi, đi về. Ngày hôm sau, thấy lòng không yên, lại đến xem sao. Bỗng thấy kẹt một tiếng, cửa mở, một người bước ra. Thấy:Râu mày như cước, tóc lưa thưa. Thân mặc đạo bào trắng, tay cầm cây gậy trúc vân hoa: Tựa như khách bốn biển ngao du, giống như người ngồi trên bàn đá, một mình bên suối buông câu. Ông lão nói với Thôi sinh: “Quân có phải là Thôi Hộ?”. Thôi sinh nói: “Xin bái chào trượng nhân, chính là kẻ thấp hèn này. Không rõ làm sao trượng nhân biết được?”. Ông lão nói: “Quân đã giết con gái ta, làm sao không biết?”. Thôi Hộ nghe nói sợ hãi tái mặt, nói: “Kẻ thấp hèn chưa từng vào trong nhà lão trượng, sao lại nói vậy?”. Lão trượng nói: “Con gái ta năm ngoái chỉ có một mình ở nhà, gặp quân đến xin nước uống. Quân đi rồi, mê man như say, không rời giường chiếu. Hôm qua bỗng nói: “Ngày này năm ngoái đã gặp Thôi lang, ngày hôm nay chắc sẽ lại đến”. Đi ra trước cửa, đứng đợi một ngày, không thấy. Quay mình ngẩng đầu, bỗng thấy bài thơ trên cánh cửa gỗ trắng, khóc to một tiếng, ngã lăn ra đất. Lão đỡ vào trong phòng, suốt đêm không tỉnh. Buổi sớn, bỗng mở mắt nói: “Thôi lang đến rồi, cha hãy ra nghênh tiếp”. Hôm nay, quả nhiên quân đến, chàng phải liệu định sao. Giờ xin mời vào trong nhà xem”. Ai ngờ khi Thôi sinh bước vào trong cửa, bên trong bỗng có tiếng khóc. Khi nhìn kĩ, nàng đã chết rồi. Lão trượng nói: “Lần này chàng phải đền mạng!”. Thôi sinh lúc đó vừa sợ vừa đau đớn. Liền đi đến bên giường, ngồi duỗi chân bên cô gái, nâng đầu nàng, đặt trên đùi, thơm vào mặt nàng mà nói: “Tiểu nương tử, Thôi Hộ đây”. Khoảnh khắc, cô gái ba hồn lại tụ, bảy vía lại trùng sinh, chỉ trong một giây phút, đã đi lại được. Lão trượng mười phần hoan hỉ. Liền đem hộp đồ trang sức ra, nhận Thôi Hộ làm rễ. Về sau Thôi Hộ phát tích làm quan, vợ chồng một đời đoàn viên. Thực là: Trăng khuyết lại tròn, Gương vỡ lại lành, Hoa rụng lại nở, Người chết hồi sinh. Tại sao ngày nay nói đến đoạn này? Đây là truyện từ cái chết sống lại. Nay nói về một cô gái đa tình, không may gặp một thiếu niên phong lưu, không thể kết hôn, mất đi tính mệnh, biến thành một người khác động phòng hoa chúc. Thực là: Có duyên nghìn dặm gặp nhau, Không duyên đối mặt mà sao cách vời! Cô gái này gặp người nào vậy? Nguyên ở phủ Khai Phong, Đông Kinh triều Tống, có một viên ngoại, họ Ngô tên Tử Tư. Bình sinh là một người chân thực, chỉ sinh được một người con trai, tên gọi Ngô Thanh. Đúng là con một, rất được yêu quý nuông chiều. Vị viên ngoại này yêu quý con trai đến mức một ngày cũng không cho ra khỏi cửa. Người con trai này lại là một kẻ phong lưu phóng túng, chỉ thích kết giao bằng hữu, kiếm liễu tìm hoa. Bỗng một hôm, có hai người bạn đến thăm, thuộc dòng dõi lá ngọc cành vàng, con rồng cháu phượng, là con tôn thất Tiết độ sứ Triệu Bát, anh em hai người, anh tên là Ứng Chi, em là Mậu Chi, đều là những kẻ ném tiền qua cửa sổ. Hai anh em nhờ người trong viện thông báo. Ngô tiểu viên ngoại mời trà xong, hỏi: “May được ân giáng, không biết sẽ phải thực hiện lệnh gì đây?”. Hai người nói: “Nay là tiết Thanh Minh, ở chỗ hồ Kim Minh, trai gái tấp nập, người đi chơi đông như kiến. Muốn cùng túc hạ đi du ngoạn, tôn ý thế nào?”. Tiểu viên ngoại rất mừng, nói: “Ơn hai huynh không chê hàn tiện, xin được cùng đi”. Tiểu viên ngoại liền gọi tiểu đồng gánh rượu và các thức nhắm, chuẩn bị ba con ngựa, cùng hai người đến hồ Kim Minh. Đào Cốc([3])học sĩ có thư đề: Vạn chỗ sênh ca tỉnh nối say, Quanh hồ rèm lụa khói lam quây. Cửu trùng cung điện che mây biếc, Nhật chiếu càn khôn ngũ sắc vây. Mặt sóng cầu vươn đường thượng giới, Bên bờ du khách ngắm mê say. Thuyền rồng ngự giá vua ban yến, Vạn tuế gió truyền tiếng hô bay. Ba người du ngoạn quanh hồ, chỉ thấy: Như gấm đào hồng, như khói liễu xanh. Từng đôi bướm phấn bay giữa hoa, từng cặp hoàng anh nhảy trên cành. Giẫm cỏ gái trai lũ lượt đến, thưởng ngoạn du nhân đoàn lại đoàn. Ba người kiếm một chỗ trống, ngồi uống rượu một hồi. Ngô tiểu viên ngoại nói: “Hôm nay trời rất đẹp, chỉ tiếc thiếu một người mời rượu”. Hai anh em họ Triệu nói: “Rượu uống đã đủ rồi, ngồi mãi một chỗ không bằng đi dạo chơi tiêu khiển, xem trai gái du xuân”. Ba người dắt tay nhau cùng đi. Vừa được mấy bước, bỗng một làn gió thơm thoảng qua, giống như xạ hương, lại có mùi son phấn. Ngô tiểu viên ngoại tiến vlên đón làn gió thơm đó. Chợt thấy một tốp phụ nữ, như trăm hoa đua sắc, vạn cỏ khoe tươi. Ở giữa có một vị nương tử, chừng mười lăm, mười sáu tuổi, mình mặc áo màu hạnh hoàng, người trông: Mắt như nước mùa thu, mày tựa núi mùa xuân, tóc như mây cuộn, chân tựa nhụy sen, hai quả anh đào phân môi thắm, một nhành dương liễu đấu lưng ong. Chưa biết mùi hương của tấm thân ấm áp, đã thấy rõ là một giai nhân phong nhã mười phần. Ngô tiểu viên ngoại trông thấy chỉ lăm le muốn giáp mặt. Nhưng bị anh em họ Triệu kéo lại, nói: “Con gái nhà lành, không được đùa cợt. Sợ rằng ở đây tai mắt rất nhiều, sẽ dẫn đến tai họa”. Tiểu viên ngoại tuy nghe theo, nhưng chẳng khác gì một kẻ hồn vía đã ra đi. Vị tiểu nương tử đó theo đám phụ nữ đi mất. Tiểu viên ngoại