Yếu tố kỳ ảo trong tiểu thuyết Ngồi của Nguyễn Bình Phương

  • Số trang: 28 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 25 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

Bài tập chuyên đề Ngữ văn Phạm Thị Minh Nguyệt - K54A PHẦN MỞ ĐẦU 1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Văn học Việt Nam sau năm 1975 chuyển mình mạnh mẽ trong nhu cầu đổi mới trong tất cả các lĩnh vực từ sang tác cho tới lý luận, phê bình, tiếp nhận.Trong lĩnh vực sang tác, đạt được nhiều thành tựu hơn cả, thu hút được sự chú ý của giới phê bình cũng như ở bạn đọc là ở thể loại tiểu thuyết. Các chuyện ngắn, tiểu thuyết liên tục ra đời qua các năm với các gương mặt tiêu biểu như Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Hồ Anh Thái, Bảo Ninh, Phạm Thị Hoài, Nguyễn Bình Phương, v.v… Với Nguyễn Bình Phương, tài năng và phong cách của nhà văn trẻ này đã được khẳng định, định hình qua bốn tiểu thuyết đã xuất bản: Người đi vắng (1999), Trí nhớ suy tàn (2000), Những đứa trẻ chết già (2002), Thoạt kỳ thuỷ (2004). Năm 2006 nhà văn tiếp tục cho ra đời cuốn tiểu thuyết Ngồi và vẫn tạo ra sự xôn xao trong dư luận với nhiều ý kiến trái chiều nhau. Nghiên cứu “Ngồi” của Nguyễn Bình Phương, chúng tôi tiếp tục đi sâu tìm hiểu quá trình vận động đổi mới của văn học Việt Nam những năm gần đây. Cũng giống như bốn cuốn tiểu thuyết đã xuất bản, trong tiểu thuyết Ngồi, Nguyễn Bình Phương đã sử dụng nhiều yếu tố kỳ ảo. Vì vậy với việc triển khai đề tài “Yếu tố kỳ ảo trong tiểu thuyết Ngồi của Nguyễn Bình Phương”, chúng tôi chỉ rõ những tiếp nhận ảnh hưởng của nhà văn từ phương Tây trong việc đổi mới thể loại tiểu thuyết ở Việt Nam cũng như những tìm tòi thể nghiệm, sáng tạo riêng của nhà văn trong việc đổi mới thể loại và đổi mới chính mình. 2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ Yếu tố kỳ ảo xuất hiện trong văn xuôi Việt Nam sau năm 1975 cho thấy những cách tân, những đổi mới trong phương thức tư duy, nội dung thể hiện cũng như trong kỹ thuật viết truyện của các nhà văn. Vấn đề này đã thu hút sự chú ý và tâm sức của các nhà nghiên cứu phê bình, và cũng được đề cập đến trong một số bài báo, chuyên luận, công trình khoa học. Bài tập chuyên đề Ngữ văn Phạm Thị Minh Nguyệt - K54A Nguyễn Bình Phương là một trong các tác giả trẻ sau 1975 có nhiều tìm tòi đổi mới. Những đánh giá về tiểu thuyết của nhà văn này phần lớn đều tập trung vào những đổi mới ở phương diện nội dung và đặc biệt ở kỹ thuật tiểu thuyết. Trong đó yếu tố kỳ ảo rất được nhà văn chú ý sử dụng và đạt được những hiệu quả nghệ thuật nhất định trong việc đổi mới tiểu thuyết. Theo sự đánh giá của các nhà nghiên cứu thì “huyền thoại hoá cuộc sống đời thường là một đặc điểm dễ nhận thấy nhất trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương”(Nguyễn Mạnh Hùng). "Những đứa trẻ chết già” là “cuốn tiểu thuyết mang đậm khuynh hướng hiện thực huyền ảo với sự tồn tại của hai cõi âm – dương, của những điềm báo, với diễn biến của nhiều thế hệ sống và chết giao nhau trên mảnh đất Thái Nguyên”(Thụy Khuê). Cũng theo sự đánh giá của Thụy Khuê hiện trong “Người đi vắng” là “một hiện thực linh ảo âm dương…”. Tác phẩm “Thoạt kỳ thuỷ” ngay từ khi mới ra đời đã gây nên bao sự xôn xao trong giới phê bình cũng như báo chí. Các tác giả đều chú ý yếu tố kỳ ảo trong tác phẩm này ở các bài viết: Cấp độ hiện thực và sự hão huyền của ý thức trong Thoạt kỳ thuỷ (Nguyễn Chí Hoan); Sáng tạo văn học: giữa mơ và điên (Đoàn Cầm Thi);… Yếu tố kỳ ảo trong Ngồi phức tạp hơn trong các tiểu thuyết trước. Trong cuốn tiểu thuyết này, Nguyễn Bình Phương đã hợp quá khứ và hiện tại trong cùng một nhân vật ở cùng một thời điểm, có sự hoà trộn giữa thời kỳ đầu của đất nước đầy những điều huyền bí và phật giáo – tín ngưỡng của dân tộc vốn mang màu sắc tâm linh, hư ảo. Vì vậy với cuốn tiểu thuyết vừa mới ra đời của nhà văn giàu tiềm năng này, chúng tôi khai thác vấn đề “Yếu tố kỳ ảo trong tiểu thuyết Ngồi của Nguyễn Bình Phương” như một hướng tiếp cận tác phẩm từ đặc trưng phong cách nhà văn trong việc tìm tòi thể nghiệm những cách tân đổ mới từ phương diện thể loại. 3. PHẠM VI NGHIÊN CỨU Chúng tôi tiến hành khảo sát cứ liệu chính là tiểu thuyết Ngồi của Nguyễn Bình Phương (NXB Đà Nẵng, 2006). Đồng thời có liên hệ với một số tiểu thuyết khác của tác giả này: Người đi vắng (NXB Văn học, 1999), Trí nhớ suy tàn Bài tập chuyên đề Ngữ văn Phạm Thị Minh Nguyệt - K54A (NXB Thanh Niên, 2000), Những đứa trẻ chết già (NXB Hội nhà văn, 2002), Thoạt kỳ thuỷ (NXB Hội nhà văn, 2004). 4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU - Phương pháp thống kê, phân loại - Phương pháp so sánh - Phương pháp phân tích, bình giảng - Phương pháp tổng hợp 5. CẤU TRÚC BÀI TẬP CHUYÊN ĐỀ Ngoài phần mở đầu và kết luận, phần nội dung gồm hai chương: Chương I: Một số vấn đề về yếu tố kỳ ảo Chương II: Yếu tố kỳ ảo trong tiểu thuyết Ngồi của Nguyễn Bình Phương Bài tập chuyên đề Ngữ văn Phạm Thị Minh Nguyệt - K54A PHẦN NỘI DUNG Chương I MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ YẾU TỐ KỲ ẢO I. Khái niệm yếu tố kỳ ảo Trong Từ điển Tiếng Việt (Viện ngôn ngữ học, NXB Đà Nẵng, 2000), kỳ ảo được định nghĩa là “kỳ lạ, tựa như không có thật mà chỉ có trong tưởng tượng”. Tiến sỹ Lê Nguyên Cẩn xem kỳ ảo vừa là phạm trù của tư duy nghệ thuật vừa là một phương thức thể hiện được sử dụng rộng rãi. Theo tác giả, kỳ ảo là “sản phẩm của trí tưởng tượng”, thường “hiện diện dưới hình thức thần linh quái dị, ma quỷ, khác lạ, phi thường siêu nhiên”. Trong cuốn Những vấn đề lý luận và lịch sử văn học (Viện văn học, 1999), khái niệm kỳ ảo được giải thích theo lịch sử thuật ngữ có ý nghĩa tương đương trong văn học phương Tây là fantastique. Ở thế kỷ XVI, thuật ngữ này có nghĩa là “sự mơ mộng hão huyền được nuôi dưỡng bằng những hoang tưởng”. Về sau nó được hiểu là một phương thức sáng tạo thích hợp với các loại ma hiện hồn, thần và quỷ. Sang thế kỷ XIX, fantastique có nghĩa là “một trò chơi của trí tưởng tượng với những bịa đặt vô bằng cứ và những motip siêu tự nhiên". Dần dần, sang thời hiện đại nội hàm của nó được mở rộng hơn nữa, không chỉ gồm những nhân vật xuất hiện từ thế giới bên kia, từ các lực lượng siêu hình thần bí mà còn là “tất cả những gì có ý nghĩa phản kháng lại kinh nghiệm và lý tính, những gì dẫn đến một trật tự khác thường, một kích thích khác thường”. Như vậy ở thời hiện đại, cái kỳ ảo có liên quan mật thiết với nỗi khó khăn của hiện hữu, sự kinh hoàng, nỗi lo sợ trước những gì không thể nhận biết. Như vậy khái niệm kỳ ảo có thể hiểu là sản phẩm của trí tưởng tượng sáng tạo của người nghệ sỹ, xuất phát từ hiện thực và phản ánh hiện thực được thể hiện bằng những yếu tố phi thực, mang màu sắc huyền bí, hoang đường. Kỳ ảo vừa là một kiểu tư duy vừa là một thủ pháp nghệ thuật, được các nhà văn sử dụng trong quá trình phản ánh hiện thực, chiếm lĩnh đời sống thể hiện quan Bài tập chuyên đề Ngữ văn Phạm Thị Minh Nguyệt - K54A niệm về con người và cuộc đời, trong quá trình phản ánh ước mơ, khát vọng và cả nỗi sợ hãi, bất bình,…của con người trước cái phức tạp và bí ẩn của đời sống. Yếu tố kỳ ảo giữ một vai trò rất quan trọng trong nghệ thuật viết truyện của chủ nghĩa hiện thực huyền ảo - một phương pháp sáng tác mới xuất hiện từ đầu thế kỷ XX nhằm tái hiện một hiện thực đậm chất huyền ảo được tạo nên từ sự hợp nhất các đối cực: quá khứ tiền thuộc địa với thực tại hậu công nghiệp, cõi sống với cõi chết. Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo là một kỹ thuật viết nhằm sáng tạo, phát minh ra cái huyền ảo để đối lập lại với thế giới kỹ trị thông thường. Yếu tố kỳ ảo được sử dụng để khám phá thực tại ở bề sâu, trong tính khái quát rộng lớn. Nó thể hiện khát vọng khám phá những bí ẩn của thế giới – nơi mà nhận thức lý tính, với những giới hạn của nó, không thể đạt tới. Trong văn học thế giới cũng như trong văn học Việt Nam, yếu tố kỳ ảo xuất hiện từ rất sớm, trong thần thoại, cổ tích, truyền thuyết,… Trong thời kỳ đầu của văn học, yếu tố kỳ ảo phản ánh tư duy ấu trĩ của con người trong bước đầu nhận thức và giải thích thế giới, thể hiện ước mơ, khát vọng, niềm tin, lý tưởng thẩm mỹ.. của nhân dân lao động. Trong văn học hiện đại với chủ nghĩa hiện thực huyền ảo, yếu tố huyền ảo là sản phẩm của ý thức sang tạo tự giác, hướng đến phục vị những mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể được sang tạo theo những cách thức, dạng thức khác nhau tuỳ theo sở trường của nhà văn. Các nhà văn nâng sự vật hình tượng lên tầm biểu tượng bằng cách xếp đặt một cách bình thường các yếu tố siêu nhiên bên cạnh yếu tố thực của cuộc sống. Đây thực sự là một trong những biểu hiện của quan niệm đổi mới tư duy nhằm mở rộng khả năng và phạm vi chiếm lĩnh đời sống, đa dạng hoá các hình thức thể hiện của văn học. II. Vai trò của yếu tố kỳ ảo trong việc đổi mới về tư tưởng và nghệ thuật của văn học sau 1975 Văn học sau 1975 trên tinh thần dân chủ hóa đã có sự đổi mới quan niệm về hiện thực, đổi mới quan niệm về con người và đổi mới quan niệm về văn xuôi. Văn học giai đoạn 1945 – 1975 do những quy định của hoàn cảnh lịch sử lấy hiện thực làm mục đích cuối cùng của sự phản ánh nghệ thuật. Văn học sau Bài tập chuyên đề Ngữ văn Phạm Thị Minh Nguyệt - K54A 1975 lấy hiện thực làm phương tiện của nghệ thuật để nhà văn trình bày tư tưởng, cách nhìn, chiêm nghiệm của riêng mình. Hiện thực trong văn học không còn chỉ đơn thuần là hiện thực “kiểm chứng được” bằng sự nhận thức trực quan mà còn là hiện thực của tâm linh, của ảo giác, hiện thực được tạo ra bằng trí tưởng tượng của người viết. Cái kỳ ảo, nghịch dị xuất hiện khá đậm đặc ở văn xuôi nhưng không phải tách riêng ra ngoài hiện thực như trong văn học dân gian, văn học trung đại mà nóp là một phần của hiện thực, hiện thực trong sự suy ngẫm, chiêm nghiệm, trong tính đối thoại của văn chương với bạn đọc. Con người trong văn học sau 1975 không còn là con người đơn giản, một chiều mà được thể hiện trong sự đa dạng, phức tạp, nhiều bí ẩn, được soi chiếu từ nhiều điểm nhìn. Các nhà văn đã hướng ngòi bút của mình khai thác đời sống tâm linh đầy bí ẩn và phức tạp của con người. Yếu tố kỳ ảo đã góp