và hai anh em họ Triệu chào biệt nhau rồi về. Tiểu viên ngoại về nhà suốt đêm không ngủ, nói: “Thực là một cô gái mười phần xinh đẹp. Chỉ tiếc một điều là không hỏi rõ họ tên và chỗ ở. Nếu biết được, nhờ người làm mối đến cầu thân, chắc cũng có thể được ba phần may mắn”. Ngày hôm sau, lòng dạ không yên, mặc quần áo đẹp, lại hẹn hai anh em họ Triệu, đến hồ Kim Minh để tìm tung tích người đẹp đã gặp ngày hôm qua. Rõ ràng đường chốn Dương Đài,([4]) Mà sao không gặp được người làm mưa. Ngô tiểu vương ngoại đi trong đám du nhân, tìm đi tìm lại, không thấy vị tiểu nương tử đã gặp ngày hôm qua, trong lòng buồn phiền không vui. Triệu đại ca nói: “Túc hạ trong lòng không vui, muốn tìm hứng xuân mà chưa đạt. Lúc này trong các quán rượu, thường có thiếu phụ bán rượu. Hai anh em ngu đệ xin dẫn túc hạ đi đến đó, nếu thấy vui mắt, sẽ mua ba chén, cũng coi như hưởng một trận gió xuân, thế nào?”. Tiểu viên ngoại nói: “Bọn kĩ nữ này, hoa tàn liễu gẫy, người có học thường ngày không để ý”. Triệu nhị ca nói: “Nhà số năm phố bắc, có một quán rượu nhỏ, rất chi tinh nhã. Ở đó có một cô gái đong rượu, rất có nhan sắc, tuổi chừng đôi tám, chỉ có điều là thường không xuất hiện”. Tiểu viên ngoại bỗng nhiên nói: “Phiền dẫn đến xem”. Ba người đi đến phố bắc, quả nhiên thấy một quán rượu nhỏ, bên ngoài hoa trúc tốt tươi đều đặn, bên trong chén đĩa bày la liệt. Triệu nhị ca chỉ tay nói: “Nhà đó đây rồi”. Ba người đi vào trong cửa, im lặng không một tiếng người. Liền gọi một tiếng: “Có ai không? Có ai không?”. Trong giây lát, như có như không, cảm thấy có một cô gái tuổi chừng mười lăm, mười sáu yêu kiều xinh đẹp như hoa, đi ra. Vừa thấy cô gái, ba chàng trai đã cùng cúi đầu vòng, nói: “Xin bái lễ tiểu nương tử”. Cô gái đa tình thấy ba người, lòng xuân bỗng dậy, không kìm giữ nỗi, chân đã bước ra, trở vào không được. Nàng bèn ngồi xuống bên cạnh ba người, rồi gọi Nghênh Nhi mang rượu đến. Cả bốn người đã biết mừng vui là thế nào! Bốn miệng cùng cất tiếng, ai cũng nói về chuyện chọn bạn trăm năm. Vừa uống cạn chén rượu, bỗng nghe tiếng la hí, tiếng bánh xe lọc cọc, hóa ra là cha mẹ cô gái đi viếng mộ đã trở về. Ba người mất hứng đành vội chia tay. Sắc xuân nhanh chóng phai tàn, không còn đi chơi cảnh đẹp được nữa, trong lòng nhớ nhung, mộng thấy mĩ nhân. Chớp mắt, lại một năm trôi qua. Ba chàng trai không hẹn mà cùng gặp, lại tìm đến nơi cũ. Thoáng chốc đã đến cái nơi định đến. Nhưng chỉ thấy cửa nhà vắng vẻ, không biết người đong rượu ở nơi đâu. Ba người nghỉ nghơi một chút, rồi đi hỏi tin tức, thấy ông lão vào bà lão năm ngoái đi ra, ba người nói: “Xin bái lễ hai cụ. Có rượu xin cho một bình”. Rồi lại hỏi: “Trượng nhân, năm ngoái đến đây, thấy có một tiểu nương tử đong rượu; hôm nay sao không thấy?”. Ông lão nghe hỏi, rơi hai hàng lệ, nói: “Bẩm quan nhân, già này họ Lư tên Vinh. Cô gái đong rượu năm ngoái mà quan nhân trông thấy chính là con gái già này, tiểu danh là Ái Ái. Ngày này năm ngoái cả nhà tôi đi viếng mộ, không biết có ba đứa chết tiệt từ đâu đến, cùng nó uống rượu, thấy tôi về liền bỏ đi. Giữa hai bên đã xảy ra những gì, không được biết. Hai vợ chồng già chúng tôi có trách mắng nó mấy câu, ai ngờ tính nó quá tự trọng, thoắt buồn thoắt vui, không ăn không uống, mấy ngày sau thì chết. Cái gò nhỏ ở sau nhà, chính là mộ của nó đó”. Nói rồi, nước mắt lã chã tuôn rơi. Ba người không dám hé miệng hỏi thêm, vội vã trả tiền rượu, lên ngựa ra về, suốt dọc đường đi, lòng thấy thương cảm. Quay đầu nhìn lại, lệ rơi ướt áo, không thể nguôi lòng. Thực là: Đêm khuya tiếng ồn tạm lắng, Đài hồ([5]) trăng sáng lung linh. Đọng ngưng cảnh trời thanh vắng, Ban ngày có sự hoàn sinh. Trong lúc ba người đang đi, bỗng thấy một phu nhân, lụa trắng trùm đầu, lắc la lắc lư, nửa tiến nửa lui. Phu nhân nhìn ba người, khe khẽ chúc lời vạn phúc. Ba người như say như mê, không biết nên làm thế nào. Nếu nói phu nhân đó là ma, sao quần áo có đường khâu, thân hình có bóng trên mặt đất; nếu nói là mộng, sao véo thịt thấy đau. Chỉ thấy phu nhân đó nói: “Các quan nhân hẳn nhận ra nô gia, người năm ngoái đã gặp bên hồ Kim Minh. Hôm nay các quan nhân đến gặp nô gia, cha mẹ nói dối rằng nô gia đã chết, đắp một cái mộ giả, cốt để đánh lừa các quan nhân. Nô gia nghĩ rằng kiếp trước có duyên, may mà tương ngộ. Nay nô gia đã dọn đến một cái lầu nhỏ ở trong một ngõ hẹp trong nội thành, vẫn rót rượu trong. Nếu không chê bỏ, cúi xin mời hạ cố”. Ba người liền xuống ngựa cùng đi bộ. Chẳng mấy chốc đã đến nơi cần đến. Đi vào trong cửa, chỉ thấy: Lầu nhỏ liền vườn, sau trướng ẩn xuân. Mái hiên thấp đẹp mắc rèm hồng, gác uốn xa xa rủ trướng gấm. Nửa sáng nửa tối, người ở chỗ khuất ánh sáng soi; trăm tía ngàn hồng, xuân tràn đầy cảnh vật nơi nơi. Lên tới trên lầu, cô gái gọi: “Nghênh Nhi, mau bày rượu, để chúc mừng ba vị thư sinh”. Thời gian như ngừng trôi, rượu uống thích khẩu. Cô gái khéo léo chuốc rượu. Hát một bài hát du dương, nhảy một điệu múa yêu kiều, gảy một khúc đàn thánh thót, nói những lời êm dịu ngọt ngào. Hai anh em họ Triệu uống xong, chào biệt ra