phần đắc lực trong việc thể hiện chiều sâu nhận thức, chiều sâu của đời sống tâm linh trong con người. Sự xuất hiện yếu tố kỳ ảo trong văn xuôi sau1975 thể hiện một kiểu tư duy, một phương thức trần thuật mới, góp phần đổi mới kỹ thuật trần thuật của văn học. Yếu tố kỳ ảo được tiếp nhận ảnh hưởng từ phương Tây, là một yếu tố mới trong quan niệm về văn xuôi đã phát huy hiệu quả nghệ thuật trong văn học sau 1975. Bài tập chuyên đề Ngữ văn Phạm Thị Minh Nguyệt - K54A Chương II YẾU TỐ KỲ ẢO TRONG TIỂU THUYẾT NGỒI CỦA NGUYỄN BÌNH PHƯƠNG I. Phân loại yếu tố kỳ ảo 1. Không gian - thời gian phi xác thực 1.1. Không gian Từ điển thuật ngữ văn học đã định nghĩa không gian nghệ thuật là “hình thức bên trong của hình tượng nghệ thuật thể hiện tính chỉnh thể của nó. Sự miêu tả, trần thuật trong nghệ thuật bao giờ cũng xuất phát từ một điểm nhìn, diễn ra trong trường nhìn nhất định, qua đó thế giới nghệ thuật cụ thể, cảm tính bộc lộ toàn bộ quảng tính của nó: cái này bên cạnh cái kia, liên tục cách quãng, tiếp nối, cao thấp, xa gần, rộng, dài tạo thành viễn cảnh nghệ thuật”. Văn học giai đoạn 1945 – 1975 với nguyên lý “văn học phản ánh hiện thực”, văn học gắn bó với đời sống xã hội, theo sát từng biến cố lịch sử, từng bước phát triển của phong trào cách mạng. Vì vậy mà không gian nghệ thuật trong các tác phẩm văn học bao giờ cũng là một không gian cụ thể, xác định. Ở nhiều tác phẩm không gian nghệ thuật mang tính sử thi rộng lớn gắn với bức tranh hiện thực đời sống của cả cộng đồng, dân tộc. Không gian nghệ thuật sau 1975 tồn tại ở hai dạng: không gian sinh hoạt đời thường vụn vặt, bị xé nhỏ và không gian ảo, phi xác thực, không gian mang tính mơ hồ, không xác định, có sự hòa trộn thực và ảo. Chương một xác định cho người đọc một không gian xa xưa của nước Việt Nam: Giao Chỉ với hình ảnh “cột đồng”, với những người đàn bà “lưng cong, tay vượn, tóc xổ tung với đôi chân ngắn mở rộng và núm vú như hai hòn than hồng rực đặt ngay ngắn trên đỉnh bộ ngực trần màu nâu nhạt”, với con trâu “phát ra những âm thanh ọ ẹ khó hiểu…”, một dòng sông cuồn cuộn chảy “những khuôn mặt mờ ảo nhưng hung hãn đang lao di, dừng lại, lao đi tuân theo mệnh lệnh đều đặn khô cứng phát ra từ hình chiếu lộn ngược của cây cột đồng…”. Một không gian ảo, hư hư Bài tập chuyên đề Ngữ văn Phạm Thị Minh Nguyệt - K54A thực thực mang âm hưởng cổ xưa. Kết thúc chương một là một không gian hỗn loạn, quay cuồng: Và thế trận của gió…… Gió….. gió gió gió….. gió Tan tác bởi …… ánh dương Xa………. a a a……….. lạ... Từ không gian xa xưa của vùng đất Giao Chỉ với sự vật, con người kỳ lạ, huyền bí, kết thúc chương một là một không gian hỗn loạn tan tác của gió, của ánh dương. Và nhân vật chính của thiên truyện – nhân vật Khẩn đã thành hình trong hỗn loạn của không gian ấy, quay cuồng trong gió, trong ánh dương xa lạ. Không gian ở chương một là không gian ảo, không gian của một giấc mơ. Điều đó được chính nhân vật nhận thấy, đến chương 5, nhân vật chính của truyện khẳng định: "Khẩn ngượng ngùng ngoái nhìn cái cột đèn tín hiệu mình vừa mới vượt qua thốt nhiên nhớ tới giấc mơ ở hồ Núi Cốc. Trong giấc mơ ấy Khẩn đã ngồi ngay dưới chân một cây cột khổng lồ hao hao cây cột đèn tín hiệu quỷ quái này”. Không gian ảo – không gian thời xa xưa – không gian của giấc mơ ở chương một mang màu sắc phật giáo, thể hiện ở sự sinh ra dường như từ hư vô của nhân vật chính, ở tư thế ngồi thiền. Không gian hư hư ảo ảo mang màu sắc Phật giáo bao trùm toàn bộ tiểu thuyết. Kết thúc mỗi chương truyện là những tiếng gõ mõ tụng kinh đều đều: cốc cốc cốc… dai dẳng không dứt tạo ra một không gian ma quái, kỳ ảo. Từ chương hai cho đến chương cuối cùng của truyện, không gian có nhòe lẫn giữa thực và ảo, dường như không có sự phân định rạch ròi. Ngay cả tiếng gõ mõ của phật giáo kết thúc mỗi chương truyện cũng mang tính hư hư thực thực. Người ta nghe thấy âm thanh: cốc cốc cốc… vang lên đều đặn mỗi ngày nhưng lại không thể xác định được nó phát ra từ đâu, từ trong căn nhà nào. Bài tập chuyên đề Ngữ văn Phạm Thị Minh Nguyệt - K54A Không gian sống của tất cả các nhân vật trong truyện hư hư thực thực, có sự hòa trộn của không gian thực của cuộc sống sinh hoạt, làm việc và không gian ảo của những giấc mơ. Không gian thực – không gian của sự hỗn loạn, hỗn tạp, xô bồ, hỗn độn. Một không gian mà ở đó người ta đến cơ quan không phải để làm việc mà để đấu đá, tranh giành, để làm tình, để rủ nhau đi chơi gái… Một không gian sống tụ họp đủ mọi loại người với đủ mọi loại âm thanh, tiếng cãi vã, tiếng chửi nhau, tiếng trẻ con khóc hòa lẫn với tiếng gõ mõ tụng kinh. Trong không gian ấy lúc nào con người ta cũng căng lên vì sự chen lấn, ganh đua, xô bồ và nhân vật chinh - Khẩn dường như lúc nào cũng rơi vào trạng thái mệt mỏi, đau đầu mặc dù anh ta cũng không phải làm việc gì nhiều. Không gian ảo – không gian của những điều mơ hồ, huyền hoặc, không gian của những giấc mơ, của đền miếu, của thế trận Huyền đồ,… Không gian ảo, không gian của những giấc mơ, của thế giới tâm linh của con người là sự phản ánh lại của không gian thực nhưng đã