về. Ngô tiểu viên ngoại quay mình vươn tay, bá đôi vai thơm, ôm tấm lưng ong, nắm bàn tay thon, mắt say liếc nhìn, coi lầu là giường, nổi trận mây mưa. Ngủ đến khi trời sáng, trở dậy rửa mặt chải đầu, ăn sáng, hai người quấn quýt, chẳng chịu rời nhau. Ngô tiểu viên ngoại đốt hương thề nguyện, cắn tay thề ước. Cô gái che mặt, tủm tỉm bước vào nhà trong. Ngô tiểu viên ngoại về nhà, trong lòng buồn bã. Cha mẹ thấy Ngô Thanh về, hỏi: “Con trai, đêm qua nghỉ ở chỗ nào? Làm cho cha mẹ suốt đêm không ngủ, mộng mị lung tung”. Tiểu viên ngoại nói: “Thưa cha mẹ, có hai vị hoàng thân quốc thích muốn con ở lại, con đành phải nghe theo”. Cha mẹ nghe nói là các vị hoàng thân, lại đã từng đến nhà chơi, không nghi ngờ gì. Ai ngờ mối tình đã vướng, không thể gỡ ra. Có thơ làm chứng như sau: Gai góc rẫy bằng, lầu dựng xây, Trên lầu đàn hát, đỉnh vui say. Tiếng cười chưa dứt đã li biệt, Gai góc xưa kia lại mọc đầy. Tiểu viên ngoại và cô gái, tình cực sâu đậm, không sao tả xiết. Thực là: Giai nhân yểu điệu đang xuân sắc, Tài tử phong lưu lúc thiếu niên. Tiểu viên ngoại tình ý vương vấn, không quá hai ngày, lại đến qua đêm cùng cô gái. Chỉ có một điều là, mỗi khi gặp cô gái thì tự thấy tinh thần phấn chấn gấp trăm lần, dung mạo hơn hẳn lúc bình thường; nhưng khi về đến nhà thì sắc mặt tiều tụy, thân thể khô cằn, dần dần giống như ma quỷ trông không còn ra dáng on người. Chẳng thiết ăn uống, chẳng cần thuốc thang. Cha mẹ thấy con trai như vậy, phụ tử tình thâm, chẳng cần quan tâm đến tình bằng hữu, cũng chẳng quản là hoàng thân hay quốc thích, mời hai anh em công tử họ Triệu đến, nói rằng: “Không biết hai huynh những ngày trước đây đã đem con tôi đi làm những điều gì không phải? Đến nỗi nay nó bị bệnh nặng. Nếu chữa trị được, một lời cũng không dám nói; vạn nhất có điều gì không lường trước được, thì không thể không đi đánh trống kêu oan, lúc đó xin đừng trách già này là không phải”. Hai anh em họ Triệu nghe xong, thì thầm bàn với nhau: “Chúng ta tuy là cành vàng lá ngọc, nhưng quốc pháp rất nghiêm: nếu ta ngay thẳng như mọi người bình thường thì chẳng sao; nếu có điều gì sai phạm, tội không phải nhỏ. Vạn nhất bị ông lão cáo giác, thì chúng ta đều không có lợi”. Vội vã trả lời: “Thưa cụ, bệnh của hiền đệ, vốn không phải do lỗi của anh em chúng tôi”. Rồi đem chuyện gặp người con gái đa tình đẹp như hoa ở quán rượu gần hồ Kim Minh, từ đầu chí cuối thuật lại một lượt. Ông lão cả kinh, nói: “Nói như vậy, con tôi bị ma ám rồi! Hai vị có kế hay gì xin hãy chỉ bảo”. Hai người nói: “Có Hoàng Phủ chân nhân, ông ấy có kiếm trảm yêu, hãy mời ông ấy đến trổ tài pháp thuật, đuổi con ma này đi, mới lành bệnh được”. Ông lão bái tạ, nói: “Trăm sự đều nhờ hai vị”. Hai người liền đi ngay. Họ đến một ngọn núi xa, tới một nơi sâu kín, có mây trắng bay ra, trông thấy một cái am tranh: Nóc lợp tranh vàng, tường xây đá trắng. Rừng tùng xanh tốt đêm hạc bay về, ao nhỏ trời soi rùa ra phơi nắng. Ngô đồng liễu rủ bóng bên đường, vượn xanh hạc trắng, trước cửa chờ trông. Trong giây lát, một tiểu đồng từ trong am đi ra, nói: “Có phải hai vị đến tìm sư phụ đi cứu người không?”. Hai người nói: “Chính phải, nhờ tiểu đồng vào báo giúp”. Tiểu đồng nói: “Nếu là bệnh khác, sư phụ tôi không đi đâu, người chỉ chuyên trừ con yêu tinh tình dục. Tại sao vậy nào? Tình có thể sinh ra người, cũng có thể là chết người. Sinh người là cái tâm của đạo gia, chết người là điều kị của đạo gia”. Hai người nói: “Chính là trừ con yêu tinh tình dục, cứu người khỏi chết”. Tiểu đồng vội quay vào, mời Hoàng Phủ chân nhân ra. Chân Nhân nghe tiểu đồng nói bèn bảo: “Ta phải đi một chuyến”. Rồi cùng theo đường quanh co đi đến nhà Ngô viên ngoại. Vừa đến trước cửa đã nói: “Tà khí quá nặng, chín phần chết một phần sống, chỉ có một con đường có thể cứu mệnh”. Hai vợ chồng Ngô viên ngoại nghe nói sợ hãi vội quỳ xuống nói với chân nhân: “Xin ra oai pháp thuật, cứu tính mệnh cho nhà chúng tôi”. Chân nhân nói: “Viên ngoại hãy làm theo lời tôi, mau đến một nơi ở phía tây cách đây ba trăm dặm để lánh nạn. Nếu đến nơi đó, con ma này chắc chắn cũng sẽ đến theo. Nếu trong vòng một trăm hai mươi ngày, con ma này không đến, thì không thể cứu được”. Viên ngoại tuân theo. Dọn bữa cơm chay, mời Hoàng Phủ chân nhân ăn. Chân nhân ăn rồi chào từ biệt mà đi. Lão viên ngoại vội thu xếp hành lí, cho tiểu viên ngoại đi đến Tây Kinh phủ Hà Nam tránh nạn. Tiểu viên ngoại mời hai vị công tử họ Triệu cùng đi. Trên đường đi, do phải leo núi vượt khe, lội suối qua cầu, nên lúc có bạn lúc không có ai bên cạnh, nhưng mỗi khi tiểu viên ngoại ăn cơm thì cô gái ở bên cạnh đưa các món ăn. Khi tiểu viên ngoại đi ngủ thì cô gái ở bên cạnh cởi quần áo; nếu tiểu viên ngoại đi nhà xí thì cô gái cầm quần áo. Ở đâu cũng không tránh được, lúc nào cũng không chịu xa rời. Thoáng cái đã ở Lạc Dương được mấy ngày. Rồi một hôm, chợt nhớ ra đã được một trăm hai mươi ngày. Làm thế nào cho tốt đây? Hai vị công tử và những người đi bảo vệ tiểu viên ngoại, đưa nhau đến tửu lâu giải buồn, vừa lo sợ, ai nấy đều nước mắt lưng tròng. Sợ tiểu viên ngoại trông thấy, vội vàng lau đi. Tiểu viên ngoại đờ đẫn, không biết làm thế nào. Đang lúc cúi đầu dựa lan can, thì vừa khéo, Hoàng Phủ chân nhân cưỡi la đến. Tiểu công tử trông thấy, vội vàng chạy xuống lầu, bái lạy giữa phố, rồi níu lấy chân nhân, cầu xin cứu độ. Ngô Thanh và những người cùng đi đều đến quỳ lại cầu cứu. Chân nhân liền lên tửu lâu, lập pháp đàn, đốt hương, chân bước tay múa, mồm niệm chú lầm rầm. Làm lễ xong, lấy một thanh bảo kiếm đưa cho tiểu viên ngoại, nói: “Tính ra, viên ngoại hôm nay phải chết. Hãy cầm lấy thanh kiếm này, cho đến tối phải đóng chặt cửa. Lúc hoàng hôn, sẽ có người đến gõ cửa. Không cần hỏi xem là ai, cứ cầm thanh kiếm này chém ngay lập tức. Nếu may ra, chém được con ma đó, viên ngoại sẽ sống; nếu không may chém phải người khác, viên ngoại đành phải đền mạng. Đằng nào cũng chết, làm sao mà thoát được”. Dặn dò xong, chân nhân cưỡi la ra đi. Tiểu viên ngoại nhận kiếm, đóng chặt cửa, đợi trời tối. Hoàng hôn dần đến, bỗng nghe thấy tiếng gõ cửa lọc cọc. Tiểu viên ngoại không lên tiếng, bất chợt mở cửa ra, vung kiếm chém liền, cảm thấy có người theo đường kiếm bay ngã xuống. Tiểu viên ngoại vừa sợ, vừa mừng, tim đập thình thịch. Gọi liên tiếp: “Mau thắp đèn lên”. Mọi người đốt đèn lên soi, cả chủ quán cũng đến. Chủ quán nhận ra người bị chém, đó là tên hầu nhỏ A Thọ, mới mười lăm tuổi. Vì có việc phải ra phố, bị nhốt ở bên ngoài, nên phải gõ cửa, vừa lúc đó thì bị kiếm chém chết. Lúc đó, trong quán ồn ào náo động, người có trách nhiệm ở địa phương đến, thấy có án mạng, liền trói ngay tiểu viên ngoại lại. Hai vị công tử họ Triệu cũng bị trói. Đợi đến sáng hôm sau, sẽ đưa đến phủ Hà Nam. Quan Đại doãn nghe có vụ giết người, đọc tờ trình, giao cho Ngục tư xét hỏi. Ngô Thanh đem việc Hoàng Phủ chân nhân dặn chém yêu quái, kể ra một lượt. Ngục tư nói: “Đây là lời nói hoang đường. Nay đã chém chết tên hầu nhỏ, rõ ràng là mạng người, làm sao chối được!”. Liền thét thủ hạ dùng hình. Nhưng những người đi theo tiểu viên ngoại đã đút lót tiền bạc đầy đủ cả rồi. Cho nên ngục tốt vội bẩm: “Ngô Thanh ốm đã lâu chưa khỏi, không thể chịu hình. Còn hai vị tôn thất, chỉ mắc tội nhỏ liên can mà thôi”. Ngục quan mượn gió bỏ măng, ra lệnh giam Ngô Thanh lại, đợi khi khỏi bệnh sẽ xét xử, hai vị công tử họ Triệu thì cho tại ngoại. Ra lệnh cho địa phương đặt xác tên hầu nhỏ vào quan tài, đợi trên xét nghiệm, trảm yêu kiếm là hung khí thì đưa vào trong kho. Lại nói Ngô tiểu viên ngoại ban đêm ở trong ngục rơi lệ than rằng: “Cha mẹ sinh ra chỉ có một ta, từ nhỏ nửa bước không rời, sao hôm nay phải chết ở quê người! Nếu sớm biết thế nào cũng chết, thì rời quê ra đi làm gì cho khổ đến nỗi này!”. Lại than tiếp: “Tiểu nương tử, chỉ thấy được khi sống yêu nhau, chứ ai biết được sự quyến luyến sau khi chết, ân biến thành oán, làm cho ta cốt nhục phải chia li, chết không có nơi chôn cất, ta khổ biết bao! Ta hận biết bao!”. Than vãn đến nửa đêm, ngủ say lúc nào không biết. Mộng thấy cô gái đa tình đẹp như hoa, diêm dúa yêu kiều, tiến đến gần, cúi mình chúc lời vạn phúc, nói: “Tiểu viên ngoại đừng căm giận tiện thiếp. Tiện thiếp từ sau khi chết, đã làm cảm động Thượng Nguyên phu nhân lúc đó đang đi qua trên không, thương tiện thiếp vô tội chết yểu, truyền cho thuật thái dương luyện hình, giữ nguyên được hình hài như khi sống, được đi rong chơi trên khắp thế gian. Cảm tấm lòng tiểu viên ngoại còn thương nhớ, vì thế mới không biết xấu hổ mà theo. Cũng là số phận tiền duyên, có một trăm hai mười ngày làm vợ chồng. Nay đã trọn vẹn, tiện thiếp sẽ tự đi. Đêm trước, tiện thiếp đến chào từ biệt, không ngờ viên ngoại lại sinh lòng ác, vác kiếm chém tiện thiếp. Hôm nay báo lại, phải chịu một đêm lao tù. Tên hầu nhỏ A Thọ, đang ở trong mộ cổ ở bên ngoài Đông Môn, chỉ cần quan phủ xét nghiệm lại tử thi, thì sẽ thoát tội. Tiện thiếp cũng đã xin Thượng Nguyên phu nhân được hai viên ngọc tuyết đan, tiểu viên ngoại hãy thử dùng một viên, bảo đảm trăm bệnh tiêu trừ, nguyên khí trở lại như cũ; còn một viên, phải cất giữ cẩn thận, đợi đến ngày khác, nó sẽ giúp tiểu viên ngoại kết mối tơ duyên đẹp đẽ, báo đáp cái ân huệ một trăm hai mươi ngày vợ chồng vừa qua”. Nói rồi, lấy ra hai viên thuốc, to bằng hạt đậu, màu đỏ, rõ ràng là hai viên thần dược. Cô gái lấy một viên cất vào ống tay áo tiểu viên ngoại, một viên đút vào mồm tiểu viên ngoại, rồi nói: “Tiện thiếp đi đây, ngày chàng trở về quê, ngàn lần cầu xin đến thăm mộ hoang của tiện thiếp, cũng là thể hiện tấm lòng của lang quân không quên mối tình cũ”. Tiểu viên ngoại đang định hỏi cho tường tận, bỗng nghe thấy tiếng chuông kêu bên tai, giật mình tỉnh giấc. Trong miệng cảm thấy có mùi thơm lạ, trong bụng như có một cục lửa quay chuyển, mồ hôi ra như tắm. Phải đợi đến khi trời sáng mới hết mồ hôi, thân thể bỗng thấy khỏe mạnh. Tìm trong ống tay áo, viên ngọc tuyết đan vẫn còn, giống hệt như viên thuốc đã thấy trong mộng. Tiểu viên ngoại giấu biệt mối tình, chỉ nói lại lời nói của người trong mộng rằng cần xét nghiệm thi hài tên hầu nhỏ, là có thể biết được thật giả. Ngục tư bẩm lên quan Đại doãn. Mở quan tài ra xem, chỉ thấy một cái chổi cũ, chẳng có một vật nào khác nữa. Đến tìm ở ngôi mộ cổ ngoài Đông Môn, thấy tên hầu nhỏ A Thọ như đang đắm chìm trong giấc ngủ say trong một cái quách đá vỡ. Mọi người lấy nước gừng đổ cho uống, A Thọ tỉnh lại, hỏi tại sao lại đến đây và đến như thế nào, tên hầu nhỏ chẳng biết chút gì. Ngục tư đem A Thọ và cái chổi cũ đến trình trước mặt quan Đại doãn, gọi chủ quán đến nhận, quả thực A Thọ chưa chết, lúc đó mới biết tất cả đều do yêu nữ làm ra. Đại doãn đuổi mọi người lui ra. Hoàng Phủ chân nhân biết trảm yêu kiếm không linh, bỏ lên núi tu đạo. Hai anh em công tử họ Triệu đến đón tiểu viên ngoại, mồm liên tục nói “Chúc mừng! Chúc mừng!”