qua sự nhào nặn trong suy nghĩ, với những mơ ước của con người. Không gian ảo có cả sự huyền bí, rung rợn, mơ hồ, không lý giải được, có cả sự trong trẻo, thánh thiện, vượt lên trên tất cả khắc nhiệt của khôn gian thực, đó là không gian của mối tình giữa Khẩn và Kim, của chiếc cồng vồng bảy sắc, của bông hoa gạo đỏ thắm. 1.2. Thời gian Nhận thức về thời gian chính là quá trình tự nhận thức về sự tồn tại của con người. Những phát hiện về thời gian giúp chúng ta nhận thức sâu hơn về cuộc sống của mình. Theo GS Trần Đình Sử: “là hình thức tồn tại của hình tượng nghệ thuật, thể hiện tính chỉnh thể của nó”, “khác với thời gian khách quan được đo bằng đồng hồ và lịch, thời gian nghệ thuật có thể đảo ngược, quy về quá khứ, có thể bay ngược đến tương lai xa xôi, có thể dồn nén một khoảng thời gian dài trong chốc lát, lại có thể kéo dài cái chốc lát ra vô tận”(Trần Đình Sử - Dẫn luận thi pháp học, NXB Giáo dục 1998). Dòng văn học mang tính chất huyền thoại, kỳ ảo thì thời gian có tính chất phản hồi, xoay ngược dòng vận Bài tập chuyên đề Ngữ văn Phạm Thị Minh Nguyệt - K54A chuyển “các bình diện quá khứ, tương lai thực ra chỉ là sự kéo dài của hiện tại về phía trước hoặc phía sau” (Etiemblơ) Thời gian trong truyện là thời gian phi xác thực, có sự đồng hiện giữa quá khứ và hiện tại, có sự giãn nở của thời gian xa xưa của vùng đất Giao Chỉ với thời gian của cuộc sống hiện đại. Chương một giới thiệu Khẩn sinh ra, thành hình trên vùng đất Giao Chỉ xa xưa. Các chương còn lại thể hiện Khẩn trong cuộc sống phức tạp với tất cả những hành động, suy nghĩ. Trong sự cảm nhận của Khẩn “thời gian là cái gì đó lờ mờ, buồn bã, chẳng tàn lụi nhưng chẳng hứa hẹn sang sủa hơn”. Đối với các nhân vật trong truyện thời gian là một cái gì đó khó xác định, người ta chỉ có cảm giác về no trong “quãng”, “khoảng”,… Không nhận thức được về thời gian, các nhân vật trong truyện nhiều khi mất luôn cảm giác về sự tồn tại của bản than mình trong cuộc sống. Thời gian trong Ngồi là thời gian phi xác thực, thời gian ảo có sự thống nhất giưa quá khứ xa xưa và hiện tại trong cùng một con người. 2. Nhân vật kỳ ảo Nhân vật trong tiểu thuyết truyền thống là nhân vật được thể hiện đầy đủ các mặt số phận, ngoại hình, tính cách và tiêu biểu cho một lớp người nào đó trong xã hội. Quá trình phát triển tính cách, diễn biến tâm lý của nhân vật là một nội dung quan trọng của cốt truyện. Thế giới nhân vật trong Ngồi của Nguyễn Bình Phương đa dạng, phong phú. Có nhân vật được khắc họa bằng bút pháp tả thực sắc sảo, có nhân vật được thể hiện bằng bút pháp huyền thoại, kỳ ảo hóa, có nhân vật chỉ được lướt qua một vài chi tiết, có nhân vật là con người cụ thể trong cuộc đời thực, có nhân vật vô hình không xác định,… Dù thật, dù ảo, các nhân vật trong Ngồi được miêu tả sinh động trong thời điểm hiện tại và đều bị cuốn trong sự quay cuồng, thác loạn của cuộc sống hiện đại, không thể đoán định trước được số phận của mình. Qua quá trình khảo sát, nghiên cứu thế giới nhân vật chúng tôi thấy nhân vật kỳ ảo trong ngồi tồn tại dưới dạng thức nhân vật dị thường, nhân vật hồn ma, thần thánh, có khả năng thần kỳ và nhân vật ẩn – vô hình. Bài tập chuyên đề Ngữ văn Phạm Thị Minh Nguyệt - K54A 2.1. Nhân vật dị thường Nhân vật chính của tác phẩm là một nhân vật dị thường, không rõ nguồn gốc ra đời, có đời sống tâm lý không bình thường. Ngoài ra tác phẩm còn thể hiện một số nhân vật dị thường khác như Hoàng Lân, cô bé bán nước cụt cả hai chân là nhân vật dị dạng về ngoại hình, nhân vật gã tâm thần, nhân vật gã luân điên. Về Khẩn – nhân vật chính của tác phẩm, nguồn gốc, sự ra đời của Khẩn không bình thường. Khẩn không được sinh ra mà được thành hình từ dấu (…) và từ trong không gian xa xưa của vùng đất Giao Chỉ, những chữ cái đầu tiên của cái tên Khẩn được hình thành …n, …ẩn, …hẩn và cuối cùng một Khẩn được hình thành và bị ném vào cuộc sống hiện đại với những thác loạn quay cuồng. Khẩn sinh ra trong một trạng thái không bình thường, trong tư thế “ngồi”, dáng ngồi thiền. Đời sống tinh thần của Khẩn không bình thường, Khẩn sống giữa hai trạng thái thực - ảo, có sự hòa trộn giữa cuộc sống thực và những giấc mơ. Trong cuộc đời thực, Khẩn sống, làm việc, làm tình theo guồng máy hoảng loạn của xã hội. Những giấc mơ đặc biệt là những giấc mơ có Kim đối với Khẩn giống như một món ăn tinh thần không thê thiếu. Tìm đến với Kim trong những giấc mơ, Khẩn như để tìm một điểm tựa tinh thần giữa cuộc sống hỗn loạn này. Trong giấc mơ của Khẩn, Kim hiện về với cành bạch đàn, với viên bi ve ngũ sắc, trong sự trong sáng, thanh thoát của người con gái. Mối tình của Kim và Khẩn được viết lên trong cơn mưa, càng được gắn bó khăng khít hơn qua những buổi đi chơi trò chuyện giữa hai người với cầu vồng bảy sắc lung linh, với những bông hoa gạo đỏ thắm, với viên bi ve ngũ sắc,… Dường như Kim xuất hiện, có mặt ngay bên cạnh khẩn ngay tức khắc, bất cứ lúc nào khẩn cần để chia sẻ giải tỏa những cơn đau đầu đang hành hạ khẩn. “Trong ngôn ngữ thầm lặng mê man của Kim thấp thoáng một vùng đất bằng bặn trải dài, mờ nhạt hai đầu bởi khói sương và không hiểu bằng cách nào mình nhận ra đó sẽ là nơi mình phải quay lại trong những ngày trở trời nếu muốn thoát khỏi sự hành hạ của căn bệnh đau đầu quái ác. Toàn thân Kim hiển hiện rõ ràng trong khi mình không thể định vị được chính bản than mình cho nên những gì Kim nói đều Bài tập chuyên đề Ngữ văn Phạm Thị Minh Nguyệt - K54A được lưu vào góc tối dịu dàng của một bụi cây vô hình, đó chính là trí nhớ của mình”. Cuối truyện Kim và Khẩn chia tay nhau, Khẩn cảm thấy “không khí thoát hết ra khỏi lồng ngực và những con cá đang ngáp một cách tuyệt vọng trong phổi mình, chẳng lẽ tất cả những gì đã qua là phù phiếm hay sao?...” Không có Kim, Khẩn cảm thấy mọi thứ đều phù phiếm vô nghĩa trong cõi đời này. Kim đi rồi, Khẩn trở về trạng thái ngồi lúc sinh ra, một dáng ngồi xổm để cẩm thấy bớt mệt mỏi, dễ chịu hơn… Những giấc mơ của khẩn về sự biến mất của Minh, về sự hiện về của bà Nhung, về ông già với thế trận Huyền đồ… tất cả hỗn loạn, nhòe lẫn cho thấy sự bất an trong tinh thần của Khẩn. Ở cơ quan làm việc có thể thấy Khẩn là một nhà quản lý tỉnh táo, sắc sảo, quyết đoán, rất thực tế nhưng trong những giấc mơ, Khẩn thụ động, lo lắng, sợ hãi, bất an. Trong cuộc sống thực, Khẩn luông rơi vào tình trạng căng thẳng để giải quyết mâu thuẫn đấu đá nhau giữa những nhân viên cấp dưới và giữa cấp trên của mình. Nhưng con người tỉnh táo, thực tế ấy lại luôn sống trong trạng thái mơ, những giấc mơ đi vào cuộc sống đời thực, là một phần cuộc sống đời thực, chứng kiến những sự vật, sự việc kỳ lạ như một lẽ hiển nhiên, một điều bình thường. Mâu thuẫn ấy phản ánh trạng thái bất an của con người trong cuộc sống của con người. Những nhân vật Hoàng Lân, cô bé bán nước cụt chân ám ảnh Khẩn cũng như người đọc về sự dị dạng, méo mó trong ngoại hình, sự khiếm khuyết của cơ thể. Hai nhân vật này chỉ được khắc họa bằng một vài chi tiết nhưng có sức ám ảnh, ray rứt mãi không thôi: “Khẩn sợ sự khiếm khuyết của cơ thể, rất sợ. Mỗi lần gặp Hoàng Lân, long Khẩn vẫn nhói lên cảm giác nhờn nhợn. Thà chết toàn than còn hơn là sống với sự thiếu hụt bộ phận nào đó. Khẩn cho rằng con người ta tiến gần với động vật chỉ ở trong hai trường hợp, quá béo và mất nhiều bộ phận thân thể…” Nhìn con bé bán nước “di chuyển trên hai cánh tay vạm vỡ quá mức của nó, Khẩn lại thấy buồn nôn” và chính con bé ấy cũng không chịu nỗi chính mình và nó đã tự tử lần hai. Với Hoàng Lân chiến tranh đã cướp mất Bài tập chuyên đề Ngữ văn Phạm Thị Minh Nguyệt - K54A đi một phần thân thể, đã đẩy con người vào cuộc sống không bình thường với thân hình dị dạng, méo mó, khiếm khuyết. Bước ra khỏi cuộc chiến tranh với thân hình ấy, Hoàng Lân chỉ có thể ngồi, ngồi mãi mãi trên chiếc xe lăn, không bao giờ ra khỏi căn phòng vẽ của mình, sống để vẽ những bức vẽ khó hiểu và chứng kiến sự ngoại tình của vợ một cách bất lực, thụ động. Còn cô bé bán nước, một nhân vật không có tên, người đọc cũng không được biết cuộc sống của cô bé như thế nào. Tác giả chỉ khắc họa cô bé qua một vài chi tiết một vài sự kiện. Lần tự tử thứ nhất, cô bé không chết. Cuộc sống phức tạp, hỗn loạn đã đẩy con người tới hành động tự kết thúc cuộc đời mình rồi lại cứu sống nó, bắt nó sống một cuộc sống dị dạng, thiếu hụt mất một phần cơ thể, đẩy nó vào bi kịch dở dang của một kiếp người mà như Khẩn nghĩ thì nó gần với động vật. Và cuối cùng không thể chịu nổi cuộc sống ấy, cô bế đã phải tự tử lần hai, kết thúc một kiếp sống không ra sống. Nhân vật cô bé bán nước thể hiện một cuộc sống vô nghĩa, dồn ép, bóp nghẹt con người trong sự sống của chính mình, liên tục đẩy con người tới bước đường phải tự tìm đến cái chết để giải thoát cho chính mình. Một nhân vật dị thường được thể hiện sinh động chỉ qua một vài chi tiết là lão Luân điên. Lão ta điên thật hay điên giả không ai có thể khẳng định được. Lão bị quy là gián điệp rồi hóa điên… phải chăng chính cuộc sống hỗn loạn, xô bồ làm biến dạng tinh thần con người. Nhưng cũng có thể lão giả vờ điên để che đậy những hành động bất bình thường mang tính thác loạn, cuồng loạn của lão. Cuộc sống phức tạp, con người bí ẩn trong vòng thác loạn. Ở đó con người ta bị biến dạng, méo mó cả về thân hình lẫn tinh thần. Nhân vật gã tâm thần được Nguyễn Bình Phương miêu tả rất sinh động từ ngoại hình, hành vi đến đời sống nội tâm. Nhân vật này được tác giả dành cho cả một chương truyện với những miêu tả sắc nét về ngoại hình cũng như hành động. Đứng riêng ra trong một chương truyện gã tâm thần hoàn toàn cô đơn, lạc long trong thế giới xô bồ này. Gã xuất hiện trần trụi trong cuộc đời này không một mảnh vải che thân, cô đơn và hoàn toàn xa lạ với mọi người. Hình ảnh gã tâm thần được miêu ta ở hai thời điểm trước và trong cơn mưa. Trước cơn mưa, Bài tập chuyên đề Ngữ văn Phạm Thị Minh Nguyệt - K54A thân hình gã cáu bẩn, một thân thể trần chuồng, nhem nhuốc. Hành động của gã chỉ là đứng, nhìn và nói những lời rất khó hiểu. Dường như gã đã bị gạt ra bên lề cuộc sống: “Khẩn thấy gã tâm thần có một vẻ bí ẩn, ma quái không thẻ lý giải nổi, mỗi cử chỉ của gã vừa vô nghĩa vừa hàm chứa một