. Chủ quán cũng đến tạ tội. Ba người từ biệt chủ quán, dẫn đám người hầu, hoan hỉ trở về phủ Khai Phong. Cách thành hơn năm mươi dặm, có một thị trấn lớn, đoàn người đến nghỉ ở một quán trọ. Trông thấy trên tường của ngôi nhà lớn bên cạnh, dán một bản yết thị mời danh y như sau: “Nhà tôi có ái nữ bị bệnh nguy cấp, mê man, bất tỉnh. Danh y bốn phương, nếu ai chữa trị được, xin hậu tạ mười vạn bạc, hoa hồng rượu dê phụng nghênh, quyết không dám sai lời”. Ngô tiểu viên ngoại xem xong, hỏi tiểu nhị: “Nhà bên cạnh là nhà ai? Bị bệnh gì? Không có người biết sao?”. Tiểu nhị đáp: “Đất này gọi là Chử gia trang, nhà bên cạnh là nhà của Chử viên ngoại. Có một người con gái đẹp như hoa như ngọc, tuổi mới mười sáu. Đã có nhiều người đến cầu hôn, nhưng lão viên ngoại vẫn chưa gả cho ai. Trong vòng một tháng, bỗng mắc một bệnh, phát điên nói nhảm, không thiết ăn uống. Rất nhiều thái y xem bệnh bốc thuốc, bệnh chỉ tăng không giảm. Thật đáng tiếc cho cô gái nết na, khó gặp trên đời. Nay xem ra sắp chết, hai vợ chồng lão viên ngoại ngày đêm kêu khóc, chỉ còn biết cầu thần lễ Phật, làm việc thiện để giải phúc, đã chi không biết bao nhiêu là tiền bạc rồi”. Tiểu viên ngoại nghe nói, trong lòng mừng thầm, nói: “Tiểu nhị ca, phiền môi giới giúp, tôi muốn cưới cô gái này làm vợ”. Tiểu nhị nói: “Tiểu nương tử đang thập tử nhất sinh, quan nhân nếu muốn cầu thân, hãy đợi khi khỏi bệnh”. Tiểu viên ngoại nói: “Tôi biết trị bệnh cuồng. Không cần tiền bạc tạ ơn, chỉ cần đồng ý cho tôi thành hôn, tôi mà ra tay, bệnh ắt khỏi liền”. Tiểu nhị nói: “Xin mời quan nhân ngồi, tiểu nhân lập tức đi chuyển lời”. Chỉ trong giây lát, đã thấy tiểu nhị dẫn Chử công đến quán, cùng ba người tương kiến. Chử viên ngoại hỏi: “Chẳng hay vị tiên sinh nào có thể trị bệnh?”. Hai anh em họ Triệu chỉ tay nói: “Vị Ngô tiểu viên ngoại này”. Chử công nói: “Nếu tiên sinh chữa khỏi bệnh cho tiểu nữ, những lời viết trên tờ yết thị kia, quyết không sai một li”. Ngô tiểu viên ngoại nói: “Vãn sinh họ Ngô tên Thanh, nhà ở một phố lớn trong thành thuộc bản phủ. Cha mẹ đều còn, gia tư nhỏ bé, lẽ nào lại cho tiền thưởng vạn bạc là ít ỏi. Nhưng vãn sinh tuổi mới hai mươi, chưa thành gia thất. Từ lâu đã ngưỡng mộ tiểu nương tử dung mạo đức hạnh vẹn toàn, nếu được kết duyên Tấn Tần, sẽ xin nhận việc chữa trị, khỏi phải đi tìm Lư Biển ([6])”. Hai anh em họ Triệu đứng bên cạnh, cũng nói nhiều lời tốt đẹp, khoe nhà họ Ngô là danh môn phú thất, lại khoe tiểu viên ngoại là người trung hậu. Chử công yêu con gái, không việc gì không làm, nên cũng ưng thuận. Liền nói: “Nếu quả chữa khỏi bệnh cho tiểu nữ, già này xin đem hòm nữ trang nho nhỏ, gửi đến quý phủ thành hôn”. Ngô Thanh nói với hai anh em họ Triệu: “Nay nhờ hai huynh làm mối, không thể chối từ”. Chử công nói: “Đâu dám”. Ngay sau đó, Chử công mời cả ba người đến nhà, thết tiệc khoản đãi, Ngô Thành nôn nóng, nói với lão viên ngoại: “Xin dẫn đến phòng của lệnh ái, để xem bệnh cho thuốc”. Chử công đi trước, Ngô Thanh theo sau. Cũng là duyên phận đương nhiên, Ngô tiểu viên ngoại vừa vào cửa, cô gái lập tức không điên nữa. Ngô tiểu viên ngoại giả vờ xem mạch, nhũ mẫu vén màn lên, chỉ nghe thấy tiếng vòng vàng leng keng, một cánh tay ngọc ngà được đưa ra. Thực là: Chưa biết rõ mặt hoa, Thấy trước bàn tay ngọc. Tiểu viên ngoại xem mạch hai tay xong, như trông thấy thần thấy quỷ, nói: “Bệnh này do tà ma ám hại, ngoài vãn sinh ra, không ai có thể chữa khỏi”. Nói rồi, lấy ra viên ngọc tuyết đan, hòa với nước giếng khơi, cho tiểu nương tử uống. Cô gái bỗng nhiên thấy tinh thần sảng khoái, bệnh đã khỏi hẳn. Chử công cảm tạ hết lời. Ban ngày, cả ba người cùng vui uống rượu tại nhà Chử công. Ban đêm, Chử công mời ngủ trong thư phòng. Sáng hôm sau, lại mời rượu. Hai anh em họ Triệu nói: “Quấy quả nhiều rồi, xin được cáo từ. Chỉ có điều là đối với việc hôn nhân của Ngô tiểu viên ngoại, không nên thất tín”. Chử công nói: “Tiểu nữ mang ơn cứu bệnh, lẽ nào dám vong ân phụ nghĩa. Đâu dám coi lời hứa không bằng mạng sống của mình!”