cái gì đó vượt ra tất cả mọi suy nghĩ…Gã tâm thần nhìn ra đường nhưng chẳng nhằm vào ai, dường như gã nhìn vào một thế giới khác ẩn sau thế giới hiện diện này…Có ai đó đang đứng trước mặt gã ở một quãng xa và lắng nghe gã bày tỏ.” Trước cơn mưa gã tâm thần là biểu hiện của cuộc sống xô bồ, bụi bặm, nhem nhuốc. Trong cơn mưa dường như gã đã thoát ra khỏi cõi thực này mà thuộc về một thế giới khác, thế giới của mưa, của nắng, của những gì trong sáng thánh thiện: “Ánh nắng vàng rực loé trên thân thể gã tâm thần ngỡ như gã là một pho tượng dát vàng… Môi gã tâm thần hé ra nửa như cười nửa như hớp nước mưa.” Hình ảnh hư hư thực thực nhoè lẫn trong cơn mưa ấy đã khiến Khẩn bất giác đưa tay phía trước “kiểm tra xem đấy là hư ảnh hay là hiện thực”. Hành động cúi xuống nhặt quả cam xanh lên và “kẹp nó giữa ngón cái và ngón trỏ giơ ra phía trước ngoẹo cổ nhìn như chiêm ngưỡng một viên ngọc khổng lồ” đã khiến Khẩn nhớ tới Kim với viên bi ve ngũ sắc. Kim cũng là một con người không phải thuộc về thế giới này, thế giới của sự hỗn loạn, xô bồ, bất an. 2.2. Nhân vật - hồn ma, thần thánh Ở nhân vật dị thường, bên cạnh những yếu tố kỳ ảo khác thường, các nhân vật đều được khắc họa ở một vài chi tiết thực của đời sống. Nghĩa là họ vẫn tồn tại trong thế giới thực và bị dòng đời cuồn cuộn khắc nghiệt cuốn đi trong vòng xoáy bất tận của nó. Ngay cả ở nhân vật gã tâm thần trong cơn mưa đã hoàn toàn không thuộc cõi thực này nữa thì kết thúc chương, tác giả viết: “Khi nào gã tâm thần này ngồi hẳn xuống thì có lẽ mưa mới tạnh.” Mưa tạnh, gã tâm thần lại trở về với đời thực, nhem nhuốc, bẩn thỉu và xa lạ với chính nó. Con nhân vật hồn ma, thần thánh hoàn toàn không có thực, không tồn tại trong cõi đời này. Những nhân vật này chỉ tồn tại trong tâm tưởng, trong ý nghĩ của các nhân vật khác và là cái bóng của cuộc đời. Bài tập chuyên đề Ngữ văn Phạm Thị Minh Nguyệt - K54A Kim là một nhân vật không xác định được rõ ràng. Kim là người yêu trong mộng của Khẩn, là do Khẩn tự tưởng tượng ra trong mỗi giấc mơ hay là người yêu đã chết của Khẩn, nay chỉ còn là một cái bóng ma hư ảo theo sát Khẩn trong bước đường đời. Kim thường hiện về trong những giấc mơ của Khẩn. Nhưng đồng thời Kim vẫn tồn tại rất rõ trong từng ý nghĩ của khẩn lúc thức, lúc tỉnh táo. Có thể thấy Kim hiện diện thường xuyên trong đời sống tâm linh của khẩn. Nhưng Kim là ai? Là quá khứ xa xôi, là bong ma hiện tại hay là ảo ảnh của hư vô, người đọc hoàn toàn không xác định được. Hay Kim là tất cả, là hình bóng của cuộc sống đa dạng, đầy bí ẩn và luôn tồn tại song hành cùng cuộc sống. Kim không tồn tại trong cuộc sống thực, Kim chỉ tồn tại trong đời sống tâm linh của Khẩn, trong giấc mơ, ý nghĩ của Khẩn. Với Khẩn, Kim cũng là một hình ảnh hư hư thực thực, mơ hồ không xác thực. Kim là hiện thân cho tình yêu trong sáng, thánh thiện, là điểm tựa tinh thần của Khẩn hay là một bong ma hiện về? Ngay trong ý nghĩ của Khẩn cũng không có sự phân định rạch ròi, sự xác định rõ rang. Một lần vào nghĩa địa, Khẩn dừng lại ở ngôi mộ thứ hai mươi mốt và “giật thót vì bức ảnh người con gái gắn trên bia mộ giống hệt như Kim.” Khẩn bàng hoàng hoang hoải khi nhìn bức ảnh trên bia mộ Kim “nét mặt xa lạ nghiêm khắc, ánh mắt bang hoàng nửa thực, nửa hư xoáy vào trí óc Khẩn” và chính Khẩn phải “run rẩy hỏi tại sao Kim bây giờ lại khác Kim ngày xưa, khác cả với Kim thường đến với Khẩn trong các vùng tối. Khẩn mở to mắt chờ đợi sự xuất hiện của cành bạch đàn nhưng nó không hiện ra, chỉ có một dải âm thanh mờ mờ tỏ tỏ lên bổng xuống trầm quấn quýt quanh khuôn mặt xa lạ trên đá của Kim. Tay Khẩn rờ rẫm trên đá. Kim bằng phẳng, trơn nhẵn, ở ngoài thời gian…” Tất cả những tri nhận của Khẩn về Kim đều rất mơ hồ, không rõ nét. Kim có thể không phải là bóng ma của con người thực mà là bóng ma của người yêu Khẩn từ trong tiềm thức xa xưa, lúc Khẩn thành hình trên vùng đất Giao Chỉ… Hình ảnh vị thần trong ngôi miếu mà người giữ miếu là người đàn bà bất hạnh xuất hiện là “một cái bóng to lớn lừng lững đi xuyên qua cửa ra ngoài và lập tức tay người yêu cũ của chị ta vừa chạy vừa rống lên hoảng loạn…” Rồi Bài tập chuyên đề Ngữ văn Phạm Thị Minh Nguyệt - K54A hình ảnh bóng ma của bà Nhung hiện về với Khẩn hai lần như để giễu cợt Khẩn. Nhân vật bóng ma trong tiểu thuyết thực chất cho thấy sự hoảng loạn trong tâm trí Khẩn, giống như sự ám ảnh về một câu hỏi lớn day dứt Khẩn? 2.3. Nhân vật bí ẩn – vô hình Cũng giống như nhân vật hồn ma, thần thánh, nhân vật bí ẩn – vô hình hoàn toàn không tồn tại trong cõi thực, chỉ tồn tại trong đời sống tâm linh, trong cảm giác của các nhân vật trong truyện. Tuy chỉ tồn tại trong tâm tưởng, suy nghĩ của người khác nhưng nhân vật hồn ma, thần thánh vẫn có một hình dáng, khuôn mặt, cử chỉ và hành động nghĩa là nhân vật hồn ma, thần thánh là cái bóng của hiện thực, phản ánh, soi chiếu hiện thực, thể hiện tâm trạng, mong muốn, suy nghĩ của con người. Còn nhân vật bí ẩn - vô hình không có một hình dung cụ thể nào. Các nhân vật trong truyện chỉ có cảm giác mơ hồ rằng có “một ai đó…”, “một con người vô hình nào đó…” đang ở quanh đây. Cảm giác về sự có mặt của một con người vô hình đó tạo cho các nhân vật cảm nhận về một không khí rờn rợn, ma quái, bí ẩn bao quanh. Nhân vật bí ẩn – vô hình ấy không xuất hiện trong một hình hài cụ thể nào, dù là trong tâm tưởng, suy nghĩ, trong giấc mơ của con người, cũng không có bất cứ một lời nói, hành động nào chứng tỏ sự có mặt trong đời sống thực cũng như đời sống tâm linh. Nhưng cảm nhận về sức mạnh to lớn, bí ẩn, đầy vẻ ma quái của nhân vật con người vô hình bí ẩn này rất rõ rang. Không hiện diện nhưng con người bí ẩn vô hình này có mặt ở mọi nơi mọi lúc, dõi con mắt vô hình đầy ma quái theo tất cả các nhân vật và có quyền lực vô biên sắp đặt mọi việc trong cuộc sống thực cũng như cuộc sống tâm linh của mỗi con người. Trước sức mạnh vô biên này, con người chấp nhận thụ động như một lẽ hiển nhiên với tâm trạng lo âu, sợ sệt. Nhân vật bí ẩn – vô hình hiện diện trong tác phẩm với đầy vẻ ma quái, biến ảo khôn lường. Khi là một con bươm trắng chết ba lần trước mắt Khẩn, khi là cây tùng năm trăm tuổi nói về thời kỳ xa xưa khi mới thành hình của mình trò chuyện với Khẩn, lúc là “một ai đó, vô danh, bí ẩn. Không thể biết rõ về người mang đến nhưng có thể hình dung ra bàn tay cầm mảnh vải ấy, no chẳng hề có Bài tập chuyên đề Ngữ văn Phạm Thị Minh Nguyệt - K54A bất cứ một mẩu chai nào, chẳng cả ám khói thuốc và không vết sẹo dù là nhỏ ở các ngón tay thô dầy. Người mang mảnh vải đến có thể có một cái tên rất đẹp”. Có thể là một kẻ bí ẩn mang đến cho Khẩn bức ảnh đen trắng kỳ lạ có chữ Niểu ở dưới. Kẻ vô hình đó đã đặt vào tay Thúy những chiếc cúc áo bí ẩn.. Tuy hiện diện dưới nhiều hình thức nhưng người ta vẫn có thể cảm nhận sự có mặt của kẻ vô hình tuy biến ảo khó xác định. Còn lại rất nhiều lần, sự có mặt của nhân vật bí ẩn vô hình đấy chỉ là trong cảm giác rất mơ hồ. Đó là khi Khẩn và Thúy nhìn con bướm trắng chết, Khẩn “cảm tưởng có ai đó đã trở về, đứng trong phòng này chen giữa mình với Thúy. Một ai đó thở rất nhẹ, gần như không thở, cái nhìn rất mờ, gần như không nhìn. Cả ngôi nhà xao động dập dềnh…” Bước từ trên chùa Yên Tử xuống núi, Khẩn cảm giác “mình đang bước trùng khít với bước chân người vô hình nào đó. Cùng cảm giác ấy, người Khẩn khác lạ, hơi buồn buồn, hơi ngu ngơ, hơi cu cũ…”. Gã tâm thần nói chuyện với kẻ vô hình bằng một ngôn ngữ rối rắm, khó hiểu. Trương đánh nhau, hò hét với một kẻ vô hình nào đó. Có thể thấy nhân vật bí ẩn-vô hình đi vào đời sống tâm linh của con người hiện đại bằng sức mạnh siêu nhiên, kỳ bí. Và dường như nhân vật bí ẩn vô hình đứng đằng sau mọi chuyện, sắp đặt mọi chuyện từ những cú điện thoại im lặng đáng sợ cho Thuý đến những chiếc cúc áo, tấm vải đẹp kì lạ, con bướm trắng,...Con người sợ nó, tiếp nhận nó và tuân theo nó một cách thụ động, không bao giờ trong họ có suy nghĩ phản kháng lại. Dường như đây là sự minh họa cho những khuôn mặt mờ ảo dưới dòng sông đang “lao đi tuân theo mệnh lệnh đều đặn khô cứng phát ra từ hình chiếu lộn ngược của cây cột đồn…” ở chương đầu của truyện. 3. Sự kiện kỳ ảo. Sự kiện kỳ ảo là những sự vật kỳ là, khác thường xảy ra một cách ngẫu nhiên, gây bất ngờ cho chính những người trong cuộc. Đó cũng thường là những biến cố quan trọng, những bước ngoặt có ý nghĩa quyết định đối với diễn biến của cốt truyện và số phận của nhân vật. Hệ thống sự kiện kỳ ảo trong “Ngồi” rất phong phú, đa dạng: Sự ra đời kỳ lạ, sự biến mất kỳ lạ, sự trừng phạt kỳ lạ, sự Bài tập chuyên đề Ngữ văn Phạm Thị Minh Nguyệt - K54A linh ứng của những giấc mơ, những lời bói toán, những sự kiện kỳ lạ xảy ra trong thiên nhiên. 3.1. Sự ra đời kỳ lạ. Mở đầu cuốn tiểu thuyết là một sự kiện kỳ lạ, đó là sự xuất hiện, thành hình của nhân vật Khẩn. Nhân vật chính xuất hiện đầu truyện không có tên, chỉ là dấu (...) không xác định với những hành động, những ý nghĩ kỳ lạ: “nhặt xác con chim chết, nhìn thấy hình bóng già nua của mình thấp thoáng trong đôi mắt chết ấy, nhặt hòn đá ném vào đỉnh cột đồng, ngó xuống sông thấy những khuôn mặt mờ ảo, nhưng hung hãn đang lao đi, dừng lại, lao đi tuân theo mệnh lệnh đều đặn khô cứng phát ra từ hình chiếu lộn ngược của cây cột đồng.” Từ trong không gian hỗn loạn mang màu sắc cổ xưa ấy của vùng đất Giao Chỉ với một thời gian phi xác thực, Khẩn thành hình trong một tư thế kỳ lạ, tư thế ngồi thiền. Rồi cái tên Khẩn bắt đầu hình thành từng chữ cái một theo từng tư thế ngồi của nhân vật. Từ tư thế kỳ lạ này, nhân vật nhập thân vào cuộc đời đầy sóng gió, bị cuốn vào, bị xô đẩy đến cuồng loạn và cuối cùng kết thúc truyện nhân vật lại trở về với tư thế ngồi ban đầu nhưng không phải là tư thế ngồi thiền nữa mà đã trở thành tư thế ngồi xổm. Đầu truyện là không gian kỳ ảo, hư hư thực thực không xác thực của vùng đất Giao Chỉ khi xưa, cuối truyện là không gian của cuộc sống hiện đại xô bồ, bon chen, hỗn tạp với đủ mọi khuôn mặt trong xã hội loài người. Trong cuộc sống đời thực đó, nhân vật cảm thấy dễ chịu trong tư thế ngồi xổm. Đây là một kết cấu vòng tròn nhưng vẫn có tính chất mở. Mở đầu và kết thúc truyện, nhân vật đều ở trạng thái ngồi. Mở đầu nhân vật thành hình với từng chữ cái rồi bị cuốn vào dòng chảy bất tận của cuộc đời trong tư thế ngồi, để rồi cuối cùng nó phải tự tìm cách thoát ra khỏi tư thế ấy, từng chữ cái mất dần đi và cái tên Khẩn được đặt trong sự đối lập với trạng thái ngồi cũng biến mất. Một cái gì sẽ hình thành ở phía trước, tác giả hoàn toàn không nói trước được nhưng vẫn thắp sáng một niềm tin. Với Khẩn trong cuộc đời này, tất cả dường như là vô nghĩa, là phù phiếm, là cuồng loạn, duy nhất còn lại nơi bấu víu cuối cùng của anh ta là tình yêu trong sáng với Kim. Vậy mà Bài tập chuyên đề Ngữ văn Phạm Thị Minh Nguyệt - K54A Kim đòi chia tay, Khẩn đã phải cay đắng hỏi “chẳng lẽ tất cả những gì đã qua là phù phiếm sao?”