. Tiểu viên ngoại liền bái tạ nhạc phụ. Chử công bày lễ tiễn đưa. Ba người không nhận bất cứ một vật nào, chào từ biệt về nhà. Ngô lão viên ngoại thấy con khỏi bệnh trở về, mừng vui như thế nào, khỏi phải nói. Hai anh em họ Triệu đem việc hôn nhân nói ra, lão viên ngoại mười phần mĩ mãn. Chọn ngày ăn hỏi, sáu lễ đã xong([7]), Chử công chuẩn bị đồ cưới nghìn vàng, thân tiễn con gái qua cửa thành thân. Ngô tiểu viên ngoại dưới ánh nến hoa, nhìn cô dâu, giật mình: thật giống mĩ nữ mặc áo màu hạnh hoàng đã gặp gỡ ở bên hồ Kim Minh trước đây. Qua năm bữa nửa tháng, vợ chồng quen hơi. Ngô tiểu viên ngoại hỏi vợ, quả là hai ngày trước tiết Thanh Minh năm ngoái, có vào thành thăm hỏi người thân, mình mặc áo màu hạnh hoàng, và có đến hồ Kim Minh du ngoạn. Thực là lòng người ước nguyện, trời cao xui khiến. Vị tiểu nữ họ Chữ cũng có tiểu danh là Ái Ái. Ngô tiểu viên ngoại đem chuyện này nói cho hai anh em họ Triệu biết, cả hai người đều cho là kì lạ: “Mối nhân duyên này đích thị do Lư nữ tác thành, không được quên ơn”. Ngô tiểu viên ngoại ngay ngày hôm đó đến Lư gia điếm ở bắc hồ Kim Minh, kể chuyện về con gái của Lư gia, dâng vàng gấm, bái nhận hai vợ chồng Lư Vinh làm nhạc phụ nhạc mẫu, xin được bốc mộ, mua quan tài cải táng. Lư công là dân thường nơi chợ búa, được viên ngoại nhận thân, nói gì cũng nghe. Tiểu viên ngoại xin âm dương chọn ngày tốt, trước tiên dùng ba con vật tế lễ, đốt đồ cúng, rồi sau đó đào mộ mở áo quan. Vị tiểu nương tử Ái Ái sắc mặt vẫn như lúc sống, mùi hương vẫn chưa tan, đó là nhờ ở thuật Thái Âm luyện hình mà có kết quả như vậy. Ngô tiểu viên ngoại ca ngợi hồi lâu. Cải táng xong, mời cao tăng cúng lễ bảy ngày bảy đêm. Đến đêm lại mộng thấy Ái Ái đến tạ ơn, từ đó mất hẳn tung tích. Về sau Ngô tiểu viên ngoại cùng Chử Ái Ái bách niên giai lão. Hai vợ chồng Lư công nhờ tiểu viên ngoại lo việc hậu sự, đó cũng là cái đức của tiểu viên ngoại. NGUYỄN HUY dịch. Đây chỉ câu chuyện luyến ái giữa người và quỷ. Chu Vân gặp một nữ quỷ Lưu Sảnh, tặng tiền Thái Bình, phát sinh quan hệ luyến ái. Tình tiết cụ thể, do bản gốc Nam kí đã bị thất lạc nên không rõ ra sao. Hiện nay ở Mân Nam Lê Viên vẫn diễn lại Nam kí này. [2] Đây là một câu chuyện trong Tống Nguyên thoại bản, chữ “Sư” nên coi là chữ “tư”, vợ Hàn Tư Hậu thời Nam Tống là Trịnh Ý nương, bị nữ nhân bắt đi, tuẫn tiết mà chết; Hàn Tư Hậu đến Yên Sơn nghị hòa, gặp hồn vợ, đem hài cốt vợ về Nam, về sau Hàn Tư Hậu lấy một người đàn bà khác, phụ Ý nương, bị hồn của Ý nương báo thù. [3] Đào Cốc - tự Tú Thực, thời Tống sơ lần lượt làm thượng thư ba bộ: Lễ, Hình, Hộ. [4] Dương Đài - nơi ở của vị nữ thần làm mây làm mưa. (ND). [5] Công trình kiến trúc xây cao trên mặt hồ làm nơi ngắm cảnh, thưởng trăng.(ND). [6] Lư Biển - thời Xuân Thu có danh y Biển Thước, vốn là người ở Lư địa phương này, cho nên gọi là Lư Biển. (ND). [7] Sáu lễ đã xong - sáu lễ trong việc hôn nhân: nạp thái (lễ đính hôn), vấn danh (hỏi cho biết tên người con gái), nạp cát (nhà trai lễ ở nhà thờ được điểm tốt thì báo cho nhà gái biết), nạp trưng (nộp lễ vật), thỉnh kì (định ngày đón dâu), thân nghinh (đón dâu) .(ND). [1] CÙ HỰU (Trung Quốc) Cù Hựu (1347-1433): Nhà văn nổi tiếng đời Minh. Tên chữ là Tông Cát, tên hiệu là Tồn Trai. Quê ở Tiền Đường (nay thuộc Hàng Châu, tỉnh Chiết Giang). Đỗ tiến sĩ nhưng không làm quan to, chỉ giữ các chức nhỏ phụ trách việc giáo dục. Dưới thời Minh Thành Tổ (1403-1424) bị giáng chức và xung quân vì một bài thơ “phạm thượng”. Các tác phẩm chính: Tồn Trai thi tập; Duyệt sử quản kiến (sử) Quy điền thi thoại (lí luận thơ); tập truyền kì Tiễn Đăng tân thoại (4 quyển, 1378) được phổ biển và có ảnh hưởng sâu rộng ở Triều Tiên, Nhật Bản, xuất hiện ở Việt. Chiếc Đèn Mẫu Đơn ([1]) Họ Phương sau khi chiếm được Chiết Đông, hàng năm đến ngày rằm tháng giêng, cho châu Minh([2]) được treo đèn năm ngày, trai gái trong thành đều được đi xem thỏa thích. Năm Canh Tí niên hiệu Chí Chính (1360), có Kiều Sinh nhà ở dưới núi Trấn Minh, mới góa vợ, ở một mình buồn tẻ nên không đi chơi, chỉ tựa cửa đứng xem mà thôi. Cuối canh ba hôm rằm, người đi chơi vắng dần, chợt Kiều Sinh thấy một a hoàn cầm cây đèn lồng hình hai bông hoa mẫu đơn đi trước, cô gái đẹp đi sau, tuổi chừng mười bảy, mười tám, quần hồng áo biếc, yểu điệu thướt tha, theo chân nhau đi về phía tây. Đứng ngắm dưới trăng, chàng thấy nàng trẻ trung, thật là bậc quốc sắc. Hồn phách bay bổng, chàng không sao kiềm chế nổi, bèn bước theo nàng, lúc đón trước, lúc theo sau. Đi chừng mấy chục bước, cô gái đẹp bỗng ngoảnh mặt lại mỉm cười bảo: - Không có lời hẹn trong dâu mà lại có cuộc gặp gỡ dưới nguyệt, hẳn không phải ngẫu nhiên đâu nhỉ? Kiều Sinh vội chạy lên trước, chắp tay mà rằng: - Tệ xã ở gần gang tấc, chẳng hay giai nhân có đoái đến chăng? Cô gái không tỏ vẻ khó chịu, gọi a hoàn bảo: - Kim Liên, hãy cầm đèn cùng đi! Rồi cùng với Kim Liên quay trở lại. Chàng dắt tôi cô gái vào nhà, vui mùng cùng cực, tự cho chẳng kém gì cuộc gặp gỡ ở Vu Sơn, Lạc phố([3]). Chàng hỏi tên tuổi và chỗ ở, cô gái nói: - Thiếp họ Phù, tên là Lệ Khanh, tên chính là Thấu Phương, con gái Phán quan châu Phụng Hóa trước kia([4]). Cha mẹ thiếp đều mất cả, gia cảnh sa sút, đã không anh em lại ít bà con, chỉ có một thân, cùng Kim Liên tạm ở phía tây hồ. Kiều Sinh giữ nàng ở lại qua đêm. Nàng cử chỉ đáng yêu, nói năng dịu