. Kim nhìn thẳng vào mặt Khẩn: “không em không nghĩ là phù phiếm. Dù sao thì chúng mình cũng đã đi cùng nhau...cuộc đời chẳng bao giờ phù phiếm, mọi thứ đều có ý nghĩa, cả những khoảng thời gian trống rỗng nhất cũng có ý nghĩa.” Niềm tin của Kim cũng là niềm tin của tác giả vào cuộc đời, vào tương lai phía trước. Cho dù tương lai ấy là như thế nào cũng chưa đoán biết được hết. Kết cấu vòng tròn trong Ngồi không thể hiện bế tắc, lẩn quẩn. Kết cấu vòng tròn với sự đối lập của hai trạng thái xuất hiện - biến mất, thu vào – thoát ra đã cho thấy một dự cảm về sự thay đổi. Tất nhiên thay đổi ấy như thế nào và theo chiều hướng nào thì nhà văn không đoán định trước. 3.2. Sự biến mất kỳ lạ. Sự biến mất kỳ lạ được biểu hiện trong truyện là sự biến mất kỳ lạ của Quân, sự biến mất của Minh trong giấc mơ của Khẩn, của Xuân và môtíp mất dần từng chữ cái trong tên người: nhân vật Quân không hiện diện, được mô tả trực tiếp trong tác phẩm. Điều khẳng định sự tồn tại của Quân trong cuộc đời thực này là chuyện Quân mất tích và chuyện những người thân tìm Quân, mơ thấy Quân. Xung quanh chuyện Quân biết mất, xảy ra rất nhiều chuyện kỳ lạ. Kỳ lạ hơn nữa là những người trong cuộc sống này cho rằng sự biến mất đấy là điều bình thường. Từ khi Quân biết mất, Thúy liên tục nhận được những cuộc điện thoại kỳ lạ, khi Thúy bấm máy thì bên kia im lặng. Sau cuộc làm tình lần thứ hai với Nghĩa trên xe đạp nước ở Hồ Tây, Thúy nhận những cuộc điện thoại nghe “chỉ có tiếng ì oạp diệu vợi...tiếng ì oạp như bước chân lội trong nước dội vào tai.” những cuộc điện thoại kỳ lạ của kẻ bí ẩn – vô hình, khiến Thúy lo sợ cảm thấy rờn rợn trong bầu không khí ma quái. Rồi cuộc bói chén với dòng chữ “canthuy” mơ hồ, không rõ nghĩa, lời phán khi vào xem bói bà Vỹ, giấc mơ của mẹ Quân thấy con mình giữa vùng nước lạnh lẽo, giấc mơ của Thúy ở Hồ Tây về một cái gò cao có một người “ngồi cô đơn...vừa lạ vừa quen, lạ ở vẻ cô đơn, quen ở vết sẹo chạy chéo trên má...”, Thúy ngờ ngợ lên tiếng “anh có phải không?”. Tất cả những sự kiện ấy có sự trùng khớp đến kì lạ liên quan đến sự Bài tập chuyên đề Ngữ văn Phạm Thị Minh Nguyệt - K54A mất tích của Quân, cùng ám chỉ về một vùng nước lạnh lẽo nào đó. Tất cả cho thấy sự xếp đặt của bàn tay của kẻ vô hình bí ẩn mang sức mạnh huyền bí. Môtíp mất dần từng chữ cái trong tên người lặp đi lặp lại trong tác phẩm thể hiện sự vô nghĩa, nhỏ bé, hữu hạn của con người trong cuộc sống. Quân biến mất vì ai, do đâu và như thế nào, không ai biết đến. Khẩn, Minh, Thúy, Trương rồi cả Kim một nhân vật không có thực, những cái tên ấy lần lượt bị xóa nhòa đi trong tác phẩm. Minh biến mất trong giấc mơ của Khẩn, Trương biến mất trước mắt Khẩn. Đến như Kim - một hình bóng không có thực tồn tại trong tâm tưởng Khẩn cũng bị xóa đi lần lượt từng chữ cái trong tên Kim. Con người thật nhỏ bé, có thể dễ dàng bị biến mất đi không một dấu vết. Sự biến mất của con người trong cuộc sống hỗn loạn này cũng dễ dàng khi dùng phím Delete để xóa từng ký tự của một cái tên trên màn hình máy tính, một việc mà Khẩn đã từng làm trong vô thức để xóa tên mình. Hành động xóa chính cái tên của mình trên máy tính trong vô thức đấy của Khẩn cho thấy những dự cảm của số phận mình trong tương lai của Khẩn và sự nhận thức sâu sắc của nhân vật cũng là của nhà văn trước sự nhỏ bé, vô nghĩa của con người trong cuộc sống hiện đại này. 3.3. Sự linh ứng của những giấc mơ. Sự linh ứng của những giấc mơ đã bao phủ lên câu chuyện một màu sắc huyền ảo, mơ hồ. Giấc mơ của Khẩn về sự biến mất của Minh khi mặc cái áo thật đẹp, đẹp, một vẻ đẹp ma quái, rùng rợn. Ngay sau đó lần lượt xuất hiện một mảnh vải kỳ lạ, những chiếc cúc áo không có trong cuộc sống thường ngày. Giấc mơ của Xuân về việc may áo cho Minh ứng nghiệm ngay lập tức. Giữa các sự kiện có một mối liên hệ, có một bàn tay của kẻ vô hình sắp đặt trước và con người thụ động tuân theo sự sắp đặt đấy. Tuy vẫn cảm nhận được không khí rờn rợn, ma quái bao quanh vẫn cảm thấy sợ hãi, lo lắng nhưng con người vẫn tuân theo một cách vô thức. Minh cầm mảnh vải đẹp đầy vẻ ma quái ấy lên, thoáng có ý định vất nó đi nhưng cô vẫn giữ nó lại, may nó và mặc nó vào người mặc dù biết trước là sẽ có điều gì bất ổn xảy ra. Tự nhiên có những chiếc cúc áo trong lòng bàn tay mình một cách khó hiểu nhưng Thúy vẫn giữ nó lại và thật kỳ
- Xem thêm -