dàng, bèn buông màn kê gối, vui thú hết mực. Trời sáng, nàng từ biệt ra về, tối lại đến, cứ như thế gần nửa tháng. Ông hàng xóm sinh nghi, chọc vách nhòm sang thì thấy một bộ xương trang điểm phấn son ngồi dưới đèn cùng Kiều Sinh. Ông sợ quá, ngay sáng ra sang căn vặn chàng nhưng chàng giấu không chịu nói. Ông bèn bảo: - Ôi, cậu nguy rồi! Người ta là khí thuần dương cực thịnh, ma quỷ là khí tà uế chốn âm ti. Nay cậu cùng ở với con ma nơi u âm mà không hay, cùng ngủ với vật tà uế mà không tỉnh, một mai khi chân nguyên cạn kiệt, tai họa ắt đến. Tiếc thay, người đang tuổi thanh xuân mà thành khách nơi suối vàng, há chẳng đáng buồn sao? Kiều Sinh bấy giờ mới thất kinh, kể hết nguyên do. Ông hàng xóm bảo: - Nó bảo nó tạm ngụ ở phía tây hồ, cậu nên đến đó tìm thì sẽ biết ngay. Chàng nghe lời đi thẳng đến mé tây Nguyệt Hồ. Đi quanh quẩn mãi trên đê, dưới cầu, hỏi cả cư dân lẫn khách qua đường, họ đều nói chẳng có ai như thế. Mặt trời sắp lặn, chàng bèn đi vào chùa giữa hồ nghỉ chân, dạo hết hành lang phía đông lại ngoặt sang hành lang phía tây, đến tận cùng hành lang thì thấy một gian buồng tối, trong buồng đặt quan tài của khách qua đường, giấy trắng trên nắp ván thiên viết: “Quan tài Lệ Khanh, con gái Phán quan họ Phù châu Phụng Hóa trước kia”. Trước linh cữu treo một cái đèn lồng hình hai bông mẫu đơn, dưới đèn có con hầu bằng đồ mã, sau lưng đề hai chữ Kim Liên. Kiều Sinh nhìn thấy thế, râu tóc dựng ngược, khắp người sởn gai, chạy bổ ra khỏi chùa không dám ngoái lại. Đêm ấy chàng ngủ nhờ bên ông hàng xóm, sắc mặt hiện rõ vẻ lo lắng sợ hãi. Ông hàng xóm bảo: - Pháp sư họ Ngụy ở quán Huyền Diệu vốn là học trò của Vương chân nhân ở Khai Phủ, nổi tiếng nhất về bùa chú hiện thời. Cậu nên đến ngay đấy mà cầu xin. Sáng hôm sau, Kiều Sinh đến quán, pháp sư trông thấy chàng kinh ngạc nói: - Khí yêu ma đầy đặc thế kia, làm sao đến đây? Chàng sụp lạy trước chỗ ngồi, kể hết chuyện mình. Pháp sư bèn cho hai lá bùa đỏ, bảo để một lá ở cửa, một lá ở giường, lại dặn không được đến ngôi chùa giữa hồ nữa. Chàng cầm bùa trở về đặt như lời dặn, từ đấy cô gái kia quả nhiên không thấy đến nữa. Hơn tháng sau, chàng đến thăm người bạn ở chùa Cổn Tú, bạn giữ lại uống rượu, say quá quên mất lời dặn của pháp sư, rẽ ngay vào con đường qua ngôi chùa giữa hồ để về nhà. Gần tới cửa chùa đã thấy Kim Liên đến trước mặt lạy chào, thưa rằng: - Cô tôi đợi mãi, sao cậu lại bạc tình như thế? Bèn cùng Kiều Sinh đi tới hành lang phía tây, rồi đi thẳng vào phòng. Lệ Khanh đã ngồi ở đấy, kể tội chàng rằng: - Thiếp cùng chàng vốn không quen biết, tình cờ gặp nhau dưới đèn, cảm ý của chàng mà thờ chàng hết lòng, đêm đến sáng đi, không bạc bẽo với chàng, cớ sao chàng lại đi tin lời lão đạo sĩ yêu ma đó mà sinh bụng nghi ngờ, lại còn toan đoạn tuyệt hẳn nữa sao? Bạc tình thế cho nên thiếp hận chàng lắm đấy! Nay may được gặp, thử xem chàng có bỏ được nữa hay không? Lập tức nàng nắm lấy tay Kiều Sinh cùng đến trước quan tài. Quan tài tự mở nắp, cô gái kéo chàng cùng vào, nắp liền đậy ngay lại. Thế là Kiều Sinh chết trong quan tài. Ông hàng xóm thấy chàng không về lấy làm lạ, tìm hỏi khắp nơi xa gần, tới khi tìm đến căn phòng quàn linh cửu trong chùa thì thấy vạt áo của Kiều Sinh thò một mẩu ngoài áo quan. Ông bèn xin với sư trụ trì mở ra thì Kiều Sinh chết đã lâu, nằm úp vào xác cô gái, còn mặt mày cô gái vẫn tươi như lúc sống. Sư than thở: - Đây là con gái ông họ Phù làm Phán quan châu Phụng Hóa, khi chết mới mười bảy, tạm quàn ở đây. Cả nhà cô ta đã đi lên miền Bắc, không được tin tức gì, đến nay đã mười hai năm, không ngờ lại tác quái như thế! Sư bèn cho chôn quan tài của cô gái cùng Kiều Sinh ở ngoài cửa tây. Từ đấy trở đi, ngày nào mây âm u, đêm nào trăng mờ tối, thường thấy Kiều Sinh cùng cô gái dắt tay nhau đi, con hầu cầm đèn mẫu đơn đi trước dẫn đường, ai gặp phải đều ốm nặng, hết nóng lại rét. Nếu biết mà làm việc công đức, cúng rượu thịt thì có thể khỏi, bằng không thì ốm liệt giường. Dân chúng sợ hãi, đều đến quán Huyền Diệu kêu với pháp sư họ Ngụy. Ngụy pháp sư nói: - Bùa chú của ta chỉ trừ được khi chúng chưa tác quái. Nay đã đến thế, không biết làm sao! Nghe nói có đạo nhân Thiết Quân ở trên đỉnh núi Tứ Minh ([5]) dẹp được quỷ thần, pháp thuật linh nghiệm lắm, các ngươi nên đến đó mà cầu xin. Mọi người bèn lên núi, vin dây bám rễ, lội suối vượt khe. Lên đến tận núi, quả có một am cỏ, đạo nhân đang ngồi tựa kỉ, xem tiểu đồng điều khiển con hạc. Mọi người suy sụp lạy trước am, nói lí do phải tìm đến. Đạo nhân bảo: - Ta là người ở ẩn chốn rừng núi, chẳng bao lâu cũng sẽ chết, làm gì có thuật lạ? Các người quá nghe đó thôi! Thấy đạo nhân nghiêm nét mặt từ chối, dân chúng thưa: - Chúng tôi vốn không biết, đó là do pháp sư họ Ngụy ở quán Huyền Diệu chỉ giáo cho như vậy! Bấy giờ đạo nhân mới tươi nét mặt nói: - Ta không xuống núi đã sáu chục năm nay, tên học trò bẻm mép làm phiền ta phải ra đi rồi! Bèn cùng tiểu đồng xuống núi, bước đi thoăn thoắt, đến thẳng ngoài cửa tây, kết đàn phương trượng, ngồi xếp bằng ngay ngắn trên chiếu rồi vẽ bùa đem đốt. Bỗng thấy mấy thiên tướng được bùa gọi đến, áo gấm khăn vàng, giáp sắt giáo nhọn, đều cao hơn trượng, đứng sừng sững dưới đàn, khom lưng chờ lệnh. Đạo nhân ra lệnh: - Ở đây có tà ma gây họa, quấy nhiễu sinh dân, các ngươi há không biết hay sao? Mau mau xua chúng đến đây! Mấy thiên tướng vâng lệnh đi, chốc lát đã gông cổ, cùm tay cô gái, Kiều Sinh cùng Kim Liên giải tới, rồi roi hèo tới tấp đánh xuống, máu tùa dầm dề. Đạo nhân quát mắng một hồi, bắt phải cung khai. Thiên tướng lấy giấy bút đưa cho, ba người cung khai đến mấy trăm lời, nay chép đại lược như sau: Kiều Sinh khai: - Trộm nghĩ, góa vợ, cô đơn một mình tựa cửa, phạm vào lời răn chữ sắc, động tới ý muốn đa dâm; chẳng quyết đoán khi gặp rắn hai đầu ([6]) như Tôn Sinh, để đến nỗi yêu con chồn chín đuôi([7]) như Trịnh Tử. Việc đã trót rồi, hối không kịp nữa. Cô gái họ Phù khai: - Trộm nghĩ, lúc trẻ lìa đời, ban ngày không bạn; sáu phách tuy rời, một hồn chưa nát. Trước đèn dưới trăng, gặp kẻ oan gia vui thú năm trăm năm về trước; trên đời, trong dân, làm câu chuyện kể phong lưu cho ngàn vạn người sau. Mê muội chẳng biết quay về tội thật không còn thể trốn. Kim Liên khai: - Trộm nghĩ, cật tre làm cốt, bôi trắng thành hình. Mồ mả chôn vùi, chẳng biết ai đem dùng làm đồ mã; tinh nhanh mặt mũi, tựa hình thể người nhưng thấp kém hơn. Đã có tên để gọi, chỉ còn thiếu tính linh; nhân đó mà được thể, đâu dám làm yêu tinh! Khai xong, thiên tướng cầm lên đưa trình. Đạo sĩ cầm cây bút to phê rằng: - Mảng nghe, vua Vũ đúc vạc đỉnh mà dâm thần, gian quỷ chẳng kẻ nào giấu được hình; Ôn Kiều đốt sừng tê mà phủ nước cung rồng đều phải hiện ra hình trạng ([8]). Nghĩ rằng, u minh khác nẻo, ngụy trá đa đoan; người gặp phải bất lợi cho người, vật gặp phải có hại cho vật. Cho nên, quỷ Đại Lịch vào trong cửa mà Tấn Cảnh Công băng ([9]); lợn yêu ma kêu ngoài đồng mà Tề Tương Công chết([10]). Giáng họa làm yêu gieo tai gây nghiệt; cho nên, trên trời đặt ra viên tướng chém tà, dưới đất bày ra các ti phạt ác. Khiến cho, bốn loài quỷ quái không được dung thứ làm điều gian; dạ xoa, la sát chẳng được tha hồ gieo bạo ngược. Huống hồ, nay thuở thanh bình, ấy thời phẳng lặng. Thế mà, biến hóa hình hài, dựa vào cây cỏ; sớm sao xế trăng tàn, đêm gió mưa mờ to, kêu trên xà mà thành tiếng, nhòm vào buồng mà vô hình; nhặng lượn, chó vườn, bê dữ, sói tham, nhanh như gió vút, nóng tựa lửa hun. Trai họ Kiều do chưa tỉnh, chết có thương gì; gái họ Phù còn tham dâm, sống đà biết đấy! Kim Liên kia thàng quái, mượn vật chôn dối càn; lừa đời hại dân, trái luật phạm pháp. Chồn cáo thong dong mà dâm đãng, cun cút bay nhanh mà bất lương([11]), thói ác đã quá, tội lỗi không dung! Hố hãm người từ nay lấp kín, trận mê hồn từ nay mở tung; thiêu hủy cây đèn hai ngọn, áp giải tới ngục âm cung! Lời khai đầy đủ, kẻ nọ chấp hành! Cấp cấp như luật lệnh! Tức thì ba người khóc lóc dùng dằng, bị tướng nhà trời vừa xua vừa lôi đi. Đạo nhân phất tay áo trở lên núi. Hôm sau dân chúng lên núi tạ ơn thì không thấy đạo nhân đâu nữa, chỉ còn am cỏ mà thôi. Vội đến quán Huyền Diệu gặp pháp sư họ Ngụy để hỏi thì ông ta vừa bệnh thành câm, không nói được nữa. PHẠM TÚ CHÂU dịch (Tiểu đăng tân thoại. Nxb. Thượng Hải cố tịch,1981) [1] Họ Phương: tức Phương Quốc Chân, vốn làm nghề buôn muối, nhân cuộc khởi nghĩa nông dân cuối đời Nguyên nổi lên chiếm Chiết Đông, sau hàng nhà Minh. [2] Châu Minh: thuộc tỉnh Chiết Giang. [3] Vu Sơn: theo bài phú Cao Đường của Tống Ngọc, vua tới Cao Đường chơi, ban ngày nằm mộng gặp người con gái ở Vu Sơn. Lạc Phố: theo bài phú Nữ thần sông Lạc của Tào Thực, tác giả từng gặp nữ thần Mật Phi (Thiên Phi) trên bờ sông Lạc. [4] Phụng Hóa: thuộc tỉnh Chiết Giang. Phán quan là chức quan trông coi giấy tờ. [5] Núi Tứ Minh: thuộc tỉnh Chiết Giang, cách châu Minh 150 dặm. Đạo nhân Thiết Quân tên Trương Trung, tên chữ Cảnh Hoa, rất nổi tiếng thời bấy giờ. Ông ưa đội mũ sắt nên có hiệu là Thiết Quân (mũ sắt). [6] Rắn hai đầu: truyền rằng rắn này rất độc, ai gặp tất chết. Nhưng Tôn Sinh, tức Tôn Thúc Ngao nước Sở gặp rắn hai đầu liền giết chết, trừ họa cho người. Sau Tôn không chết, còn làm tể tướng. [7] Chồn chín đuôi: theo truyện Nhậm thị của Thẩm Kí Tế đời Đường, chàng Trịnh Tử (Trịch Lục) lấy Nhậm thị vốn là con chồng chín đuôi hóa thành. [8] Ôn Kiều: Ôn Kiều người đời Tấn đi qu Ngưu Chử là nơi có nhiều thủy quái. Ôn Kiều không sợ, sai người đốt sừng tê lên soi khiến chúng phải hiện nguyên hình. [9] Tấn Cảnh Công băng: Tấn Cảnh Công mơ thấy con quỷ xõa tóc đe báo thù cho con cháu bị nhà vua giết hại. Năm ấy Cảnh Công chết (năm 570 trước CN). [10] Tề Tương Công chết: Tề Tương Công thông dâm với em gái, sai Bành sinh giết em rể, sau giết nốt Bành Sinh. Một lần vua đi săn, lấy tên bắn con lợn to, lợn đứng hai chân như người, nghe nói là hồn Bành Sinh. Vua sợ, ngã xe, năm ấy bị giết chết. [11] Chồn cáo thong dong, cun cút bay nhanh: đầu đề hai bài thơ trong Kinh Thi, đó là bài Hữu Hồ tuy tuy và Thuần chi bôn bôn. Người xưa cho hai bài này nhằm chế giễu sự dâm loạn.
- Xem thêm -